Giáo trình môn Công tác xã hội với người cao tuổi

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH  
GIÁO TRÌNH  
MÔ - ĐUN: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI  
NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG/TRUNG CẤP  
Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-TCĐCGNB ngày…….tháng….năm 2018  
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình  
Ninh Bình, năm 2018  
MỤC LỤC  
Bài 1: Những vấn đề chung về người cao tuổi  
1. Khái niệm, vai trò của người cao tuổi  
2. Đặc điểm chung và nhu cầu của người cao tuổi.  
3. Thực trạng người cao tuổi ở Việt Nam và thế giới.  
4. Những vấn đề về đời sống tinh thần và kinh tế của người cao tuổi.  
Bài 2: Công tác xã hội với người cao tuổi  
1. Vai trò của nhân viên công tác xã hội  
2. Các lý thuyết vận dụng vào chăm sóc người cao tuổi.  
3. Các phương pháp chủ yếu khi làm việc với người cao tuổi.  
Bài 3: Chăm sóc hỗ trợ người cao tuổi  
1. Chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng  
2. Chăm sóc người cao tuổi tại nhà  
3. Chăm sóc người cao tuổi tại nhà an dưỡng  
4. Chăm sóc người cao tuổi tại bệnh viện  
LỜI NÓI ĐẦU  
Với đặc thù là nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội hướng trọng tâm nghề  
nghiệp đến việc giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi, phát triển các  
chức năng và đạt được những giá trị phù hợp trong xã hội.  
Đối với người cao tuổi, nhân viên công tác xã hội cần giúp họ nhận thấy các  
khả năng của mình như: Chuyên môn, kinh nghiệm sống, sức khỏe, tay nghề…  
Bên cạnh đó cần có các kỹ năng để động viên, cổ vũ người cao tuổi tin tưởng vào  
bản thân mình, qua đó không những giải quyết được các vấn đề của bản thân mà  
còn có thể góp sức vào sự phát triển của gia đình, xã hội.  
Với những nội dung đó, Giáo trình mô - đun: Công tác xã hội với Người cao  
tuổi được biên soạn gồm 3 bài:  
Bài 1: Những vấn đề chung về Người cao tuổi  
Bài 2: Công tác xã hội với Người cao tuổi  
Bài 3: Chăm sóc hỗ trợ Người cao tuổi  
Giáo trình này được biên soạn trên cơ sở tuân thủ các nội dung chính trong  
chương trình khung của Nhà nước, có tham khảo các tài liệu của các tác giả có uy  
tín và đặc biệt được cập nhật các chủ trương, chính sách xã hội mới nhất của Đảng  
và Nhà nước. Giáo trình là tài liệu học tập, tham khảo chính trong đào tạo nghề  
Công tác xã hội.  
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do chưa có nhiều kinh nghiệm, thời gian  
còn hạn chế nên giáo trình không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong  
nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các em học sinh, sinh viên.  
Nhóm biên soạn:  
Lê Hùng Cường  
Vũ Ánh Dương  
GIÁO TRÌNH MÔ - ĐUN  
Tên mô đun: Công tác xã hội với Người cao tuổi  
Mã mô đun: MĐ 27  
Vị trí, tính chất, vai trò và ý nghĩa của môđun:  
- Vị trí: Công tác xã hội với người cao tuổi là mô đun chuyên môn nghề  
quan trọng của chương trình nghề Công tác xã hội có liên quan tới các hoạt động  
cung cấp dịch vụ cho đối tượng.  
- Tính chất: Là mô đun chuyên môn nghề bắt buộc.  
Mục tiêu môđun:  
- Kiến thức  
+ Hiểu rõ khái niệm, đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi;  
+ Phân tích được những đóng góp của người cao tuổi và truyền thống trọng  
lão của Việt Nam;  
+ Nêu được các khó khăn của người cao tuổi và dịch vụ hỗ trợ.  
- Kỹ năng:  
+ Vận dụng kiến thức vào giải quyết những trường hợp cụ thể;  
+ Thực hành giao tiếp có hiệu quả với người cao tuổi;  
+ Huy động nguồn lực chăm sóc người cao tuổi.  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Kính trọng người cao tuổi và tích cực  
tham gia các hoạt động giúp đỡ người cao tuổi; Tích cực trong hoạt động học tập,  
tự ý thức học hỏi và nâng cao kiến thức môn học.  
Nội dung môđun:  
Bài 1: Những vấn đề chung về người cao tuổi  
Mục tiêu của bài:  
- Kiến thức:  
+ Hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của người cao tuổi Việt Nam;  
+ Biết được những biểu hiện về tinh thần và những khó khăn của người cao  
tuổi trong cơ chế thị trường;  
+ Nêu được những đóng góp của các thế hệ người cao tuổi và truyền thống  
trọng lão của người Việt Nam;  
- Kỹ năng: Lập kế hoạch tuyên truyền, vận động chính sách và dịch vụ cho  
người cao tuổi.  
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Kính trọng người cao tuổi và tích cực vận  
động chính sách, dịch vụ cho người cao tuổi.  
Nội dung chính  
1. Khái niệm, vai trò của người cao tuổi.  
1.1. Khái niệm.  
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi. Trước đây, người ta  
thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay “người cao  
tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau  
về mặt khoa học song về tâm lý, “người cao tuổi” là thuật ngữ mang tính tích cực  
và thể hiện thái độ tôn trọng.  
Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền  
với việc suy giảm các chức năng của cơ thể.  
Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định: Người  
cao tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”.  
Theo WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên. Một số nước phát triển như  
Đức, Hoa Kỳ… lại quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên. Quy định  
ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của  
người dân ở các nước đó khác nhau. Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe  
tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao. Do đó, các biểu hiện  
của tuổi già thường đến muộn hơn. Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác  
nhau.  
Theo quan điểm của Công tác xã hội: Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội,  
công tác xã hội nhìn nhận về người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay  
đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề  
trong cuộc sống. Do đó, người cao tuổi là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ  
giúp của công tác xã hội  
1.2. Vai trò.  
Chiếm tới gần 10% dân số, người cao tuổi là một lực lượng xã hội đông đảo và  
có vai trò quan trọng trong xã hội Việt Nam hiệ n nay. Với kinh nghiệm được tích lũy  
trong quá trình lao động, cống hiến; với những giá trị văn hóa truyền thống được lưu  
giữ, người cao tuổi được coi là một nguồn lực quan trọng trong các hoạt động kinh tế,  
văn hóa và xã hội của đất nước.  
Theo Luật người cao tuổi Việt Nam năm 2006, người cao tuổi Việt Nam có  
những vai trò sau:  
- Giáo dục truyền thống đoàn kết, yêu nước, yêu con người và thiên nhiên  
cho con cháu;  
- Xây dựng đời sống văn hoá; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở cơ  
sở và cộng đồng; tham gia các phong trào khuyến học, khuyến tài, hỗ trợ giáo dục, đào  
tạo, bồi dưỡng người có đức, có tài và các cuộc vận động khác tại cộng đồng;  
- Truyền thụ kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa  
học, công nghệ và nghề truyền thống cho thế hệ trẻ;  
- Nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ; tư vấn  
chuyên môn, kỹ thuật;  
- Phát triển kinh tế, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp;  
- Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; hoà giải mâu thuẫn, tranh  
chấp tại cộng đồng;  
- Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở; thực hành tiết kiệm chống lãng  
phí; phòng, chống tham nhũng, quan liêu; phòng, chống HIV/AIDS và tệ nạn xã  
hội;  
- Đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật và tham gia giám sát việc  
thực hiện chính sách, pháp luật;  
2. Đặc điểm chung và nhu cầu của người cao tuổi.  
2.1. Đặc điểm chung.  
a. Đặc điểm sinh lý:  
- Quá trình lão hóa:  
Lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể sống. Lão hóa có thể đến sớm hay  
muộn tùy thuộc vào cơ thể từng người. Khi tuổi già các đáp ứng kém nhanh nhạy,  
khả năng tự điều 9 chỉnh và thích nghi cũng giảm dần, tất nhiên sức khỏe về thể  
chất và tinh thần giảm sút. Về thể xác trong giai đoạn này cơ thể bắt đầu có những  
thay đổi theo chiều hướng đi xuống.  
- Diện mạo thay đổi:  
Tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn. Da trở nên khô và thô hơn. Trên cơ thể,  
đầu và mặt xuất hiện mụn cơm nhiều hơn. Ở tuổi già có những nếp nhăn là do lớp mỡ ở  
dưới lớp da mất đi cũng như do da không còn tính chất đàn hồi. Các mạch máu mỏng vỡ  
ra, tạo thành các chất xanh đen nhỏ dưới da.  
- Bộ răng yếu:  
Răng yếu làm cho người cao tuổi ngại dùng các thức ăn cứng, khô, dai dù  
thức ăn này giàu vitamin, đạm và chất khoáng. Người cao tuổi thường chọn các  
thức ăn mềm  
- Các cơ quan cảm giác: Cảm giác - nghe nhìn, nếm và khứu giác cùng với  
tuổi tác ngày càng cao thường bắt đầu hoạt động kém hiệu quả.  
- Các cơ quan nội tạng:  
Tim là một cơ bắp có trình độ chuyên môn hoá cao cùng với tuổi tác cũng  
phải chịu những vấn đề tương tự như các cơ bắp khác của cơ thể. Tim phụ thuộc  
vào hiệu quả hoạt động của hệ tuần hoàn, mà có thể là nguyên nhân phát sinh  
nhiều vấn đề liên quan đến lão hoá. Phổi của người già thường làm việc ít hiệu quả  
khi hít vào và lượng ôxy giảm. Khả năng dự phòng của tim, phổi và các cơ quan  
khác cùng với cũng giảm sút. Người già thích nghi với các điều kiện rét chậm hơn.  
Người già dễ dàng bị cảm lạnh, nhiệt độ có thể hạ thấp sẽ rủi ro nghiêm trọng cho  
sức khoẻ của họ. Họ cũng phải chịu đựng những khó khăn tương tự khi trong  
trường hợp cần thiết phải tiếp cận với nhiệt độ cao.  
- Khả năng tình dục giảm:  
Do sự thay đổi của nội tiết tố, ham muốn tình dục ở người cao tuổi cũng  
giảm rõ rệt. Ở người già xương và khớp không còn linh hoạt, mềm dẻo, các cơ đều  
yếu đi dẫn đến mọi cử động đều chậm chạp, vụng về. Người già hay bị mệt mỏi,  
mọi hành vi, cử chỉ yêu đương gặp khó khăn  
- Các bệnh thường gặp ở người cao tuổi:  
+ Các bệnh tim mạch và huyết áp: Cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, suy tim,  
loạn nhịp tim…  
+ Các bệnh về xương khớp: Thoái hóa khớp, loãng xương, bệnh gút…  
+ Các bệnh về hô hấp: Cảm sốt, viêm họng - mũi, cúm, viêm phế quản, viêm  
phổi, ung thư phổi…  
+ Các bệnh răng miệng: Khô miệng, sâu răng, bệnh nha chu…  
+ Các bệnh về tiêu hóa và dinh dưỡng: Rối loạn tiêu hóa, suy dinh dưỡng..  
+ Ngoài ra người cao tuổi còn hay mắc các bệnh về ung bướu, bệnh thần  
kinh và các bệnh về sức khỏe tâm thần…  
b. Đặc điểm tâm lý:  
Trạng thái tâm lý và sức khỏe của người cao tuổi không chỉ phụ thuộc vào  
nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi  
trường văn hóa - tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình. Khi bước  
sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý của mỗi người mỗi khác, nhưng tựu  
trung những thay đổi thường gặp là:  
- Hướng về quá khứ:  
Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, người cao tuổi  
thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựu chiến binh...  
Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng về cội  
nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…  
- Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực”:  
Khi về già người cao tuổi phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và  
nghề nghiệp. Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang  
trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực  
xả hơi. Do vậy người cao tuổi sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới. Người ta  
dễ gặp phải “hội chứng về hưu”.  
- Những biểu hiện tâm lý của người cao tuổi:  
+ Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn : Con cháu thường  
bận rộn với cuộc sống. Điều này làm cho người cao tuổi cảm thấy mình bị lãng  
quên, bị bỏ rơi. Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được  
người khác coi mình 11 không là người vô dụng. Họ rất muốn được nhiều người  
quan tâm, lo lắng cho mình và ngược lại. Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một  
mình.  
+ Cảm nhận thấy bất lực và tủi thân: Đa số người cao tuổi nếu còn sức khỏe  
vẫn còn có thể giúp con cháu một vài việc vặt trong nhà, tự đi lại phục vụ mình,  
hoặc có thể tham gia được các sinh hoạt giải trí, cộng đồng. Nhưng cũng có một số  
người cao tuổi do tuổi tác đã cao, sức khỏe giảm sút nên sinh hoạt phần lớn phụ  
thuộc vào con cháu. Do vậy dễ nảy sinh tâm trạng chản nản, buồn phiền, hay tự  
dằn vặt mình. Người cao tuổi mà tuổi càng cao thì sức khỏe lại càng giảm sút, đi  
lại chậm chạp, không còn khả năng lao động, quan niệm sống khác với thế hệ sau...  
nên chỉ một thái độ hay một câu nói thiếu tế nhị có thể làm cho họ tự ái, tủi thân  
cho rằng mình già rồi nên bị con cháu coi thường.  
+ Nói nhiều hoặc trầm cảm: Vì muốn truyền đạt kinh nghiệm sống cho con  
cháu, muốn con cháu sống theo khuôn phép đạo đức thế hệ mình nên họ hay bắt  
lỗi, nói nhiều và có khi còn làm cho người khác khó chịu. Với một bộ phận người  
cao tuổi bảo thủ và khó thích ứng với sự thay đổi, cộng với sự giảm sút của sức  
khỏe, khả năng thực hiện công việc hạn chế, nếu thời trẻ có những ước mơ không  
thực hiện được, hoặc không thỏa đáng, không hài lòng... có thể xuất hiện triệu  
chứng của bệnh trầm cảm. Họ trở thành những người trái tính, hay ghen tỵ, can  
thiệp sâu vào cuộc sống riêng tư của con cháu vì họ cho rằng mình có quyền đó.  
+ Sợ phải đối mặt với cái chết: Sinh - tử là quy luật của tự nhiên, dù vậy người  
cao tuổi vẫn sợ phải đối mặt với cái chết. Cũng có những trường hợp các cụ bàn việc  
hậu sự cho mình, viết di chúc cho con cháu... có những cụ không chấp nhận, lảng  
tránh điều đó và sợ chết. Với những thay đổi chung về tâm lý của người cao tuổi đã  
trình bày ở trên dẫn đến việc một bộ phận người cao tuổi thường thay đổi tính nết.  
Con cháu cần chuẩn bị sẵn tâm lý để đón nhận thực tế này nhằm có những ứng xử  
phù hợp.  
2.2. Nhu cầu của người cao tuổi.  
Ở tuổi này, có người tỏ ra sức yếu lực tàn, song có người vẫn còn nhanh  
nhẹn, khoẻ mạnh về thể chất và minh mẫn về trí tuệ. Tuy nhiên, cũng như ở những  
lứa tuổi khác, người già cũng cần có một số nhu cầu cơ bản, phù hợp với lứa tuổi:  
- Nhu cầu về ăn, ở: Do ảnh hưởng về sức khoẻ, người già cần phải có một  
chế độ ăn uống riêng, phù hợp với tuổi tác và một số bệnh tật (do sự lão hoá của  
tuổi già gây nên). Sự vận động của người già cũng thường chậm chạp, kém phần  
nhanh nhẹn và linh hoạt. Vì vậy, người thân trong gia đình nên sắp xếp nơi ở phù  
hợp cho người già, không nên ở những nơi cao tầng, phải leo nhiều cầu thang.  
- Nhu cầu an toàn: Đây là nhu cầu rất quan trọng của người già. Sự an toàn  
của người già không chỉ thể hiện ở việc cần được đảm bảo sức khoẻ thông qua chế  
độ chăm sóc sức khoẻ định kỳ, khám chữa khi ốm đau, bệnh tật, mà còn thể hiện ở  
việc cần có một môi trường sống lành mạnh, ít căng thẳng. Vì vậy, con cháu không  
chỉ quan tâm về mặt thể chất mà cần phải quan tâm về mặt tinh thần cho người già,  
tạo bầu không khí vui vẻ, yên bình cho các cụ.  
- Nhu cầu tình cảm: Ở độ tuổi này, do không còn tham gia hoạt động lao động  
thường xuyên nên mối quan hệ, giao lưu của người già trở nên thu hẹp. Bên cạnh đó,  
con cái trưởng thành thường có cuộc sống riêng, độc lập, công việc bận rộn nên ít dành  
thời gian quan tâm tới ông bà. Nếu thiếu những mối quan hệ tình cảm của người thân  
và bạn bè, người già thường cảm thấy cô đơn, trống vắng, thậm chí có thể ảnh hưởng  
thêm tới sức khoẻ. Vì vậy, người già rất cần sự quan tâm, chăm sóc thường xuyên của  
người thân đồng thời cũng nên tìm một sự cân bằng thông qua những hoạt động xã hội,  
giao lưu tại các Câu lạc bộ. Những hoạt động này giúp người già mở rộng mối quan hệ  
xã hội và đảm bảo sức khoẻ cả về thể chất lẫn tinh thần.  
- Nhu cầu được tôn trọng, được chấp nhận, được thấy mình có ích. Do sự  
giảm sút năng lực và trí tuệ có phần thiếu minh mẫn, một số người già cảm thấy  
mất quyền tự chủ. Dù không còn trực tiếp tham gia hoạt động đóng góp cho xã hội,  
nhưng họ vẫn cần được sự công nhận những giá trị, những thành quả mà họ đã đạt  
được. Họ vẫn cần được khẳng định, rằng họ không phải là người thừa, người vô ích  
mà ngược lại họ vẫn là người có ích, là người quan trọng trong xã hội và trong gia đình.  
Vì vậy, các thành viên trong gia đình cũng cần khuyến khích, động viên ông bà cha mẹ  
mình tham gia các hoạt động mang tính xã hội, đồng thời cũng thường xuyên ghi nhận  
công lao của họ thông qua những hoạt động trong gia đình.  
3. Thực trạng người cao tuổi ở Việt Nam và thế giới.  
3.1. Trên thế giới.  
Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc thì vào năm 2000 cả thế giới có 600 triệu  
người cao tuổi (Người cao tuổi ). Ở các nước phát triển, cứ 6 người dân thì có 1  
người trên 65 tuổi. Tính toán thống kê cho thấy số người cao tuổi ở các nước đang  
phát triển sẽ tăng gấp đôi trong vòng 25 năm tới, đạt 850 triệu người vào năm  
2025, chiếm 12% tổng dân số các nước và đến năm 2050 Người cao tuổi sẽ tăng  
lên 2 tỷ người. Trong mối quan hệ giữa dân số và con người thì vấn đề già hóa dân  
số là một thành tựu đáng kể của một đất nước. Tuổi thọ của con người ngày càng  
cao chứng tỏ điều kiện sống của họ an toàn hơn, thu nhập khá hơn, dinh dưỡng đầy  
đủ hơn và hệ thống y tế chăm sóc con người được cải thiện hơn, tỷ suất sinh và tử  
đều giảm. Tuy nhiên, vấn đề già hóa dân số nhanh lại tác động đến nhiều khía cạnh  
của đời sống, sinh hoạt con người; ảnh hưởng đến vấn đề an sinh xã hội, trong đó  
quan trọng nhất là việc chăm sóc sức khỏe cho Người cao tuổi ; ảnh hưởng đến  
tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đầu tư của đất nước.  
3.2. Ở Việt Nam.  
Người cao tuổi (NCT) Việt Nam là lớp người có công lớn với đất nước, từng  
trải qua hai cuộc kháng chiến gian khổ và giai đoạn xây dựng lại đất nước trong  
đống tro tàn của chiến tranh để làm nên lịch sử vẻ vang của thế hệ Hồ Chí Minh.  
Trong sự nghiệp phát triển đất nước, vai trò của NCT lại càng thể hiện rõ  
nét, là một trong những lực lượng nòng cốt ở cơ sở và trụ cột về đời sống tinh thần  
trong mỗi gia đình, nêu gương, kiên trì hướng dẫn, động viên con cháu chấp hành  
nghiêm túc chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, giữ gìn an  
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy dân chủ ở cơ sở, bảo vệ môi trường  
sống, đóng góp để kinh tế phát triển, xã hội văn minh.  
NCT (từ 60 tuổi trở lên), là giai đoạn thứ ba của đời người. Ở lứa tuổi này, ý  
thức về ngành nghề, giới tính, địa vị xã hội, vinh quang của quá khứ… dần dần lùi xa; ý  
thức về NCT lớn dần lên, chiếm lĩnh toàn bộ hoạt động và đời sống phần còn lại của  
cuộc đời, là lớp người cận kề “xưa nay hiếm”. Nhìn chung, ở NCT, hành lang an toàn  
bị thu hẹp, suy giảm khả năng thích nghi. Những suy giảm tuổi già, về địa vị kinh tế đã  
chi phối, quy định các yếu tố tâm lí, vui, buồn, lo, nghĩ, mong muốn, ý chí, tâm, lực…  
Năm 2010, số NCT Việt Nam là 8,15 triệu trong tổng số 86,75 triệu người,  
chiếm 9,4% dân số cả nước (năm 1979 là 3,71 triệu/53,74 triệu người, chiếm 6,9%;  
năm 1989 là 4,64 triệu/64,38 triệu người, chiếm 7,2%; năm 2009 là 7,5 triệu/85,85  
triệu người, chiếm 8,7%) (Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà  
ở 1979, 1989, 2009, và điều tra biến động dân số - kế hoạch hóa gia đình, 2010, TS  
Dương Quốc Trọng).  
Thời gian chuyển từ giai đoạn “già hóa dân số” sang “dân số già” của Việt  
Nam là 17-20 năm, ngắn hơn nhiều nước khác (Pháp 100 năm, Thụy Điển 85 năm,  
Mỹ gần 50 năm, Nhật Bản 27 năm...). Dân số tăng nhanh ở nhóm tuổi cao nhất,  
trên 80 (năm 1999, tỉ lệ NCT 60-64 là 2,31; năm 2009, còn 2,26%; NCT trên 80  
năm 1999 là 0,93%, năm 2009 lên 1,47% (Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng điều  
tra dân số và nhà ở 1979, 1989, 2009, và điều tra biến động dân số-kế hoạch hóa  
gia đình, 2010, TS Dương Quốc Trọng). Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam  
là 72,8 tuổi, NCT trên 100 tuổi có 7.200 người (chiếm 0,0084% dân số (Hàn Quốc  
có tuổi thọ trung bình là 80,5, người sống trên 100 tuổi có 1.836, chiếm 0,0037%  
dân số). Phụ nữ sống lâu hơn nam giới từ 4-5 năm, chiếm hơn 60% NCT. Tỉ lệ cụ  
bà sống cô đơn cao gấp 5,44 lần so với cụ ông.  
Hiện nay, trên 75% số NCT đang sống cùng con cháu. Trong các gia đình có  
NCT ở Việt Nam hiện nay, có 67,3% NCT làm chủ hộ và trên 90% vẫn giữ vai trò  
quyết định hoặc tham gia quyết định các công việc trong gia đình; 8,3% số NCT  
sống độc thân tại cộng đồng; 13,06% số NCT đang sống 2 vợ chồng đều là NCT,  
3% số NCT còn lại đang sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội, các trung tâm dưỡng  
lão, nhà thờ, nhà chùa… Có 72,9% NCT sống ở nông thôn, 21% NCT có lương  
hưu. 70% NCT Việt Nam không có tích lũy vật chất cho tuổi già. Chính vì vậy, khi  
đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, họ là những người đang phải đối mặt với  
nhiều khó khăn, phải thích nghi với nhiều thay đổi chưa từng có trước đây. Phần  
lớn NCT (70%) vẫn tiếp tục làm việc có thu nhập (làm ruộng, buôn bán, thủ công,  
mĩ nghệ…) và không có thu nhập (nội trợ, việc nhà, chăm sóc cháu…) Tỉ lệ NCT  
nghèo cao hơn tỉ lệ nghèo chung.  
Trong tổng số NCT, có 71 % có bệnh kép (3-4 bệnh mãn tính), 23% sức  
khỏe kém, chỉ có 6% sức khỏe tốt. Có 95% NCT có bệnh mạn tính không lây  
nhiễm; 23,45% có khó khăn trong sinh hoạt cần hỗ trợ; hầu hết chỉ đến bệnh viện  
hoặc cơ sở y tế khi đau ốm; 15% điều trị tại nhà, tự mua thuốc chữa bệnh bằng  
phương pháp truyền thống; chỉ 10% NCT kiểm tra sức khỏe định kì. Do hoàn cảnh  
lịch sử, nên có tới trên 70% NCT không được đi học trong hệ thống giáo dục chính  
quy.  
Tuy nhiên, NCT Việt Nam còn có những khó khăn như: 79% không có  
lương hưu hoặc trợ cấp bảo trợ xã hội; có rất ít chương trình vì lợi ích NCT; NCT  
khó tiếp cận được nguồn vốn tín dụng; rất ít bệnh viện hoặc cơ sở y tế, khoa lão  
khoa, giường bệnh dành cho NCT; thiếu các trung tâm và cơ sở chăm sóc NCT;  
90% NCT chưa được kiểm tra sức khỏe định kì; 50% NCT không có thẻ Bảo hiểm  
y tế…  
4. Những vấn đề của người cao tuổi.  
4.1. Vấn đề sức khỏe.  
4.1.1. Sự cần thiết.  
- Bước vào giai đoạn cuối của cuộc đời, do ảnh hưởng của quá trình lão hóa,  
người cao tuổi bị suy giảm sức khỏe một cách rõ nét. Đây cũng là thời kỳ khởi  
phát của nhiều bệnh như tim mạch, phổi, huyết áp…  
- Vấn đề sức khỏe là vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của  
người cao tuổi. Khi có sức khỏe tốt, người cao tuổi sẽ có điều kiện tốt hơn trong  
các hoạt động vui chơi, giải trí, các hoạt động xã hội tại địa phương.  
- Người cao tuổi có tâm lý giấu bệnh tật và các vấn đề sức khỏe của mình  
do đó cần phải quan tâm thường xuyên, liên tục để có sự hỗ trợ phát hiện và điều  
trị bệnh kịp thời cho người cao tuổi.  
- Nhận thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi và gia đình  
còn nhiều hạn chế nhất là ở nông thôn.  
4.1.2. Cách thức phát hiện.  
- Quan sát cử chỉ, nét mặt và khả năng hoạt động trong cuộc sống thường  
nhật của người cao tuổi.  
- Thu thập các thông tin liên quan đến một số triệu chứng bệnh lý khi có  
nghi ngờ về một bệnh cụ thể: Quan sát, hỏi người cao tuổi, bạn bè và gia đình của  
họ…  
- Phối hợp với ngành Y tế tổ chức các cuộc khám chữa bệnh định kỳ.  
4.1.3. Các hoạt động trợ giúp.  
- Tư vấn cách thức chăm sóc sức khỏe, chế độ dinh dưỡng phù hợp cho  
người cao tuổi và gia đình của họ.  
- Tư vấn cách thức khám chữa bệnh, các thủ tục tại bệnh viện và lên kế  
hoạch giúp người cao tuổi khi họ có bệnh và phải đi chữa trị tại bệnh viện.  
- Tổ chức khám chữa bệnh định kỳ tại địa phương để giúp phát hiện các  
bệnh nói riêng và các vấn đề sức khỏe nói chung của người cao tuổi.  
- Tổ chức các lớp thể dục thể thao như võ thuật dưỡng sinh, cầu lông, bóng  
bàn…tại địa phương để người cao tuổi hoạt động và tăng cường sức khỏe.  
- Cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ chăm sóc tại nhà như: Nấu ăn, giặt đồ, dẫn  
đi dạo…để người cao tuổi có khả năng sống độc lập ngay cả khi họ bị hạn chế về  
điều kiện sức khỏe.  
4.2. Vấn đề tâm lý.  
4.2.1. Sự cần thiết.  
- Cùng với quá trình lão hóa, quá trình thay đổi về sinh lý, tâm lý con người  
trong giai đoạn cao tuổi cũng có rất nhiều vấn đề nổi bật. Người cao tuổi có thể  
cảm thấy cô độc, hướng về quá khứ, hay giận dỗi, chuyển từ trạng thái tích cực  
sang tiêu cực…những vấn đề đó làm cho tâm lý người cao tuổi có nhiều thay đổi.  
- Vấn đề tâm lý có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người cao tuổi. Khi  
tâm lý ổn định, vui vẻ, người cao tuổi sẽ thấy khỏe khoắn hơn, sẽ hoạt động nhiều  
hơn.  
- Do sự thay đổi vai trò của bản thân, nhiều người cao tuổi cảm thấy mình  
không còn có ích, không còn được sự tôn trọng của mọi người, ảnh hưởng của “hội  
chứng về hưu”, nhiều người cao tuổi do những sai lầm trong quá khứ thì thường  
than trách bản thân…trong khi đó họ rất khó chia sẻ với con cháu hay những người  
thân.  
4.2.2. Cách thức phát hiện.  
- Trò chuyện, lắng nghe người cao tuổi.  
- Quan sát hành vi của người cao tuổi với mọi người xung quanh.  
4.2.3. Các hoạt động trợ giúp.  
- Lắng nghe và trò chuyện với người cao tuổi. Khi họ được lắng nghe, chia  
sẻ , họ sẽ kể được kết những tâm tư của mình, từ đó họ có thể thoát khói sự cô  
đơn, khép mình.  
- Tham vấn tâm lý cho người cao tuổi: Nhân viên xã hội cùng người cao tuổi  
phân tích các vấn đề mà người cao tuổi gặp phải, hỗ trợ người cao tuổi giải quyết  
các vấn đề tâm lý đó.  
- Kết nối người cao tuổi với các câu lạc bộ phù hợp với nhu cầu để họ có  
thể tham gia các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội để có thể cởi mở bản thân  
hơn, thấy mình có ích hơn.  
- Nâng cao nhận thức của gia đình và cộng đồng về vai trò cũng như các đặc  
điểm tâm sinh lý thời kỳ cao tuổi.  
4.3. Vấn đề kinh tế.  
4.3.1. Sự cần thiết.  
- Bước vào giai đoạn cao tuổi đồng nghĩa là con người bước vào giai đoạn  
nghỉ ngơi. Tuy nhiên chỉ có một số ít người cao tuổi có điều kiện kinh tế khá giả  
như cán bộ, viên chức nhà nước nghỉ hưu, sự hỗ trợ của con cháu…Còn lại đa số  
người tuổi, nhất là những người neo đơn đều gặp phải những khó khăn về kinh tế  
do sự suy giảm của thu nhập.  
- Nhu cầu của người cao tuổi, nhất là khám chữa bệnh hay chế độ dinh  
dưỡng đòi hỏi những chi phí nhất định.  
- Vấn đề kinh tế cũng ảnh hưởng đến các vấn đề khác trong cuộc sống của  
người cao tuổi như tâm lý, sức khỏe….  
4.3.2. Cách thức phát hiện.  
- Thu thập thông tin về thu nhập của người cao tuổi và gia đình từ người cao  
tuổi, gia đình, cán bộ địa phương.  
- Quan sát bữa ăn hàng ngày  
- Quan sát, tính toán các nguồn thu cũng như các chi phí.  
4.3.3. Các hoạt động trợ giúp.  
- Giúp người cao tuổi hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước (nếu có)  
- Cung cấp các kiến thức về kinh tế hộ gia đình như tập huấn, chia sẻ kinh  
nghiệm, tham quan, học tập mô hình…  
- Kết nối người cao tuổi còn sức khỏe và có nhu cầu làm việc với các công  
việc phù hợp tại địa phương để tăng thêm thu nhập.  
- Giúp người cao tuổi và gia đình tiếp cận các nguồn tín dụng ưu đãi để phát  
triển kinh tế.  
Bài 2: Công tác xã hội với người cao tuổi  
Mục tiêu của bài:  
- Kiến thức: Hiểu biết được các kiến thức về tham vấn, công tác xã hội cá  
nhân, công tác xã hội nhóm với người cao tuổi.  
- Kỹ năng:  
+ Lắng nghe tích cực, thấu cảm;  
+ Điều phối nhóm;  
+ Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí phù hợp.  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
+ Tôn trọng sự riêng tư và cá biệt của người cao tuổi;  
+ Công bằng và tạo cơ hội để người cao tuổi được tham gia.  
Nội dung chính:  
1. Vai trò của nhân viên công tác xã hội.  
Với những thay đổi trong tâm sinh lý, trong lao động - thu nhập và cả trong  
những mối quan hệ, người cao tuổi bị hạn chế và mất thăng bằng trong việc thực  
hiện một số chức năng xã hội của mình. Người cao tuổi trở thành một đối tượng  
yếu thế, dễ bị tổn thương và cần sự hỗ trợ của nhân viên công tác xã hội .  
Với đặc thù là nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội hướng trọng tâm nghề  
nghiệp đến việc giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi, phát triển các  
chức năng và đạt được những giá trị phù hợp trong xã hội. Các chức năng của  
công tác xã hội được thực hiện thông qua việc thực hiện các vai trò của nhân viên  
công tác xã hội trong tiến trình làm việc với các thân chủ.  
Mỗi đối tượng khác nhau lại có những vấn đề cụ thể khác nhau. Vì thế vai  
trò của nhân viên công tác xã hội trong tiến trình trợ giúp mỗi đối tượng cụ thể  
cũng có sự khác nhau. Trong công tác xã hội với người cao tuổi, nhân viên công  
tác xã hội cần thực hiện tốt các vai trò sau:  
a. Người tạo khả năng  
Trọng tâm nghề nghiệp của công tác xã hội hướng đến việc trợ giúp các đối  
tượng khai thác những tiềm năng của bản thân để tự lực vươn lên, giải quyết các  
vấn đề cụ thể của bản thân. Nhân viên công tác xã hội không làm hộ, làm thay thân  
chủ mà chỉ giúp thân chủ nhận thức được những khả năng của mình, phát huy  
những khả năng đó để giải quyết vấn đề của mình. Đối với người cao tuổi, nhân  
viên công tác xã hội cần giúp họ nhận thấy các khả năng của mình như: Chuyên  
môn, kinh nghiệm sống, sức khỏe, tay nghề…  
Cần động viên, cổ vũ để người cao tuổi tin tưởng vào bản thân mình, tin  
tưởng rằng mình vẫn còn hữu ích với gia đình, xã hội từ đó thúc đẩy người cao  
tuổi hoạt động để tiếp tục đóng góp cho gia đình, xã hội. Qua những hoạt động đó,  
người cao tuổi không những giải quyết được các vấn đề của bản thân mà còn có  
thể góp sức vào sự phát triển của gia đình, xã hội.  
Người cao tuổi có quá trình lao động lâu dài vì thế kinh nghiệm thực tế của  
họ là rất phong phú và rất có giá trị. Sau khi về hưu, không được tiếp tục cống  
hiến, họ trở nên chán nản và coi mình là người bỏ đi từ đó gây ra nhiều vấn đề nhất  
là các vấn đề tâm lý cho bản thân. Đồng thời, việc không nhận thức và khai thác  
những kiến thức và kinh nghiệm của người cao tuổi là sự lãng phí rất lớn của xã  
hội. Do đó, nhân viên xã hội cần giúp người cao tuổi nhận thức được giá trị của  
mình để họ tiếp tục lao động với cách thức phù hợp. Thông qua lao động, các vấn  
đề của người cao tuổi như: Tâm sinh lý, thu nhập, quan hệ… sẽ được giải quyết.  
Thêm vào đó, khi huy động được người cao tuổi vào đội ngũ lao động, xã hội sẽ có  
thêm nguồn kinh nghiệm và trí thức quý giá để phát triển nhanh hơn và bền vững  
hơn .  
b. Người điều phối - kết nối dịch vụ  
Nhân viên công tác xã hội thông qua đánh giá, chẩn đoán các vấn đề và  
nguồn lực của người cao tuổi để điều phối, cung cấp các dịch vụ phù hợp. Với  
những người cao tuổi bị hạn chế khả năng phục vụ bản thân trong sinh hoạt hàng  
ngày, nhân viên xã hội có thể giới thiệu và cung cấp cho người cao tuổi những dịch  
vụ hỗ trợ tại nhà như người giúp việc, người chăm sóc y tế. Với những người cao  
tuổi neo đơn, không nơi nương tựa, nhân viên công tác xã hội có thể giới thiệu,  
làm thủ tục để người cao tuổi vào sinh sống trong các trung tâm bảo trợ phù hợp.  
Nhân viên công tác xã hội cần giới thiệu cho người cao tuổi các câu lạc bộ phù hợp  
để người cao tuổi sinh hoạt. Việc sinh hoạt ở các câu lạc bộ người cao tuổi như:  
Câu lạc bộ văn thơ, cựu chiến binh, dưỡng sinh… sẽ giúp người cao tuổi đáp ứng  
các nhu cầu về quan hệ xã hội cho người cao tuổi.  
c. Người giáo dục  
Người cao tuổi phải đối mặt với rất nhiều những thay đổi về tâm sinh lý  
cũng như các chức năng xã hội. Do đó, để thích ứng với cuộc sống, người cao tuổi  
cần phải có thêm nhiều kiến thức, kỹ năng về chế độ dinh dưỡng, chăm sóc bản  
thân, các kỹ năng xã hội…Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ người cao tuổi những  
kiến thức và kỹ năng đó thông qua vai trò là người giáo dục. Hình thức giáo dục có  
thể qua việc cung cấp tài liệu, các lớp tập huấn, hoặc được lồng ghép trong tiến  
trình trợ giúp. Thông qua giáo dục, nhân viên xã hội sẽ giúp người cao tuổi có  
thêm những kiến thức, kỹ năng để phòng ngừa, chữa trị, phục hồi hay cũng như  
phát triển các chức năng xã hội phù hợp. Việc cung cấp cho người cao tuổi những  
kiến thức, kỹ năng chăm sóc bản thân như chế độ dinh dưỡng, các hoạt động thể  
chất, các cách thức phòng bệnh, chữa bệnh… khoa học và phù hợp sẽ giúp người  
cao tuổi có cuộc sống mạnh khỏe và an toàn hơn.  
Không chỉ quan tâm đến cá nhân người cao tuổi, công tác xã hội còn hướng  
đến giáo dục, tham vấn cho gia đình người cao tuổi. Nhân viên công tác xã hội  
cung cấp thông tin, hướng dẫn cụ thể, tham vấn cho gia đình người cao tuổi những  
cách thức chăm sóc, ứng xử với người cao tuổi… Cung cấp những kiến thức, hiểu  
biết về đặc điểm tâm sinh lý, xã hội, những nhu cầu…của người cao tuổi để gia  
đình chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi tốt hơn.  
d. Người biện hộ  
Khi làm việc với người cao tuổi, nhân viên công tác xã hội cần đánh giá,  
phân tích những nhu cầu, mong muốn cũng như những nguồn lực của người cao  
tuổi. Nhân viên công tác xã hội phải bảo vệ những nhu cầu chính đáng của người  
cao tuổi. Do những thay đổi và sự không ổn định về tâm sinh lý, một số người cao  
tuổi có thể có những hành động, hành vi khác thường. Nhân viên công tác xã hội  
cần tìm hiểu nguyên nhân của các hành vi đó và lý giải để mọi người xung quanh  
nhất là gia đình hiểu và thông cảm cho họ.  
Trong xã hội Việt Nam, do đặc thù của văn hóa, nhu cầu tình dục của người  
cao tuổi chưa được chú ý đúng mức, thậm chí là một hành vi bị lên án. Những  
người cao tuổi kết hôn luôn chịu sự bàn tán, đánh giá của gia đình, của những  
người xung quanh. Đây là một nhạy cảm văn hóa mà nhân viên xã hội cần hết sức  
chú ý. Cần làm cho bản thân người cao tuổi cũng như gia đình và những người  
xung quanh hiểu và tôn trọng nhu cầu đó của người cao tuổi bởi tình dục cũng như  
ăn, uống, hít thở… là những nhu cầu cơ bản nhất của con người. Người cao tuổi  
suy giảm nhu cầu tình dục chứ không phải là hoàn toàn không có nhu cầu đó.  
e. Người tạo môi trường thuận lợi  
Mỗi cá nhân là một hệ thống chịu ảnh hưởng và sự tác động từ những hệ  
thống xung quanh. Công tác xã hội chú ý đến mối quan hệ giữa con người với các  
hệ thống xung quanh. Tạo môi trường thuận lợi trong công tác xã hội được thực  
hiện qua việc cải thiện và nâng cao chất lượng trong mối quan hệ giữa con người  
và hệ thống xung quanh. Người cao tuổi cũng tương tác và chịu ảnh hưởng mạnh  
mẽ từ gia đình, các tổ chức xã hội. Vì thế, trong tiến trình công tác xã hội với  
người cao tuổi cần chú ý đến các hệ thống xung quanh người cao tuổi như: Gia  
đình, hội hưu trí, các câu lạc bộ người cao tuổi… Nhân viên công tác xã hội cần  
tác động và làm thay đổi các hệ thống đó để tạo ra môi trường thuận lợi nhất phục  
vụ người cao tuổi giải quyết các vấn đề của bản thân cũng như những hoạt động  
phù hợp với nhu cầu của bản thân và sự mong đợi của xã hội.  
Gia đình là một thiết chế quan trọng đối với mọi cá nhân trong đó có người  
cao tuổi. Ngày nay, do ảnh hưởng của sự thay đổi điều kiện kinh tế - xã hội, gia  
đình cũng có sự biến đổi về nhiều mặt như cấu trúc, quy mô, văn hóa… và sự thay  
đổi đó có ảnh hưởng sâu sắc đến người cao tuổi. Nhịp sống công nghiệp làm cho  
con người ít quan tâm đến nhau, sự thiếu quan tâm của con cháu, sự mâu thuẫn và  
xung đột về tư tưởng giữa các thế hệ… làm cho người cao tuổi cảm thấy bị cô lập,  
cảm giác không được quan tâm. Đó là nguyên nhân nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực  
ở người cao tuổi. Chính vì thế, trong tiến trình công tác xã hội với người cao tuổi,  
nhân viên công tác xã hội cần quan tâm đến việc huy động các nguồn lực hỗ trợ từ  
gia đình thông qua cải thiện các mối quan hệ, thúc đẩy sự quan tâm của các cá  
nhân trong gia đình người cao tuổi…để người cao tuổi có thêm các nguồn lực hỗ  
trợ, có thêm các điều kiện thuận lợi để tự lực vươn lên, giải quyết triệt để các vấn  
đề của cá nhân và đạt được những giá trị xã hội như mong đợi của họ.  
f. Người đánh giá và giám sát  
Nhân viên xã hội là người trực tiếp đánh giá, chẩn đoán những vấn đề của  
người cao tuổi trong cuộc sống hàng ngày. Những vấn đề của người cao tuổi rất đa  
dạng như về sinh lý, tâm lý, lao động - thu nhập hay các vấn đề về quan hệ xã hội.  
Bước sang giai đoạn cuối của cuộc đời, do sự suy giảm hoạt động và sự già hóa  
của các cơ quan, hệ thống sinh học mà người già phải đối mặt với nhiều bệnh tật  
như: Tai biến mạch máu não do huyết áp cao, bệnh về tim mạch, hô hấp… tâm lý  
của người cao tuổi cũng có nhiều nét đặc biệt nhất là trong việc suy nghĩ và đối  
phó với cái chết. Nhiều người luôn suy nghĩ về cái chết và muốn chuẩn bị hậu sự  
cho mình, một số khác lại sợ hãi và tránh nói về cái chết. Cái chết của những bạn  
bè, những người thân thiết của người cao tuổi gây ra rất nhiều vấn đề tâm lý. Nếu  
người chết là bạn bè, sẽ hình thành nên sự trầm cảm, lo lắng mình sẽ là người tiếp  
theo; nếu người chết là người bạn đời sẽ gây cho người cao tuổi cảm giác chán nản  
thậm chí không muốn sống, muốn “chết theo” bạn đời của mình…Do đó, nhân  
viên xã hội phải có vai trò chẩn đoán, đánh giá về các vấn đề, về các yếu tố nguy  
cơ đòi hỏi sự can thiệp như: Tự vẫn, cô lập bản thân, thiếu môi trường an toàn,  
thiếu sự trợ giúp…  
Trong tiến trình trợ giúp người cao tuổi, nhân viên xã hội thực hiện việc  
đánh giá và giám sát các hoạt động của người cao tuổi, kết quả của tiến trình. Sự  
đánh giá và giám sát của nhân viên xã hội một cách thường xuyên, liên tục sẽ góp  
phần vào việc phát hiện sớm, nâng cao hiệu quả can thiệp… trong công tác xã hội  
với người cao tuổi.  
Trong tiến trình công tác xã hội với người cao tuổi, tùy vào điều kiện thực tế  
cũng như những vấn đề cụ thể ở người cao tuổi mà các vai trò của nhân viên công  
tác xã hội thực hiện có sự khác biệt. Nhân viên công tác xã hội thông qua việc thực  
hiện các vai trò cụ thể của mình để hướng đến mục tiêu phòng ngừa, chữa trị, phục  
hồi và phát triển cho người cao tuổi . 2. Các lý thuyết vận dụng trong công tác  
XH với người cao tuổi.  
2.1. Lý thuyết hệ thống.  
Lý thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết cơ bản trong công tác xã  
hội nói chung và công tác xã hội cá nhân nói riêng. Bởi lẽ bất cứ cá nhân nào cũng  
sống và tồn tại, có những mối quan hệ với những hệ thống nhất định. Hiểu được lý  
thuyết hệ thống, nhân viên xã hội sẽ biết cách phân tích thực trạng của thân chủ, từ  
đó thiết lập lại cho thân chủ những yếu tố còn thiếu gây ảnh hưởng đối với thân  
chủ. Từ đó có những can thiệp giúp đỡ phù hợp và hiệu quả.  
Vận dụng lý thuyết hệ thống trong công tác xã hội với người cao tuổi tức là  
tìm hiểu và phân tích các hệ thống xung quanh cũng như sự tác động của nó đến  
người cao tuổi. Các hệ thống xung quan bao gồm:  
- Hệ thống tự nhiên: Gia đình, bạn bè, hàng xóm…  
- Hệ thống chính thức: Hội người cao tuổi, hội hưu trí, cơ quan…  
- Hệ thống xã hội: Viện dưỡng lão, trung tâm bảo trợ, bệnh viện…  
Tiến trình can thiệp đối với cá nhân người cao tuổi khi vận dụng lý thuyết hệ  
thống gồm ba giai đoạn:  
- Giai đoạn khởi đầu:  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 58 trang baolam 27400 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn Công tác xã hội với người cao tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docgiao_trinh_mon_cong_tac_xa_hoi_voi_nguoi_cao_tuoi.doc