Giáo trình môn Các Chuyên đề công tác xã hội
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC: CÁC CHUYÊN ĐỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG/TRUNG CẤP
Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-TCđCGNB ngày…….tháng….năm 2018
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình
Ninh Bình, năm 2018
1
MỤC LỤC
Chuyên đề 1:Công tác xã hội với trẻ em có và bị ảnh hưởng bởi HIV- AIDS
Chuyên đề 2: Công tác xã hội trong thực hiện các chính sách dân tộc thiểu số.
Chuyên đề 3: Công tác xã hội với người cao tuổi ở nông thôn Việt Nam
Chuyên đề 4: Bạo hành thể chất với phụ nữ và trẻ em gái
Chuyên đề 5: Phục hồi chức năng cho trẻ chậm phát triển trí tuệ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
LỜI NÓI ĐẦU
Với tính chất là môn học lý thuyết và thực hành chuyên môn nghề bổ trợ và
nâng cao kiến thức cho sinh viên và là môn học tự chọn, các chuyên đề là chuyên
ngành quan trọng của chương trình đào tạo nghề Công tác xã hội có liên quan đến
hoạt động bảo vệ quyền con người và cung cấp dịch vụ xã hội cho đối tượng thuộc
các lĩnh vực khác nhau.
Giáo trình bao gồm 5 chuyên đề:
Chuyên đề 1: Công tác xã hội với trẻ em có và bị ảnh hưởng bởi HIV- AIDS
Chuyên đề 2: Công tác xã hội trong thực hiện các chính sách dân tộc thiểu số.
Chuyên đề 3: Công tác xã hội với Người Cao tuổi ở nông thôn hiện nay
Chuyên đề 4: Bạo hành thể chất với phụ nữ và trẻ em gái.
Chuyên đề 5: Phục hồi chức năng cho trẻ chậm phát triển trí tuệ.
Giáo trình này được biên soạn trên cơ sở tuân thủ các nội dung chính trong
chương trình khung của Nhà nước, có tham khảo các tài liệu của các tác giả có uy
tín và đặc biệt được cập nhật các chủ trương, chính sách xã hội mới nhất của Đảng
và Nhà nước. Giáo trình là tài liệu học tập, tham khảo chính trong đào tạo nghề
Công tác xã hội.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do chưa có nhiều kinh nghiệm, thời gian
còn hạn chế nên giáo trình không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các em học sinh, sinh viên.
Nhóm biên soạn:
Lê Hùng Cường
Vũ Ánh Dương
Nguyễn Thị Lành
Phạm Thu Phương
Lê Phương Hà
3
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
Tên môn học: Các chuyên đề
Mã môn học: MH 33
Vị trí, tính chất, vai trò và ý nghĩa của môn học:
Vị trí: Các chuyên đề là chuyên ngành quan trọng của chương trình đào tạo
nghề Công tác xã hội có liên quan đến hoạt động bảo vệ quyền con người và cung
cấp dịch vụ xã hội cho đối tượng thuộc các lĩnh vực khác nhau.
Tính chất: Là môn học lý thuyết và thực hành chuyên môn nghề bổ trợ và
nâng cao kiến thức cho sinh viên, là môn tự chọn.
Mục tiêu môn học:
Về kiến thức:
- Hiểu được các khái niệm, nhận dạng, hình thức của các vấn đề thuộc 6 chuyên
đề nâng cao;
- Hiểu và phân tích được nguyên nhân, thực trạng, các quan điểm nhận thức
về các vấn đề được đề cập trong các chuyên đề;
- Hiểu được các dịch vụ, chính sách, pháp luật trong tư vấn, trợ giúp các đối
tượng.
Về kỹ năng:
- Đánh giá, lập kế hoạch và quản lý các đối tượng liên quan tại các chuyên
đề;
- Tham vấn, biện hộ, thương thuyết, làm việc nhóm, huy động cộng đồng
trong trợ giúp các đối tượng.
Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
- Nhìn nhận đúng đắn hơn về các trường hợp thuộc các chuyên đề;
- Tích cực tuyên truyền, vận động, phối hợp với gia đình và xã hội trong can
thiệp và giúp đỡ các đối tượng.
Nội dung môn học:
Chuyên đề 1: Công tác xã hội với trẻ em có và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
Mục tiêu của chuyên đề:
- Kiến thức
4
+ Trình bày được những hiểu biết chung về HIV, AIDS và trẻ có, bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS
+ Mô tả được đặc điểm tâm lý, sinh lý, nhu cầu của trẻ em có và bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS
+ Xác định được các nguồn lực và giải pháp trong việc trợ giúp nhóm đối
tượng này
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Tham vấn được cho trẻ em có và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
+ Thực hiện được theo đúng tiến trình khi trợ giúp nhóm đối tượng này
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm:: Cẩn thận, chia sẻ và sẵn sàng giúp đỡ trẻ
em có và bị ảnh hưởng bởi HIV/ AIDS
Nội dung chuyên đề:
I . CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Các khái niệm công cụ:
1.1 Trẻ em:
Trẻ em, theo quan điểm của Xã hội học, là nhóm nhân khẩu đặc biệt trong
quá trình xã hội hóa, đang học đóng vai trò cũng như tiếp thu những kiến thức, kỹ
năng để tham gia hành động xã hội với tư cách là một chủ thể.
Còn theo Công ước về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc thì “Trẻ em là tất cả
con người dưới 18 tuổi, tùy vào luật áp dụng cho trẻ em.”
Theo Luật bảo vệ trẻ em của Việt Nam: ” Trẻ em là tất cả con người dưới 16
tuổi”
1.2 HIV/AIDS :
HIV là tên viết tắt của từ Tiếng anh (HIV - Human Immuno Deficiency Virus) vi
rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người.
AIDS là những chữ cái viết tắt theo tiếng Anh của cụm từ Acquired Immino
Deficiency Syndorome (viết tắt theo tiếng Pháp là SIDA), được dịch ra tiếng Việt
là "Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải". AIDS là giai đoạn cuối của quá trình
nhiễm HIV.
1.3 Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS:
Hiện nay, khái niệm trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS thường được hiểu
là:
5
- Những trẻ bị ảnh hưởng trực tiếp: là trẻ có HIV/AIDS trong cơ thể, được
xét nghiệm có HIV dương tính (H+).
- Những trẻ bị ảnh hưởng gián tiếp: là những trẻ có cha hoặc mẹ, hoặc cả
cha và mẹ đều nhiễm HIV/AIDS nhưng bản thân lại không bị mắc; trẻ sử dụng ma
túy; bị xâm hại tình dục; là con của người mua, bán dâm, sử dụng ma túy; là nạn
nhân của tội mua bán người; trẻ em lang thang; mồ côi do các nguyên nhân khác;
trẻ em sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng.
Bên cạnh đó, một số nhà khoa học cũng đang đề nghị một cách hiểu khác, theo họ
thì khái niệm trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được hiểu là:
- Trẻ bị ảnh hưởng trực tiếp: là trẻ có HIV/AIDS trong cơ thể, được xét
nghiệm có HIV dương tính (H+).
- Trẻ bị ảnh hưởng cận trực tiếp: là các trẻ bản thân không mắc nhưng có
cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ nhiểm HIV/AIDS. Các trẻ này có thể bị ảnh hưởng
bởi các bệnh cơ hội do cha mẹ lây và các ảnh hưởng tâm sinh lý từ gia đình và xã
hội.
- Trẻ bị ảnh hưởng gián tiếp: là những trẻ bị mất cơ hội tiếp cận y tế do một
ca nhiễm AIDS gây ra, ví dụ: một năm để nuôi một ca bị AIDS tốn khoảng 10 triệu,
do ngân sách y tế có hạn nên một trẻ nghèo khác sẽ không có 10 triệu đó để mổ
tim, uống thuốc chống viêm gan hoặc chữa lao phổi…
Cách tiếp cận mới này có thể cho những người có nguy cơ cao hiểu được sự
buông thả của mình không chỉ ảnh hưởng đến bản thân mình, đến con cái của mình
mà còn ảnh hưởng đến rất nhiều người khác trong cộng đồng.
(Nguồn:
*Trong nội dung bài, nhóm chỉ tập trung trình bày về trẻ bị nhiễm
HIV/AIDS
2. Mô tả nhóm đối tượng:
2.1 Đặc điểm sinh lý của trẻ bị nhiễm HIV/AIDS .
Các trẻ bị nhiễm HIV khi mới sinh ra, hầu hết trẻ đều bình thường, khoẻ
mạnh, chỉ có một số ít có cân nặng thấp hơn so với tuổi thai.
6
Với những trẻ bị lây nhiễm trong khi sinh hoặc sau sinh thì một vài tuần sau
sinh có thể có những biểu hiện sốt nhẹ, mệt mỏi, quấy khóc, có thể khám thấy gan
lách to (gần giống với giai đoạn tiền triệu chứng của người lớn nhiễm HIV).
* Các biểu hiện lâm sàng.
- Hạch to: thường thấy hạch to nhỏ không đều ở nhiều nơi, nhiều nhất là
vùng cổ, dưới hàm, nách, bẹn, thường không đau, mật độ chắc, diễn biến dai dẳng.
- Gan lách to: Có thể gặp gan to hoặc lách to riêng biệt hoặc cả gan lách đều
to (thường to ít và không có biến đổi đặc biệt về hình thể và tính chất).
- Không tăng cân hoặc sút cân: thường xảy ra ở giai đoạn muộn, trẻ sút cân
nhiều ở giai đoạn AIDS tiến triển muộn và đặc biệt có nhiễm trùng cơ hội.
- Sốt kéo dài: Giai đoạn đầu thường sốt dai dẳng không có quy luật, không rõ
căn nguyên, có thể nặng lên khi có nhiễm trùng cơ hội. Sốt thường kéo dài khoảng
hơn 1 tháng.
- Tiêu chảy mạn tính: Thường xảy ra ở giai đoạn AIDS tiến triển nặng, kết
hợp với nhiễm khuẩn đường ruột.
Ngoài ra có thể gặp các tổn thương thần kinh, bệnh viêm phổi kẽ thâm
nhiễm lympho, viêm tuyến mang tai, xuất huyết giảm tiểu cầu, tan máu tự nhiên,
viêm cơ tim, viêm thận,... và ung thư da dạng sarcoma Kaposi (mặc dù ở trẻ em
hiếm gặp hơn nhiều so với người lớn).
* Các nhiễm trùng cơ hội hay gặp
- Nhiễm trùng da: hay gặp do các loại virut herpes, chốc lở do tụ cầu, liên
cầu và có thể do một số loại nấm.
- Nhiễm trùng phổi: Hay gặp nhất là viêm phổi do một số loại virut hoặc
một số loại nấm. Tỷ lệ mắc bệnh lao phổi ở những trẻ nhiễm HIV thường khá cao.
- Nhiễm trùng tiêu hoá: Cũng thường xảy ra do mắc các loại vi khuẩn viêm
dạ dày - ruột như E.coli, Salmonella, trực khuẩn lỵ,... và có thể do nấm đặc biệt là
nấm Candida albicans.
Ngoài những loại nhiễm trùng cơ hội hay gặp kể trên còn có thể gặp viêm
màng não do nấm, viêm gan virut các loại…
2.2 Tâm lý trẻ bị nhiễm HIV/AIDS.
7
Đối với trẻ 0- 6 tuổi: trẻ chưa có nhận thức về HIV và về thái độ của những
người xung quanh mình nên giai đoạn này tâm lý trẻ phát triển như những đứa trẻ
bình thường khác.
Đối với trẻ 6 – 12 tuổi: các em đã phần nào nhận thức được tầm nguy hiểm
của căn bệnh HIV. Do đó các em thường mang tâm lý lo sợ về sự đau đớn của
bệnh, về sự xa lánh và sự phân biệt đối xử của những người xung quanh các em.
Trẻ phải sống chung với HIV/AIDS hoặc chịu ảnh hưởng của bệnh này
thường thiếu thốn tình cảm ruột thịt và nhận được ít tình thương yêu, sự vuốt ve
như các trẻ nhỏ khác, các em thường cảm thấy buồn tủi, chán nản và sống khép
mình.
Bên cạnh đó, do thiếu sự giáo dục của cha mẹ và sự ghẻ lạnh, tránh né của
những người xung quanh nên các em thường bị trầm cảm, chậm nói, chậm phát
triển trí não, thiểu năng khả năng vận động do không được chơi với các bạn cùng
tuổi.(Nguồn:
Những em chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi HIV/AIDS, thì sợ hãi trước những
biểu hiện của bệnh trên cơ thể mình, như bị sốt, nhiễm trùng da, đau người…Ở các
em thường hình thành nên ý niệm rằng bản thân sẽ chết sớm bởi đây là bệnh nguy
hiểm chưa có thuốc chữa.
Những trẻ bị ảnh hưởng gián tiếp thì rơi vào tình trạng không có bệnh mà bị
coi như có bệnh nên thường mang tâm trạng hoang mang. Nhiều em còn bị bắt nạt
và xa lánh trong cộng đồng nơi các em sống.
Từ những đặc điểm tâm sinh lý trên, ta có thể thấy được những nhu cầu của
trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
2.3 Nhu cầu của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS :
Có thể thể hiện những nhu cầu của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS theo mô
hình thang nhu cầu của Maslov như sau:
8
Khẳng
định
Nhu cầu xã hội:
được hòa nhập cùng
xã hội
Nhu cầu được coi trọng : được tôn
trọng, không phán xét đến tình
trạng bệnh tật.
Nhu cầu an toàn xã hội: Được khám chữa bệnh,
An toàn thân thể, được sống trong gia đình,được
yêu thương…
Nhu cầu vật chất :
Thức ăn, nước uống, nơi ở, …
Hình 1 Theo thang nhu cầu của Maslov
Nhu cầu chính của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS rất đa dạng như tiếp
cận đầy đủ các dịch vụ y tế, giáo dục, hướng dẫn về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ
sống với HIV/AIDS, xóa bỏ hoàn toàn kỳ thị và phân biệt đối xử. Trong báo cáo
nghiên cứu đánh giá về tình hình trẻ em mồ côi và dễ bị tổn thương do HIV/AIDS
tại Việt Nam (Uỷ ban DS-GĐ-TE (cũ) phối hợp với Tổ chức Save the children UK
thực hiện tháng 12/2005):Trong số trẻ em gặp khó khăn, 50% trẻ nhắc đến sự thiếu
thốn về kinh tế, 25% lo lắng thiếu thốn tình cảm; gần 10% các em cho biết vấn đề
chính của các em là thường xuyên đau ốm.
Nhu cầu vật chất: là nhu cầu trước tiên của bất cứ đứa trẻ nào.Trẻ bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS cũng như những trẻ khác đều muốn được đảm bảo các nhu
9
cầu chính đáng của bản thân về thức ăn, nước uống, đặc biệt là nơi ở. Đây cũng là
những nhu cầu hết sức thiết thực và ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của các
em, và cũng là quyền đầu tiên trong số những quyền các em đáng được hưởng (
theo công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em). Chỉ khi đáp ứng được đầy đủ
nhu cầu này thì trẻ mới có thể tạo điều kiện cho trẻ phát triển bình thường mà trước
hết là về mặt thể chất.
Hiện nay những trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS phần lớn đều sống trong
tình trạng thiếu thốn, khó khăn về kinh tế. Đa số các em sống trong cảnh nghèo và
rất nghèo (75%),rất cần có sự quan tâm, đáp ứng kịp thời nhu cầu vật chất.
Nhu cầu an toàn xã hội: Được đảm bảo vấn đề sức khỏe, tiếp cận các dịch
vụ khám chữa bệnh thông thường cũng như đặc biệt là nhu cầu quan trọng cần
được đáp ứng đối với tất cả mọi người, dù là trẻ em hay người lớn. Đối với những
trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS nhu cầu này là rất cần thiết được đáp ứng. Bởi các
em hoặc đã mang bệnh, khả năng miễn dịch không thể bằng những trẻ bình thường,
hoặc thường xuyên sống gần với bệnh tật, vì thế các em cần được kiểm tra sức
khỏe một cách đầy đủ và thường xuyên.
Bên cạnh việc được đảm bảo về sức khỏe thì các em cũng cần được yêu
thương, chăm sóc đặc biệt là từ những người thân trong gia đình. Hầu hết trẻ bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS đều nói các em cần có người thân thiết để chia sẻ hoặc hỗ trợ
tâm lí khi cần thiết: gần gũi nhất là mẹ, tiếp đến là ông bà, và cha.Với những trẻ bị
ảnh hưởng bởi HIV/AIDS thì gia đình được coi là nơi an toàn nhất và là chỗ dựa
tinh thần quan trọng nhất của các em. Nếu không được che trở, bao bọc bởi gia
đình và những người thân, trẻ dễ rơi vào tâm trạng lo sợ, tự ti và khép mình. Gia
đình chính là môi trường tốt nhất cho sự phát triển của các em.
Nhu cầu được coi trọng: trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS thường lo sợ, tự ti
trước thái độ kỳ thị, xa lánh của những người xung quanh. Các em luôn mong
muốn được mọi người tôn trọng, thay đổi sự kỳ thị, không phân biệt đối xử, không
phán xét đến bệnh tình của các em.
Những người bị nhiễm HIV (trong đó có trẻ em bị nhiễm HIV), họ có thể tự
đương đầu với bệnh tật một cách thích đáng. Nhưng họ khó có thể vượt qua được
rào cản tâm lý xã hội để có được 1 cuộc sống bình thường như mọi người. Rào cản
10
đó là sự khinh rẻ, kỳ thị, sự sợ hãi của nhiều người đối với người nhiễm. Nhu cầu
này của các em là hết sức cần thiết và cũng là điều mà các nhà hoạt động trong lĩnh
vực xã hội, bảo vệ trẻ em dang mong muốn đạt được.
Nhu cầu xã hội: cùng với mong muốn được coi trọng, trẻ bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS cũng rất muốn được hòa nhập vào cộng đồng và muốn được tới trường
học tập, vui chơi cùng bạn bè như những đứa trẻ bình thường khác.
Mỗi giai đoạn của cuộc đời trẻ đều có những hoạt động chủ đạo có tính chất
quyết định trực tiếp đến việc hình thành tâm lý. Vui chơi, học tập và giao lưu bạn
bè đều là những hoạt động chủ đạo của trẻ, do đó nếu những nhu cầu xã hội được
đáp ứng thì các em sẽ có điều kiện phát triển bình thường về trí não cũng như tâm
lý. Nhưng hiện nay nhu cầu này của trẻ vẫn chưa được đáp ứng bởi rất nhiều những
định kiến tiêu cực trong xã hội và để các em có thể đến trường, có thể hòa nhập vào
cuộc sống như những đứa trẻ khác là một việc cần nhiều thời gian mới có thể đạt
được.
Nhu cầu được khẳng định mình: trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS cũng có
mong muốn có được một vị trí trong xã hội, được thực hiện những vai trò với tư
cách là thành viên của xã hội. Các em không chỉ khao khát đến trường để học chữ,
vui chơi cùng bạn bè, mà còn muốn qua học hành để khẳng định bản thân mình, để
được người khác tin tưởng cũng như những đứa trẻ bình thường khác.
• Đánh giá nhu cầu chung:
11
Tạo môi trường học tập, vui chơi
lành mạnh, tích cực cho trẻ
Được tham gia, thể hiện, được công
nhận khả năng trước cộng đồng
Được
khẳng định
Muốn được tới trường;
hòa nhập với trẻ cùng tuổi
Tuyên truyền thay đổi nhận
thức của cộng đồng
Nhu cầu xã hội
Mong muốn được
đối xử bình đẳng
Áp dụng luật; tuyên truyền
thay đổi nhận thức
Nhu cầu được
coi trọng
Liên hệ các cơ sở cung
cấp dịch vụ; Tăng cường
chăm sóc tại nhà
Cần được khám
chữa bệnh; yêu thương
Nhu cầu an toàn xã hội
Nhu cầu vật chất
Thiếu thốn,
khó khăn về
kinhTế
Huy động vốn từ
nguồn lực xã hội
để hỗ trợ kinh tế
Cách giải quyết
Thực trạng
Hình 2. Thực trạng, nhu cầu của trẻ bị HIV/AIDS và phương án giải quyết
Như vậy, có thể thấy rằng nhu cầu của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS về cơ
bản cũng giống như nhu cầu của những đứa trẻ bình thường khác. Trẻ cũng cần
được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu được chăm sóc và bảo vệ để có thể phát triển
bình thường về cả thể chất, trí tuệ cũng như tâm lý. Xem xét trên khía cạnh tâm
sinh lý thì trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS lẽ ra là những trẻ cần được quan tâm
đến việc đáp ứng nhu cầu hơn những trẻ bình thường, nhưng trên thực tế thì việc
đáp ứng nhu cầu cho trẻ bị ảnh hưởng HIV/AIDS còn gặp phải rất nhiều khó khăn
và thách thức, cũng như cần nhiều thời gian mới có thể đạt được.
2. Phản ứng của gia đình và xã hội:
Phản ứng của gia đình và xã hội có trẻ bị nhiễm HIV có thể được chia thành
2 loại: Phản ứng tiêu cực và phản ứng tích cực.
3.1 Phản ứng tiêu cực:
* Về phía cộng đồng:
Với trẻ có HIV/AIDS thái độ của cộng đồng vẫn còn nhiều tiêu cực. Điều
đó thể hiện qua ngôn từ, lời nói mang tính giễu cợt, nguyền rủa, thể hiện ở sự phân
12
biệt ứng xử. Thái độ tiêu cực với người bị ảnh hưởng còn thể hiện trong sự hiểu
biết không đúng về HIV/AIDS. Đặc biệt thái độ này được quan sát rõ trong ứng xử
kỳ thị, trong hành vi xua đuổi trẻ. Ví dụ như ở một số Trung tâm bảo trợ hoặc ở
cộng đồng, trẻ có HIV không được đến nhà trẻ, trường học để cùng vui chơi, học
tập với trẻ khác. Điều này làm hạn chế các em tham gia vào đời sống xã hội, ngay
cả khi các em còn khoẻ mạnh.
* Về phía gia đình: Cha mẹ, người thân của trẻ thường cách ly trẻ với bên
ngoài do sợ trẻ bị trêu trọc, bị tổn thương.
3.1 Phản ứng tích cực:
* Về phía xã hội:
Các tổ chức quốc gia, các Bộ, ngành như Bộ Giáo dục bộ y tế, Bộ Lao động
thương binh và xã hội…, các tổ chức Quốc tế về phòng chống HIV/AIDS, các tổ
chức Liên hợp quốc như Unicef…và các cá nhân như những nhân viên xã hội cũng
luôn phối hợp để đề ra những chương trình hành động để bảo vệ, thực hiện những
quyền con người mà trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đáng được hưởng thay vì bị
chối bỏ, đó là các quyền “tự do không bị phân biệt đối xử”, “được sống, tồn tại và
phát triển”, “quyền có được tiêu chuẩn cao nhất về chăm sóc y tế và sức khoẻ”,
“quyền được học hành và tiếp cận thông tin”...
Có những tổ chức, những trung tâm xã hội, những cá nhân có thái độ tích
cực đối với trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS. Tại các trung tâm các em được chăm
sóc, được tiếp cận với các điều kiện y tế cần thiết,được tạo những điều kiện cần
thiết để được phát triển như những đứa trẻ bình thường;
Hoạt động tuyên truyền thay đổi nhận thức của cộng đồng được tăng cường (
tại khu dân cư, trường học, trên phương tiên truyền thông đại chúng ).
* Về phía gia đình:
Các thành viên trong gia đình quan tâm đến tâm, sinh lý của trẻ. Cha mẹ trẻ
phát hiện và khuyến khích trẻ thể hiện khả năng. Tạo chỗ dựa tinh thần, tránh thái
độ mặc cảm của trẻ.
2. Nguồn lực:
Đối với trẻ bị nhiễm HIV, cần tận dụng triệt để các nguồn lực để trợ giúp
trẻ. Có 2 loại nguồn lực mà ta có thể khai thác là : nguồn lực khách ( Nhà nước,
chính quyền địa phương, gia đình, các tổ chức cá nhân hảo tâm, các trung tâm cho
13
trẻ HIV, phương tiện truyền thông đại chúng...), và nguồn lực chủ quan ( nguồn lực
của chính thân chủ ).
4.1 Nguồn lực chủ quan:
* Về phía Nhà nước : Nhà nước ta rất quan tâm đến việc bảo đảm quyền lợi
cho trẻ em, nhất là đối tượng trẻ em bị thiệt thòi ( trong đó có trẻ bị ảnh hưởng bởi
HIV ).
Theo điều 53, chương IV, Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Hiến pháp nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam : “Trẻ em nhiễm HIV/AIDS không bị phân
biệt đối xử; được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để chữa bệnh, nuôi dưỡng tại
gia đình hoặc tại cơ sở trợ giúp trẻ em.
Ngày 4/6/2009 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 84/2009/QĐ-TTg về
“Kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đến năm
2010 và tầm nhìn đến năm 2020”. Theo đó, có 5 mục tiêu cụ thể vì trẻ em bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS cần đạt được đến năm 2010. Một là, tăng cường khả năng
tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, chính sách xã hội cho trẻ em bị
ảnh hưởng bởi HIV/AIDS. Hai là, hình thành các dịch vụ cần thiết có chất lượng
cao và thân thiện đối với trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS. Ba là, cải thiện cơ
chế cung cấp thông tin, giáo dục, chăm sóc, điều trị, tư vấn cho trẻ em bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS. Bốn là, tạo môi trường xã hội thuận lợi cho công tác bảo vệ,
chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS. Năm là, cải thiện hệ thống theo dõi,
kiểm tra,đánh giá tình hình trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
Hình 1.1. Các tổ chức phòng chống HIV/AIDS thế giới.
Tuy nhiên hiện nay sự quan tâm đến trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS còn
nhiều thiếu hụt, những nhu cầu của trẻ chưa được đáp ứng một cách đầy đủ,
HIVAIDS thường được nhìn nhận là vấn đề của người lớn, vậy vì trẻ em và các
14
nhu cầu của trẻ thường bị bỏ qua. Hiện nay mới chỉ có một bộ phận nhỏ các em bị
ảnh hưởng bởi HIV/AIDS là được chăm sóc, quản lý, ví dụ như TPHCM hiện có
60.000 trẻ nhiễm và ảnh hưởng HIV/AIDS (trẻ OVC) nhưng chỉ có 7% được quản
lý, chăm sóc.
5. Công tác xã hội và vai trò của nhân viên Công tác xã hội đối với trẻ bị
nhiễm HIV/AIDS.
Công tác xã hội (CTXH) vừa là một ngành khoa học vừa là một nghề chuyên
môn với những hoạt động xã hội đặc thù nhằm hướng tới các cá nhân, nhóm hoặc
cộng đồng xã hội cần được giúp đỡ để khôi phục, ngăn chặn các chức năng bị suy
thoái, hướng tới việc tự giải quyết các vấn đề của bản thân, sống hòa nhập với cộng
đồng (theo tài liệu Nhập môn Công tác xã hội – Lê Văn Phú).
Theo đó thì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS nói chung và trẻ bị nhiễm
HIV/AIDS nói riêng chính là một trong số những đối tượng mà Công tác xã hội cần
quan tâm.
2.1 Mục đích của công tác xã hội với trẻ bị HIV:
* Mục đích căn bản – mức độ 1: Giúp trẻ bị nhiễm HIV/AIDS.
+ Giúp trẻ có H thích ứng với những vấn đề xúc cảm đau đớn.
+ Giúp trẻ có H đạt tới mức độ thích hợp nào đó về tình cảm và hành vi.
+ Giúp trẻ có H có cảm nghĩ tích cực, tốt về bản thân – yêu cuộc sống.
+ Giúp trẻ chấp nhận các giới hạn và sức mạnh của mình và cảm thấy yên
tâm về những điều đó
+ Giúp trẻ thay đổi những hành vi có tác động tiêu cực
+ Giúp trẻ hoạt động thoải mái và thích ứng với ngoại cảnh
+ Tạo cơ hội tối đa cho trẻ theo đuổi và thực hiện các mong ước.
* Mục đích 2: Thỏa mãn nhu cầu của trẻ:
+ Xuất phát từ nhu cầu trẻ.
* Mục đích 3: Mục đích đối với cộng đồng:
+ Thay đổi tích cực nhận thức, thái độ và hành vi đối với trẻ, gia đình trẻ :
xây dựng cộng đồng an toàn, trách nhiệm và thân thiện
+ Tác động xây dựng chính sách và cơ chế phù hợp đảm bảo các điều kiện
cần thiết trẻ : chính sách hỗ trợ, thực thi luật nghiêm túc (chẳng hạn: xử lý những
trường hợp kỳ thị người có H trẻ)…
15
2.2. Mục đích đối với người trợ giúp – hoạt động của Công tác xã hội:
+ Khẳng định vai trò, ý nghĩa – giá trị của khoa học và nghề chuyên môn
Công tác xã hội tác nghiệp trợ giúp với đối tượng đặc biệt: trẻ và gia đình, người
liên quan đến trẻ.
+ Góp phần hạn chế sự lây lan của đại dịch HIV và những ảnh hưởng tiêu
cực gây ra bởi những thất bại hay hạn chế của những phương pháp, hoạt động giải
quyết vấn đề khác
+ Góp phần hạn chế sự lây lan của đại dịch HIV và những ảnh hưởng tiêu
cực gây ra bởi những thất bại hay hạn chế của những phương pháp, hoạt động giải
quyết vấn đề khác.
2.3 Vai trò của nhân viên Công tác xã hội.
Công tác xã hội với người có HIV/AIDS nói chung, với trẻ em bị ảnh hưởng
bởi HIV/AIDS nói riêng là một trong những hoạt động thiết thực và đặc biệt quan
trọng. Hoạt động này không chỉ trợ giúp cho các em vươn lên đấu tranh với bệnh
tật, phòng tránh mà còn kết nối các nguồn lực trợ giúp cho các em. Huy động sự
tham gia của người dân vào công tác phòng, chống HIV. Giúp cho mọi người nhận
thức sâu sắc hơn về HIV, người có HIV, công tác phòng tránh HIV và cách chăm
sóc cho trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
Trong Công tác xã hội với trẻ bị nhiễm HIV/AIDS, nhân viên Công tác xã
hội đóng vai trò là người trợ giúp các em về mặt tâm lý, tư vấn giúp các em vượt
qua những trở ngại tâm lý như sự kỳ thị, xa lánh của những người xung quanh.
Cung cấp cho trẻ những thông tin cần thiết về căn bệnh HIV/AIDS mà trẻ đang
mắc phải, cũng như những quyền mà trẻ được hưởng để trẻ có thể ý thức đầy đủ về
bản thân và cách giữ an toàn cho bản thân cũng như cho những người xung quanh.
Có thể nói, trong hoạt động trợ giúp này người nhân viên Công tác xã hội như một
cây cầu hướng tới việc đưa các em xích lại gần hơn với cộng đồng và hòa nhập vào
cộng đồng.
Bên cạnh việc trợ giúp trực tiếp thông qua các kỹ năng tham vấn, tư vấn về
tâm lý, về bệnh lý, người nhân viên Công tác xã hội còn trợ giúp trẻ nhiễm
HIV/AIDS thông qua việc tìm kiếm, giúp đỡ trẻ tiếp cận với những nguồn lực về
kinh tế, những dịch vụ y tế cần thiết… vì mục đích đáp ứng được những nhu cầu cơ
16
bản của trẻ nhiễm HIV/AIDS và giúp các em được hưởng các quyền lợi chính đáng
của mình nhằm hướng các em đến sự phát triển đúng với tiềm năng của bản thân.
Khi làm việc ở các trung tâm nuôi dạy trẻ bị bệnh nhân viên Công tác xã hội
có thể là người hỗ trợ các kỹ năng tâm lý xã hội cho cán bộ xã hội đang trực tiếp
nuôi trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
Khi tiếp xúc, trợ giúp trẻ nhiễm HIV/AIDS tại địa phương, cán bộ Công tác
xã hội đóng vai trò là người tuyên truyền, thuyết phục những người thân trong gia
đình trẻ, cộng đồng, xã hội hiểu được bản chất của HIV, nhìn nhận HIV như là một
căn bệnh hiểm nghèo như bao bệnh khác hơn là coi đó là tệ nạn xã hội hoặc là kết
quả của tệ nạn xã hội. Thông qua đó để làm giảm đi thái độ kỳ thị của mọi người
với những người bị nhiễm HIV/AIDS đặc biệt là trẻ em.
6. Tình hình thực tiễn:
* Trên thế giới:
HIV/AIDS hiện nay đã trở thành một trong những vấn đề nóng bỏng của
toàn nhân loại. Nó được xem là “căn bệnh thế kỷ”, là mối đe dọa cho con người bởi
khả năng gây tử vong cao, sự lây lan nhanh chóng, và hiện nay vẫn chưa có loại
thuốc đặc trị nào có thể chữa được bệnh này cũng như chưa có vắc xin phòng
bệnh.
Ở Việt Nam, HIV/AIDS cũng là vấn đề đòi hỏi rất nhiều sự quan tâm của xã
hội. Từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm 1990, đến nay số trường hợp
nhiễm HIV/AIDS hiện đang còn sống được báo cáo trên toàn quốc là 135.171
người. (Nguồn: http://nld.com.vn/20090522102030395P0C1077/chi-7-tre-anh-
HIV/AIDS hiện nay đã trở thành một trong những vấn đề nóng bỏng của
toàn nhân loại. Nó được xem là “căn bệnh thế kỷ”, là mối đe dọa cho con người
bởi khả năng gây tử vong cao, sự lây lan nhanh chóng, và hiện nay vẫn chưa có loại
thuốc đặc trị nào có thể chữa được bệnh này cũng như chưa có vắc xin phòng
bệnh.
* Ở Việt Nam:
HIV/AIDS cũng là vấn đề đòi hỏi rất nhiều sự quan tâm của xã hội. Từ ca
nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm 1990, đến nay số trường hợp nhiễm
HIV/AIDS hiện đang còn sống được báo cáo trên toàn quốc là 135.171 người.
17
(Nguồn:
Một trong những đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS chính là trẻ em.
Theo thống kê của tổ chức phòng chống AIDS liên hợp quốc thì tổng số ca nhiễm
HIV mới trong năm 2007 là 2,5 triệu người, trong đó người lớn là 2,1 triệu và trẻ
em là 420.000 trẻ. Tổng số ca tử vong do AIDS là 2,1 triệu, trong đó người lớn là
số trẻ em bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS cũng đang ngày càng gia tăng.
Dự kiến, số trẻ này sẽ tiếp tục tăng vì hằng năm vẫn có 600 phụ nữ nhiễm HIV sinh
con. Đại đa số những trẻ em mới bị nhiễm là do lây từ người mẹ tại thời điểm trước
hoặc ngay sau khi sinh. 1/2 trong số này sẽ tử vong trong vòng 2 năm đầu tiên của
cuộc đời nếu không được chăm sóc y tế đúng cách.
Trẻ em bị nhiễm HIV/ AIDS được sống trong các Trung tâm bảo trợ xã hội
thường do các bệnh viện hoặc các gia đình không có khả năng chăm sóc các em gửi
đến (không ngoại trừ trường hợp các em bị bỏ rơi được gom về). Nhiều em không
biết nguồn gốc gia đình mình. Các em dễ bị mất gia đình, mất lai lịch và sự thừa kế.
Như vậy, có thể thấy ảnh hưởng HIV/AIDS đến trẻ em là rất lớn, dù trẻ
không mang trong mình căn bệnh, không sống trong một gia đình có bố mẹ là bệnh
nhân HIV/AIDS thì căn bệnh thế kỷ vẫn có thể ảnh hưởng, đôi khi có tính chất
quyết định đối với cuộc sống của các em.
7. Giải pháp Công tác xã hội.
1. Lý thuyết và kỹ năng áp dụng:
Từ những nhận định về thể trạng, tâm lý, nhu cầu của trẻ bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS nói chung và trẻ bị nhiễm HIV/AIDS nói riêng, cũng như qua việc xem
xét thái độ, phản ứng của xã hội với nhứng trẻ này, với vai trò là nhân viên CTXH
ta có thể áp dụng Lý thuyết hệ thống, phương pháp Công tác xã hội với cá nhân.
Trong quá trình áp dụng, có thể kết hợp sử dụng các kỹ năng: Tham vấn, kỹ năng
đặt câu hỏi, kỹ năng thấu cảm...
2. Tiến trình thực hiện :
- Tiếp cận đối tượng: Tiếp cận trẻ nhiễm HIV tại địa phương, tại các trung
tâm nuôi dạy trẻ có HIV.
18
- Nhận diện vấn đề: Xác định giai đoạn mắc bệnh của trẻ: đã chuyển sang
giai đoạn AIDS hay chưa, tình trạng sức khỏe hiện tại của trẻ ra sao, điều kiện sống
hiện tại của trẻ đã đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của trẻ về vật chất, an
toàn… đến mức độ nào.
- Thu thập dữ liệu: Bằng kĩ năng tham vấn, kĩ năng giao tiếp nhân viên Công
tác xã hội có thể thu thập nguồn tin từ người thân, người có quan hệ với đối trẻ để
hiểu về những đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Vận dụng lý thuyết hệ thống để thấy
được mức độ ảnh hưởng cũng như những điểm thiếu sót trong môi trường trẻ đang
sinh sống ( như xem xét xem trẻ có được đến trường hay không, có được sống
trong gia đình không, có được quan tâm chăm sóc, được khám chữa bệnh thường
kỳ ở các cơ sở y tế hay không…) Đồng thời qua kĩ năng giao tiếp tạo sự đồng cảm,
tạo niềm tin trong quá trình tương tác giữa chủ thể và đối tượng.
- Chẩn đoán: Đánh giá đúng tình hình của trẻ, các tiềm năng, những mối
quan hệ xã hội (gia đình, trung tâm…) của các trẻ, xác định khó khăn trở ngại, từ
đó đề ra mục tiêu giải quyết.
- Kế hoạch trị liệu: Tạo điều kiên cho trẻ áp dụng các dịch vụ chăm sóc( tư
vấn, giúp trẻ hòa nhập cộng đồng, thay đổi môi trường…). Vận động trẻ tự ý thức
quan hệ xã hội và thích nghi xã hội, đồng thời giúp trẻ có nhận thức đúng về căn
bệnh của mình, cách bảo vệ an toàn cho bản thân cũng như cho những người xung
quanh.
- Lượng giá: Quá trình trợ giúp trẻ nhiễm HIV/AIDS cần một thời gian dài,
vận dụng, đánh giá và điều chỉnh các biện pháp, quan hệ xã hội phù hợp. Xem xét
mức độ tiến triển của trẻ để có thể sửa đổi bổ xung các biện pháp mới và xem đã
nên dừng lại hay tiếp tục, hay sử dụng biện pháp trợ giúp thay thế.
II. Áp dụng vào một trường hợp cụ thể
Em A 7 tuổi bị nhiễm HIV từ mẹ truyền sang từ khi mới ra đời. Cả cha và
mẹ em đều đã qua đời vì AIDS. Em sống với bác ruột. Nhưng bác trai thường
xuyên vắng nhà do làm ăn xa ( mỗi tháng về nhà 2 ngày ); bác gái và 2 em con bác
kỳ thị, không yêu thương chăm sóc. A không được đến trường học như những em
nhỏ khác, không được đưa đến khám chữa ở bệnh viện hay các cơ sở y tế. A không
có bạn, không người chia sẻ. A không hiểu gì về căn bệnh đang mang trong mình.
19
Đây là một ca công tác xã hội cá nhân cụ thể, do vậy tiến trình giúp đỡ A
cũng tuân theo trình tự gồm 7 bước cơ bản. Nhưng ở đây, nhóm chỉ đi vào phân
tích những nét chính, cơ bản trong tiến trình can thiệp giúp đỡ A chứ không đề cập
lại tất cả các bước của tiến trình.
4.1 Phân tích trường hợp
A đang mang trong mình căn bệnh HIV – căn bệnh nguy hiểm, những người
trong gia đình cũng kì thị và không quan tâm chăm sóc A.
A thiếu hụt các hệ thống cơ bản như: bạn bè, trường học, bệnh viện, các tổ
chức xã hội trợ giúp... Em lại gặp phải khó khăn trong mối quan hệ với hệ thống
phi chính thức quan trọng là gia đình
Bố mẹ A qua đời nên A phải tự thích nghi với một cuộc sống mới không có
sự chăm sóc của bố mẹ, sự xa lánh của mọi người, em chỉ cô đơn thui thủi có một
mình. Đó là những áp lực từ môi trường tác động lên em.
4.2 Giải quyết vấn đề:
a) Thu thập những thông tin liên quan đến em từ các nguồn tin có thể: họ
hàng, làng xóm… để phân tích cụ thể và chính xác hơn trường hợp của A.
b) Thiết lập các hệ thống trợ giúp mà em còn thiếu hụt:
- Cải thiện tốt hơn mối quan hệ của A với hệ thống gia đình (những người
họ hàng) và những người lân cận quanh em (hàng xóm, bạn bè…). =>Nhân viên xã
hội cần áp dụng mô hình trị liệu nhân thức hành vi để thay đổi suy nghĩ, định kiến
của mọi người đối với A.
c) Hướng dẫn A cách tự chăm sóc mình.
Người nhân viên CTXH cần hướng dẫn cho em những kiến thức cơ bản nhất
về HIV một cách dễ hiểu để em có thể hiểu được và biết cách tự chăm sóc mình.
d) Khám phá và phát huy những khả năng mà A có:
Nhân viên XH sử dụng các kĩ năng trong quá trình giúp đỡ A: Thấu
cảm, tham vấn, khuyến khích… nhằm tìm hiểu và giúp A nhận ra tiềm năng, tự tin
phát huy khả năng của mình.
III. Kết luận.
Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS là một bộ phận cần rất nhiều sự quan
tâm của xã hội, các nhu cầu của các em chưa được đáp ứng một cách đầy đủ. Cuộc
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn Các Chuyên đề công tác xã hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_mon_cac_chuyen_de_cong_tac_xa_hoi.docx

