Giáo trình Bạo lực gia đình - Lê Hùng Cường
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC: BẠO LỰC GIA ĐÌNH
NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG/TRUNG CẤP
Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-TCDCGNB ngày…….tháng….năm 2018
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình
Ninh Bình, năm 2018
1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Bài 1: Kiến thức chung về bạo lực gia đình
Bài 2: Công tác xã hội cá nhân với đối tượng bị bạo lực gia đình
Bài 3: Công tác xã hội nhóm với đối tượng bị bạo lực gia đình và đối tượng
gây bạo lực gia đình
Bài 4: Công tác xã hội với cộng đồng trong phòng chống bạo lực gia đình
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
LỜI NÓI ĐẦU
Bạo lực gia đình đã và đang trở thành một vấn đề xã hội nhức nhối cần được
quan tâm giải quyết bởi đây là vấn đề gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng mà trước
hết là vi phạm đến quyền con người, danh dự, nhân phẩm và tính mạng của mỗi cá
nhân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Bạo lực gia đình cũng làm xói mòn các giá trị
truyền thống tốt đẹp, là nguy cơ gây tan vỡ và suy giảm sự bền vững của gia đình
Việt Nam, làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống, tác động xấu đến môi
trường giáo dục thế hệ trẻ, ảnh hưởng đến sự an toàn, lành mạnh của cộng đồng và
trật tự xã hội. Ngoài những hậu quả về xã hội, đạo đức và sự bền vững của gia
đình, bạo lực gia đình còn gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã
hội và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Chính vì vậy, công tác
phòng, chống bạo lực gia đình là vấn đề có tính chất chiến lược, là mục tiêu quan
trọng được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Chiến lược Xây dựng gia đình
Việt Nam giai đoạn 2005-2010 đã xác định mục tiêu tăng cường phòng, chống bạo
lực trong gia đình và giảm tỷ lệ bạo lực gia đình, bình quân hàng năm từ 10-15%.
Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ và phát triển gia đình vì sự phát triển chung của
xã hội; từ nhu cầu nghiên cứu về lĩnh vực gia đình và tình trạng bạo hành trong gia
đình hiện nay; hình thành kỹ năng ứng phó với trường hợp bạo lực gia đình cho
sinh viên theo học ngành Công tác tác xã hội, giáo trình Bạo lực gia đình được biên
soạn. Giáo trình được biên soạn, chỉnh lý từ nhiều nguồn tài liệu của các nhà khoa
học, các chuyên gia, các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước.
Chân thành cảm ơn ý kiến tư vấn của Hội đồng thẩm định giáo trình trường
Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình cho kết cấu và nội dung tài liệu nhằm đảm bảo tính
khoa học, phù hợp thực tiễn phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay.
Trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những sơ suất, vì vậy rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các đồng nghiệp và các bạn
sinh viên để tài liệu ngày càng hoàn thiện hơn.
Nhóm biên soạn:
Lê Hùng Cường
Lê Phương Hà
Nguyễn Thị Lành
3
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Tên mô đun: Bạo lực gia đình
Mã mô đun: MĐ 30
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun:
- Vị trí: Bạo lực gia đình là mô đun chuyên ngành quan trọng của chương
trình đào tạo nghề Công tác xã hội có liên quan đến hoạt động bảo vệ quyền con
người và cung cấp dịch vụ xã hội cho đối tượng bị xâm hại.
- Tính chất: Bạo lực gia đình là mô đun được áp dụng cho chương trình đào
tạo học sinh nghề công tác xã hội nhằm rèn luyện các kỹ năng trong phòng, chống
bạo lực gia đình.
- Ý nghĩa và vai trò của mô đun: nghiên cứu và học tập mô đun Bạo lực gia
đình giúp sinh viên có kiến thức và kỹ năng ứng phó cần thiết với đối tượng của
bạo lực gia đình trong quá trình thực hành nghề Công tác xã hội.
Mục tiêu của mô đun:
- Về kiến thức:
+ Trình bày được khái niệm và các dạng của bạo lực gia đình.
+ Phân tích được nguyên nhân, tác hại, các quan điểm nhận thức về bạo lực
gia đình.
+ Trình bày được các dịch vụ, chính sách, pháp luật phòng chống bạo lực gia
đình.
- Về kỹ năng:
+ Đánh giá, lập kế hoạch và quản lý trường hợp người bị bạo hành gia đình.
+ Tham vấn, biện hộ, thương thuyết, làm việc nhóm, huy động cộng đồng
trong phòng chống bạo lực gia đình.
+ Hỗ trợ, giúp đỡ người gây bạo hành để họ nhận thức được hành vi sai trái
và có cách ứng xử tốt hơn.
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Rèn luyện tính tích cực tuyên truyền, vận động, phối hợp với gia đình và
xã hội trong can thiệp và phòng ngừa bạo lực gia đình.
+ Nhìn nhận được bạo lực gia đình là hành vi vi phạm quyền con người và
luật pháp.
Nội dung mô đun:
BÀI 1: KIẾN THỨC CHUNG VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Mã bài: MĐ30-01
Mục tiêu:
- Về kiến thức:
+ Trình bày được định nghĩa và các dạng bạo lực gia đình.
+ Trình bày được các quan niệm khác nhau về BLGĐ.
+ Phân tích được nguyên nhân và tác hại của BLGĐ.
+ Trình bày được các nguyên tắc, nội dung, trách nhiệm của gia đình,
cộng đồng và xã hội đề cập trong Luật phòng chống bạo lực gia đình.
4
+ Trình bày được nội dung hoạt động của các mô hình, chương trình,
chính sách trong hỗ trợ, phòng ngừa bạo lực gia đình.
- Về kỹ năng:
+ Vận dụng các quan điểm về bạo lực gia đình vào trong bối cảnh xã
hội khác nhau.
+ Thu thập, phân tích, tổng hợp thông tin thực trạng, nguyên nhân của
bạo lực gia đình.
+ Thực hiện tuyên truyền, vận động gia đình, cộng đồng và xã hội hiểu
và hưởng ứng Luật phòng chống bạo lực gia đình.
+ Vận dụng được các mô hình, chương trình, chính sách trong trợ giúp và
phòng ngừa bạo lực gia đình.
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Rèn luyện thái độ tôn trọng, thấu hiểu, cảm thông với những trường hợp
đối tượng bị BLGĐ.
+ Khách quan, trung thực, không phán xét, tôn trọng các quan điểm về bạo
lực gia đình.
+ Chấp nhận các hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đối tượng và cộng đồng để
đưa ra các mô hình, chính sách, luật pháp phù hợp.
+ Tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng.
Nội dung chính:
1. Định nghĩa và các dạng bạo lực gia đình
1.1. Định nghĩa
Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về bạo lực gia đình. Tuy nhiên,
một cách chung nhất, định nghĩa bạo lực gia đình trong Luật phòng, chống, bạo lực
gia đình được Quốc hội khóa XII thông qua được lấy làm căn cứ pháp lý khi xác
định một hành vi là bạo lực gia đình.
Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có
khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong
gia đình. (Trích Luật phòng, chống bạo lực gia đình, 2007)
Ngoài định nghĩa bạo lực gia đình như trên, có thể kể đến một số định nghĩa
được các tổ chức cũng như các nhà khoa học trên thế giới chấp nhận rộng rãi, như:
Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Xóa bỏ Bạo lực đối với phụ nữ (1993) đã
định nghĩa bạo lực đối với phụ nữ là “bất kỳ hành vi bạo lực trên cơ sở giới nào dẫn
đến, hoặc có thể dẫn đến tổn hại về thể xác, tình dục hoặc tâm thần hoặc gây đau
khổ cho phụ nữ, kể cả việc đe dọa có những hành vi như vậy, áp bức hoặc độc đoán
tước bỏ tự do, dù diễn ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư”. (Liên Hợp
quốc. Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ. Nghị quyết của Đại hội đồng
Liên Hợp quốc, tài liệu A/RES/48/104. New York, NY, 1993.)
Hội nghị Thế giới về Phụ nữ tại Bắc Kinh năm 1995 đưa ra 2 định nghĩa: bạo
lực gia đình và bạo lực đối với phụ nữ.
Bạo lực gia đình là hành vi và sự đe dọa của các thành viên trong gia đình
đối với các thành viên khác kết quả là làm cho người phụ nữ/các thành viên trong
5
gia đình bị đau đớn về thể xác, tinh thần hoặc tình dục… Bản chất của bạo hành là
sự làm dụng quyền lực để khống chế khuất phục và kiểm soát người khác.
Bạo lực đối với phụ nữ là bất kỳ hành động bạo lực nào trên cơ sở giới gây
tác hại hoặc tổn thương đối với phụ nữ về thân thể, tình dục và tâm lý, kể cả việc đe
dọa tiến hành những hành động đó, cưỡng bức hoặc độc đoán tước đoạt quyền tự
do của người phụ nữ dù sảy ra ở nơi công cộng hay trong đời sống riêng tư.
Biểu hiện bạo lực trong gia đình:
✓
✓
✓
✓
✓
Ngược đãi trong quan hệ vợ chồng – tình dục khác giới;
Ngược đãi anh, chị, em ruột;
Ngược đãi người cao tuổi;
Ngược đãi của người lớn tuổi trong gia đình (ông/bà) hay họ hàng;
Ngược đãi phụ nữ có thai.
Bạo lực không chỉ bao gồm hành vi ngược đãi về mặt thể xác mà xao
nhãng/bỏ rơi cũng là một dạng của bạo lực gia đình. Xao nhãng/bỏ rơi là bỏ bẵng,
không chăm sóc cố tình hay vô tình với người khác trong gia đình và điều này gây
nên tổn thương cho người khác. Xao nhãng/bỏ rơi về thể chất, tinh thần, y tế, giáo
dục hoặc bỏ mặc không chăm sóc.
- Bản chất của bạo lực gia đình
Bản chất của bạo lực gia đình là sự sai lệch giá trị gia đình, sai lệch chuẩn
mực xã hội. (Sách Bạo lực gia đình – Một sự sai lệch giá trị, Lê Thị Quý và Đặng
Vũ Cảnh Linh, NXB. Khoa học xã hội, 2007)
Nếu tổ ấm gia đình bao hàm ý nghĩa của một giá trị sống thì bạoc lực gia
đình chính là một sự sai lệch, thậm chí là một tội ác. Trong điều kiện của xã hội
hiện đại đang vận động và phát triển mạnh mẽ, bên cạnh sự biến đổi của khoa học
kỹ thuật, sự phát triển của công nghệ và thông tin, sự nâng cao về đời sống văn hoá
của các cá nhân và các nhóm xã hội thì nhân loại còn đang phải đối diện với hàng
loạt những thách thức : môi trường sinh thái bị phá huỷ, nguồn tài nguyên bị cạn
kiệt gắn liền với sự khủng hoảng về môi trường xã hội, chiến tranh, nạn khủng bố,
bạo lực hoành hành trong gia đình và xã hội.
Chủ nghĩa gia trưởng, chủ nghĩa cá nhân cực đoan được hiểu theo khái niệm
ích kỷ đã làm xuất hiện hàng loạt những sai lệch làm tổn thương đến con người và
gia đình. Trong một số nhóm xã hội đã xuất hiện những nhu cầu, những biểu hiện
lệch lạc về đạo đức, lao động, giá trị và sự hưởng thụ. Trong xu hướng sai lệch giá
trị mang tính toàn cầu đã, những sai lệch trong gia đình còng không thể tránh khỏi.
Gia đình với tính chất là một tổ ấm đã bị tấn công từ nhiều phía. Các chức năng của
gia đình ở những thời điểm nhất định đang bị phá vỡ từng mảng, đặc biệt là chức
năng thỏa mãn tinh thần , tình cảm và chức năng xã hội hóa . Đâu đã trên diễn đàn
kể cả những diễn đàn nghiêm túc nhất của các nhà khoa học đã xuất hiện những
quan điểm về sự khủng hoảng của gia đình, thậm chí có người còng cho rằng cái
chết của gia đình. Người ta đã nói đến niềm hạnh phúc và sự thoả mãn một cuộc
sống cá nhân mà không cần đến tổ ấm gia đình. Trong bối cảnh đã, quan hệ giữa
các thành viên trong gia đình còng có những biến đổi. Sự gắn bó giữa các thế hệ
6
trong gia đình không còn chặt chẽ và thấm đẫm tình người như trước. Quan hệ vợ
chồng không chỉ chịu sự chi phối của tư tưởng phụ quyền mà còn chịu ảnh hưởng
của đồng tiền, của xu hướng thay đổi tình cảm như thay đổi món ăn, quần áo. Quan
hệ giữa cho mẹ và con cái là quan hệ kiểu “nước mắt chảy xuôi” và một số yếu tố
tiêu cực khác mới nảy sinh trong nền kinh tế thị trường. Trong nhiều gia đình, tình
cảm, chỗ dựa về tinh thần của mỗi cá nhân bị sút giảm thay vào đã bằng sự vô cảm,
lạnh lựng, sự vô ơn, bất hiếu, sự coi thường tính mạng và phẩm giá của người khác.
Tất cả những hiện tượng đã tác động lẫn nhau đẩy gia đình đến chỗ khủng hoảng
mà đỉnh cao nhất của sự khủng hoảng này là bạo lực gia đình và ly hôn. Bạo lực gia
đình không chỉ xảy ra trong bốn bức tường của gia đình mà nú đã vượt ra khỏi
khuôn khổ gia đình và còng là một nguyên nhân đẩy nhanh sự phát triển của bạo
lực xã hội và ngược lại.
Gia đình Việt Nam đang biến động mạnh mẽ và trở nên muôn hình, muôn vẻ.
Ngày xưa, đại đa số là các gia đình tam – tứ đại đồng đường thì ngày nay phần lớn là
các gia đình 2 thế hệ. Ngoài ra, còn có nhiều mô hình gia đình mới xuất hiện như gia
đình đơn thân, gia đình ly hôn, ly thân, gia đình tái hôn, gia đình tảo hôn, cận huyết…
Cha mẹ già ngày xưa dựa vào con thì ngày nay dựa vào chính mình hoặc nhà dưỡng
lão… “Nếu biết đặt văn hóa, biết đặt giá trị gia đình lên trên hết thì mỗi người sẽ tự
chấn chỉnh hành vi của mình để bảo vệ gia đình”.
Cơ chế thị trường có hai mặt: tích cực và tiêu cực. Một mặt, nó đem lại sự
phát triển vượt bậc của xã hội cũng giúp cho năng lực cá nhân được khẳng định,
phát triển. Đồng thời, nhiều người nhận thức sai lệch về tự do, đề cao cá nhân mà
sai lệch chuẩn mực.
Trong cơ chế thị trường, gia đình đáng nhẽ là một giá trị cao nhất, là nơi
nâng đỡ quan trọng thì nhiều người lại đặt dưới lợi ích cá nhân nên khi lợi ích bị
xâm hại, họ từ chối tình thân, loại bỏ cả anh em, vợ chồng, bố mẹ mình. Do coi
thường giá trị gia đình, nhiều người sống buông tuồng, không giữ gìn hành vi, lời
nói gây ra tổn thương nghiêm trọng cho người thân như bạo lực, ngoại tình… Điều
này khiến thành lũy gia đình bị đổ vỡ…
Kết luận: Bạo lực gia đình là là một sự lệch chuẩn bởi vì nó đã vi phạm Công
ước quốc tế về quyền con người đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em cũng như
luật pháp của nhiều nước. Phụ nữ và trẻ em đang là những nạn nhân chủ yếu và
trực tiếp của bạo lực gia đình. Nhưng việc xử lý những người gây ra bạo lực còn rất
nhẹ, hoặc nhanh chóng chìm vào quên lãng. Đã không ít trường hộ kẻ vũ phu coi
thường pháp luật, cản trở hoặc đe dọa người khác đến can thiệp và tiếp tục gây bạo
hành với những người cũng sống trong một gia đình, lần sau nghiêm trọng hơn lần
trước, thậm trí từ đe dọa giết người sang giết người, từ hành hạ ngược đãi, đến bức
tử.
- Chu kỳ bạo lực gia đình (giưa vợ - chồng)
7
Chu kỳ bạo lực gia đình/vòng tròn bạo lực
Chu kỳ bạo lực gồm 3 giai đoạn: căng thẳng, bạo lực và trăng mật.
+ Giai đoạn căng thẳng:
Người gây ra bạo lực trở nên cáu kỉnh, dễ bị kích động… Phụ nữ cần nhận
biết, cố gắng kiểm soát để “giữ hòa khí”.
➢ Người lạm dụng có thể có biểu hiện: sợ bị bỏ rơi và sử dụng bạo lực
để kiểm soát người kia; đổ lỗi cho người kia vấn đề là do người đó; có
thể ghen tuông.
➢ Người bị bạo hành/nạn nhân có biểu hiện: Suy nghĩ là mình đáng bị
như thế; tư xoa dịu nỗi đau; kiềm chế sự tức giận; tự cho là phải có
trách nhiệm “sửa chữa” tình huống hay mối quan hệ.
+ Giai đoạn bạo lực
Có thể là đe dọa gây bạo lực, tát, đánh và đe dọa dùng hung khí, đe dọa trẻ
em, lạm dụng tình dục hoặc cưỡng dâm. Có thể giai đoạn này chỉ xảy ra trong
khoảnh khắc, trong vài phút hoặc vài giờ.
➢ Người bạo hành có biểu hiện: thể hiện cơn giận dữ; có suy nghĩ “mong
dạy cho người kia một bài học”; đưa ra các lời hăm dọa, như: “Nếu cô
nói tôi sẽ đưa con đi”…
➢ Nạn nhân có thể có biểu hiện tâm lý như: cảm thấy sợ hãi; tự cho mình
biểu lộ cơn giận bằng việc đánh lại; cảm thấy đau khổ, không có sự
giúp đỡ, vô vọng…
+ Giai đoạn trăng mật
Còn gọi là giai đoạn yêu thương và hối hận. Sau khi thực hiện hành vi bạo
lực, người gây ra bạo lực bình tĩnh lại, thấy thương vợ, cầu xin vợ tha thứ và hứa
hẹn sẽ thay đổi.
➢ Người bạo hành có thể: cảm thấy tội lỗi và buồn; khóc lóc và xin tha
thứ; hứa sẽ thay đổi hành vi; có một số hành động tốt, như: mua hoa,
tặng quà, nói ngọt ngào…; tỏ ra quan tâm và tốt bụng.
➢ Nạn nhân có thể có tâm trạng: cảm thấy hạnh phúc và có hy vọng;
thông cảm với người đã có hành vi bạo lực; tin rằng những gì mà
người kia nói với mình là sự thật.
8
Kết luận: Cùng với thời gian, chu trình bạo lực thường diễn ra nhanh hơn và
trở nên nghiêm trọng hơn. Giai đoạn trăng mật có thể ngắn trong khi đó giai đoạn
bạo lực diễn ra dài hơn. Ngoài ra, những yếu tố khách quan có thể làm tăng thêm
tính nghiêm trọng của chu trình.
Các yếu tố khách quan có thể kể đến như: các yếu tố về sức ép, những mong
muốn của gia đình, bạn bè, xã hội, văn hóa và thậm chí là người lãnh đạo tôn giáo,
đặc biệt là những khó khăn về kinh tế hay con cái.
1.2. Các dạng bạo lực gia đình
Phân chia các loại hình bạo lực gia đình là một vấn đề phức tạp, tuy nhiên lại
hết sức quan trọng bởi nó cho phép mô tả đa diện thực trạng vấn đề để tìm ra
phương cách hữu hiệu cho phép khắc phục thực trạng vấn đề.
* Theo phương thức ứng xử (có hay không sử dụng vũ lực)
- Bạo lực thể chất: là loại hình bạo lực có sử dụng vũ lực, tác động trực tiếp
lên thân thể nạn nhân như: đánh đập, nhục hình, tước đoạt tùy tiện về tiền của, tài
sản, cưỡng bức tình dục…
- Bạo lực tinh thần là loại bạo lực không sử dụng vũ lực, tác động lên tinh
thần của nạn nhân như: chì triết, lắm điều, mắng chửi, lăng mạ, tỏ thái độ lạnh lùng,
không quan tâm, bỏ rơi, không nói chuyện... Trong đó, đáng chú ý là loại bạo hành
ngôn ngữ.
* Theo quan hệ của các đối tượng bạo lực gia đình
- Bạo lực giữa vợ chồng với nhau (bạo hành hôn nhân) là loại bạo lực gia
đình phổ biến, được nhiều nhà nghiên cưu quan tâm. Trong đó, có thể kể đến một
só hình thức chính (theo Viện nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Khoa học – Xã
hội Việt Nam): cưỡng bức thân thể, cưỡng bức tình dục, cưỡng bức tâm lý, tình
cảm, cưỡng bức về xã hội, cưỡng bức tài chính.
+ Cưỡng bức thể chất (thân thể)
Là bất kỳ hành vi hành hung thể xác nào: dùng tay, vật hoặc vũ khí, ví dụ
như tát, đánh, đẩy đá, cấu véo, đấm đá, nắm tóc kéo lê, vặn cổ tay, làm gãy xương,
đâm bằng dao hay làm bị thương; hạn chế các nhu cầu thiết yếu (ăn, ngủ, uống)
bằng cách giấu dược phẩm, thực phẩm, nước uống; phá rối không cho ngủ hoặc ép
dùng rượu, cần sa ma túy; bỏ rơi nơi đường vắng vẻ nguy hiểm. Kể cả việc giam
hãm thể chất và tiếp xúc với bạo lực gia đình.
Nghiên cứu Quốc gia chỉ ra rằng 31,5% phụ nữ từng lập gia đình đã từng bị
chồng hoặc chồng cũ bạo hành về thể chất.
Nghiên cứu Quốc gia cũng chỉ ra rằng tần suất phụ nữ bị bạo lực về thể xác
mang tính tích lũy và gia tăng theo độ tuổi.
Nghiên cứu ở phạm vi nhỏ chỉ ra rằng bạo lực thể xác là hình thức phổ biến
nhất của bạo lực trên cơ sở giới với tỉ lệ từ 16-37% phụ nữ cho biết họ đã từng bị
bạo lực thể xác.
Một nghiên cứu trên 465 cặp đôi chỉ ra rằng 50% nam giới thừa nhận họ đã
từng đánh vợ trong khi chỉ 37% phụ nữ nói rằng họ từng bị bạo lực. Điều này cho
9
thấy, phụ nữ thường có xu hướng báo cáo không đầy đủ về tình trạng bạo lực mà
họ đã chịu trong đời.
+ Cưỡng bức tâm lý, tình cảm
Bắt bạn đời sống trong bầu không khí sợ hãi; khủng bố nạn nhân đến hoảng
loạn tâm thần như: xỉ vả, làm nhục, có lời lẽ đe dọa, bị ép cô lập, hăm dọa, đe dọa
và kiểm soát các hành động (không phù hợp); dùng lời đường mật hứa hẹn cho hy
vọng rồi nuốt lời; liên tục truy hỏi, nói nặng lời để hạ nhân phẩm; làm mất tự trọng,
kể lại một cách diễu cợt những vụ tình ái riêng tư. Có thể là cả việc lấy đi quyền
quyết định của người thân trong khi người đó có đủ khả năng đưa ra quyết định…
Nghiên cứu quốc gia cho thấy tỷ lệ bạo lực tâm lý phổ biến trong suốt đời
người phụ nữ do chồng gây ra là 53,6%.
Nghiên cứu ở phạm vi nhỏ chỉ ra rằng tỷ lệ bạo lực tâm lý/tinh thần cao hơn
tỷ lệ bạo lực thể xác từ 19% đến 55%.
Cuộc điều tra 2006 trên tổng số 2.000 phụ nữ đã từng lập gia đình cho biết
25% trong số họ đã từng bị bạo lực tâm lý/tinh thần trong chính gia đình họ.
Rất khó xác định bạo lực vì những tổn hại không thể hiện ra bên ngoài như
bạo lực thể xác.
Rất khó để phân biệt một hành vi chỉ là xúc phạm hay đến đã mức bạo lực
tâm lý/tinh thần.
Đối với mỗi trường hợp, cần phải đánh giá chính xác các tác động mà hành
vi gây ra. Cần xem xem có mối quan hệ quyền lực và kiểm soát giữa hai người hay
không.
+ Cưỡng bức tình dục
Là có bất kỳ hành vi tình dục không đúng đắn nào với bạn đời, quan hệ tình
dục với người không có đầy đủ kiến thức hay không nhất trí hoặc khi mà sự nhất trí
đạt được bằng việc lợi dụng. Ép bạn đời làm tình và xem hình ảnh khiêu dâm; ép
“chăn gối” sau khi đánh đập; cố tình dày vò bộ phận sinh dục, không cho dùng
thuốc ngừa thai, làm tình hậu môn; cưỡng hiếp khi bạn đời ngủ, đau ốm; coi người
phối ngẫu như thứ đồ chơi, chê bai cách làm tình…
Ví dụ: hiếp dân trong hôn nhân, cưỡng ép quan hệ tình dục, cưỡng hiếp, kích
thích tình dục hay cưỡng ép làm mại dâm…
Nghiên cứu quốc gia cho thấy cứ khoảng 10 phụ nữ từng kết hôn thì có 01
người đã từng bị chồng bạo lực tình dục trong đời (9,9%).
Cuộc điều tra năm 2006 của Ủy ban Các vấn đề Xã hội của Quốc hội tại 08
tỉnh, thành phố cho thấy có đến 30% phụ nữ trả lời đã từng bị chồng bắt quan hệ
tình dục ngoài ý muốn.
Theo dữ liệu của Trung tâm tư vấn Cửa Lò thì có 42/207 vụ là bạo lực tình
dục.
+ Cưỡng bức về xã hội
Cô lập khỏi hệ thống giúp đỡ thực sự (cắt đứt mối quan hệ giữa vợ/chồng với
người thân trong gia đình, với bạn bè thân hữu; nhốt trong nhà, cắt điện thoại,
10
không cho đi đâu và giao tiếp với bất cứ ai) hoặc khống chế việc sử dụng thời gian
và không gian, liên tục rình mò, do thám, theo dõi.
+ Cưỡng bức kinh tế/tài chính
Lấy tiền hoặc sử dụng tiền tài sản của người khác không có sự nhất trí. Kể cả
hành vi như gây ảnh hưởng để điều khiển việc sử dụng tiền, tài sản khi không được
phép hay đi ngược lại mong muốn của người kia, lừa lấy tiền, thuyết phục hay đe
dọa lấy tiền, sử dụng sai quyền giám hộ tài sản (khi người kia không đủ khả năng –
bị bệnh tâm thần, trẻ em…). Bắt bạn đời lệ thuộc về tiền nong, không cho giữ tiền
và đi làm, bắt phải hỏi xin tiền và chứng minh mọi việc mua sắm chi tiêu lớn nhỏ.
Một điều tra nhỏ về hình thức bạo lực kinh đã được thực hiện tại Việt Nam.
Dữ liệu thu được từ trung tâm tư vấn thuộc Bệnh viện Đức Giang – Hà Nội cho
thấy 11% bệnh nhân đã từng bị bạo hành về kinh tế.
- Bạo lực giữa các thành viên lớn tuổi trong gia đình là loại bạo lực giữa anh
chị em, mẹ chồng nàng dâu, em chồng chị dâu…
- Bạo lực của người lớn tuổi đối với trẻ em là loại bạo lực của cha mẹ đối với
con cái, ông bà với chau, anh chị đối với em.
- Bạo lực ngược – người nhỏ tuổi với người lớn tuổi hơn: con cái bạo lực cha
mẹ, cháu ngược đãi ông bà, em hành hạ anh chị…
* Phân loại theo giới
Là cách tiếp cận thường gặp trong các nghiên cứu về bạo lực gia đình. Theo
cách này, người ta nói đến nạn bạo hành phụ nữ trong gia đình và phụ nữ bạo hành
nam giới (bạo hành ngược, ít thường xuyên hơn). Trong mỗi loại bạo hành phân
chia theo cơ sở giới tính này, có cả sự xuất hiện của các loại hình bạo lực gia đình
trên.
Hệ thống loại hình bạo lực do Tổ chức Y tế thế giới xác định năm 2002
2. Nguyên nhân, tác hại của bạo lực gia đình
2.1. Nguyên nhân của bạo lực gia đình
11
* Nguyên nhân bạo hành giữa vợ và chồng
Trên cơ sở quan điểm Mô hình sinh thái về bạo lực gia đình của Lori Heise,
nguyên nhân của bạo lực gia đình được xác định từ góc độ cá nhân, gia đình, cộng
đồng và xã hội.
+ Về phía cá nhân người có hành vi BLGĐ
- Tư duy bất bình đẳng giới, thái độ gia trưởng, tư tưởng trọng nam khinh nữ
ở một số nam giới. Yếu tố này khiến họ tin vào quyền lực của mình để đòi hỏi mọi
người trong gia đình đặc biệt là người vợ phải tuân thủ yêu sách của họ.
- Đòi hỏi sự hoàn hảo đối với các thành viên trong gia đình và vì vậy họ
thường đưa ra sự kiểm soát gắt gao và những kỷ luật nặng nề. Nếu thành viên nào
trong gia đình không làm theo họ sẵn sàng phạt các thành viên trong gia đình. Ví
dụ như họ đưa ra yêu cầu cho con cái về kết quả học tập phải cao, người vợ phải
hoàn hảo trong nội trợ hay ứng xử...
- Những trải nghiệm về bạo lực trong gia đình khi còn nhỏ tuổi. Người ta cho
rằng những người khi còn nhỏ đã bị bạo lực hay chứng kiến cảnh bạo lực trong gia
đình thì khi lớn lên họ thường có xu hướng bạo lực với người khác đặc biệt là với
người trong gia đình.
- Việc thiếu kỹ năng làm cha/ mẹ hay kỹ năng trong giao tiếp, kỹ năng quản
lý bản thân cũng khiến cho người có hành vi BLGĐ không hiểu đặc điểm nhu cầu
và tâm lý của vợ/chồng hay con cái hay người già, không biết kiểm soát bản thân từ
đó dễ có ứng xử thô bạo trong gia đình.
- Thiếu hiểu biết về quy định pháp luật như Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn
nhân và Gia đình, Luật PCBLGĐ.
- Say và nghiện rượu của người thực hiện bạo lực thường là nguyên nhân thứ
cấp của hành vi bạo lực. Nhiều khi rượu là con đường để họ giải tỏa tâm trạng ức
chế nảy sinh do nhiều yếu tố trong cuộc sống.
- Thiếu hiểu biết về huy động và sử dụng nguồn lực trong gia đình, cộng
đồng để giải quyết những khó khăn trong gia đình (ví dụ thiếu việc làm, thu nhập
thấp...).
+ Về phía nạn nhân bạo lực gia đình
- Sự cam chịu bạo lực trong gia đình của nạn nhân BLGĐ. Việc nín nhịn,
không dám công khai, báo cáo về hành vi BLGĐ của nạn nhân một mặt làm cho
12
người có hành vi BLGĐ ghi nhận đó là quyền của họ, mặt khác xã hội thiếu thông
tin, chứng cứ để can thiệp, xử lý từ đó răn đe và giáo dục người có hành vi bạo lực
gia đình.
- Sự tự ti, tự hạ thấp nhân phẩm, quyền của bản thân nhất là phụ nữ làm tăng
thêm tính gia trưởng, áp đảo của người có hành vi BLGĐ trong đó đặc biệt là
những người chồng.
- Sự quá khoan dung độ lượng ở không ít phụ nữ/người vợ như tự nhận trách
nhiệm về mình, biện minh cho hành vi bạo lực của người chồng, tự chịu hình phạt
thay cho người chồng cũng khiến cho nam giới/người chồng càng không có trách
nhiệm với hành vi BLGĐ của họ.
- Thiếu công việc, thiếu tiền bạc, thiếu kiến thức... nên người phụ nữ/ngƣời
vợ rất khó thoát khỏi mối quan hệ phụ thuộc.
- Cam kết với hôn nhân và muốn thể hiện sự thành công trong hôn nhân nên
có phụ nữ muốn níu kéo mối quan hệ bạo lực.
+ Về phía gia đình
Những thái độ, quan điểm, văn hoá không tích cực của gia đình cũng đóng
góp vào sự tồn tại hay gia tăng hành vi BLGĐ. Tư tưởng trọng nam khinh nữ, thái
độ gia trưởng phong kiến trong gia đình hạt nhân hay gia đình mở rộng, khi cho
rằng mọi việc đều do người đàn ông quyết định và quan niệm và cho rằng trẻ em là
tài sản của cha mẹ thì những vụ bạo hành với trẻ cũng được xem như chuyện của
gia đình và khả năng BLGĐ với phụ nữ và trẻ em ngày càng có nguy cơ xảy ra.
- Mong đợi cho uy tín của gia đình dẫn đến đòi hỏi quá cao vào thành đạt của
con cái và khi không đạt được như mong muốn thì đánh, phạt trẻ hay sử dụng
những lời lẽ mang tính xúc phạm trẻ.
- Thiếu việc làm hay thu nhập thấp, đông con, sống trong điều kiện tồi tàn là
một trong những yếu tố nguy cơ dẫn đến BLGĐ. Một nghiên cứu chỉ ra số phụ nữ
trong gia đình thu nhập thấp (dưới 7.500 USD/năm) thường là nạn nhân của bạo
lực cao gấp 5 lần so với những phụ nữ trong gia đình với thu nhập cao (trên 30.000
USD/năm) (Rennison &Welchans, 2000).
- Những cuộc hôn nhân không theo ý muốn tạo nên sự nặng nề trong gia
đình giữa người vợ và người chồng, giữa bố mẹ và con cái cũng là nguy cơ của bạo
lực gia đình.
- Những căng thẳng trong gia đình như bất hoà giữa bố mẹ, xung đột tâm lý
giữa các thế hệ hay áp lực từ công việc, sự ốm đau lâu ngày của một thành viên...
nếu không được giải quyết thì có thể là nguyên nhân tiềm tàng của sự bạo lực trong
gia đình.
- Những gia đình có bạo lực thường cách biệt với xã hội, hoặc họ tự cô lập
để tránh điều tiếng cho gia đình vì thế BLGĐ tiếp tục diễn ra trong GĐ họ.
+ Về phía cộng đồng
- Sự chấp nhận hành vi bạo lực ở cộng đồng thì người dân nơi đó sẽ có
khuynh hướng ủng hộ hành vi bạo lực hay thờ ơ với hiện tượng bạo lực.
13
- Cộng đồng nghèo đói, kém phát triển, các tệ nạn xã hội cao, thất nghiệp
nhiều cũng là nguy cơ của sự gia tăng bạo lực.
- Sự thiếu vắng của những dịch vụ trợ giúp nạn nhân bị bạo lực trong cộng
đồng làm gia tăng sự cam chịu của các nạn nhân, thiếu thông tin để xử lý và răn đe
hành vi BLGĐ.
- Mối quan hệ lỏng lẻo giữa gia đình, họ hàng hay hàng xóm cũng làm cho
sự phát hiện và can thiệp các vụ bạo lực giảm đi hay không có hiệu quả.
+ Về phía xã hội
- Bất bình đẳng giới, phân biệt nam nữ, cho rằng đàn ông là người quyết định
trong gia đình và người vợ phải lệ thuộc vào người chồng... khiến xã hội, gia đình
và bản thân người vợ dễ bỏ qua những hành vi bạo lực của đàn ông.
- Tồn tại quan niệm không đúng đắn của xã hội cho rằng sử dụng hình phạt
là một cách giáo dục phụ nữ và trẻ em. Điều này đã làm cho sự giảm nhẹ việc lên
án xã hội với những hành vi thô bạo với phụ nữ hay sử dụng roi vọt để giáo dục,
dạy dỗ trẻ và cưỡng ép trẻ lao động quá sức.
- Thiếu vắng và sự thực hiện nghiêm minh các luật pháp bình đẳng giới và
phòng chống bạo lực gia đình sẽ làm giảm đi sự giáo dục và răn đe những hành vi
BLGĐ trong xã hội.
- Phim ảnh, trò chơi mang tính bạo lực trên thông tin đại chúng vô hình đã
làm cho người ta bình thường hoá hành vi bạo lực trong cuộc sống hàng ngày.
* Nguyên nhân bạo hành với trẻ em
Hiện nay, những vụ bạo lực gia đình với trẻ em đã và đang diễn ra rất
nghiêm trọng và phổ biến, gây hậu quả xấu về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần và sự
phát triển trí tuệ của trẻ; khiến dư luận xã hội đặc biệt quan tâm và bức xúc. Có thể
chỉ ra một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Văn hoá ″Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi″ bấy lâu nay khiến
cho người ta coi chuyện đánh con là bình thường là quyền của cha mẹ là cho con
lên người; do thiếu hiểu biết về pháp luật nói chung và pháp luật về quyền trẻ em
nói riêng; về kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của cộng đồng, gia đình
và chính bản thân các em đã dẫn tới mọi người vẫn cho rằng cha mẹ có quyền dạy
con bằng đòn roi, bằng sự xỉ nhục, hành hạ.
- Pháp luật chưa đủ mạnh, chưa đủ răn đe những người có hành vi bạo lực,
như Điều 110 Luật Hình sự có quy định ″Người nào đối xử tàn ác với đối tượng là
trẻ em lệ thuộc mình thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ từ 1 năm đến 3
năm″. Mức án như vậy là quá nhẹ.
- Pháp luật về bảo vệ trẻ em còn nhiều khoảng trống: chưa có quy định cụ thể
về bảo vệ trẻ em là nạn nhân, nhân chứng; chưa có quy định đặc biệt trong trường
hợp nhận tố giác từ trẻ em.
- Đã có Luật Phòng, chống bạo lực gia đình nhưng thực hiện chưa nghiêm
túc. Tiếng nói và cách xử lý của chính quyền với các vụ cha, mẹ bạo hành với con
cái còn yếu. Cùng với thái độ thờ ơ, vô cảm của cộng đồng đã dẫn tới nhiều trẻ em
14
bị bạo lực nhiều lần, gây hậu quả khá nghiêm trọng mà vẫn không bị xử lý trong
khi Nghị định 114/2006/NĐ - CP đã quy định mức phạt rất cụ thể.
- Môi trường xã hội còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến bạo lực trẻ em như:
cha mẹ bị cuốn vào tệ nạn xã hội, nghiện hút, cờ bạc, rượu chè; cha mẹ mâu thuẫn
hoặc ly hôn, lối sống ích kỷ, thiếu trách nhiệm với con cái. Sự lan truyền của văn
hoá bạo lực, đồi truỵ qua nhiều kênh, đặc biệt là qua Internet … dẫn đến các hành
vi, hành xử tiêu cực, bạo lực mà nạn nhân thường là trẻ em và lẽ tất nhiên sẽ tác
động tới tư tưởng, đạo đức, lối sồng, nhân cách của trẻ em.
- Gia đình nghèo, kinh tế khó khăn cũng là nguy cơ dẫn tới bạo lực gia đình
vì kinh tế khó khăn sẽ gây ra nhiều áp lực, căng thẳng, bế tắc dẫn đến mâu thuẫn
trong gia đình, hậu quả trẻ em phải hứng chịu.
- Yêu đương sớm, quan hệ tình dục bừa bãi có thai ngoài ý muốn cũng là
một nguyên nhân dẫn tới tội ác (giết chết, chối bỏ, hành hạ trẻ sơ sinh). Có người
nói tình trạng này đang ở mức ″Báo động đỏ″, nó cảnh báo một vấn đề xã hội
nghiêm trọng, hệ quả của suy thoái đạo đức và lối sống của giới trẻ.
- Bất bình đẳng giới cũng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự loại bỏ thai nhi
khi biết là gái, vứt bỏ trẻ sơ sinh là gái và bạo lực với trẻ em gái.
Tình trạng bạo lực gia đình với trẻ em chỉ có thể được kiềm chế khi tìm đúng
nguyên nhân và có giải pháp phù hợp.
- Nguyên nhân gia tăng nạn bạo lực gia đình
Có thể phân chia nguyên nhân dẫn đến và gia tăng nạn bạo lực gia đình
thành 3 nhóm sau: nhóm nguyên nhân xuất phát từ lối sống và hoàn cảnh sống,
nhóm nguyên nhân về tâm lý và nhận thức; nhóm nguyên nhân từ môi trường quản
lý xã hội. Cụ thể:
+ Nguyên nhân kinh tế, đói nghèo, căng thẳng vì kiếm sống: Trong số các
nạn nhân của bạo lực gia đình có rất ít người có đủ tiền, thời gian và thông tin để
gọi điện hoặc đến tận nơi nhờ tư vấn và giúp đỡ (vì hoàn cảnh sống khó khăn). Tuy
nhiên, trên thực tế bạo hành diễn ra ở tất cả các nhóm gia đình, không phân biệt
trình độ, mức sống. Trước đây, người ta cho rằng bạo hành gia đình đi liền với
trình độ nhận thức thấp và đời sống đói nghèo, lạc hậu. Nhưng thực tế, nhiều nạn
nhân là những người có trình độ cao và mức sống khá giả. Do đó, không nên quá
nhấn mạnh nguyên nhân này mà thay vào đó là tập trung vào nguyên nhân về lối
sống của các gia đình và từng cá nhân trong gia đình.
Về lối sống: chồng/vợ/con/cháu rơi vào tệ nạn xã hội, nghiện rượu, hút, đánh
đề, cờ bạc đánh đập vợ/con… đòi tiền để thỏa mãn cơn nghiện; hoặc do căng thẳng,
thần kinh không ổn định, thất vọng trong cuộc sống; những bất đồng về quan điểm,
lối sống, nuôi dạy con cái, tình dục (vợ/chồng ngoại tình)… là nguyên nhân dẫn
đến bạo lực. Tuy nhiên, các nghiên cứu lại cho thấy đây không phải là nguyên nhân
trực tiếp (hoặc không được thừa nhận) và người chồng/cha phải tìm những lý do
“hợp lý” khác như làm trái ý chồng/cha để có thể đánh đập, mắng chửi vợ/con.
+ Cả người bị bạo hành và người bạo hành đều chưa có nhận thức đầy đủ về
nguyên nhân cốt lõi của các hình thức bạo lực. Tâm lý che dấu, cam chịu của chị
15
em phụ nữ. Học vấn thấp, nhận thức kém, không biết quyền, thiếu hiểu biết luật
pháp, không biết cách ứng xử phù hợp.
+ Quan niệm cũ của xã hội phong kiến còn tồn tại dai dẳng trong xã hội ngày
nay - quan niệm trọng nam khinh nữ, tư tưởng gia trưởng; bất bình đẳng giới. Đây
là nguyên nhân sâu xa dẫn đến bạo lực gia đình.
Kết quả Nghiên cứu quốc gia phản ánh nhận thức của người phụ nữ về vai
trò của họ như sau: 27% đồng ý với ý kiến “một người vợ tốt là người luôn biết
vâng lời ngay cả khi chị ta không đồng ý”; Cùng tỷ lệ như trên đồng ý với ý kiến
“mọi quyết định quan trọng của gia đình phải do người chồng quyết định”; Tuy
nhiên, phần lớn phụ nữ muốn chồng chia sẻ công việc gia đình với họ khi họ đi làm
(97.7%).
+ Một số nguyên nhân thuộc về phía phụ nữ, như sự thiếu kỹ năng ứng xử, tự
bảo vệ mình của nạn nhân. Họ phải tự tin về giá trị bản thân, không cho phép người
khác làm tổn thương và hành hạ mình. Họ cũng phải ý thức được mình đang sống
trong nạn bạo hành thì mới có thể lên tiếng, tìm sự trợ giúp và đấu tranh chống lại
nó. Kỹ năng ứng xử trong gia đình – giữa các cặp vợ chồng, giữa những người lớn,
giữa người lớn và trẻ em… là một phần quan trọng góp phần giữ gìn sự bền vững
cho gia đình.
+ Việc phòng chống bạo lực gia đình chưa được quan tâm đúng mức; chính
quyền địa phương chưa xử lý triệt để những vụ việc về bạo lực gia đình; thiếu các
chương trình đồng bộ nhằm giáo dục, xử lý có hiệu quả những kẻ vi phạm luật
pháp để họ thay đổi hành vi theo hướng tích cực; cũng như thiếu các chương trình
hỗ trợ, tạo điều kiện giải quyết các mâu thuẫn dẫn tới bạo lực.
+ Chưa có đầy đủ thông tin để đưa ra các dữ liệu về tình trạng bạo lực đối
với phụ nữ, vì vậy đã hạn chế đến việc phân tích và hoạch định chính sách.
+ Thiếu những dịch vụ để chăm sóc và hỗ trợ những nạn nhân của bạo lực:
hệ thống chăm sóc sức khỏe, tham vấn…
+ Các biện pháp để thi hành pháp luật, nhất là trong lĩnh vực hình sự nhằm
ngăn chặn các hình thức bạo lực. Các chiến lược phòng ngừa bạo lực đối với phụ
nữ còn mang tính chắp vá, chưa nhất quán và thiếu chương trình cụ thể.
- Nguyên nhân khiến nạn nhân không dám thoát khỏi mối quan hệ bạo lực/
chấp nhận sống chung với bạo lực
+ Nguyên nhân sợ hãi: sợ bị trả thù bằng bạo lực nếu phản kháng, sợ bị đánh
tiếp, sợ con cái khổ… là nguyên nhân đầu tiên đầu tiên mà những nạn nhân của bạo
lực gia đình thường tâm sự.
+ Cảm giác bất lực: không chỉ sợ hãi, nạn nhân của bạo lực gia đình còn cảm
thấy bất lực trước quyết định thoát khỏi mối quan hệ với người bạo hành. Họ tin
rằng không được lựa chọn, từ đó không dám chủ động quyết định. Thậm chí, nhiều
người còn có tâm lý “an phận”, đổ lỗi cho số phận.
+ Mối ràng buộc: đây là kết quả của các hành động tốt – xấu luân phiên nhau
qua các giai đoạn, khiến cho nạn nhân nhầm lẫn rằng người bạo hành đã thay đổi
và sẽ không phải chịu hành động bạo lực nữa.
16
+ Lệ thuộc về mặt tinh thần: Nhiều nạn nhân rơi vào tình trạng lầm tưởng về
vị thế của mình. Vì họ bị thuyết phục và tin rằng mình yếu đuối, thấp kém và
không xứng đáng bị đối xử tốt; hành động của họ đáng bị trừng trị.
+ Lệ thuộc tài chính: Một trong những nguyên nhân khiến nạn bạo hành gia
đình gia tăng là tài chính. Đồng thời, tài chính cũng là một trong những nguyên
nhân khiến nạn nhân không dám thoát khỏi mối quan hệ với người bạo lực mình.
Họ sợ bị cắt nguồn thu nhập, sợ mình sẽ không thể tự sinh sống nếu chia tay người
bạo lực.
+ Mặc cảm: Một trong những ràng buộc khiến nạn nhân không quyết tâm
thoát khỏi tình trạng bị bạo lực là những quan niệm về văn hóa, tôn giáo. Những
chuẩn mực này đã ăn sâu vào tâm lý của họ. Nạn nhân sợ bị mất mặt, xấu hổ nếu vi
phạm những chuẩn mực đó của cộng đồng.
+ Cô đơn: mặt khác, tình trạng cô đơn của nạn nhân cũng khiến họ không
dám thoát khỏi mối quan hệ bị bạo hành. Cụ thể: có ít bạn bè, mối quan hệ và
người giúp đỡ. Trong trường hợp đó, những nhân viên xã hội phải đóng vai trò là
cấu nối tinh thần, tình cảm cho nạn nhân ra thế giới để họ có quyết tâm thoát khỏi
mối quan hệ bạo lực trong gia đình.
+ Con cái: đối với nạn nhân của bạo lực gia đình, đặc biệt là nạn nhân nữ.
Ràng buộc về mặt con cái khiến người phụ nữ khó thoát khỏi mối quan hệ bạo lực
trong gia đình. Lý do họ đưa ra là: tin rằng con cái có cả bố và mẹ vẫn tốt hơn; sợ
bị mất quyền chăm sóc con cái; bị đe dọa làm hại đến con cái.
+ Hy vọng: nạn nhân của bạo lực gia đình hy vọng rằng nếu họ thay đổi theo
ý muốn của kẻ ngược đãi thì sẽ chấm dứt việc lạm dụng; hy vọng vào lời hứa thay
đổi của đối tượng hành hung. Là nhân viên công tác xã hội, anh/chị phải phân tích
tình hình cho nạn nhân thấy khi nào thì còn khả năng hy vọng và khi nào thì vô
vọng.
2.2. Tác hại của bạo lực gia đình
- Ảnh hưởng đến đời sống cá nhân người bị bạo hành
+ Tinh thần: Khủng hoảng, lo sợ, căng thẳng…
+ Tâm lý: trầm cảm, lãnh cảm, rối nhiễu tâm lý, tự ti, xấu hổ…
+ Hành vi: Có thể có một số rối loạn hành vi…
+ Hoạt động xã hội: thụ động, không muốn quan tâm đến việc tham gia các
hoạt động xã hội, khép mình…
+ Sức khỏe, thể chất…
Nghiên cứu quốc gia cho thấy sức khỏe của phụ nữ từng bị bạo lực về thể
xác và tình dục thường yếu hơn so với phụ nữ chưa từng bị bạo lực. Phụ nữ bị bạo
lực gia đình thường gặp khó khăn trong việc đi lại, thực hiện các hoạt động hàng
ngày, chịu đau đớn, suy giảm trí nhớ, luôn buồn rầu và có ý nghĩ tự sát, đối với phụ
nữ mang thai thì khả năng sảy thai, thai chết lưu hoặc nạo phá thai cũng là khó
tránh.
- Ảnh hưởng đến đời sống gia đình và con cái
+ Ảnh hưởng đến với đời sống gia đình
17
Gia đình không ổn định, thường xuyên có những căng thẳng có thể dẫn đến
phá vỡ cấu trúc gia đình và có những rối nhiễu về chức năng. Ảnh hưởng đến kinh
tế gia đình; các mối quan hệ bị tổn hại; giảm khả năng lao động của phụ nữ; giảm
giá trị các điều kiện sống của phụ nữ và trẻ em.
+ Ảnh hưởng đến với con cái
➢
Tình cảm: trẻ em cảm thấy tội lỗi, thương tiếc cho gia đình và sự mất
mát, có những cảm xúc không tố về cha mẹ, bị trầm cảm, cảm thấy vô vọng và xấu
hổ về gia đình mình.
➢
Quan niệm: trẻ em tin là các em phải chịu trách nhiệm về hành vi bạo
hành; đổ lỗi cho người khác về những hành vi của mình, tin là việc đánh ai đó có
thể chấp nhận được và để lấy cái gì các em muốn; tỏ sự tức giận của mình; tỏ ra
mình có quyền lực; không tin vào người khác; cảm thấy sự cáu giận là xấu xa vì ai
đó sẽ bị tổn thương, tin vào những định kiến sai lầm về đàn ông, đàn bà, vợ, chồng.
➢
Hành vi: thoái lui, không muốn đến trường, tỏ ra hoặc là rất hung hãn
hay thụ động, đái dầm hoặc gặp ác mộng, thể hiện những hành vi không kiểm soát
được.
➢
Xã hội: bị cô lập khỏi bạn bẹ, họ hàng, có mối quan hệ thất thường,
nhút nhát hơn với trẻ cùng lứa, đối xử thô bạo với bạn.
Thể chất: lo lắng sợ sệt và ít tập trung, mệt mỏi, thường hay ốm,
➢
không tự chăm sóc mình…
- Ảnh hưởng đến cộng đồng xã hội
+ Đối với cộng cồng: có thể làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng xóm,
cộng đồng xung quanh.
+ Đối với xã hội: cản trở sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ; giảm đóng góp
của nạn nhân cho xã hội; tăng áp lực cho hệ thống y tế phần nào gây ảnh hưởng,
thiệt hại đến toàn xã hội.
- Hậu quả đối với chính người gây ra bạo lực
Chịu những chế tài hành chính hoặc hình sự vì chính những hành vi vi phạm
do họ gây ra; Bị mất mặt, xấu hổ trước cộng đồng; Bạo lực có thể dẫn đến cái chết
của chính người gây ra bạo lực (Hội chứng của phụ nữ bị bạo lực.
Tóm lại, bạo lực gia đình không chỉ ảnh hưởng đến nạn nhân mà còn ảnh
hưởng đến gia đình, đặc biệt là trẻ em. Gia đình là tế bào của xã hội. Nếu mỗi tế
bào không khỏe mạnh, thì xã hội không thể khỏe mạnh và phát triển được.
3. Các quan niệm khác nhau về bạo lực gia đình
3.1. Quan điểm sinh học
Các nhà sinh học xã hội tìm kiếm câu trả lời cho sự khác biệt về vai trò xã
hội giữa phụ nữ và nam giới từ những nguyên nhân sinh học. Ví dụ như tính hung
hăng của đàn ông và chức năng sinh dưỡng ở đàn bà là kết quả của những dị biệt di
truyền (Wilson, 1978).
Trong nhiều năm qua, quan đ iểm sinh học cho rằng chu kỳ kinh nguyệt và
lưu lượng máu trong thời kỳ kinh nguyệt là nguyên nhân chính gây nên mọ i đặc
18
tính tiêu cực ở nữ giới, từ tính cách nông nổi cho tới bản chất bị coi là tộ i lỗ i, dâm
ô (Dolaney, Lupton và Toth, 1988).
Cũng từ góc độ sinh học, Sigmund Freud – một đại diện của trường phái Phân
tâm học công bố rằng giải phẫu của người phụ nữ quyết định số mệnh của họ.
Theo ông, đặc điểm sinh học của phụ nữ quyết định tâm lý, năng lực và vai
trò của họ trong xã hội.
Trên thực tế, có sự khác biệt sinh học giữa phụ nữ và nam giới, nhưng sự
khác biệt đó không thể là cơ sở cho sự phân biệt đẳng cấp…Vấn đề bạo lực với phụ
nữ có liên quan tới nền tảng văn hóa và giáo dục.
3.2. Quan điểm về giới
Một trong những vấn đề cốt lõi của lý thuyết giới là hệ thống lý luận xoay
quanh một số câu hỏi cơ bản: Nguồn gốc nào tạo nên bạo lực giới? Cơ chế nào
đang duy trì hình thức bạo lực giới, cũng như làm thế nào để thu hẹp khoảng cách
giới, hay xóa bỏ những bất bình đẳng giới đang tồn tại?
3.3. Quan điểm nhận thức – hành vi
Tiếp cận từ góc độ Tâm lý học nhấn mạnh đến yếu tố động cơ – cảm xúc và
yếu tố nhận thức trong quá trình hình thành xu hướng bạo lực. Theo đó:
Lý thuyết nhận thức nhấn mạnh rằng sự khác nhau về hành vi ứng xử của
nam giới và nữ giới tùy thuộc vào cách mỗi người nhận thức về một “hoàn cảnh”
cụ thể là thuận lợi hay bất lợi cho hành vi ứng xử đó diễn ra.
Lý thuyết học tập xã hội mà trọng tâm là quá trình xã hộ i hóa thời thơ ấu
được nhắc đến như là lý thuyết cơ bản lý giải sự hình thành các bạo lực giới và
phân biệt đối xử của mỗ i cá nhân… Thuyết học tập xã hội cho rằng cá nhân bắt
chước hành vi bạo lực từ trong gia đình.
3.4. Quan điểm văn hóa – xã hội
Lý thuyết văn hóa xem xét bạo lực gia đình như một tiểu văn hóa tương tác,
ứng xử của một xã hội rộng lớn hơn…Khhi con người có xu hướng thỏa hiệp các
hành vi bạo lực ngoài xã hội thì trong gia đình họ cũng có xu hướng sử dụng bạo
lực với các thành viên khác.
3.5. Quan điểm hệ thống xã hội
Các nhà nghiên cứu xã hội học cho rằng hoàn cảnh xã hội là yếu tố khách
quan tác động đến việc cá nhaancos hành vi bạo lực đối với các thành viên trong
gia đình (Loseke, 2005).
Lý thuyết căng thẳng xã hội cho rằng những khó khăn trong cuộc sống có thể
khiến cá nhân có hành vi bạo lực đối với người thân trong gia đình.
Lý thuyết vai trò được đề cập nhiều nhất khi giải thích về các vấn đề giới.
Quan điểm này nhấn mạnh rằng những hành vi ứng xử của con người chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ bởi các vai trò xã hội mà họ đóng.
Lý thuyết trao đổi xã hội dựa trên nguyên tắc “cùng có lợi” trong mối tương
tác giữa các cá nhân. Đó là việc thực hiện cơ chế cho – nhận, tức là trao đổi mọi
thứ “ngang giá” theo kiểu kinh tế học.
19
Lý thuyết nguồn lực giải thích bản chất của bạo lực gia đình từ góc độ nguồn
lực của con người. Trong đó nguồn lực kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất.
4. Chương trình, chính sách và luật phòng chống bạo lực gia đình
- Chương trình quốc gia, các tổ chức có mối quan tâm đến bạo lực gia đình
Chương trình quốc gia liên quan đến bạo lực gia đình là sự cụ thể hóa của
luật pháp trong lĩnh vực này, đồng thời thể hiện sự quan tâm thường xuyên, và
quyết tâm của Đảng và Nhà nước nhằm mục đích phòng, chống nạn bạo lực gia
đình.
Có thể kể đến một số chương trình gần đây nhất, mang tính chất định hướng
dài hạn như:
Chiến lược phát triến gia đình Việt nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 29/5/2012 theo quyết định số 629/QĐ-TTg.
Trong đó, liên quan đến vấn đề bạo lực gia đình: Chiến lược thể hiện quyết tâm
phòng, chống bạo lực gia đình với tư cách là một trong những yếu tố cần loại trừ
hàng đầu (mục tiêu số 1, bên cạnh các mục tiêu về kinh tế, giáo dục) để nâng cao
vai trò, chất lượng của gia đình trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Cụ thể hơn, trong Chiến lược đã xác định 3/7 đề án liên quan trực
tiếp đến phòng, chống bạo lực gia đình: Đề án tuyên truyền về xây dựng gia đình
và phòng, chống bạo lực gia đình trên các phương tiện thông tin đại chúng đến
năm 2020; đề án giáo dục chuyển đổi hành vi về xây dựng gia đình và phòng,
chống bạo lực gia đình đến năm 2020; đề án xây dựng cơ sở dữ liệu về gia đình
và phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020.
Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến
năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 06/02/2014 theo quyết định
số 215QĐ-TTg. Mục tiêu chung của Chương trình là tạo sự chuyển biến mạnh mẽ
về nhận thức và nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia đình, cộng đồng
và toàn xã hội trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình; từng bước ngăn chặn
và giảm dần số vụ bạo lực gia đình trên phạm vi toàn quốc.
Mục tiêu chung trên được cụ thể hóa bằng những mốc tỷ lệ phần trăm phải
đạt được vào những năm 2015 và 2020 trên các lĩnh vực cụ thể. Để thực hiện được
chúng, Chương trình cũng quy định rõ những tổ chức có liên quan, chịu trách
nhiệm tổ chức thực hiện Chương trình. Đó là sự phối kết hợp giữa các bộ và các cơ
quan liên quan: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Thông
tin và Truyền thông, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào
tạo, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư, thông tấn xã Việt Nam, Đài
Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương… Với việc cụ thể hóa các cơ quan tổ chức chịu trách
nhiệm thi hành trong Chương trình trên, thể hiện sự quyết tâm của cả hệ thống
chính trị trong ngăn chặn và đẩy lùi bạo lực gia đình – một vấn nạn mới đã và đang
có ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc thực hiện chức năng của gia đình, sự cống hiến
của gia đình đối với sự phát triển chung của xã hội.
+ Các tổ chức có mối quan tâm đến bạo lực gia đình
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Bạo lực gia đình - Lê Hùng Cường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_bao_luc_gia_dinh_le_hung_cuong.docx

