Mối quan hệ giữa công việc chăm sóc không được trả công với bình đẳng giới ở Việt Nam

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG VIỆC CHĂM SÓC KHÔNG ĐƯỢC TRẢ CÔNG  
VỚI BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM  
y Nguyễn Thị Minh Hòa(*), Hà Tuấn Anh(**)  
Tóm tắt  
Các nghiên cứu cho thấy, ở Việt Nam nữ giới dành thời gian cho công việc chăm sóc không được  
trả công gấp gần 1,5 lần so với nam giới. Đây là hoạt động có chi phí cơ hội và không thể thiếu đối với  
sự vận hành của xã hội và đời sống của con người. Tuy nhiên, sự phân công trách nhiệm thiếu bình đẳng  
trong gia đình nghiêng về nữ giới dẫn đến họ bị hạn chế về quyền lựa chọn cũng như cơ hội tham gia  
vào những hoạt động khác có ý nghĩa hơn với họ, dẫn đến gia tăng bất bình đẳng giới. Đó là sự tham  
gia vào lực lượng lao động, vào thị trường lao động được trả công, vào đời sống chính trị và thời gian  
dành cho nghỉ ngơi, giải trí, học tập. Thông qua việc phân tích thực trạng công việc chăm sóc không  
được trả công của nữ giới và một số ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của phụ nữ, bài viết đề xuất  
các khuyến nghị giảm công việc chăm sóc không được trả công đối với phụ nữ nhằm đẩy mạnh bình  
đẳng giới ở Việt Nam.  
Từ khóa: Công việc chăm sóc không được trả công, bình đẳng giới, bất bình đẳng giới.  
1. Đặt vấn đề  
Mang màu sắc văn hóa phương Đông, trong xã  
hội Việt Nam từ xưa đã vốn hình thành những  
chuẩn mực văn hóa quy định việc chăm sóc các  
thành viên (đặc biệt là trẻ em và người cao tuổi)  
trong gia đình thường được hợp lý hóa với những  
kiến giải cho rằng người phụ nữ là biểu tượng của  
tình yêu thương và sự dịu dàng, gắn liền với vai  
trò sinh sản và nuôi dưỡng. Nơi nào còn tồn tại  
các định kiến nặng nề về vai trò giới thì nơi đó  
Công việc chăm sóc không lương được hiểu  
là những công việc do các thành viên của gia đình  
thực hiện trong gia đình để duy trì cuộc sống mà  
không được trả lương, bao gồm cả các công việc  
cộng đồng mang tính tự nguyện. Theo quy ước,  
các công việc chăm sóc không được trả công bao  
gồm: Nội trợ (Nấu ăn, chuẩn bị thức ăn, lau chùi,  
giặt giũ quần áo, lấy nước và nhiên liệu…) và công  
việc chăm sóc trực tiếp (chăm sóc trẻ em, người tỷ lệ tham gia công việc chăm sóc không được  
già, người khuyết tật và người lớn) [8].  
trả công của nữ giới càng cao. Công việc chăm  
sóc không được trả công có chi phí cơ hội và khi  
sự phân công trách nhiệm thiếu bình đẳng trong  
gia đình nghiêng về nữ giới thì họ sẽ bị hạn chế  
về quyền lựa chọn cũng như cơ hội tham gia vào  
những hoạt động khác có ý nghĩa hơn, ảnh hưởng  
đến sự phát triển của phụ nữ, dẫn đến gia tăng bất  
bình đẳng giới.  
Công việc chăm sóc không được trả công là  
hoạt động không thể thiếu đối với sự vận hành  
của xã hội và đời sống của gia đình, song lại khó  
quy đổi thành giá trị kinh tế, không mang lại thu  
nhập trực tiếp trong gia đình và không được tính  
là một phần của tổng giá trị sản phẩm của một  
quốc gia. Vì vậy, ở Việt Nam và nhiều quốc gia  
trên thế giới vẫn xếp công việc chăm sóc không  
được trả công vào lĩnh vực “không hoạt động kinh  
tế”. Ở các nước trên thế giới, công việc chăm sóc  
không được trả công được thực hiện chủ yếu bởi  
phụ nữ và trẻ em gái, tương ứng 75% khối lượng  
công việc chăm sóc không được trả công trên toàn  
thế giới, ước tính khoảng 13% GDP toàn cầu [8].  
2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu tập trung làm rõ thực trạng công  
việc chăm sóc không được trả công của phụ nữ và  
mối quan hệ giữa công việc chăm sóc không được  
trả công và bình đẳng giới.  
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài  
liệu thứ cấp và các số liệu khảo sát của Viện Khoa  
học Lao động - Bộ Lao động, Thương binh và Xã  
hội (ILSSA) và Khoa Quản lý nguồn nhân lực,  
Trường Đại học Lao động Xã hội tiến hành năm  
2016 về công việc chăm sóc không được trả công.  
(*) Trường Đại học Lao động Xã hội, Cơ sở 1.  
(**) Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Trường Đại học Kinh  
tế quốc dân.  
47  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Sựkhác biệt giới trong sửdụng thời gian  
bản thân hơn nữ giới. Nghiên cứu của Tổ chức  
Action Aid cũng ủng hộ kết quả trên. Một vấn đề  
cần lưu ý là sự khác biệt này rất có ít sự thay đổi  
trong những năm qua và vẫn được duy trì qua các  
thế hệ bất chấp những thay đổi nhanh chóng về cơ  
cấu của nền kinh tế Việt Nam [8].  
3.2. Mối quan hệ giữa công việc chăm sóc  
không được trả công với bình đẳng giới  
3.2.1. Mức độ tham gia vào lực lượng lao  
động theo giới tính  
Mức độ tham gia vào lực lượng lao động theo  
giới tính chính là tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao  
động (LFPR) theo giới tính. LFPR chỉ tỷ lệ dân số  
ở độ tuổi lao động tham gia vào thị trường lao động  
(đang làm việc hoặc đang tìm kiếm việc làm) trên  
tổng số dân trong độ tuổi lao động của một quốc  
gia hay một vùng. Tỷ lệ này cung cấp một chỉ số  
tổng quát về nguồn cung lao động sẵn có.  
Hình 1. Chênh lệch về sử dụng thời gian của nữ  
so với nam  
Nguồn: Kết quả khảo sát sử dụng thời gian của ILSSA và  
Khoa Quản lý nguồn nhân lực, Trường Đại học Lao động  
Xã hội, 2016.  
Nơi nào gánh nặng không công bằng về công  
việc chăm sóc không được trả công nghiêng về nữ  
giới thì họ thường tạm thời không tham gia vào  
lực lượng lao động để chăm sóc gia đình, do đó  
họ bị giảm tích lũy kinh nghiệm trên thị trường  
lao động. Theo báo cáo của ILO, khoảng cách về  
giới trong tỷ lệ LFPR đã thu hẹp từ 32% xuống  
còn 25% trong giai đoạn từ năm 1980 - 2012 [3].  
Tuy nhiên, chỉ số LFPR chỉ đánh giá tiến trình  
tham gia vào nền kinh tế của phụ nữ cao hơn mà  
chưa đánh giá được sự bình đẳng về thu nhập hay  
chất lượng việc làm.  
Mức độ khác biệt về giới trong sử dụng thời  
gian được tính bằng cách lấy số thời gian của nữ giới  
trừ đi số thời gian của nam giới được sử dụng cho  
cùng một công việc cụ thể, nếu kết quả lớn hơn 0  
cho thấy, những công việc này nữ giới dành nhiều  
thời gian hơn nam giới và ngược lại.  
Hình 1 cho thấy, nữ giới dành thời gian cho  
công việc chăm sóc không được trả công nhiều  
hơn nam giới ở hầu hết các nhóm tuổi, mặt khác,  
nam giới thiên về công việc được trả công và dành  
nhiều thời gian cho học tập, giải trí và tự chăm sóc  
Bảng 1. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động theo giới tính của Việt Nam giai đoạn 2008-2016  
Năm  
Chung  
Nam  
Nữ  
2008  
75,63  
80,35  
71,31  
2009  
76,53  
81,00  
72,31  
2010  
77,37  
81,98  
73,02  
2011  
77,07  
81,69  
72,60  
2012  
76,80  
81,25  
72,53  
2013  
76,69  
82,30  
73,20  
2014  
77,51  
82,10  
73,20  
2015  
77,8  
83,0  
72,7  
2016  
77,3  
82,4  
72,5  
Chênh lệch theo  
giới tính, %  
9,04  
0,89  
8,69  
0,89  
8,96  
0,89  
9,09  
0,89  
8,72  
0,89  
8,90  
0,89  
8,90  
0,89  
10,1  
0,89  
9,9  
Khoảng cách giới  
(Nữ/Nam)  
0,88  
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Điều tra Lao động việc làm các năm 2007-2014 [4].  
Tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động có xu đến năm 2016 là 72,5% và 82,4%, dẫn đến chênh  
hướng tăng, nhưng tốc độ tăng vẫn chậm hơn so với lệch về tỷ l ệ tham gia lực lượng lao động giữa nam  
nam giới, hệ quả là chênh lệch giữa nam và nữ có và nữ tăng lên, từ 9,04 lên tới 9,90 điểm phần trăm.  
xu hướng tăng. Nếu năm 2008 tỷ lệ này ở nữ giới Sự chênh lệch này tương đối thấp so với mức trung  
và nam giới tương ứng là 71,31% và 89,35% thì bình của thế giới (khoảng 25 điểm phần trăm) [2].  
48  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
Tỷ lệ nữ tham gia vào lực lượng lao động của thống kê cho thấy, công việc nội trợ gia đình là lý  
Việt Nam thuộc nhóm cao trong khu vực và trên thế do chủ yếu không cho phép nữ giới tham gia hoạt  
giới. Năm 2017, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động động kinh tế và có xu hướng tăng từ 28,52% năm  
của lao động nữ trên thế giới ước tính 39,3%; ở 2014 lên 32,4% năm 2016, trong khi tỷ lệ này ở  
khu vực Đông Á-Thái Bình Dương là 43,2% [10]. nam tương ứng là 1,85% và 2,4% (bảng 2). Đây là  
minh chứng rõ nét nhất ảnh hưởng của việc thực  
hiện công việc chăm sóc không được trả công đến  
khả năng tham gia hoạt động kinh tế của nữ giới.  
Nữ giới tham gia lực lượng lao động thấp  
hơn nam giới chính là do vai trò giới gắn liền với  
công việc chăm sóc không được trả công. Số liệu  
Bảng 2. Lý do không hoạt động kinh tế phân theo giới tính năm 2014-2016  
Đơn vị tính: %  
2014  
2016  
Nữ  
Nam  
100,00  
38,92  
1,85  
Nữ  
100,00  
24,17  
28,52  
3,78  
Chung  
100,00  
29,85  
18,26  
5,62  
Nam  
100,00  
40,80  
2,40  
Chung  
100,00  
30,70  
21,20  
5,30  
Chung  
100,00  
24,6  
Học sinh/Sinh viên  
Nội trợ  
32,4  
Mất khả năng lao động  
Quá trẻ/quá già  
Khác  
8,55  
8,80  
3,3  
26,72  
23,97  
29,36  
14,16  
28,34  
17,94  
25,70  
22,40  
27,00  
12,70  
26,50  
16,30  
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2015, 2017),  
Báo cáo Điều tra Lao động việc làm năm 2014, 2016 [4].  
3.2.2. Mức độ tham gia vào thị trường lao Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do ở Việt  
động được trả lương theo giới tính  
Nam nữ giới chủ yếu đảm nhiệm hoạt động tái sản  
xuất, công việc chăm sóc không được trả công nên  
giới hạn khả năng tiếp cận công việc làm công ăn  
lương. Hơn nữa, tự làm việc cho bản thân thường  
tạo điều kiện cho nữ giới linh hoạt hơn trong việc  
vừa kết hợp công việc chăm sóc không được trả  
công và công việc tạo ra thu nhập.  
Công việc chăm sóc không được trả công có  
chi phí cơ hội. Bởi vì, khi một người làm các công  
việc không được trả công thì họ sẽ không có thời  
gian để làm các công việc được trả công khác. Các  
nghiên cứu đã chỉ ra, những ai đảm nhiệm chủ yếu  
công việc chăm sóc không được trả công thường  
hạn chế về thời gian tham gia vào thị trường lao  
động được trả công [9]. Ở hầu hết các nước - cả  
các nước phát triển và đang phát triển - hiện có sự  
phân công lao động theo giới trong gia đình rất nhất  
quán, theo đó nam giới làm việc nhiều hơn trên thị  
trường lao động và phụ nữ thì làm việc nhiều tại  
nhà [6]. Do vậy, nữ giới chiếm tỷ trọng thấp trong  
tổng số lao động làm công ăn lương, và Việt Nam  
không phải là ngoại lệ.  
Hình 2. Tỷ lệ lao động làm công hưởng lương theo  
giới tính, 2010-2016 (%)  
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2011 - 2017),  
Báo cáo Điều tra Lao động việc làm 2010 - 2016 [4].  
Hình 2 cho thấy, mặc dù tỷ trọng lao động làm  
công ăn lương của Việt Nam có xu hướng tăng từ  
33,7% năm 2010 lên 41,2% năm 2016, tức tăng 7,5  
điểm phần trăm, chiếm hơn 2/5 tổng số lao động  
đang làm việc, nhưng mức độ tham gia vào thị  
trường lao động được trả công của nam giới luôn  
cao hơn nữ giới trong suốt giai đoạn 2010-2016.  
Vì những nghĩa vụ liên quan đến công việc  
không được trả công, thời gian lao động của nữ giới  
bị xé lẻ bởi nhiều công việc vặt trong và ngoài gia  
đình, kéo theo khả năng tập trung chuyên sâu vào  
một công việc liên tục (xét về mặt thời gian) của  
phụ nữ là bị hạn chế hơn so với nam giới; nữ giới  
49  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
ít có khả năng làm việc vào buổi tối và ngày cuối ít linh hoạt hơn nam giới, khiến họ bị bó hẹp vào  
tuần, hoặc đi công tác xa nhà. Điều này lại càng hạn những việc làm giản đơn, thu nhập thấp.  
chế kinh nghiệm của họ trên thị trường lao động,  
thu nhập và sự hấp dẫn với chủ lao động tiềm năng,  
tiếp tục củng cố thực tiễn chênh lệch giới.  
3.2.3. Công việc chăm sóc không được trả  
công ảnh hưởng đến thu nhập cá nhân  
Thu nhập trung bình của nữ giới từ việc làm  
được trả lương thường thấp hơn so với nam giới,  
điều này có nghĩa là có sự chênh lệch về tiền lương  
lao động. Trong 3 nhóm lao động theo vị thế việc  
làm chỉ có nhóm “Lao động làm công ăn lương”  
Khi nữ giới phải dành thời gian và sức lực có số liệu về thu nhập cá nhân từ tiền lương, còn  
đáng kể cho công việc chăm sóc không được trả đối với nhóm “Lao động tự làm” và “Lao động  
công sẽ bị hạn chế về không gian (chủ yếu là ở nhà) làm công cho gia đình không hưởng lương” thu  
và thời gian, ít có cơ hội lựa chọn nghề nghiệp và nhập của họ nhập chung với thu nhập của cả hộ  
việc làm có thu nhập cao, họ buộc phải lựa chọn gia đình. Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này chỉ  
những công việc sản xuất kinh doanh gần nhà. Điều có thể so sánh thu nhập cá nhân theo giới tính của  
này dẫn đến việc môi trường làm việc của phụ nữ nhóm “Lao động làm công ăn lương”.  
Bảng 3. Thu nhập từ việc làm bình quân tháng theo giới tính của “Lao động làm công ăn lương”,  
giai đoạn 2009-2016  
2009  
2.258  
2.483  
1.987  
2010  
2.474  
2.668  
2.297  
2011  
2.809  
3.056  
2.712  
2012  
3.483  
3.630  
3.267  
2013  
3.789  
3.938  
3.575  
2014  
4.126  
4.302  
3.881  
2015  
4.716  
4.925  
4.430  
2016  
5.066  
5.304  
4.739  
Chung (1000 đồng)  
Nam (1000 đồng)  
Nữ (1000 đồng)  
Chênh lệch tiền lương theo  
giới tính (%)  
20  
13,9  
0,86  
11,3  
0,89  
10,0  
0,90  
9,2  
9,8  
10,1  
0,90  
10,7  
0.89  
Chỉ số khoảng cách giới Ew/Em  
0,80  
0,91  
0,90  
Nguồn: Viện Khoa học Lao động-Xã hội (ILSSA)- Xu hướng Lao động và Xã hội Việt Nam năm 2014.  
Tổng cục Thống kê (2016, 2017), Báo cáo Điều tra Lao động việc làm năm 2015, 2016 [4].  
Bảng 3 cho thấy, thu nhập từ việc làm bình  
Bảng số liệu trên cũng cho thấy, mặc dù chỉ  
quân của lao động nữ làm công ăn lương luôn thấp số khoảng cách giới về tiền lương có xu hướng  
hơn lao động nam trong cả giai đoạn 2009-2016 tăng từ 0,80 năm 2009 lên 0,89 năm 2016, nhưng  
trên 10,0%, mặc dù tốc độ tăng tiền lương danh nữ giới vẫn tiếp tục nhận mức thù lao thấp hơn so  
nghĩa bình quân của lao động nữ luôn cao hơn lao với nam giới. Sự chênh lệch giới trong thu nhập  
động nam, tương ứng là 19,8% và 16,2%, do xuất còn được phản ánh rõ nét thông qua thu nhập bình  
phát điểm tiền lương danh nghĩa của lao động nữ quân/tháng của lao động làm công ăn lương chia  
thấp hơn lao động nam.  
theo trình độ chuyên môn kỹ thuật.  
Bảng 4. Thu nhập từ việc làm bình quân/tháng của lao động làm công ăn lương chia theo giới tính  
và trình độ chuyên môn kỹ thuật, năm 2016  
Thu nhập từ việc làm bình quân  
tháng (nghìn đồng)  
Chênh lệch thu Chỉ số khoảng  
Trình độ chuyên môn kỹ thuật  
Tổng số  
nhập theo giới  
cách giới  
tính (%)  
Ew/Em)  
Tổng số  
5.066  
4.224  
5.834  
5.150  
5.280  
7.374  
Nam  
5.304  
4.367  
6.009  
5.568  
5.809  
8.173  
Nữ  
4.739  
4.015  
4.899  
4.748  
4.935  
6.559  
10,7  
8,1  
0,89  
0,92  
0,82  
0,85  
0,85  
0,8  
Chưa đào tạo chuyên môn kỹ thuật  
Dạy nghề  
18,5  
14,7  
15,0  
19,7  
Trung cấp chuyên nghiệp  
Cao đẳng  
Đại học trở lên  
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2017), Báo cáo Điều tra Lao động việc làm năm 2016 [4].  
50  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
Bảng 4 phản ánh sự khác biệt về thu nhập của nữ giới thấp so với nam giới khoảng 14%. Vì  
bình quân/tháng của nhóm Lao động làm công ăn họ có trách nhiệm và thời gian không cân xứng  
lương theo giới tính và trình độ chuyên môn kỹ với nam giới dành cho công việc chăm sóc không  
thuật cao nhất đạt được năm 2016. Số liệu cho thấy, được trả công, nữ giới có xu hướng nhận những  
tính chung nam giới có thu nhập bình quân/tháng việc làm bán thời gian hơn là những việc làm toàn  
cao gần 10% so với nữ giới và cao hơn ở tất cả các thời gian, ít có cơ hội hơn nam giới để làm việc  
phân tổ theo trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong ngoài giờ hành chính, khiến giảm thu nhập họ có  
các nhóm Lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thể có được;  
thuật, thì nhóm lao động “Chưa qua đào tạo” và có  
trình độ “Trung cấp chuyên nghiệp” và “Cao đẳng”  
có chỉ số khoảng cách giới về tiền lương của nữ  
giới so với tiền lương của nam giới cao nhất, đạt  
0,92, 0,85 và 0,85, tức là mức bình đẳng giới khá  
tốt, trong khi đó nhóm lao động có trình độ “đại  
học trở lên” đang ở mức thấp nhất, đạt 0,8, nghĩa  
là bất bình đẳng giới về tiền lương cao nhất.  
- Năng suất lao động của nữ giới thấp hơn  
nam giới. Ngoài hạn chế về trình độ chuyên môn,  
kỹ năng làm việc thì sự phân công lao động theo  
giới trong thực hiện công việc không được trả công  
xé lẻ thời gian của nữ giới, trong khi nam giới làm  
việc được tập trung hơn.  
Như vậy, gánh nặng không công bằng của  
công việc chăm sóc không được trả công đối với  
nữ giới là nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng trong  
thu nhập.  
3.2.4. Công việc chăm sóc không được trả  
công ảnh hưởng đến thời gian dành cho nghỉ ngơi,  
giải trí và học tập  
Sự khác biệt về thu nhập giữa lao động nam  
và nữ là kết quả của những khác biệt theo trình  
độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kinh  
nghiệm, ngành nghề, lĩnh vực làm việc, vị thế  
trong việc làm, số giờ làm việc… Hơn nữa, nữ giới  
thường tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp và dịch  
vụ nhiều hơn, sản xuất công nghiệp nhưng trình  
độ tay nghề thấp, năng suất lao động thấp, không  
yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật và thường  
được trả tiền lương, tiền công thấp. Nguyên nhân  
của những khác biệt trên do ảnh hưởng bởi công  
việc chăm sóc không được trả công được biểu  
hiện thông qua:  
Do phải đảm nhiệm phần lớn công việc chăm  
sóc, phụ nữ có ít thời gian rảnh rỗi cho bản thân  
hơn nam giới như nghỉ ngơi, giải trí và học tập.  
UNDP đã đưa ra kết quả phân tích một mẫu gồm  
62 quốc gia: nam giới dành ra trung bình 4,5 tiếng  
một ngày để tham gia hoạt động xã hội và giải trí,  
trong khi con số này ở phụ nữ là 3,9 tiếng. Tại  
các quốc gia có mức độ phát triển con người thấp,  
thời gian cho hoạt động xã hội và giải trí của nam  
giới nhiều hơn phụ nữ gần 30%; tại các quốc gia  
có mức độ phát triển con người rất cao, sự chênh  
lệch này là 12% [7].  
- Quan điểm cho rằng, thiên chức “muôn  
thuở” của phụ nữ trong việc nuôi dưỡng và duy trì  
gia đình, kéo theo đầu tư vào vốn con người của  
con trai nhiều hơn con gái. Đến năm 2016 tỷ lệ lao  
động nam qua đào tạo đạt 23,3%, trong khi đó tỷ lệ  
này ở lao động nữ chỉ có 18,4%, thấp hơn của lao  
động nam 4,9%. Đây là yếu tố quan trọng hạn chế  
sự tiếp cận của lao động nữ đối với các vị trí cao  
hơn trong nghề nghiệp - công việc có thu nhập cao;  
Do phải đảm nhiệm phần lớn công việc chăm  
sóc, phụ nữ có ít thời gian có ít thời gian rảnh rỗi  
cho bản thân hơn nam giới như nghỉ ngơi, giải  
trí, học tập và chăm sóc bản thân. Kết quả khảo  
sát của Viện Khoa học Lao động Xã hội và Khoa  
Quản lý nguồn nhân lực của Trường Đại học Lao  
động Xã hội cho thấy có sự chênh lệch giới về  
thời gian dành cho nghỉ ngơi, giải trí, học tập và  
chăm sóc bản thân. Bình quân thời gian nghỉ ngơi,  
giải trí của các cá nhân là 4,82h/ngày, trong đó  
nam giới có thời gian dành cho nghỉ ngơi, giải  
trí là 5,52h/ngày, nhiều hơn nữ giới là 1,3h/ngày.  
Ngoài ra, khoảng cách giới trong đào tạo chuyên  
- Gánh nặng công việc chăm sóc không được  
trả công và định kiến giới đã giảm cơ hội tiếp  
những công việc có trình độ cao, thu nhập tốt của  
nữ giới vì không ít nhà tuyển dụng cho rằng nữ  
giới sẽ không thể tập trung cho công việc do bận  
rộn việc gia đình;  
- Chênh lệch về thời gian dành cho các công  
việc được trả lương. Số giờ lao động được trả lương  
51  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
môn kỹ thuật còn khá lớn. Mặc dù tỷ lệ lao động Nam, tỷ lệ nữ tham gia vào Quốc hội chỉ đạt 26,72%  
từ 15 tuổi trở lên qua đào tạo của cả nam giới và nhiệm kỳ 2016-2021, chưa thể đến gần mục tiêu  
nữ giới đều tăng, nhưng nữ giới có tốc độ tăng “tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ 2016-2021  
chậm hơn và đến năm 2016 mới chỉ có 18,4% lực trên 35%” được nêu trong “Chiến lược quốc gia về  
lượng lao động nữ được đào tạo chuyên môn so Bình đẳng giới 2011-2020”. Trong lĩnh vực kinh  
với nam giới là 23,3% (hình 3).  
doanh, nữ giới chỉ chiếm khoảng 1/4 trong tổng  
số chủ/giám đốc doanh nghiệp trong cả giai đoạn  
2000-2016 [5]; trong lĩnh vực nông nghiệp, chỉ có  
8,64% chủ các trang trại là nữ [1].  
4. Kết luận và khuyến nghị  
Kết quả của chúng tôi cho thấy phụ nữ phải  
dành nhiều thời gian cho công việc chăm sóc  
không được trả công nhiều hơn, hệ quả là so với  
nam giới họ có trình độ học vấn và trình độ chuyên  
môn kỹ thuật thấp hơn, tiền lương kiếm được thấp  
hơn, dành ít thời gian hơn cho công việc được trả  
lương và nghỉ ngơi, đồng thời cơ hội đảm nhiệm  
các vị trí lãnh đạo, quản lý cũng thấp hơn. Những  
khác biệt này có lợi hơn cho nam giới bởi ngay cả  
những phụ nữ làm việc toàn thời gian cũng không  
cân đối được việc nhà và chăm sóc con cái một  
cách hợp lý. Ngược lại, đàn ông được hưởng lợi cả  
trực tiếp từ vai trò chính của họ là trụ cột thông qua  
mức lương cao hơn và gián tiếp thông qua nhiều  
thời gian nghỉ ngơi hơn. Tương tự, nam giới được  
hưởng lợi về mặt kinh tế từ sự phân chia giới tính  
của các vai trò xã hội.  
Hình 3. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào  
tạo (có chứng chỉ, có bằng) theo giới tính, 2008-2016  
Sự chia sẻ trách nhiệm mất cân xứng đối với  
công việc chăm sóc, nghiêng về nữ giới dẫn đến  
họ không có nhiều thời gian để nâng cao trình độ.  
Hậu quả là khoảng cách trong đào tạo chuyên môn  
kỹ thuật giữa nam giới và nữ giới còn lớn. Việc  
khuyến khích bó hẹp công việc của phụ nữ trong  
phạm vi gia đình khiến các gia đình ít đầu tư cho  
việc học hành của con gái hay đào tạo cho phụ nữ  
hơn. Điều này hạn chế tính năng động của phụ nữ  
và trẻ em gái, hạn chế lựa chọn nghề nghiệp, nhất  
là việc làm ngoài phạm vi gia đình. Sự chia sẻ trách  
nhiệm mất cân xứng đối với công việc chăm sóc  
không được trả công làm cho nữ giới “nghèo” thời  
gian để thực hiện các quyền con người cơ bản của  
mình như nghỉ ngơi, giải trí và học tập.  
Sự tồn tại kéo dài của chuẩn mực xã hội coi  
những công việc chăm sóc không được trả công là  
công việc của nữ giới và chính sự phân công không  
cân đối công việc không được trả công trong gia  
đình là một trong những biểu hiện dai dẳng nhất  
của bất bình đẳng giới. Đây được coi là một thứ  
“thuế” đối với thời gian của nữ giới, kéo theo tình  
trạng họ luôn “nghèo về thời gian”.  
3.2.5. Công việc chăm sóc không được trả  
công ảnh hưởng đến việc tham gia lãnh đạo, quản lý  
Nghiên cứu “Đánh giá giới ở Việt Nam” của  
Ngân hàng thế giới (2011) chỉ ra rằng, công việc  
chăm sóc không được trả công là nguyên nhân cơ  
bản, gây rào cản nữ giới tham gia vào quản lý lãnh  
đạo. Bởi vì vị trí này đòi hỏi họ phải dành nhiều  
thời gian, sức lực và cả trí tuệ, có nghĩa là họ sẽ có  
ít thời gian hơn dành cho các công việc gia đình.  
Nếu nam giới không ủng hộ, không chia sẻ công  
việc chăm sóc không được trả công thì cơ hội thăng  
tiến của nữ giới là rất thấp.  
Để giảm thiểu công việc chăm sóc không được  
trả công đối với nữ giới, cần:  
Thứ nhất, thúc đẩy truyền thông thay đổi  
nhận thức về trách nhiệm chia sẻ công việc chăm  
sóc không được trả công giữa các thành viên trong  
gia đình;  
Thứ hai, tăng cường hoạt động giáo dục đào  
tạo và cơ chế khuyến khích nữ giới tham gia vào  
nhiều ngành nghề khác nhau;  
Trên thế giới phụ nữ chỉ nắm giữ 22,0% các vị  
trí lãnh đạo cấp cao, và 32,0% doanh nghiệp không  
Thứ ba, cải thiện cơ sở hạ tầng và tăng cường  
có bất kỳ vị trí quản lý nào là phụ nữ [7]. Ở Việt các dịch vụ cơ bản như dịch vụ giáo dục, y tế, chăm  
52  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
sóc người cao tuổi có thể làm giảm đáng kể số  
Việc giảm nhẹ công việc gia đình sẽ mang  
lượng thời gian cần thiết cho công việc chăm sóc lại nhiều cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các hoạt  
không được trả công. động thị trường./.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2015), Báo cáo quốc gia Kết quả 15 năm thực hiện các mục tiêu phát  
triển thiên niên kỷ của Việt Nam, Hà Nội.  
[2]. ILO (2015), Bình đẳng giới trong thực tiễn tuyển dụng và thăng tiến tại Việt Nam.  
[3].Astrid S. Tuminez (2012), Rising to the Top: Women’s Leadership in Asia, Lee KuanYew School  
of Puplic Policy - National University of Singapore and Asia Society.  
[4]. Tổng cục Thống kê (2009-2017), Báo cáo điều tra lao động việc làm các năm 2008-2016,  
NXB Thống kê, Hà Nội.  
[5]. Tổng cục Thống kê (2018), Thông tin thống kê giới tại Việt Nam 2016, NXB Thống kê, Hà Nội.  
[6]. UNDP (1995), Human Development Report 1995, New York: Oxford University Press, USA.  
[7]. UNDP (2015), Tổng quan Báo cáo Phát triển con người năm 2015: Việc làm vì phát triển con  
người, Washington DC, USA.  
[8]. UN Women (2016), Tài liệu thảo luận chính sách công việc chăm sóc không lương: Những vấn  
đề đặt ra và gợi ý chính sách cho Việt Nam, Cơ quan Liên Hợp Quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền  
cho Phụ nữ (UN Women), Hà Nội.  
[9]. Ủy ban Quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ (2004), Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định  
và thực thi chính sách, Hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam thông qua chu trình chính sách quốc gia  
có trách nhiệm giới, Dự án VIE 01-015-01, Giới trong chính sách công, NXB Phụ nữ, Hà Nội.  
indicator/SL.TLF.TOTL.FE.ZS.  
RELATIONSHIP BETWEEN UNPAID CARE WORK AND GENDER EQUALITY  
IN VIET NAM  
Summary  
Studies show that in Viet Nam women spend nearly 1.5 times unpaid care compared to men. This  
is a cost-effective and indispensable activity for the functioning of society and of human life. However,  
unequal division in family responsibility prone to women leads them to have limited choice and  
opportunity to partake in activities more meaningful to them; therefore increasing gender inequality. That  
is the participation in the workforce, in paid-employment market, political life, pastime, recreation and  
study. On analyzing the current status of women's unpaid care work and its effects on their development,  
the paper proposes recommendations to reduce women's unpaid care work to promote gender equality  
in Vietnam.  
Keywords: Unpaid care work, gender equality, gender inequality.  
Ngày nhận bài: 26/11/2018; Ngày nhận lại: 13/02/2019; Ngày duyệt đăng: 05/3/2019.  
53  
pdf 7 trang baolam 22980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mối quan hệ giữa công việc chăm sóc không được trả công với bình đẳng giới ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_giua_cong_viec_cham_soc_khong_duoc_tra_cong_voi.pdf