Chuyển dịch cơ cấu lĩnh vực việc làm ở Việt Nam 2 thập kỷ gần đây dưới góc nhìn đoàn hệ
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
29
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LĨNH VỰC VIỆC LÀM
Ở VIỆT NAM 2 THẬP KỶ GẦN ĐÂY
DƢỚI GÓC NHÌN ĐOÀN HỆ
NGUYỄN NGỌC TOẠI*
Sử dụng phương pháp phân tích đoàn hệ để tổ chức và phân tích cấu trúc nghề
nghiệp của các cá nhân từ 15 tuổi trở lên dựa trên dữ liệu các cuộc Điều tra mức
sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) từ 1998 tới 2018, kết quả bài viết cho thấy:
(1) Tuy vẫn có những tín hiệu tích cực nhưng quá trình chuyển dịch cơ cấu lao
động việc làm theo hướng giảm tỷ trọng trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp,
tăng tỷ trọng trong các ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ ở
nước ta vẫn còn diễn ra khá chậm. (2) Những khác biệt trong phân bố độ tuổi
(hiệu ứng tuổi) qua các giai đoạn (hiệu ứng thời gian) cùng với xu hướng tăng
liên tục độ tuổi trung bình ở các lĩnh vực phản ánh xu hướng “già hóa” độ tuổi
lao động, đặc biệt trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp, mà nguyên nhân
bước đầu có thể là do hiệu ứng đoàn hệ khi sự sụt giảm tỷ lệ làm việc trong lĩnh
vực này ngày càng cao hơn ở các thế hệ gần đây hơn.
Từ khóa: lĩnh vực việc làm, đoàn hệ, phân tích đoàn hệ (APC), Điều tra mức sống
hộ gia đình Việt Nam (VHLSS)
Nhận bài ngày: 16/10/2020; đưa vào biên tập: 17/10/2020; phản biện: 19/10/2020;
duyệt đăng: 16/11/2020
1. DẪN NHẬP
trở lên đang làm việc trong khu vực
nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 37,7%;
công nghiệp - xây dựng chiếm 26,7%
và dịch vụ chiếm 35,6% (Tổng cục
Thống kê, 2019: 29-30).
Sau hơn 30 năm đổi mới, cùng với
những thành tựu đã đạt được trên
nhiều lĩnh vực, cơ cấu lao động việc
làm ở Việt Nam cũng có sự chuyển
dịch ngày càng hiện đại hơn theo
hướng giảm dần tỷ trọng lao động làm
việc trong khu vực nông - lâm - ngư
nghiệp, tăng dần tỷ trọng làm việc
trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng
và thương mại - dịch vụ. Tính đến
năm 2018, tỷ trọng lao động từ 15 tuổi
Cơ cấu xã hội (bao gồm cơ cấu lao
động việc làm) là một trong những vấn
đề trung tâm trong các nghiên cứu
khoa học xã hội trên thế giới. Ở Việt
Nam, Chính phủ rất quan tâm đến vấn
đề này; Tổng cục Thống kê (thuộc Bộ
Kế hoạch và Đầu tư) và Viện Khoa
học Lao động và Xã hội (thuộc Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội) là hai
cơ quan chuyên cung cấp các số liệu
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
NGUYỄN NGỌC TOẠI – CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LĨNH VỰC VIỆC LÀM…
30
thống kê và báo cáo liên quan tới chủ là các nguồn dữ liệu đóng về dân số
đề này. Bên cạnh đó, rất nhiều tổ (thường là các dữ liệu trên quy mô
toàn quốc hoặc khu vực để tránh ảnh
hưởng bởi các yếu tố như di cư tới
cấu trúc chung của các đoàn hệ). Cho
đến nay ở Việt Nam, thuật ngữ “đoàn
hệ” cũng đã được nhắc tới hoặc sử
dụng trong một số công trình nghiên
cứu chủ yếu tập trung trong lĩnh vực
sức khỏe và dịch tễ học (nghiên cứu
về bệnh lao, ung thư…). Tuy nhiên,
xét theo những yêu cầu vừa nêu trên,
các nghiên cứu này thông thường
không được coi là phân tích đoàn hệ,
mặc dù chúng liên quan đến đoàn hệ
theo một cách nào đó (Glenn, 2005: 3).
chức và cá nhân khác cũng đã có
nhiều công trình nghiên cứu đề cập
tới các khía cạnh khác nhau, cả trên
quy mô toàn quốc và các nghiên cứu
trường hợp nhỏ hơn, về chủ đề cơ
cấu xã hội nói chung và cơ cấu lao
động việc làm nói riêng. Tuy nhiên,
các nghiên cứu này thường chỉ tập
trung vào từng thời điểm cụ thể
và/hoặc nếu có so sánh theo thời gian
thì chỉ là các nghiên cứu theo lát cắt
ngang giữa các thời kỳ hoặc các năm
cụ thể, chưa có công trình nào về cơ
cấu lao động việc làm kết hợp nghiên
cứu so sánh cả chiều dọc và chiều
ngang giữa các đoàn hệ tuổi theo thời
gian.
Trong khuôn khổ đề tài “Cơ cấu lĩnh
vực nghề nghiệp theo dòng chảy đoàn
hệ tại Việt Nam hiện nay (qua phân
tích dữ liệu Điều tra mức sống dân cư
1998 - 2008 - 2018)”(1), bài viết chủ
yếu mô tả bức tranh chung về sự
chuyển dịch cơ cấu việc làm theo các
lĩnh vực tại Việt Nam trong khoảng 2
thập niên gần đây chứ không đi sâu
vào việc phân tích các yếu tố ảnh
hưởng tới các xu hướng chuyển dịch
này (nếu có) dựa trên các mô hình
thống kê chuyên sâu hơn.
Thuật ngữ “đoàn hệ” (cohort) ban đầu
dùng để chỉ một nhóm các chiến binh
hoặc binh lính, và đôi khi được sử
dụng theo nghĩa rất chung để chỉ các
cá nhân có một số đặc điểm chung.
Tuy nhiên, trong khoa học xã hội, khái
niệm này được sử dụng phổ biến hơn
để chỉ những cá nhân trải qua một sự
kiện cụ thể trong một khoảng thời gian
xác định, nghĩa là, những người được
sinh ra trong một năm, thập niên hoặc
khoảng thời gian xác định. Phân tích
đoàn hệ thường được dành cho các
nghiên cứu trong đó hai hoặc nhiều
đoàn hệ được so sánh với ít nhất một
biến phụ thuộc đo tại hai hoặc nhiều
2. NGUỒN DỮ LIỆU VÀ PHƢƠNG
PHÁP PHÂN TÍCH
2.1. Nguồn dữ liệu
Xét về quy mô và tính chất đại diện (ở
cấp độ tỉnh, khu vực và quốc gia), dữ
liệu từ các cuộc Tổng điều tra dân số
thời điểm khác nhau. Bên cạnh đó, vì và nhà ở và Điều tra mức sống hộ gia
đình Việt Nam (VHLSS) là những
nguồn dữ liệu quan trọng và phù hợp
nhất đối với các nghiên cứu về nhiều
là phân tích thứ cấp bằng phương
pháp định lượng nên một yêu cầu
quan trọng trong nghiên cứu đoàn hệ
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
31
chủ đề như dân số, di cư, nghèo đói, tra ở một vòng điều tra trước, và một
bất bình đẳng… cũng như cơ cấu xã phần tư số hộ còn lại đã được điều tra
hội nói chung ở cấp độ vĩ mô. Tuy ở hai vòng điều tra trước) nên số hộ
nhiên, vì nhiều lý do, việc tiếp cận khảo sát trong các cuộc điều tra này là
nguồn dữ liệu Tổng điều tra dân số, không đồng nhất. Tuy nhiên, từ 2004
đặc biệt là nguồn dữ liệu thô (dữ liệu đến nay, mẫu khảo sát là giống nhau
khảo sát sơ cấp chưa qua xử lý) để cho mỗi vòng điều tra (Bảng 1). Thông
phù hợp với các phân tích đòi hỏi việc tin từ các bộ dữ liệu VHLSS đều mang
tái cấu trúc dữ liệu gần như bất khả thi. tính đại diện và phù hợp cho các phân
tích tỷ lệ trên quy mô toàn quốc của
Trong khi đó, nguồn dữ liệu VHLSS
nghiên cứu này nếu mẫu được gia
tương đối dễ tiếp cận hơn. Tính đến
trọng (Weighting survey data) một
nay đã có tổng cộng 11 cuộc điều tra
với các tên gọi khác nhau(2), cuộc điều
cách phù hợp cho các cá nhân được
đưa vào phân tích.
tra sớm nhất được tiến hành năm
1992-1993 và cuộc điều tra thứ hai Cũng cần lưu ý thêm, dữ liệu thu thập
năm 1997-1998, từ năm 2002 đến nay trong mỗi vòng điều tra thường bao
tiến hành khảo sát 2 năm một lần vào gồm 2 loại: (1) thông tin về hộ gia đình
những năm chẵn. Mẫu điều tra và (2) thông tin về địa bàn khảo sát.
VHLSS được lấy dựa trên bộ mẫu cơ Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử
sở của Tổng điều tra dân số gần nhất, dụng các thông tin từ bộ dữ liệu Thu
bằng phương pháp phân tầng theo nhập-chi tiêu của hộ gia đình. Trong
tỉnh và theo khu vực nông thôn/thành đó bao gồm toàn bộ thông tin về các
thị. Từ năm 2002 trở về trước, khi nội đặc điểm nhân khẩu học (giới tính,
dung và phương pháp các cuộc điều tuổi,…) và nghề nghiệp của tất cả các
tra chưa thật sự thống nhất và chưa cá nhân từ 15 tuổi trở lên hiện đang
được thiết kế theo kiểu luân phiên có việc làm (tính tại thời điểm khảo sát
như các giai đoạn sau đó (ở mỗi vòng của mỗi cuộc điều tra) từ các cuộc
điều tra, một nửa số hộ là mới, một Điều tra từ 1998 tới 2018 với những
phần tư số hộ là các hộ đã được điều đặc điểm cơ bản như trong Bảng 1.
Bảng 1. Mẫu khảo sát hộ gia đình trong các bộ dữ liệu VHLSS qua các năm và mẫu
phân tích của đề tài
Dữ liệu khảo sát VHLSS
Số cá nhân từ 15 tuổi trở lên hiện đang có việc làm
(tính tới thời điểm khảo sát) được đưa vào phân tích
Năm
1998
Số hộ
6.000
29.530
9.189
9.189
9.189
9.402
Nhân khẩu
28.633
15.617
72.928
22.766
22.373
22.107
21.617
2002
2004
2006
2008
2010
132.384
40.438
39.071
38.253
37.012
NGUYỄN NGỌC TOẠI – CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LĨNH VỰC VIỆC LÀM…
32
2012
9.399
9.399
9.399
9.399
36.655
36.095
35.787
35.076
459.404
21.648
21.365
21.108
20.603
262.132
2014
2016
2018
Tổng số 110.095
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả VHLSS 1998 đến 2018.
2.2. Phƣơng pháp phân tích
ánh hiệu ứng tuổi (khác nhau giữa các
nhóm tuổi, không chỉ tập trung ở
nhóm người lớn tuổi nhất) và hiệu
ứng thời kỳ (xu hướng giảm theo thời
gian), mà tốt hơn có thể được xem là
hiệu ứng đoàn hệ (tập trung vào một
vài thế hệ mà tuổi trưởng thành của
họ gắn với giai đoạn có số người hút
thuốc lá cao nhất).
Một trong những lý do phân tích đoàn
hệ nhận được sự chú ý ngày càng
tăng trong những năm gần đây là nhờ
những tiến bộ trong các mô hình
thống kê sử dụng các công cụ tính
toán và phương pháp tiên tiến (Fu,
2018: xi). Trong các cuốn sách hướng
dẫn về phân tích đoàn hệ nói chung
và mô hình APC (Age - Period -
Cohort) nói riêng, Bảng sống (Life
Table), Biểu đồ Lexis và mô hình phân
tích của Frost thường được nhắc đến
như là những mô hình tiêu biểu và
hữu ích cho các nhà nghiên cứu (Fu,
2018; Glenn, 2005; Mason và
Fienberg, 1985; O’Brien, 2014; Yang
và Land, 2016; Zeng và cộng sự,
2014).
Cụ thể hơn, Yang và Land (2016)
cung cấp ba mô hình thiết kế nghiên
cứu cho phép phân biệt tuổi - thời
gian - đoàn hệ và do đó phù hợp cho
phân tích APC hơn là nghiên cứu cắt
ngang hoặc là đoàn hệ đơn. Mục tiêu
của phương pháp APC là phân biệt và
ước tính thống kê các hiệu ứng duy
nhất liên quan đến tuổi, thời gian và
đoàn hệ. Tính khả thi của phương
pháp này tùy thuộc vào thiết kế nghiên
cứu và chiến lược mô hình hóa.
Một trong những bài báo đầu tiên và
được coi là kinh điển về phương pháp
phân tích đoàn hệ là nghiên cứu của
Frost về tỷ lệ tử vong do bệnh lao
trong giai đoạn 1880-1930 tại Hoa Kỳ
được xuất bản lần đầu tiên năm 1939
và in lại năm 1995 trên Tạp chí Dịch tễ
học Hoa Kỳ (Frost, 1995). Bằng cách
tổ chức dữ liệu về tỷ lệ tử vong theo
các nhóm tuổi qua các thời kỳ và mô
hình hóa thành biểu đồ theo các đoàn
Trong Hình 1, cấu trúc dữ liệu có thể
được tổ chức bao gồm 3 yếu tố (mô
hình góc trái) với tuổi nằm trên trục
tung, các giai đoạn/thời kỳ nằm trên
trục hoành, các thành viên của một
đoàn hệ cụ thể nằm trên đường chéo
(phần bôi đậm) giới hạn bởi các mũi
tên lao xuống. Cấu trúc dữ liệu này có
thể được thao tác cụ thể hơn theo giai
hệ tuổi, Frost chỉ ra rằng tỷ lệ tử vong đoạn - đoàn hệ (mô hình ở giữa) và
do bệnh lao có thể không chỉ phản theo tuổi - đoàn hệ (mô hình góc phải).
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
33
Hình 1. Cấu trúc dữ liệu theo tuổi - giai đoạn - đoàn hệ, theo giai đoạn - đoàn hệ và
theo tuổi - đoàn hệ
Nguồn: Yang và Land, 2016: 16,18, 40.
chúng tôi tổ chức theo khoảng cách 4
Trong bài viết này, cách tổ chức và
phân tích dữ liệu của chúng tôi dựa
trên mô hình của Frost và thiết kế dữ
liệu của Yang và Land. Vì dữ liệu
của cuộc khảo sát đầu tiên (1998)
được sử dụng trong nghiên cứu này
cách cuộc khảo sát gần nhất (2002)
4 năm nên để dễ dàng hơn cho các
thủ tục tính toán và phân tích(3), chúng
tôi sẽ sử dụng dữ liệu của các cuộc
khảo sát cách nhau 4 năm, bao gồm:
VHLSS1998, VHLSS2002, VHLSS2006,
VHLSS2010, VHLSS2014 và VHLSS2018.
Tương ứng, các nhóm tuổi cũng được
năm.
3. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LĨNH
VỰC VIỆC LÀM TẠI VIỆT NAM 2
THẬP NIÊN GẦN ĐÂY
3.1. Xu hƣớng chuyển dịch lao
động theo tuổi qua các giai đoạn ở
Việt Nam
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
là một chủ trương lớn của Đảng và đã
được cụ thể hóa trong nhiều chính
sách quan trọng của Chính phủ trong
Biểu đồ 1. Xu hướng chuyển dịch tỷ trọng việc làm nông - lâm - ngư nghiệp, công
nghiệp-xây dựng và thương mại - dịch vụ so với tổng số việc làm trong tất cả lĩnh
vực(4) của những người từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam từ 1998-2018 (%)
Nguồn: Xử lý của tác giả từ kết quả VHLSS 1998-2018.
NGUYỄN NGỌC TOẠI – CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LĨNH VỰC VIỆC LÀM…
34
suốt những năm qua. Tuy nhiên, nếu 3 thời điểm 1998-2008-2018, hình
so sánh về mặt tỷ trọng việc làm nông - dáng đường biểu diễn lĩnh vực nông -
lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây lâm - ngư nghiệp (đường
) đã có
dựng và thương mại - dịch vụ so với sự dịch chuyển dần theo hướng trái
tổng số việc làm trong tất cả lĩnh vực ngược từ cao hơn bên trái và dốc dần
của những người từ 15 tuổi trở lên ở sang phía bên phải (càng ở những
có thể thấy rằng xu hướng tăng tỷ khu vực nông - lâm - ngư nghiệp càng
trọng việc làm trong khu vực công giảm) tại thời điểm 1998, sang cao
nghiệp - xây dựng và thương mại - hơn ở giữa và thấp hơn ở hai đầu (tỷ
dịch vụ vẫn còn diễn ra khá chậm và lệ cao hơn tập trung ở nhóm tuổi trung
chưa theo kịp tốc độ giảm nhanh trong niên so với các nhóm tuổi trẻ hơn và
lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp suốt già hơn) trong thời điểm 2008. Tới
20 năm qua.
thời điểm gần đây nhất (2018), hình
dáng đường cong về cơ bản là ngược
lại so với năm 1998, thấp nhất ở
nhóm tuổi nhỏ nhất và bắt đầu tăng
dần cho đến khi đạt tỷ lệ cao nhất ở
độ tuổi khoảng 60 (càng lớn tuổi thì tỷ
lệ làm việc trong khu vực này càng
tăng) trước khi giảm nhanh ở những
độ tuổi lớn hơn (vốn nhiều người đã
bắt đầu không còn làm việc nữa).
hơn về xu hướng chuyển dịch cơ cấu
lĩnh vực việc làm theo các nhóm tuổi
qua các thời điểm từ 1998 đến 2018.
Nhìn một cách tổng quan về hình
dáng các đường cong biểu diễn cho 3
lĩnh vực, có thể thấy sự khác biệt lớn
ở thời điểm cuối (2018) so với 2 thời
điểm trước đó (1998 và 2008), vốn có
nhiều sự tương đồng hơn.
Trong khi đó, hình dáng hai đường
cong còn lại đại diện cho tỷ lệ làm việc
Xét riêng từng đường cong cụ thể qua
Biểu đồ 2. Cơ cấu lĩnh vực việc làm của những người từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam chia
theo nhóm tuổi qua các thời điểm 1998-2008-2018 (%)
Nguồn: Xử lý của tác giả từ kết quả VHLSS 1998-2008-2018.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
35
trong khu vực công nghiệp - xây dựng xu hướng dịch chuyển từ trái sang
(
) và khu vực thương mại - dịch phải tương ứng từ độ tuổi nhỏ hơn
) về cơ bản không có nhiều sang độ tuổi lớn hơn theo các thời
vụ (
ngư nghiệp ( ). Sự thay đổi trong phản ánh rõ hơn điều này khi độ tuổi
lĩnh vực công nghiệp - xây dựng chủ trung bình của những người hiện có
yếu về độ dốc từ trái sang phải (theo việc làm (tính tại thời điểm điều tra)
độ tuổi tăng dần) qua ba thời điểm theo các lĩnh vực liên tục tăng trong
1998-2008-2018, tương ứng với sự suốt 2 thập niên qua. Tính chung, so
tập trung tăng lên khá đồng đều ở độ với thời điểm 1998, tuổi trung bình
tuổi từ 19-38 tại thời điểm 2018 thay của những người có việc làm vào năm
vì tập trung ở những nhóm tuổi trẻ 2018 đã tăng thêm 7,8 tuổi (40,6 tuổi
hơn trong các khoảng thời gian trước ở thời điểm 2018 so với 32,8 tuổi năm
(1998 và 2008). Đối với lĩnh vực 1998). Trong đó, thương mại - dịch vụ
thương mại - dịch vụ, suốt 20 năm là lĩnh vực ít có sự thay đổi nhất khi
qua vẫn chủ yếu tập trung ở những chỉ tăng thêm 4 tuổi trong suốt 20 năm
nhóm tuổi trung niên nhưng có xu qua (40,3 tuổi ở thời điểm 2018 so với
hướng dịch chuyển dần mức độ tập 36,3 tuổi năm 1998); khu vực công
trung sang các nhóm tuổi lớn hơn nghiệp - xây dựng có mức tăng cao
theo thời gian.
hơn (tăng 6,4 tuổi, từ 30,6 tuổi ở thời
điểm 1998 lên 37,1 tuổi năm 2018).
Đặc biệt, khu vực nông - lâm - ngư
nghiệp có mức tăng rất cao (tăng 11,2
tuổi, từ 32,5 tuổi ở thời điểm 1998 lên
43,7 tuổi năm 2018), đồng thời đường
đại diện có xu hướng thẳng và dốc
hơn trong khoảng 10 năm gần đây dự
Về cơ bản, sự thay đổi hình dáng các
đường cong đại diện cho ba lĩnh vực
tuổi lao động ở tất cả lĩnh vực, đặc
biệt trong khu vực nông - lâm - ngư
nghiệp (cả 3 đường biểu diễn đều có
Biểu đồ 3. Độ tuổi trung bình của những người hiện có việc làm theo các lĩnh vực qua
các thời điểm từ 1998 đến 2018 (tuổi)
Nguồn: Xử lý của tác giả từ kết quả VHLSS 1998 - 2018.
NGUYỄN NGỌC TOẠI – CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LĨNH VỰC VIỆC LÀM…
36
báo xu hướng này sẽ còn diễn ra qua các thời điểm từ 1998 đến 2018,
mạnh hơn trong những năm tới.
dường như có một xu hướng giảm
liên tục tỷ lệ làm việc trong khu vực
nông - lâm - ngư nghiệp ở 7 nhóm tuổi
đầu từ 15-18 đến 39-42. Đồng thời, có
một xu hướng ngược lại đối với 8
nhóm tuổi tiếp theo từ 43-46 đến 71+
khi càng tới các thời điểm gần đây thì
tỷ lệ làm việc trong lĩnh vực này càng
tăng. (2) Nếu so sánh đồng thời theo
chiều dọc qua các nhóm tuổi ở từng
thời điểm cụ thể và theo chiều ngang
qua các giai đoạn từ 1998 đến 2018,
có thể thấy xu hướng chuyển dịch các
con số bắt đầu từ cao nhất ở các
nhóm tuổi trẻ hơn ở những giai đoạn
đầu (1998-2002), sang tập trung ở
Những kết quả trên cho thấy có
những sự khác biệt trong phân bố độ
tuổi (hiệu ứng tuổi) qua các giai đoạn
(hiệu ứng thời gian) về cơ cấu lĩnh
vực việc làm ở Việt Nam trong 20 năm
qua. Vậy đâu là những nguyên nhân
chính dẫn tới những khác biệt này?
Đồng thời, điều này cũng gợi ý về một
số câu hỏi khác như: có sự khác biệt
nào giữa các thế hệ (hiệu ứng đoàn
hệ) về cơ cấu việc làm trong các lĩnh
vực, đặc biệt trong khu vực nông -
lâm - ngư nghiệp? Nếu có thì do đâu?
Và điều này có thể đặt ra những hàm
ý gì về mặt chính sách? Chúng tôi sẽ
cố gắng trả lời một phần
Bảng 2: Cơ cấu nhóm tuổi của những người từ 15 tuổi
trở lên trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp ở Việt Nam
từ 1998 đến 2018 (%)
các câu hỏi này trong
phần tiếp theo.
3.2. Chuyển dịch cơ cấu
lĩnh vực việc làm tại Việt
Nam dƣới góc nhìn đoàn
hệ
1998 2002 2006 2010 2014 2018
15-18
19-22
23-26
27-30
15,9
11,4
8,2
12,1
10,7
8,3
9,2
9,6
7,7
6,7
9,3
8,6
7,9
7,9
5,8
7,5
7,2
7,5
4,4
5,3
5,7
7,3
Phân tích chi tiết hơn quá
trình chuyển dịch cơ cấu
việc làm trong từng lĩnh
vực theo các nhóm tuổi
tương ứng với từng thời
điểm của các cuộc Điều
tra mức sống hộ gia đình
(VHLSS) từ năm 1998 tới
2018, chúng ta sẽ có các
bảng theo từng lĩnh vực
như bên dưới.
8,1
8,1
31-34
8,7
8,8
8,2
7,6
7,8
6,6
35-38
39-42
43-46
47-50
51-54
55-58
59-62
63-66
67-70
71+
9,8
8,4
7,4
5,6
3,7
4,1
3,1
2,2
1,9
1,6
9,5
9,6
9,1
6,9
5,1
3,4
2,8
2,1
1,8
1,8
9,4
9,7
9,4
9,1
6,5
4,7
3,2
2,5
1,8
2,1
8,3
8,9
9,0
8,4
7,5
5,6
4,4
2,2
2,0
2,4
7,8
8,1
8,7
9,0
9,1
6,9
5,8
3,9
1,9
2,8
8,2
7,7
8,3
8,6
8,5
9,0
7,4
5,4
4,0
3,5
theo các cách khác nhau
chúng ta sẽ thấy: (1) Nếu
so sánh theo chiều ngang
Tổng
100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Nguồn: Xử lý của tác giả từ kết quả VHLSS 1998 -
2018.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
37
những nhóm tuổi ở giữa trong giai đang làm việc (tại thời điểm mỗi cuộc
đoạn giữa (2006-2010), và cuối cùng điều tra) trong lĩnh vực nông - lâm -
ngư nghiệp. Do đó, dữ liệu này chỉ
cung cấp một sự hình dung ban đầu
vệ sự dịch chuyển theo độ tuổi qua
thời gian. Để ước lượng chính xác
hơn quá trình chuyển dịch theo các
đoàn hệ cần tính lại tỷ lệ này dựa trên
tổng số 100% những người hiện đang
làm việc (trong tất cả lĩnh vực) theo
từng độ tuồi tương ứng tại thời điểm
chúng ta xem xét đường chéo được
bôi đậm, đường chéo này thể hiện sự
thay đổi tỷ lệ làm nông - lâm - ngư
nghiệp của đoàn hệ những người sinh
trong khoảng thời gian từ 1980-1983
là tập trung ở những nhóm tuổi lớn
hơn trong giai đoạn gần đây nhất
(2014-2018).
Phân bố này phản ánh rõ sự thay đổi
tỷ lệ làm việc trong khu vực nông -
lâm - ngư nghiệp theo từng độ tuổi và
giai đoạn khác nhau (hiệu ứng tuổi và
thời kỳ). Bên cạnh đó, từ những kết
quả trên, có thể thấy những con số
cao nhất thường tập trung dọc theo
đường chéo chính của bảng bắt đầu
bên góc trái từ nhóm tuồi 15-18 tại
thời điểm 1998 kéo dài xuống góc
phải ở nhóm tuổi cao nhất 71+ ở thời
điểm 2018. Những đường chéo song
song này (đường bôi đậm và
Bảng 3: Tỷ lệ làm việc trong lĩnh vực nông-lâm-ngư
nghiệp của những người từ 15 tuổi trở lên ở Việt
Nam từ 1998 đến 2018 (%)
các đường chéo song song
với nó) biểu thị cho các
đoàn hệ tương ứng tương
tự mô hình cấu trúc đoàn hệ
Land (2016). Ở đây, sự
phân bố tỷ lệ này có thể gợi
ý về một câu chuyện khác,
đó là câu chuyện về các
đoàn hệ. Hay nói cách khác,
sự thay đổi tỷ lệ làm việc
trong lĩnh vực nông - lâm -
ngư nghiệp ở Việt Nam
trong 20 năm qua có thể liên
quan tới những khác biệt
giữa các đoàn hệ.
1998 2002 2006 2010 2014 2018
15-18
19-22
23-26
27-30
31-34
35-38
39-42
43-46
47-50
51-54
55-58
59-62
63-66
67-70
71+
54,1
53,0
52,8
59,3
61,7
63,1
59,6
61,8
61,4
57,5
61,3
56,5
46,4
37,9
17,6
40,7
36,1 25,8 28,7
43,1 33,2 28,2
45,7 34,9 30,3
49,6 39,5 33,3
53,1 46,0 35,0
53,0 48,4 37,3
53,6 48,8 40,6
55,1 49,2 42,2
55,2 50,5 43,2
58,1 48,9 44,0
57,6 48,3 42,1
50,1 50,3 46,6
44,9 41,4 38,2
39,2 34,6 39,5
15,8 15,1 14,6
34,0 30,3 27,1
23,5 16,0
28,3 23,5
30,2 23,3
30,8 27,2
33,3 24,5
35,3 29,4
37,7 29,6
42,2 33,0
45,2 36,9
46,8 40,5
43,6 42,3
45,0 42,3
47,0 43,2
35,2 41,8
16,0 15,4
26,5 22,2
Lưu ý rằng, các con số thể
hiện tỷ lệ theo nhóm tuổi
trên tổng số 100% những
người từ 15 tuổi trở lên hiện
Tổng
Nguồn: Xử lý của tác giả từ kết quả VHLSS 1998 -
2018.
NGUYỄN NGỌC TOẠI – CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LĨNH VỰC VIỆC LÀM…
38
trong 20 năm qua (1998-2018), tức là đường chéo góc trên bên phải và góc
vào năm 1998 những người thuộc
đoàn hệ này sẽ trong độ tuổi từ 15-18
tuổi và tỷ lệ làm trong lĩnh vực nông -
lâm - ngư nghiệp của họ chiếm 54,1%
trong tổng số 100% những người
cùng độ tuổi có việc làm tại thời điểm
1998 (hay nói cách khác, tại thời điểm
năm 1998, hơn ½ số người thuộc
đoàn hệ sinh từ 1980-1983 làm việc
trong lĩnh vực nông - lâm -
dưới bên trái – đại diện cho các đoàn
hệ trẻ nhất và già nhất).
So với lĩnh vực nông - lâm - ngư
nghiệp, phân bố tỷ lệ theo nhóm tuổi
trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng
đáng chú ý giữa các đoàn hệ (không
phân bố tập trung theo các đường
Bảng 4: Cơ cấu nhóm tuổi của những người từ 15 tuổi
trở lên trong lĩnh vực công nghiệp-xây dựng ở Việt
Nam từ 1998 đến 2018 (%)
ngư nghiệp, còn lại làm
trong các lĩnh vực khác), 4
năm sau (tức là vào năm
2002) họ sẽ trong độ tuổi
19-22 và lúc này tỷ lệ làm
nông nghiệp của họ giảm
xuống còn 43,1%. Tương
tự như vậy, qua mỗi giai
1998 2002 2006 2010 2014 2018
15-18
19-22
23-26
27-30
31-34
35-38
39-42
43-46
47-50
51-54
55-58
59-62
63-66
67-70
71+
11,0
17,8
16,1
10,7
9,6
8,7
15,0
14,7
11,2
10,5
10,5
10,3
7,9
7,5
14,8
14,4
10,6
9,6
5,4
9,6
3,7
9,6
2,5
6,4
14,0
12,4
11,2
10,0
10,6
8,8
11,9
13,0
12,0
11,5
10,7
9,1
11,8
11,9
11,9
12,3
11,6
9,9
đoạn
4
năm (tương
9,5
10,1
9,8
đương với các thời điểm
2006, 2010, 2014 và 2018)
tuổi của họ sẽ tăng lên lần
lượt 4 tuổi và tỷ lệ làm
nông nghiệp của họ tương
ứng với các ô ở các nhóm
tuổi tăng dần qua mỗi thời
điểm.
8,5
6,2
7,4
4,2
5,1
6,1
6,7
7,6
8,2
2,0
2,7
4,2
4,6
5,1
5,6
1,1
1,4
2,4
2,9
2,6
4,3
1,3
0,8
0,9
1,6
1,9
1,9
0,7
0,6
0,7
0,7
0,7
1,2
0,7
0,4
0,8
0,4
0,3
0,4
Bằng cách tương tự,
chúng ta sẽ tính toán
được đối với các đoàn hệ
còn lại (các đường chéo
song song với đường bôi
0,6
0,3
0,6
0,8
0,4
0,3
Tổng
100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Nguồn: Xử lý của tác giả từ kết quả VHLSS 1998 -
2018.
chéo của bảng như phân tích ở trên).
đậm này) và so sánh chúng với nhau.
có một xu hướng tập trung các con số
cao hơn (tỷ lệ làm nông nghiệp) ở các
đoàn hệ ở giữa (các đường chéo ở
Đối với khu vực công nghiệp - xây
2018), mặc dù vẫn có sự sụt giảm lớn
tỷ lệ làm việc ở các nhóm tuổi từ 15-
26 và tăng tỷ lệ ở các nhóm tuổi từ 27
giữa) và giảm dần ở hai đầu (các đến ngoài 60 nhưng xu hướng chính
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
39
Như vậy, có vẻ như sự
khác biệt giữa các đoàn
hệ (hiệu ứng đoàn hệ)
chỉ xảy ra trong khu vực
nông - lâm - ngư nghiệp,
trong khi hai lĩnh vực
còn lại mới chỉ cho thấy
những sự khác biệt về
độ tuổi (hiệu ứng tuổi)
và theo thời gian (hiệu
ứng giai đoạn).
Bảng 5. Cơ cấu nhóm tuổi của những người từ 15 tuổi trở
lên trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ ở Việt Nam từ
1998 đến 2018 (%)
1998 2002
2006 2010 2014 2018
15-18
19-22
23-26
27-30
31-34
35-38
39-42
43-46
47-50
51-54
55-58
59-62
63-66
67-70
71+
6,5
9,2
5,0
3,6
7,8
2,6
7,1
1,8
5,5
1,9
4,6
8,5
9,8
9,7
11,1
8,3
9,8
10,2
11,6
11,8
10,3
10,5
9,2
8,9
10,2
9,9
10,4
10,8
12,5
12,1
10,7
8,1
10,8
10,0
12,3
10,8
10,3
8,9
10,4
11,7
10,2
9,9
10,2
10,7
10,7
10,8
10,0
7,1
11,8
11,4
9,4
10,4
8,8
4. MỘT SỐ NHẬN XÉT
BƢỚC ĐẦU VÀ THẢO
LUẬN
5,8
8,8
4,9
5,0
7,2
7,5
7,6
4,5
2,5
3,9
4,9
6,1
6,9
Những kết quả phân
tích bước đầu về quá
trình chuyển dịch cơ
cấu việc làm theo các
lĩnh vực ở nước ta
khoảng 2 thập niên gần
đây cho thấy, vẫn có
2,4
2,1
1,9
2,4
3,7
4,5
1,9
1,2
1,7
1,2
1,3
2,2
1,5
0,7
0,9
0,8
0,9
0,8
1,1
0,7
1,3
0,9
0,9
1,2
Tổng
100,0
100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Nguồn: Xử lý của tác giả từ kết quả VHLSS 1998 - 2018.
vẫn tập trung hầu hết trong độ tuổi từ
những tín hiệu tích cực khi tỷ trọng
việc làm trong khu vực công nghiệp -
xây dựng và thương mại - dịch vụ liên
tục tăng đều qua các năm. Tuy nhiên,
tốc độ tăng trưởng trong hai lĩnh vực
này còn chậm. Đồng thời, mặc dù tỷ
trọng việc làm trong khu vực nông -
lâm - ngư nghiệp có xu hướng giảm
mạnh trong suốt 20 năm qua nhưng
cho đến nay vẫn là khu vực chiếm tỷ
trọng cao nhất.
23-42.
Trong khi đó, xét về cơ cấu độ tuổi,
thương mại - dịch vụ có lẽ là lĩnh vực
ít có sự thay đổi nhất khi hầu như luôn
có một mức độ tập trung cao ở những
nhóm tuổi từ 27 đến khoảng 50 tuổi
với khu vực công nghiệp - xây dựng,
phạm vi tập trung độ tuổi làm việc
trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ là
rộng hơn, điều này là hợp lý bởi tính
chất công việc ở 2 lĩnh vực này là
tương đối khác nhau với mức độ đòi
hỏi về sức khỏe trong khu vực công
nghiệp - xây dựng là cao hơn nên độ
Bên cạnh đó, sự dịch chuyển các
đường cong biểu diễn cơ cấu lao
động theo nhóm tuổi ở cả 3 lĩnh vực
tương ứng từ độ tuổi nhỏ hơn sang độ
tuổi lớn hơn và tuổi lao động trung
tuổi ngoài 40 đã bắt đầu không còn bình liên tục tăng theo thời gian từ
phù hợp. 1998 đến 2018 phản ánh xu hướng
NGUYỄN NGỌC TOẠI – CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LĨNH VỰC VIỆC LÀM…
40
“già hóa” của lực lượng lao động, đặc phân tích APC mà phạm vi bài viết
biệt trong khu vực nông - lâm - ngư này chưa đề cập tới. Với khả năng
nghiệp khoảng 10 năm gần đây. tách được các tác động riêng biệt của
Những kết quả này cho thấy có những từng yếu tố vốn có mối quan hệ tuyến
sự khác biệt trong phân bố độ tuổi tính, các mô hình thống kê APC hiện
(hiệu ứng tuổi) qua các giai đoạn (hiệu nay đã được chứng minh là khả thi
ứng thời gian) về cơ cấu lĩnh vực việc mà chỉ thời gian trước đây còn được
làm. Đồng thời, phản ánh thực trạng xem là một khó khăn không thể vượt
sụt giảm tỷ lệ làm việc trong lĩnh vực qua.
nông - lâm - ngư nghiệp ngày càng
Trên cơ sở áp dụng phương pháp
cao hơn ở các thế hệ gần đây hơn
phân tích đoàn hệ, bài viết cung cấp
(hiệu ứng đoàn hệ).
một cách tiếp cận mới trong nghiên
Phương pháp đoàn hệ dựa trên các cứu chuyển dịch cơ cấu lĩnh vực việc
mô hình tổ chức dữ liệu theo bảng làm cũng như những hướng nghiên
chéo giúp nhà nghiên cứu có cái nhìn cứu thực nghiệm về các chủ đề có
trực quan và phần nào phán đoán liên quan dựa trên việc phân tích các
được hiệu ứng từng nhân tố (tuổi - cơ sở dữ liệu khác nhau hiện nay.
thời kỳ - đoàn hệ) trong xu hướng Trong đó, các nguồn dữ liệu điều tra
chuyển dịch chung đối với từng lĩnh quốc gia đang ngày càng dễ tiếp cận
vực việc làm. Tuy nhiên, vì nó chưa và có chất lượng hơn nhờ việc không
cung cấp được các phân tích dựa trên ngừng được cải thiện về mặt phương
mô hình hóa dữ liệu một cách nghiêm pháp và tổ chức điều tra có hệ thống
ngặt nên cũng khó biện minh cho bất của Tổng cục Thống kê trong thời
kỳ kết luận nào. Do vậy, cần xây dựng gian gần đây.
các mô hình thống kê phù hợp với các
CHÚ THÍCH
(1) Đề tài cấp cơ sở năm 2020 do tác giả làm chủ nhiệm, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ
là cơ quan chủ trì.
(2)
Điều tra mức sống hộ gia đình, Điều tra mức sống dân cư, Khảo sát mức sống hộ gia
đình, hay gọi chung là VHLSS (Vietnam Household Living Standard Survey).
(3)
Thực tế phương pháp APC có thể được sử dụng cho cả các dữ liệu theo thời gian với
khoảng cách không đều nhau nhưng sẽ phải áp dụng thêm nhiều thủ tục tính toán phức tạp
hơn, do vậy thông thường các nhà nghiên cứu thường chọn cách như chúng tôi đang làm,
xem thêm (Fu, 2018).
(4) Ngoài 3 lĩnh vực là nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch
vụ, còn có những lĩnh vực khác như: hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ, quản
lý nhà nước, y tế, giáo dục… Tỷ trọng từng lĩnh vực được tính trên tổng 100% của tất cả
lĩnh vực.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
41
1. Frost, Wade Hampton. 1995. “The Age Selection of Mortality from Tuberculosis in
Successive Decades”. American Journal of Epidemiology 141(1):4-9.
2. Fu, Wenjiang. 2018. A Practical Guide to Age-Period-Cohort Analysis: The
Identification Problem and Beyond. CRC Press.
3. Glenn, Norval D. 2005. Cohort Analysis. 2nd ed. Thousand Oaks, Calif: Sage
Publications.
4. Mason, William M. and Stephen E. Fienberg. 1985. Cohort Analysis in Social
Research: Beyond the Identification Problem. New York: Springer New York.
5. O’Brien, Robert. 2014. Age-Period-Cohort Models: Approaches and Analyses with
Aggregate Data. CRC Press.
6. Tổng cục Thống kê. 2019. Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2018. Hà Nội:
Nxb. Thống kê.
7. Yang, Yang and Kenneth C. Land. 2016. Age-Period-Cohort Analysis: New Models,
Methods, and Empirical Applications. Chapman and Hall/CRC.
8. Zeng, Yi, Kenneth C. Land, Danan Gu and Zhenglian Wang. 2014. Household and
Living Arrangement Projections. Vol 36. Dordrecht: Springer Netherlands.
Bạn đang xem tài liệu "Chuyển dịch cơ cấu lĩnh vực việc làm ở Việt Nam 2 thập kỷ gần đây dưới góc nhìn đoàn hệ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chuyen_dich_co_cau_linh_vuc_viec_lam_o_viet_nam_2_thap_ky_ga.pdf

