Giáo trình môn Công tác xã hội với người nghèo

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH  
GIÁO TRÌNH  
MÔ ĐUN : CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG  
Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-TCDCGNB ngày…….tháng….năm 2018  
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình  
Ninh Bình, năm 2018  
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được  
phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh  
thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
2
LỜI GIỚI THIỆU  
Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu. Những năm gần đây,  
nhờ những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã có  
những bước chuyển mình rất quan trọng. Đặc biệt là vào năm 2006 nước ta đã  
chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO,  
nền kinh tế nước ta đã tăng trưởng nhanh chóng, đại bộ phận đời sống nhân dân  
được nâng lên một cách rõ rệt. Song, một số bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là  
vùng sâu, vùng xa đang chịu nghèo đói. Chính vì vậy, sự phân hoá giàu nghèo diễn  
ra ngày càng mạnh mẽ hơn. Nó là mối quan tâm hàng đầu của nước ta.  
Công tác xã hội với người nghèo hiện nay đã được giảng dạy ở một số trường  
Đại học và Cao đẳng. Tuy nhiên, việc giảng dạy này còn gặp không ít những khó  
khăn do thiếu giáo trình và tài liệu tham khảo. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn  
về đào tạo và nghiên cứu công tác xã hội ở nước ta, Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh  
Bình tổ chức biên soạn giáo trình “Công tác xã hội với người nghèo”. Giáo trình  
này cung cấp cho nhân viên xã hội tương lai những kiến thức cơ bản để tiếp cận và  
làm việc, trợ giúp cho những đối tượng người nghèo. Giáo trình này bao gồm:  
Bài 1: Những vấn đề cơ bản về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo  
Bài 2: Hệ thống dịch vụ xã hội hỗ trợ người nghèo  
Bài 3: Công tác xã hội với người nghèo, hộ nghèo  
Bài 4: Kỹ năng cơ bản trong công tác xã hội với người nghèo  
Giáo trình được biên soạn trên cơ sở tham khảo và sử dụng một số tài liệu  
của các giảng viên đã giảng dạy, các nhà nghiên cứu về công tác xã hội ở Việt Nam  
và trên thế giới, các văn bản của nhà nước đã ban hành dành cho người nghèo. Giáo  
trình này lần đầu tiên được biên soạn tại Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình nên  
không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của  
các đồng nghiệp và các bạn đọc để cho giáo trình ngày càng hoàn thiện và mang  
tính thực tiễn hơn.  
Xin trân trọng cảm ơn!  
Ninh Bình, ngày…....tháng…...năm 2018  
Tham gia biên soạn:  
1. Phạm Thanh Bằng  
2. Phạm Thu Phương  
3
MỤC LỤC  
4
5
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN  
Tên mô đun: Công tác xã hội với người nghèo  
Mã mô đun: MĐ 26  
Vị trí, tính chất, vai trò và ý nghĩa của mô đun:  
- Vị trí mô đun: Công tác xã hội với người nghèo là mô đun chuyên ngành quan  
trọng của chương trình đạo tạo nghề công tác xã hội, liên quan tới các hoạt động  
cung cấp dịch vụ cho đối tượng.  
- Tính chất của mô đun: Là mô đun chuyên môn nghề bắt buộc.  
Mục tiêu của mô đun:  
- Về kiến thức  
+ Trình bày được kiến thức cơ bản về đói nghèo, xoá đói giảm nghèo, mục  
tiêu phương hướng xoá đói giảm nghèo;  
+ Vai trò nhiệm vụ của cán bộ xoá đói giảm nghèo;  
+ Phân tích được vai trò của cán bộ xã hội trong việc hỗ trợ gia đình tiếp cận  
đến các dịch vụ xã hội để được giúp đỡ;  
+ Trình bày được kỹ năng cơ bản trong công tác xã hội với người nghèo; tiến  
trình công tác xã hội với người nghèo và hộ nghèo;  
- Về kỹ năng:  
+ Lập được kế hoạch sản xuất kinh doanh của hộ nghèo;  
+ Sử dụng được các phương pháp xoá đói giảm nghèo có sự tham gia của người  
dân; Hỗ trợ được các thành viên sử dụng các kỹ năng và phương pháp;  
+ Kết nối được các đối tượng với các dịch vụ xã hội.  
+ Vận dụng được các kỹ năng cơ bản của công tác xã hội cá nhân trong việc  
trợ giúp người nghèo và hộ nghèo.  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
+ Rèn luyện được tính tích cực, tự giác trong học trong học tập, phẩm chất  
nghề nghiệp;  
+ Nỗ lực với cộng đồng, chung tay xoá đói giảm nghèo.  
Nội dung của mô đun:  
6
 
BÀI 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐÓI NGHÈO  
VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO  
Mã bài: MĐ 26_B01  
Giới thiệu:  
Bài này cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản, khái quát về đói  
nghèo và xoá đói giảm nghèo. Từ đó, người học xác định được đối tượng nghèo đói  
theo tiêu chuẩn.  
Mục tiêu:  
- Kiến thức:  
+ Nêu được chuẩn nghèo, phương pháp xác định và ý nghĩa chuẩn nghèo;  
+ Trình bày được tổng quan công cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam và thế  
giới;  
+Trình bày được các hoạt động của chương trình xóa đói giảm nghèo.  
- Kỹ năng:  
+ Vận dụng được phương pháp xác định chuẩn nghèo, quy đổi giá trị của rổ  
hàng hóa trong xác định chuẩn nghèo;  
+ Áp dụng được chuẩn nghèo để điều tra, xác định hộ nghèo.  
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
+ Rèn luyện được tính tích cực học tập;  
+Nỗ lực tham gia tiến trình xóa đói giảm nghèo.  
Nội dung chính:  
1. Quan niệm và nhận dạng về nghèo đói  
1.1. Quan niệm về nghèo đói  
Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia mô tả nghèo là “sự thiếu cơ hội để  
có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước  
đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa  
phương và theo thời gian”.  
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nghèo được xác định là “nghèo theo thu  
nhập. Người nghèo là người có thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập  
bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia”.  
Các quốc gia tham gia hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế xã hội  
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào  
7
     
tháng 9 năm 1993, đã thống nhất cao và cho rằng: "Nghèo đói là tình trạng một bộ  
phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà  
những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập  
quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận."  
Khái niệm này đó đề cập đến sự phụ thuộc của nhu cầu con người ở mỗi giai  
đoạn phát triển và sự khác biệt giữa các phong tục tập quán được thừa nhận ở các  
vùng khác nhau. Điều này muốn nhấn mạnh rằng nhu cầu cơ bản của con người ở  
mỗi một nền văn hoá, một giai đoạn phát triển kinh tế là khác nhau  
Định nghĩa mới của Ngân hàng Thế giới đề cập đến nghèo ở khía cạnh rộng  
hơn không chỉ là thiếu thốn điều kiện về vật chất mà còn là những vấn đề khác như  
giáo dục, sức khỏe hay khả năng dễ bị tổn thương. Theo tổ chức này “Nghèo là  
khái niệm vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất; nghèo không chỉ gồm các chỉ  
số dựa trên thu nhập mà còn gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh  
dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn  
và không có quyền lực”.  
Quan niệm của Việt Nam về nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có  
khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống  
ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên m8ọi phương diện.  
Còn khái niệm đói được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức  
sống dưới mức tối thiểu không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.  
Quan niệm về nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư,  
nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể. Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo  
đói vẫn là mức thu thập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con  
người về ăn, ở mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau  
chỉ là thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi. Điều này phục thuộc vào trình độ phát  
triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.  
Người ta phân ra hai loại nghèo, nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.  
Roberd Mc Namara đã định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo  
ở mức độ tuyệt đối... là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người  
nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi  
tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu  
ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta.".  
8
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la mỹ/ngày theo sức mua tương ứng  
mức mua tương đương để thoả mãn nhu cầu sống tối thiểu là chuẩn nghèo tuyệt  
đối.  
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia, nghèo tương đối là “việc cung  
cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về  
một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó”. Nghèo tương  
đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của  
những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những  
người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan.  
Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi  
vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn”.  
Quan niệm đơn giản cho rằng  
+ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng đáp  
ứng nhu cầu tối thiểu của con người như cơm ăn, áo mặc, chữa bệnh, học hành.  
+ Nghèo tương đối: Là sự so sánh tình trạng kinh tế của người/nhóm cá nhân  
này với người/nhóm cá nhân khác.  
1.2. Chuẩn nghèo và phương pháp xác định  
Chuẩn nghèo là một thước đo để xác định ai nghèo, ai không nghèo, điều đó  
cũng có nghĩa quan trọng cho việc:  
+ Xác định đối tượng cần trợ giúp phù hợp  
+ Hoạch định chính sách và các giải pháp trợ giúp  
+ Tổ chức thực hiện giúp đối tượng tiếp cận với các chính sách trợ giúp  
Có hai phương pháp xác định chuẩn nghèo:  
- Phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiêu ;  
- Phương pháp so sánh với thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình;  
1.2.1. Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào nhu cầu chi tiêu:  
Đây là phương pháp do các chuyên gia Ngân hàng thế gới (WB) khởi xướng  
và cũng là phương pháp được nhiều quốc gia cũng như các tổ chức Quốc tế công  
nhận và sử dụng trong việc xác định chuẩn nghèo ở cấp quốc gia hoặc sử dụng  
trong các dự án lớn. Nội dung cơ bản của phương pháp này là dựa vào nhu cầu chi  
tiêu để bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn  
hoá, đi lại và giao tiếp xã hội.  
9
 
Tổng chi tiêu = chi tiêu cho LTTP + chi tiêu cho phi LTTP  
Ưu điểm của phương pháp này: Có cơ sở khoa học tin cậy ; độ chính xác  
cao; phản sát thực trạng cuộc sống, nhiều quốc gia công nhận và sử dụng, có cơ sở  
để so sánh với các quốc gia khác. khi điều chỉnh chuẩn nghèo cho từng năm chỉ cần  
điều chỉnh giá cả rổ hàng hoá.  
Công thức tính: CNj = (CLTTPj-1 * CSG + CLTTPj –1 ) : 70 * 100  
Trong đó: CNj : chuẩn nghèo năm thứ j  
CTLTTP: chi tiêu cho lương thực thực phẩm  
CSG : tốc độ giá gia tăng của rổ hàng hoá  
Chia 70 và nhân 100 là chi tiêu cho LTTP chiếm 70% tổng chi tiêu  
Nhược điểm của phương pháp này: Tính toán phức tạp, nhất là tính toán giá  
cả rổ hàng hoá, vì giá các mặt hàng ở các vùng, miền, khu vực thành thị và nông  
thôn khác nhau, phải tính toán để có giá trị trung vị hoặc trung bình hợp lý, chính  
điều này tạo nên sự không hợp lý của chuẩn nghèo cho một địa phương cụ thể,  
song nó lại có ý nghĩa chung ở cấp quốc gia hoặc cho vùng. Mặt khác việc thu thập  
thông tin các mặt hàng và chi tiêu thực tế của dân cư cũng phức tạp, chỉ có số ít  
người làm được; chi phí điều tra tốn kém ; rổ hàng hoá phải luôn thay đổi và dễ bị  
ý muốn chủ quan chi phối; giá cả LTTP và phi LTTP luôn thay đổi và có sự khác  
nhau giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, do vậy việc tính toán cũng dễ có  
sai số và bị chi phối bởi ý kiến chủ quan.  
1.2.2.Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào so sánh với thu nhập bình quân  
đầu người của các hộ gia đình  
Phương pháp này cũng rất khoa học và tương đối đơn giản, một số nước phát  
triển ở Châu Âu và Mỹ đã sử dụng, họ cho rằng người nghèo là những người có  
thu nhập không đủ để chi phí cho lương thực thực phẩm và các dịch vụ xã hội. Do  
vậy người ta xác định chuẩn nghèo bằng khoảng 1/2 thu nhập bình quân đầu  
người của các hộ gia đình trong cả nước  
Công thức tính cụ thể cho nước ta như sau:  
Công thức tính:  
Trong đó: CNj là chuẩn nghèo năm thứ j  
TNj là thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình năm thứ j  
CNj = ( TNj /2 + TNj/3) : 2  
10  
Trong trường hợp này chuẩn nghèo được lấy ở khoảng giữa của 1/2 và 1/3 thu  
nhập bình quân đầu người của hộ gia đình  
Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán và nó gắn rất chặt với  
tốc độ tăng thu nhập của dân cư, ít tốn kém kinh phí vì có thể sử dụng số liệu có  
sẵn, các địa phương cũng tự tính được chuẩn nghèo của mình. Nhưng nhược điểm  
là sự điều chỉnh chuẩn nghèo có khoảng dao động lớn ( từ mức 1/2 đến 1/3 do đó  
dễ bị chi phối bởi ý muốn chủ quan của người tính và việc so sánh giũa các quốc  
gia giữa các vùng cũng không trên một mặt bằng).  
1.2.3. Phương pháp điều chỉnh chuẩn nghèo  
Phương pháp này phải điều chỉnh giá cả của rổ hàng hoá, giá cả các mặt hàng  
phi lương thực thực phẩm cho phù hợp với thực tế, thông thường 2 đến 3 năm  
người ta điều tra một lần và căn cứ vào kết quả điều tra để điều chỉnh giá cả rổ  
hàng hoá và giá cả mặt hàng phi LTTP cho phù hợp với tình hình thực tế. Tuy  
nhiên nếu thời gian quá dài thì cũng phải xem xét điều chỉnh cơ cấu rổ hàng hoá;  
quy trình thực hiện như sau:  
Bước một là điều chỉnh số lượng, khối rổ hàng hoá ( nếu cần thiết)  
Bước hai là tính giá cả rổ hàng hoá mới điều chỉnh  
Bước ba là người ta điều chỉnh tỷ lệ nhu cầu chi tiêu cho lương thực, thực  
phẩm và phi lương thực thực phẩm. thông thường kinh tế càng phát triển thì tỷ lệ  
chi tiêu cho nhu cầu LTTP có xu hướng giảm, và tỷ lệ chi cho nhu cầu phi LTTP  
tăng.  
Bước bốn là tính giá cả chi tiêu cho phi LTTP  
Bước năm là tính tổng nhu cầu chi tiêu mới (chuẩn nghèo mới)  
Rổ hàng hoá được áp dụng tính chuẩn nghèo có khoảng 42 mặt hàng nhằm  
đảm bảo cung cấp 2100 K.calo cho một người trong một ngày.  
Từ năm 2004 đến nay, nước ta đã 6 lần điều chỉnh chuẩn nghèo, cụ thể như  
sau:  
- Năm 2004 là 170 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực nông thôn và  
220 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối vớikhu vực thành thị.  
- Năm 2006 là 200 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực nông thôn và  
260 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực thành thị.  
11  
- Năm 2008 là 290 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực nông thôn và  
370 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực thành thị.  
- Năm 2010 là 350 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực nông thôn và  
440 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực thành thị.  
Giai đoạn 2011-2015: (Quyết định số 09/2011/ QĐ-TTg )  
Chuẩn hiện hành: 500.000VND đối với khu vực thành thị và 400.000VND đối  
với khu vực nông thôn.  
1.3. Thực trạng nghèo đói  
1.3.1. Vấn đề nghèo trên thế giới  
Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), năm 1981, trên thế giới  
có 1,5 tỉ người nghèo tương ứng với 40% dân số thế giới, năm 1993, số người  
nghèo là 1,314 tỉ người tương ứng với 29% dân số thế giới, đến 2001 có 1,1 tỷ  
người (tương ứng với 21% dân số thế giới) có thu nhập ít hơn 1 đô la Mỹ tính theo  
sức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo. Phần lớn những người nghèo  
này sống tại Châu Phi, Châu á. Trong khi nhờ vào tăng trưởng kinh tế tại nhiều  
vùng của châu á, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt (từ 58% xuống còn 16% tại  
Đông á) thì con số những người nghèo nhất lại tăng lên ở châu Phi (gần gấp đôi từ  
1981 đến 2001 phía Nam sa mạc Sahara). Tại Đông Âu và Trung á con số những  
người nghèo nhất đã tăng lên đến 6% dân số năm 2004. Nếu như đặt ranh giới  
nghèo là 2 đô la Mỹ mỗi ngày thì có tổng cộng là 2,7 tỉ người nghèo, gần một nửa  
dân số thế giới.  
Nhưng trong năm 2008, năm đầu tiên của cuộc khủng hoảng tài chính và  
lương thực trên thế giới thì cả số lượng và tỷ lệ người có mức sống dưới 1,25  
USD/ngày (mức được xếp loại nghèo đói theo chuẩn giá cả năm 2005) đã giảm trên  
mọi khu vực của thế giới. Theo WB ước tính năm 2010, tình trạng nghèo đói toàn  
cầu chỉ bằng 1/2 mức năm 1990. Như vậy, thế giới đã đạt “mục tiêu phát triển thiên  
niên kỷ "của LHQ là giảm tình trạng đói nghèo trên thế giới xuống còn một nửa từ  
năm 1990 đến 2015- sớm hơn 5 năm. Điều này cho thấy, mặc dù cuộc khủng hoảng  
kép, tốc độ giảm nghèo dài hạn vẫn được duy trì ở mức trên 1% trong giai đoạn  
2008-2010.  
1.3.2. Vấn đề nghèo ở Việt Nam  
12  
 
Theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, năm 2004 chỉ số  
nghèo tổng hợp (Human Poverty Index-HPI) của Việt Nam xếp hạng 41 trên 95  
nước. Cũng theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, vào năm  
2002 tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia của Việt Nam là 12.9%, theo chuẩn thế giới  
là 29% và tỷ lệ nghèo lương thực (%số hộ nghèo ước lượng năm 2002) là 10.87%.  
Chuẩn nghèo ở Việt Nam cũng đã nhiều lần thay đổi. Bảng sau cho thấy tỷ lệ  
nghèo chia theo khu vực theo các năm 2004, 2006, 2008 và 2010.  
Tỷ lệ hộ nghèo chia theo khu vực  
Đơn vị tính: %  
2004  
2006  
2008  
13.4  
2010  
10.7  
2010 (*)  
18.  
15.  
14.  
2
CẢ NƯỚC  
Thành thị  
1
5
8.6  
21.  
7.7  
18.  
6.7  
5.1  
6.9  
17.  
4
16.1  
13.2  
Nông thôn  
2
0
8 vùng  
10.  
12.  
23.  
46.  
29.  
21.  
29.  
8.7  
6.5  
8.4  
Đồng bằng sông Hồng  
9
2
1
4
3
2
1
2
4
6
2
0
Đông Bắc  
22.  
39.  
26.  
17.  
24.  
20.1  
35.9  
23.1  
14.7  
21.0  
17.7  
32.7  
19.3  
12.7  
17.1  
24.  
2
Tây Bắc  
39.  
4
Bắc Trung Bộ  
24.  
0
Duyên hải Nam Trung Bộ  
Tây Nguyên  
16.  
9
22.  
2
Đông Nam Bộ  
6.1  
15.  
4.6  
13.  
3.7  
2.2  
8.9  
3.4  
12.  
6
Đồng bằng sông Cửu Long  
11.4  
3
0
13  
Nguồn: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (dựa vào Khảo sát mức sống gia đình  
2010_Tổng cục Thống Kê)  
Bảng sau thể hiện kết quả điều tra mới nhất vào năm 2010 về số hộ nghèo và  
cận nghèo cho thấy số lượng hộ nghèo và hộ cận nghèo vẫn còn ở mức cao. Tổng  
số hộ nghèo cả nước là 3.055.560 hộ chiếm tỷ lệ 14,2% và 1.612.381 hộ cận nghèo  
chiếm tỷ lệ 7,53%. Chi tiết phân theo các vùng miền trong bản sau.  
Số hộ nghèo và cận nghèo trong cả nước năm 2010  
Hộ nghèo  
Tổng số  
Hộ cận nghèo  
Tổng số Tỷ lệ  
7,53  
Tỉnh/Thành phố  
STT  
Tỷ lệ  
14,20  
24,62  
39,16  
8,30  
Cả nước  
3.055.566  
581.560  
236.365  
409.823  
578.007  
333.250  
262.879  
77.802  
1.612.381  
227.496  
80.118  
I
Miền núi Đông Bắc  
Miền núi Tây Bắc  
Đồng bằng Sông Hồng  
Khu IV cũ  
9,68  
13,27  
5,30  
II  
III  
IV  
V
261.586  
343.370  
208.833  
87.860  
22,68  
17,27  
22,48  
2,11  
13,47  
10,82  
7,51  
Duyên hải miền Trung  
Tây nguyên  
VI  
VII  
Đông Nam Bộ  
81.213  
2,20  
VIII ĐB sông Cửu Long  
575.880  
13,48  
321.905  
7,53  
Nguồn: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, 2011  
1.4. Nguyên nhân  
1.4.1. Đặc điểm của người nghèo  
Sau gần 30 năm đổi mới, thu nhập và mức sống của đại đa số người dân đã  
được cải thiện. Trước đây do nguồn lực hạn chế nên các chương trình giảm nghèo  
chủ yếu tập trung cho đối tượng nghèo về lương thực thực phẩm (nhu cầu về cơm  
ăn, áo mặc). Ngày nay, trong giai đoạn đất nước đổi mới, mức sống người dân  
được nâng lên, nhu cầu về phi lương thực thực phẩm cũng được nâng cao (nhu cầu  
về nhà ở, y tế, giáo dục, giao tiếp xã hội…). Cơ hội phát triển và thụ hưởng các  
thành quả của sự phát triển cũng có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm giàu và nhóm  
nghèo, do sự phân hóa giàu-nghèo có xu hướng gia tăng.  
Một số vùng miền (đặc biệt vùng dân tộc khó khăn) cái nghèo của người dân  
vẫn rất đa dạng. Thể hiện tình trạng thiếu ăn 1 vài tháng/năm; vẫn sống trong các  
ngôi nhà ọp ẹp tạm bợ; có tỷ lệ trẻ em bỏ học cao; Người dân nhập cư đo thị việc  
14  
 
làm bấp bênh, thu nhập thấp, chưa được bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ  
chăm sóc sức khỏe, giáo dục…  
1.4.2. Nguyên nhân nghèo đói  
*Nguyên nhân khách quan  
- Xuất phát điểm của nền kinh tế nước ta trước khi “đổi mới” thấp, do phải trải  
qua hơn 30 năm chiến tranh, nguồn lực của Nhà nước chưa đáp ứng ngay được nhu  
cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và điều kiện tự nhiên không  
thuận lợi ở một số vùng, miền.  
- Phong tục, tập quán lạc hậu tồn tại hàng thế kỷ nay chưa dỡ bỏ được.  
- Thời gian dài nền kinh tế chậm phát triển (Cơ chế bao cấp)  
- Khi chuyển đổi cơ chế kinh tế lại làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khác,  
trong đó có vấn đề nghèo đói ( Mặt trái của nền kinh tế thị trường-Hội nhập)  
- Khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng đến các Quốc gia  
- Nạn tham nhũng, lãng phí đâu đó còn tồn tại  
- Người nghèo vẫn khó tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản  
- Do tác động của cơ chế chính sách:  
Cơ chế chính sách chưa thực sự phù hợp và kịp thời đáp ứng với điều kiện  
kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn mới, chi tiêu cho y tế, giáo dục và chính  
sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước chưa cân đối giữa các cấp hành  
chính, giữa các vùng miền, giữa các ngành kinh tế (giữa nông nghiệp với công  
nghiệp, giữa khu vực nông thôn với khu vực thành thị).  
- Kinh tế phát triển không bền vững, tăng trưởng tuy khá nhưng chủ yếu là do  
nguồn vốn đầu tư trực tiếp và đầu tư vào con người ở mức cao nhưng hiệu quả còn  
hạn chế, số lượng lao động được đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường còn thấp, nông  
dân khó tiếp cận tín dụng ngân hàng nhà nước.  
* Nhóm nguyên nhân chủ quan  
- Thiếu vốn sản xuất – kinh doanh  
- Thiếu kiến thức sản xuất – kinh doanh  
- Thiếu thông tin về thị trường  
- Thiếu đất và không có đất sản xuất  
- Ốm đau, bệnh tật  
- Đông con, thiếu lao động  
15  
- Không tìm được việc làm  
- Rủi ro  
- Gia đình có người mắc tệ nạn xã hội  
- Cá biệt có người lười lao động  
Trong xã hội, người nghèo luôn chịu thua thiệt, trong bối cảnh hiện nay, tăng  
trưởng kinh tế lại làm cho khoảng cách giàu nghèo giãn hơn, người nghèo khó có  
cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, khó có cơ hội trong việc tham gia vào thị  
trường lao động. ta có thể biểu diễn vòng luẩn quẩn của nghèo đói như sau  
VÒNG LUẨN QUẨN CỦA NGHÈO ĐÓI  
Nghèo đói  
Gia tăng dân số  
Bệnh tật  
Môi trường sống  
Suy dinh dưỡng  
Tệ nạn xã hội  
Thất học  
Nghèo đói  
2. Chủ trương và các hoạt động xoá đói giảm nghèo  
2.1. Nhận thức về chủ trương xóa đói giảm nghèo  
Công tác xã hội có lịch sử lâu dài trong quá trình hỗ trợ giải quyết nghèo đói ở  
các cấp độ khác nhau từ việc hỗ trợ cá nhân người nghèo đến phát triển thay đổi  
cộng đồng nghèo và các chính sách, chương trình xã hội xoá đói giảm nghèo của  
16  
   
quốc gia. Công tác xã hội tham gia vào lĩnh vực này với ý nghĩa hết sức quan trọng  
và mang tính nhân văn sâu sắc được dựa trên nghiên tác đạo đức nghề nghiệp- Đó  
là phấn đấu cho sự công bằng xã hội. Và nghèo đói được xem là vấn đề chính gây  
cản trở công bằng xã hội.  
Vấn đề giảm nghèo là vấn đề toàn cầu, không chỉ có ở Việt Nam và các nước  
đang phát triển, các nước nghèo mà là vấn đề của cả nước phát triển.  
Giảm nghèo là đòi hỏi cấp bách của toàn nhân loại. Ở nước ta, giảm nghèo là  
một chủ trương, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước, giảm nghèo là một  
cuộc cách mạng xã hội sâu sắc, là phong trào của quần chúng, nhất là ở địa phương.  
Để thực hiện giảm nghèo, bên cạnh hệ thống các chính sách, vấn đề xây dựng  
nguồn lực, trong đó có nguồn nhân lực từ Trung ương đến địa phương, từ các nhà  
hoạch định chính sách đến những người tổ chức thực hiện các cấp, đặc biệt là cấp  
cơ sở, là một việc làm hết sức quan trọng.  
Xét tình hình thực tế, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phân hoà  
giàu nghèo diễn ra rất nhanh nếu không tích cực xoá đói giảm nghèo và giải quyết  
tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xây dựng một cuộc  
sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy được truyền thống tốt  
đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh và tiến bộ của thời đại. Do đó  
trong chính sách phát triển kinh tế -xã hội thời kỳ 1996-2000 nhà nước đã xây dựng  
được các chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó có chương trình xoá đói giảm  
nghèo quốc gia. Xoá đói giảm nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà nó  
còn là vấn đề kinh tế -xã hội quan trọng, do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất giữa  
chính sách kinh tế với chính sách xã hội. Xuất phát từ điều kiện thực tế nước ta  
hiện nay, xoá đói giảm nghèo về kinh tế là điều kiện tiên quyết để xoá đói giảm  
nghèo về văn hoá, xã hội .Vì vậy, phải tiến hành thực hiện xoá đói giảm nghèo cho  
các hộ nông dân sinh sống ở vùng cao, vùng sâu, hải đảo và những vùng căn cứ  
kháng chiến cách mạng cũ, nhằm phá vỡ thế sản xuất tự cung, tự cấp, độc canh, đẩy  
mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp trên toàn quốc theo hướng  
sản xuất hàng hoá, phát triển công nghiệp nông thôn, mở rộng thị trường nông  
thôn, tạo việc làm tại chỗ, thu hút lao đông ở nông thôn vào sản xuát tiểu thủ công  
nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ là con đường cơ bản để xoá đói giảm nghèo ở  
nông thôn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn phải được xem như là 1 giải  
17  
pháp hữu hiệu, tạo bước ngoạt cho phát triển ở nông thôn, nhằm xoá đói giảm  
nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay. Tiếp tục đổi mới nền kinh tế theo hướng sản  
xuất hàng hoá trên cơ sở nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Đó là  
con đường để cho mọi người vượt qua đói nghèo, để nhà nước có thêm tiềm lực về  
kinh tế để chủ động xoá đói giảm nghèo. Đây là sự thể hiện tư tưởng kinh tế của  
Hồ Chủ Tịch:" Giúp đỡ người vươn lên khá, ai khá vươn lên giàu, ai giàu thì vươn  
lên giàu thêm".Thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm nghèo không chỉ  
đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho người nông dân  
ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn còn  
là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trưởng và phát triển 1 nền kinh tế bền vững,  
góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước. Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to lớn về  
mặt chính trị xã hội.  
Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăn sóc tốt sức khoẻ  
nhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập vào cuộc  
sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm được  
khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo, ổn định tinh thần, có  
niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào đường lối và chủ trương của đảng và  
Nhà nước. Đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi  
trường sinh thái. Ngoài ra, còn có thể nói rằng động không giải quyết thành công  
các nhiệm vụ và yêu cầu xoá đói giảm nghèo thì sẽ không chủ giải quyết được xu  
hướng gia tăng phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp với hậu  
quả là sự bần cùng hoá và do vậy sẽ đe doạ tình hình ổn định chính trị và xã hội  
làm chệch hướng XHCN của sự phát triển kinh tế - xã hội. Không giải quyết thành  
công các chương trình xoá đói giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được công bằng  
xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung. Như thế mục tiêu phát triển và phát triển  
bền vững sẽ không thể thực hiện được. Không tập trung nỗ lực, khả năng và điều  
kiện để xoá đói giảm nghèo sẽ không thể tạo được tiền đề để khai thác và phát triển  
nguồn lực con người phục vụ cho sự nghiệp CNH- HĐH đất nước nhằm đưa nước  
ta đạt tới ttrình độ phát triển tương đương với quốc tế và khu vực, tháo khỏi nguy  
cơ lạc hậu và tụt hậu.  
Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành công tác xóa đói giảm nghèo,  
đã đạt được những kết quả nhất định, đặc biệt là giai đoạn 2006-2010 cho thấy  
18  
những thành công đáng kể trong việc xây dựng được hệ thống cơ chế, chính sách,  
giải pháp tăng cường năng lực, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, kết quả là tốc độ  
giảm nghèo nhanh. Theo tổng kết của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, trong  
4 năm 2006-2010 đã có khoảng 5 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi  
với mức vay bình quân từ 6 -7 triệu đồng/lượt/hộ. Triển khai được 30.000 lướp tập  
huấn chuyển giao kỹ thuật, xây dựng 8500 mô hình trình diễn và hội nghị đầu bờ  
với 3 triệu lượt người nghèo. Đã có 100.000 lao động nghèo được dạy nghề miễn  
phí, trong đó có khoảng 60% lao động đã tìm được việc làm, tự tạo việc làm. Triển  
khai va nhân rộng hô hình giảm nghèo tại 218 xã thuộc 35 tỉnh với 27.566 hộ (70%  
là hộ nghèo đã tham gia mô hình. Có khoảng 2.000 công trình hạ tầng phục vụ sản  
xuất được đầu tư cho 273 xã đặc biệt khó khăn, bãi ven biển, hải đảo. Có 52 triệu  
lượt người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế, 8 triệu lượt học sinh nghèo được  
miễn giảm học phí, 2,8 triệu lượt học sinh nghèo được hỗ trợ sách vở. 140 ngàn  
lượt cán bộ giảm nghèo ở cơ sở được tập huấn nâng cao năng lực. Về hỗ trợ nhà ở,  
có khoảng 350 ngàn hộ nghèo được hỗ trợ nhà ở.  
Kết quả thực hiện Chương trình 134,135 giai đoạn II cho thấy đã có 14.024,7  
tỷ đồng được Chính phủ phân bổ cho thực hiện các chương trình 135 và 4.482 tỷ  
đồng cho hỗ trợ các địa phương thực hiện chương trình 134 từ năm 2004 đến 2009.  
Đã có 8.237 công trình hạ tầng cơ sở đã được xây dựng, trong đó có 5.465 công  
trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Chương trình 134 đã hỗ trợ được 373.400  
nhà ở cho hộ nghèo dân tộc thiểu số, giao 1.552 ha đất cho 71.713 hộ.  
(Số liệu đánh giá sau 4 năm 2005-2009 chương trình mục tiêu Quốc gia giảm  
nghèo giai đoạn 2005-2010-Bộ Lao động Thương binh và Xã hội)  
Mặc dù được quốc tế và nhân dân trong nước đánh giá tích cực về các thành  
quả của công tác xóa đói, giảm nghèo, tuy nhiên công tác giảm nghèo của nước ta  
hiện nay còn một số khó khăn.  
Thứ nhất là tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các khu vực. Tỷ lệ nghèo  
ở khu vực nông thôn vẫn cao hơn trên dưới hai lần so với khu vực thành thị; tỷ lệ  
nghèo ở miền núi tương tự cũng cao từ 1,7 đến 2 lần so với tỷ lệ nghèo chung của  
cả nước, tốc độ giảm nghèo của các nhóm dân tộc thiểu số còn chậm.  
Thứ hai là kết quả giảm nghèo được đánh giá là chưa bền vững với tỷ lệ hộ tái  
nghèo còn ở mức từ 7 đến 10%. Một khó khăn thách thức nữa trong công tác xóa  
19  
đói giảm nghèo nằm ở sự hạn chế trong các chương trình và chính sách giảm  
nghèo.  
Thứ ba, theo Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, chương trình giảm nghèo chưa toàn  
diện, nhiều chính sách và chương trình mang tính ngắn hạn, chồng chéo và chưa  
tạo được sự gắn kết chặt chẽ và lồng ghép tập trung vào mục tiêu giảm nghèo. Và  
những hạn chế trong công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cũng là cản trở  
trong công tác giảm nghèo.  
2.2. Các hoạt động của chương trình xóa đói giảm nghèo  
Bao gồm các chính sách và dự án sau:  
2.2.1. Chính sách ưu đãi tín dụng cho người nghèo:  
Mục tiêu: cung cấp tín dụng ưu đãi cho các hộ nghèo(3,5-4 triệu hộ) có nhu  
cầu vay vốn sản xuất kinh doanh với lãi suát thấp, không phải thế chấp cho ngân  
hàng.  
Nội dung: đưa tổng vốn vay của ngân hàng phục vụ người nghèo lên 10000 tỷ  
đồng vào năm 2005 (chủ yếu là huy động cộng đồng và vay các tổ chức tín dụng  
ngân hàng, Nhà nước cấp bù lãi suất chênh lệch huy động và cho vay 750 tỷ đồng  
trong 5 năm) và cho khoảng 5 triệu lượt hộ vay với mức bình quân từ 2-3 triệu/hộ.  
Đảm bảo vốn vay đúng đối tượng, sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và tài chính  
lành mạnh.  
2.2.2. Chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế.  
Mục tiêu: trợ giúp người nghèo trong khám chữa bệnh bàng các hình thức nhu  
mua thẻ BHYT, cấp thẻ và giấy chứng nhận khám chữa bệnh miễn phí, khám chữa  
bệnh từ thiện nhân đạo... Chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người nghèo.  
Nội dung:  
- Cung cấp trang thiết bị, cung ứng thuốc cho tuyến y tế cơ sở ở các huyện  
nghèo, khuyến khích và tăng cường cán bộ y tế cơ sở để nâng cao chất lượng phục  
vụ.  
- Bảo đảm tài chính để hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo thông qua  
điều chỉnh, phân bố ngân sách y tế giữa các tỉnh, điều tiết và điều chỉnh các mức  
thu viện phí giữa người giàu, người có khả năng kinh tế, người nghèo...  
- Huy động cộng đồng trong việc xây dựng quỹ khám chữa bệnh cho người  
nghèo, quỹ bảo trợ người nghèo, bữa ăn nhân đạo, khám chữa bệnh nhân đạo,  
20  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
docx 123 trang baolam 25601 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn Công tác xã hội với người nghèo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxgiao_trinh_mon_cong_tac_xa_hoi_voi_nguoi_ngheo.docx