Triết lý nhân sinh của J.Krishnamurti và giá trị thực tiễn đối với việc giáo dục nhân văn cho con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA J.KRISHNAMURTI VÀ  
GIÁ TRỊ THỰC TIỄN ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC NHÂN VĂN  
CHO CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY  
y Nguyễn Thị Hồng Yến(*)  
Tóm tắt  
Krishnamurti là một nhà triết học nhân sinh lớn của thế kỷ XX. Triết học của ông đặt ra những  
vấn đề không chỉ là sự quan tâm của đương đại mà của mọi thời đại vì đó là những vấn đề muôn  
thuở của con người như số phận, sự hiện hữu, sự siêu việt và sự tha hóa… Theo ông, nguyên nhân  
gây ra sự tha hóa của con người trong xã hội phương Tây hiện đại là do cái tôi có nhiều ham muốn  
ích kỷ cá nhân. Ông đưa ra những giải pháp khuyên nhủ con người nên sống để thanh tẩy tâm hồn  
cá nhân và xã hội như là “đời không tâm điểm“, “Sống là hiện tượng không thời gian, tri là không  
suy niệm và hành động không chủ đích”. Thực chất đây là các giải pháp tâm linh, thiên về lay động,  
đánh thức thế giới nội tâm, đánh thức sự tự ý thức của cá nhân trong cuộc nhân sinh. Tuy không phải  
là cách làm mới trong lịch sử triết học và có phần duy tâm nhưng đóng góp quan trọng nhất của  
Krishnamurti là ở chỗ chỉ ra được vấn đề đang nổi cộm trong đời sống của mỗi cá nhân cũng như  
của xã hội hiện đại ngày nay.  
Từ khóa: Cuộc đời là dòng sông thanh tẩy, sự tha hóa, triết học nhân sinh của Krishnamurti,  
tư tưởng nhân văn.  
1. Đặt vấn đề  
Chúng đang bủa vây xung quanh con người làm  
cho họ thấy sợ hãi, lo lắng, bất an và đi tìm cách  
giải quyết. Con người đang hoang mang, mất  
phương hướng trong nhận thức và hành động,  
đang ngày càng trở nên tàn độc với đồng loại,  
với thiên nhiên. Thấu cảm được sự chênh vênh  
của con người trong xã hội hiện đại, một nhà  
triết học nổi tiếng của thế kỷ XX đã kêu gọi con  
người hãy tự làm trong sạch chính mình, hãy tự  
thanh tẩy mình như từng giọt nước của con sông  
vậy. Ông chính là J.Krishnamurti! Tư tưởng nhân  
sinh của J.Krishnamurti được phương Tây đánh  
giá là đột biến trong sự chống tha hóa, khôi phục  
Do áp dụng các thành tựu của khoa học, kỹ  
thuật và công nghệ hiện đại mà chất lượng cuộc  
sống ngày càng tốt hơn, con người ngày càng  
văn minh hơn, ngày càng tự tin hơn để làm chủ  
bản thân, làm chủ thế giới và để chung sống hòa  
bình. Nhưng ở một khía cạnh khác, người ta lại  
thấy rằng, thế giới thì ngày càng “phẳng” mà con  
người lại ngày càng xa cách nhau, mải mê đi tìm  
những giá trị ảo, những hào quang phù phiếm,  
những giá trị vật chất thực dụng, tầm thường,  
thấp hèn đã chà đạp, tước đoạt sự tự do, lợi ích  
chính đáng và quyền được sống của bao người  
khác. Ai cũng muốn có cảm giác sống an yên, bản chất tốt đẹp của con người đã bị rơi vãi trong  
thanh nhàn, sung túc, cũng khao khát được sống  
hạnh phúc, tự do… nhưng lại có rất ít người quan  
tâm đến lợi ích chung của cộng đồng, rất ít người  
sống vì chúng ta mà chỉ chăm chăm gói gém tư  
duy và hành động của mình vì cái tôi ích kỷ để  
rồi tạo ra sự đối đầu giữa cái tôi với cái chúng  
ta, giữa cá nhân với xã hội. Mâu thuẫn này ngày  
càng phát triển đã tạo ra vô vàn những áp lực đến  
từ phía xã hội cũng như từ chính mỗi cá nhân.  
tiến trình vươn tới văn minh vật chất.  
Ở Việt Nam, tư tưởng của J.Krishnamurti  
chưa được nghiên cứu nhiều, chỉ dừng ở việc giới  
thiệu tiểu sử và xuất bản các tác phẩm của ông với  
tư cách là một triết gia phương Đông có tư tưởng  
hiện sinh ở thế kỷ XX. Bởi triết học của ông bàn  
về những vấn đề không chỉ thế giới đương đại mà  
mọi thời đại quan tâm như: sự tha hóa, số phận,  
sự hiện hữu, sự siêu việt… Ông vạch ra cho chính  
cuộc đời của mình và mọi người nên đi theo để đạt  
tới sự tự do tuyệt đối, không bị vướng bận bởi bất  
(*) Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị.  
42  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
2. Tư tưởng nhân văn trong triết học nhân  
sinh của J.Krishamurti  
cứ một trở lực vật chất hoặc một tổ chức tôn giáo  
nào níu kéo, là phải tự coi mình là dòng sông và  
luôn thanh tẩy nó với phương thức: “Đời không  
tâm điểm, Sống là hiện tượng không thời gian,  
Tri là không suy niệm và hành động không chủ  
đích”. Theo ông, chỉ có như vậy mới tạo ra một  
sự hiện hữu có giá trị trên cõi đời này. Nhờ đó,  
mọi đau khổ, mâu thuẫn, xung đột, chiến tranh…  
trong thế giới này sẽ chấm dứt.  
2.1. Vài nét cơ bản về tư tưởng nhân văn  
hiện đại  
Xét ở cấp độ thế giới quan, chủ nghĩa nhân  
văn là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, tình  
cảm quý trọng các giá trị của con người như trí  
tuệ, tình cảm, phẩm giá, sức mạnh, vẻ đẹp. Chủ  
nghĩa nhân văn không phải là một khái niệm đạo  
đức đơn thuần mà bao hàm cả cách nhìn nhận,  
định giá con người về nhiều mặt như vị trí, vai  
trò, khả năng, bản chất... trong quan hệ với tự  
nhiên, xã hội và cộng đồng. Chủ nghĩa nhân  
văn còn được hiểu là chủ nghĩa nhân bản là một  
nhánh của triết học luân lý chuyên bàn về lợi  
ích, giá trị và phẩm cách của con người. Theo  
chủ nghĩa nhân văn thì bao dung, bất bạo động  
và tự do, lương tâm là những nguyên tắc quan  
trọng cho sự cộng sinh của nhân loại. Thời hiện  
đại, phong trào nhân văn gắn với chủ nghĩa thế  
tục phi tôn giáo và một nhân sinh quan phi thần  
thánh. Theo Tuyên ngôn Amsterdam 2002, chủ  
nghĩa nhân văn mới hiện đại bao gồm các nội  
dung cơ bản sau: chủ nghĩa nhân văn mang tính  
Vài năm trở lại đây, có nhiều hành vi tranh  
lộc, cướp ấn, mặc cả với thần thánh phản cảm của  
những người đi lễ hội, đền chùa ở Việt Nam để cầu  
danh, cầu lợi, cầu chức, cầu quyền… cũng đáng  
để chúng ta phải suy nghĩ về một thực trạng hiện  
nay đang diễn ra trong xã hội là có rất nhiều người  
đã và đang tự biến mình thành nô lệ của những  
tham vọng của chính mình đến mức cuồng tín, còn  
niềm tin vào cuộc sống của họ thì ngày càng giảm  
đi nhanh chóng! Phải chăng sự tha hóa con người  
đã lên đến cực điểm còn sự tử tế, lòng nhân ái của  
con người ngày càng trở nên xa xỉ giữa dòng đời  
hối hả đầy biến động của hôm nay và có thể vẫn  
hiện hữu ở cả ngày mai? Bởi ngay cả các thiết chế  
xã hội về đạo đức, luật pháp của Nhà nước ngày đạo đức. Nó khẳng định giá trị, sự tôn nghiêm và  
tính tự chủ cá nhân, khẳng định quyền của mọi  
người đối với tự do lớn nhất có thể khi quyền đó  
tương hợp với quyền lợi người khác; chủ nghĩa  
nhân văn mang tính chất lý tính. Dùng khoa học  
một cách sáng tạo chứ không phải phá hoại; chủ  
nghĩa nhân văn ủng hộ dân chủ và quyền con  
người. Dân chủ và sự phát triển đầy đủ nhất theo  
khả năng của mỗi người là bản chất của quyền  
con người; chủ nghĩa nhân văn chủ trương tự do  
cá nhân phải đi đôi với trách nhiệm xã hội; chủ  
nghĩa nhân văn là một đáp ứng đối với yêu cầu  
rộng rãi nhằm thay thế cho những tôn giáo giáo  
điều; chủ nghĩa nhân văn coi trọng sự sáng tạo  
nghệ thuật và trí tưởng tượng, thừa nhận tầm  
quan trọng của nghệ thuật đối với sự phát triển và  
càng chặt chẽ và hoàn thiện cũng bất lực trước  
sự tham lam, tàn nhẫn của nhiều kẻ máu lạnh. Xu  
hướng những kẻ máu lạnh ngày càng trẻ hóa làm  
cho xã hội càng hoang mang, lo lắng. Một khi cơ  
chế điều chỉnh hành vi con người từ phía xã hội  
mà chưa đủ mạnh thì cần phải tìm đến sức mạnh  
nội lực của mỗi cá nhân hỗ trợ may ra mới ngăn  
chặn mầm mống của cái ác!  
Đã đến lúc chúng ta nên đọc lại triết lý nhân  
sinh J.Kritshnamuti vì những giá trị nhân văn của  
triết lý này khá phù hợp với văn hóa tâm linh,  
tư tưởng, đạo đức, lối sống của con người Việt  
Nam hiện đại. Triết lý này sẽ giúp ích thêm cho  
mỗi người biết tự điều chỉnh lối sống, cách hành  
xử cho đúng mực, biết tịnh tâm để nhìn lại mình thành đạt của con người; chủ nghĩa nhân văn là  
cách sống nhắm đến sự thành đạt lớn nhất trong  
khả năng có thể bằng cách trau dồi một cuộc sống  
đạo đức và sáng tạo [8]. Với những nội dung cơ  
bản trên thì chủ nghĩa nhân văn mới đã đảm bảo  
và dừng lại bên này cái đúng, cái thiện, cái đẹp.  
Không vì những toan tính độc ác, tham lam mà  
đánh mất mình, bị tha hóa để rồi phải trả giá đắt  
cho những hành động sai lầm của bản thân.  
43  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
hài hòa giữa đạo đức và lý trí, tình cảm tinh thần về nỗi trăn trở của con người phương Tây hiện  
và pháp lý, giữa dân chủ và quyền con người, đại đang lạc lối, dò đường đi cho số phận của  
giữa tự do cá nhân và cộng đồng, khoa học, lý mình giữa dòng xoáy vô tận của xã hội mà ở đó  
tưởng tôn giáo và nghệ thuật, giữa giáo dục và sự tôn sùng văn minh vật chất đã đẩy con người  
cuộc sống. Triết lý nhân sinh của J.Krishnamurti tới sự tha hóa lên đến đỉnh điểm.  
đạt được một số nội dung trên nên xứng đáng  
được gọi là một học thuyết triết học nhân văn.  
J.Krishnamurti đã hai lần xuất hiện với tư  
cách là hiện tượng của thế giới. Lần thứ nhất, với  
2.2. Tư tưởng nhân văn trong triết lý nhân tư cách là hiện thân của nhà tiên tri thế giới và lần  
sinh của J.Krishnamurti  
thứ hai là nhà tư tưởng của thế giới. Sự ra đời và  
quá trình phát triển của tư tưởng J.Krishnamurti  
đã chịu ảnh hưởng của ba nhân tố quan trọng là  
truyền thống và văn hóa Ấn Độ; tư tưởng nhân  
sinh, chủ nghĩa nhân văn trong lịch sử triết học;  
và điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa,  
khoa học của các nước phương Tây hiện đại. Quá  
trình hình thành và phát triển tư tưởng triết học  
của J.Krishnamurti được chia làm 3 giai đoạn  
chính. Giai đoạn 1, từ 1895-1929, đây là thời kỳ  
J.Krishnamurti tiếp nhận các quan niệm huyền bí  
của tôn giáo để chuẩn bị tư tưởng trở thành chân  
sư của thời đại hay người lãnh đạo tinh thần của  
thế giới tương lai. Giai đoạn 2, từ 1929-1947, đây  
là thời kỳ J.Krishnamurti xây dựng tư tưởng riêng,  
độc lập của mình. Giai đoạn 3, từ 1947-1986, là  
thời kỳ J.Krishnamurti đi du thuyết, truyền bá tư  
tưởng của mình. Trong gần 50 năm du thuyết tư  
tưởng nhân sinh của mình, ông đã để lại cho nhân  
loại những tác phẩm tiêu biểu sau: Ý nghĩa về sự  
chết, đau khổ và thời gian, Giảm trừ kiến thức,  
Lời cuối bình yên, Đối diện cuộc đời, Đại bàng  
cất cánh, Hướng đi cho cuộc đời, Bạn làm gì với  
đời mình, Cuộc đời phía trước…  
2.2.1. Hoàn cảnh ra đời triết lý nhân sinh  
của J.Krishnamurti  
Trong thế kỷ XX, xã hội phương Tây đã  
khai thác triệt để các thành tựu của khoa học kỹ  
thuật để nâng cao đời sống vật chất của mình và  
tưởng rằng đời sống tinh thần cũng được phát  
triển song hành. Càng mải mê chạy theo những  
giá trị vật chất bao nhiêu thì đổi lại là sự cô đơn,  
trống vắng, hẫng hụt về đời sống tinh thần, đời  
sống nội tâm, tâm linh của con người ngày càng  
tồi tệ bấy nhiêu. Để chống lại tâm lý sùng bái đời  
sống tiện nghi vật chất - con đẻ và hệ lụy của chủ  
nghĩa kỹ trị và chủ nghĩa duy lý, từ thập niên 30  
của thế kỷ XX trở đi, nhiều trào lưu triết học phi  
duy lý mới ra đời ở phương Tây như chủ nghĩa  
Hiện sinh, chủ nghiã Freud. Những trào lưu sống  
theo phong cách Hiện sinh hay Freud thậm chí là  
thực dụng đi chăng nữa cũng chỉ dừng lại ở mức  
độ cảnh báo để chống lại mức độ tha hóa của con  
người không triệt để. Ví dụ như Nietzsche muốn  
đập phá tất cả những giá trị hiện thời để đưa con  
người thành siêu nhân và bất kỳ ai cũng có thể  
trở thành siêu nhân nếu họ tiến hành phê phán  
và biết chấp nhận sự phê phán. Còn S.Freud lại  
đi tìm sức mạnh nội lực, bản năng sinh học, cái  
vô thức của con người để chống lại quy tắc, định  
kiến của xã hội. Ngay tại nước Mỹ là biểu hiện  
cao nhất của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kỹ  
trị thì chủ nghĩa hiện sinh kết hợp với chủ nghĩa  
thực dụng để giải thoát con người khỏi sự cô  
đơn cũng chưa thực sự hiệu quả… Sự đối lập  
giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa phi duy lý  
này được xem là biểu hiện sự giằng xé nhân sinh  
của con người phương Tây hiện đại. Triết gia thế  
tục J.Krishnamurti đã xuất hiện đúng lúc để góp  
thêm vào lời giải đáp thấu đáo hơn, sâu sắc hơn  
Cuộc đời của J.Krishnamurti đi qua hai thế  
kỷ với nhiều sự kiện trọng đại diễn ra trên thế  
giới đã làm thay đổi nhận thức của ông về nhân  
loại. Với những biến cố ngẫu nhiên đã làm cuộc  
đời của ông thay đổi qua nhiều bước ngoặt mà  
chính ông cũng không thể tiên liệu được. Từ đó  
đã giúp ông chiêm nghiệm được một điều rằng,  
hướng đi của cuộc đời là một sự tổ hợp của nhiều  
nhân tố ngẫu nhiên. Con người phải bản lĩnh để  
“Đối diện với cuộc đời”, tức là đối diện với chính  
mình với kỳ vọng giải phóng mình khỏi những  
ám ảnh, những níu kéo của những giá trị ảo để đi  
về vương quốc tự do.  
44  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
2.2.2. Tính nhân văn trong triết lý nhân sinh này. Với ông, đây là kết quả tất yếu của một quá  
của J.Krishnamurti  
trình suy ngẫm và nhìn nhận về thế giới hiện đại  
từ chính trong lòng nó chứ không phải từ cái nhìn  
của đấng cứu chuộc mơ hồ nào đó. J.Krishnamurti  
cho rằng, con người tạo ra tôn giáo từ những điều  
họ cho là linh thiêng mà tư duy của cá nhân không  
thể lý giải. Sự hình thành tôn giáo gắn liền với  
quá trình đánh mất niềm tin ở chính mình, một  
trong những đặc tính cao quý nhất mà chỉ có con  
người mới có. Đây là biểu hiện đầu tiên của sự  
tha hóa về tinh thần. Niềm tin thực tế đã chuyển  
thành niềm tin hão huyền. Những điều mà tôn  
giáo ban cho con người chỉ là những giấc mộng  
suông. Tôn giáo không phải là cứu cánh để giải  
thoát, để an ủi tinh thần của con người mà đích thị  
là gọng kìm trói buộc sự sáng tạo của con người.  
Điều này cho thấy, J.Krishnamurti đã nhận ra sự  
bế tắc, khủng hoảng trong tư tưởng của con người  
phương Tây ở thời kỳ hiện đại và ông đã tiến gần  
sát với quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa  
Mác về tôn giáo khi ông cho rằng, tôn giáo và các  
tổ chức tâm linh của tôn giáo cũng chỉ là và cũng  
chỉ có thể là những liều thuốc an ủi con người, là  
vitamin của nhân dân mà thôi. Điều này mặc dù  
cần phải được thẩm định lại trong tiến trình phát  
triển của xã hội loài người trong cả hiện tại và cả  
tương lai nhưng trong chừng mực phương Tây  
đang khủng hoảng về tư tưởng và chông chênh  
về niềm tin tôn giáo thì việc làm này cũng được  
coi là một biểu hiện nhân văn trong tư tưởng của  
ông. J.Krishnamurti đã nhân danh con người của  
xã hội ngày mai, mở đường hướng mới cho triết  
lý nhân sinh hiện đại bằng hai chữ: tự do, bởi cả  
Jiddu Krishnamurti (1895-1986) là một trong  
những nhà tư tưởng lớn của Ấn Độ hiện đại. Ông  
được tạp chí uy tín Time bình chọn là một trong  
năm nhà tư tưởng lớn của thời đại khi ông đã đi tìm  
trong thế giới nội tâm của con người những mâu  
thuẫn để đưa ra những lời giải mới về nhân sinh.  
Tư tưởng chủ đạo của triết học J.Krishnamurti là  
tư tưởng về con người, về cuộc nhân sinh mà nội  
dung chính là chống sự tha hóa. Các giải pháp  
Krishnamurti nêu ra để chống sự tha hóa mang  
tính hướng nội khác biệt với các nhà triết học  
khác là mang tính hướng ngoại. J.Krishnamurti  
khi còn nhỏ thường thả tâm hồn mình vào thế  
giới xa xăm đang chất chứa nhiều điều bí ẩn nên  
bị hiểu nhầm là có một trí tuệ chậm phát triển, có  
dấu hiệu đần độn. Nhưng vào năm 1909, một bước  
ngoặt lớn đã thay đổi cuộc đời của J.Krishnamurti  
khi ông được ngài Charler Webster Leadbeater -  
người giữ trọng trách thuyết giáo của Hội Thông  
thiên học bằng trực giác của mình đã phát hiện ra  
Krishnamurti khi đó mới 14 tuổi là hiện thân của  
Bồ Tát Di Lạc. Ngay lập tức, ông được vào học  
tại trường Bí giáo của Hội Thông thiên học với  
sự giáo dục và chăm sóc đặc biệt bởi các vị chân  
sư nổi tiếng của Hội để sau này trở thành bậc đạo  
sư lãnh đạo tinh thần của thế giới tương lai với tư  
cách như là Đức Phật, Đức Chúa chỉ đường cho  
thế giới ra khỏi mê cung lầm lạc. Vào năm 1911,  
Hội Ngôi sao phương Đông được thành lập và  
J.Krishnamurti được cử làm chủ tịch hội - đây là  
chuẩn bị cho sự xuất hiện của bậc đạo sư lãnh đạo  
phần hồn của thế giới ngày mai. Rồi Chiến tranh cuộc đời của ông chỉ muốn tìm được cách thức  
thế giới lần thứ nhất nổ ra (1914-1918) đã làm thay làm cho cá nhân đạt tới tự do. Ông nói: “Tôi  
đổi tư tưởng của J.Krishnamurti. Ông không còn chỉ có mục tiêu duy nhất: giải thoát con người,  
phụ thuộc vào Thông thiên học nữa mà trở nên  
độc lập và sớm bộc lộ tính nhân văn, nhân bản của  
mình khi ông tham gia vào Hội Chữ thập đỏ ởAnh  
để chăm sóc thương binh. Vào ngày 3/8/1929,  
tại Ommem, J.Krishnamurti đã long trọng tuyên  
bố giải tán Hội Ngôi sao phương Đông làm cho  
3000 hội viên cảm thấy chông chênh khi thiếu  
vắng hình ảnh Krishnamurti trong tâm linh của  
mình. Nhưng J.Krishnamurti thì hiểu rất rõ điều  
thôi thúc anh ta về phía tự do, giúp anh ta thoát  
khỏi mọi giới hạn, vì chỉ duy điều đó mới đem  
lại cho anh ta hạnh phúc vĩnh cửu, đem lại cho  
anh ta nhận thức vô điều kiện về bản ngã bởi vì  
tự do vô điều kiện toàn diện chứ không phải một  
phần nào đó, không phải tương đối, mà là chân  
lý tổng thể vốn vĩnh cửu”[3, tr.147]. Làm sao để  
có tự do? Trong tác phẩm Cuộc đời phía trước,  
J.Krishnamurti đã chỉ rõ: “… Nhưng vẫn còn đó  
45  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
một cuộc cách mạng, cuộc cách mạng này hoàn mình với kỳ vọng sẽ giải phóng con người khỏi  
toàn khác và nhất định phải xuất hiện nếu chúng những ám ảnh, những níu kéo của những giá trị  
ta muốn thoát khỏi chuỗi dài bất tận của những ảo để vươn tới ánh sáng tự do.  
băn khoăn lo lắng, của những bối rối và xáo trộn.  
Cuộc cách mạng này phải diễn ra, không phải chỉ  
diễn ra trong lý thuyết hoặc trong tư tưởng (nếu  
chỉ diễn ra trong lý thuyết không thôi thì cũng vô  
nghĩa) mà phải diễn ra ngay trong tâm hồn mỗi  
người, phải là một sự thay đổi cơ bản ngay trong  
tâm hồn mỗi người” [6, tr. 9-10].  
Công bằng mà nói, việc đề cao lý tính của con  
người có ý nghĩa quan trọng trong sự chống lại các  
tín điều của Ki tô giáo, khẳng định được sức mạnh  
của con người tại thế làm biến đổi tự nhiên, phát  
triển mọi mặt đời sống của mình. Chính Blaise  
Pascal phải thốt nên: “Con người…. đó là cây  
sậy biết tư duy” [1, tr. 339]. Quá say sưa với bài  
ca duy lý, người ta đã đưa nó lên tận mây xanh.  
Lý tính được coi là công cụ vạn năng để tháo gỡ  
mọi khúc mắc trong tâm hồn và mâu thuẫn trong  
xã hội nhưng thực tế, phát triển của xã hội và đời  
sống cá nhân đã không song hành. Sự bất lực đầu  
tiên của lý tính là không cắt nghĩa nổi những hiện  
tượng của đời sống nội tâm. Người ta đã phát hiện  
ra rằng thế giới nội tâm và tâm linh của con người  
cũng mênh mông như vũ trụ vậy mà con người  
thì lại hiểu biết quá ít về bản thân mình. Pascal  
đã từng thốt lên: “Con tim có những lý lẽ riêng  
của nó mà lý trí không thể can thiệp”[1, tr. 336]  
Điều đó có nghĩa là những xúc cảm, tình cảm của  
con người nhiều khi không thể cắt nghĩa bằng lý  
tính. Vì vậy, cần phải nhìn nhận con người như  
một đối tượng đặc biệt trong tự nhiên. Với con  
người, cần phải có những phương cách tiếp cận  
riêng biệt, không thể sử dụng các phương pháp  
của khoa học tự nhiên để nghiên cứu con người.  
Từ 1938 -1947, Krishnamurti chuyển đến  
sống tại Hoa kỳ, được coi là thời kỳ đoạn tuyệt  
với tư tưởng là đấng cứu chuộc cho xã hội tương  
lai để trở thành triết gia thế tục và xây dựng tư  
tưởng triết học nhân sinh mới của mình. Đây cũng  
là giai đoạn diễn ra Chiến tranh thế giới thứ hai,  
Krishnamurti đã phản đối cuộc chiến tranh này,  
cho đó là một cuộc chiến tranh phù phiếm, vô tích  
sự. Với ông, cuộc chiến trong mỗi con người mới  
là một cuộc chiến vô cùng khắc nghiệt, cuộc chiến  
của chính con người với bóng của mình. Đó là  
một cuộc chiến muôn thuở từ khi sinh ra xã hội  
loài người và nếu con người chiến thắng được cái  
bóng của mình thì đó mới là chiến thắng vĩ đại  
nhất. Đó cũng là một bằng chứng về tính nhân  
văn trong tư tưởng của Krishnamurti.  
Với hàng loạt các tác phẩm xoay quanh bàn  
về các chủ đề của triết lý nhân sinh, Krishnamrurti  
đã dành nửa cuộc đời sau này của mình để ưu tư  
về số phận và hướng đi lên của con người trong Thế mà lý tính với con đẻ của mình là các phương  
xã hội hiện đại. Và cuộc đời của Krishnamurti tiện kỹ thuật công nghệ về mặt hình thức đã ngộ  
là một sự không ngừng nghỉ vươn lên để chiến nhận cho rằng đã giải phóng con người nhưng thực  
thắng những rào cản của chính bản thân con  
người. Ông tuyên bố: “mục đích của tôi là làm  
cho mọi người tự do một cách vô điều kiện… do  
đó, tôi muốn giải thoát con người được tự do, vui  
thích tung tăng như con chim trong bầu trời quan  
đãng, không bị nặng nề, ứ đọng độc lập ngây ngất  
trong nền tự do ấy”[7, tr. 237]. Nhìn từ cuộc đời  
của mình với nhiều biến cố ngẫu nhiên dẫn dắt,  
tác động mà bản thân ông cũng không tiên liệu  
được, Krishnamurti khẳng định, “Hướng đi cuộc  
đời” như là sự tổ hợp cuả nhiều nhân tố. Xuyên  
qua những nhân tố ngẫu nhiên đó, con người sẽ  
bản lĩnh “Đối diện cuộc đời”, đối diện với chính  
ra là biến họ thành rô bốt không hồn. Vì thế chủ  
nghĩa phi duy lý với sứ mệnh lý giải những bí ẩn,  
phức tạp trong tâm hồn con người đã xuất hiện.  
Với các trào lưu Hiện sinh, Freud, Thực dụng,  
Nhân vị cố khai thác những yếu tố tâm linh, đời  
sống nội tâm, yếu tố bản năng của con người để  
tạo ra sự cân bằng trong quá trình hiện hữu của  
mình song vẫn rất chông chênh. Krishnamurti đã  
nhận thấy điều đó. Triết học của J.Krishnamurti  
là một màu sắc khác của chủ nghĩa phi duy lý,  
cùng chiến tuyến với chủ nghĩa hiện sinh chống  
lại chủ nghĩa duy lý song khác về phương pháp.  
Nếu chủ nghĩa hiện sinh kết tội chủ nghĩa duy  
46  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
lý làm tha hóa con người thì J.Krishnamurti cho người thân thiện với nhau và ngôn ngữ hàng ngày  
không có cái tôi, cái của tôi mà chỉ có cái chúng  
ta và cái của chúng ta thì đời cần phải không tâm  
điểm, không chủ đích, không suy niệm. Chính con  
người - dòng sông ấy đã tự làm vẩn đục mình bằng  
những hành vi hướng ngoại để phóng chiếu cái  
tôi của mình nên con người bị hụt hơi trong quá  
trình đó, do đó con người không biết đó là hành  
vi mạo hiểm. Cái tôi của Krishnamurti nói chính  
tới chính là ý thức, nó là nguyên nhân của sa sút  
về tinh thần. Vì sao ý thức lại dẫn con người đánh  
mất bản ngã nguyên trinh của nó? Krishnamurti  
giải thích: nói đến con người là nói đến sự tự ý  
thức, sự tự khẳng định. Con người đâu có biết  
rằng, càng tự khẳng định mình bao nhiêu là càng  
mở rộng cái tôi bấy nhiêu. Krishnamurti nói: “tôi  
càng triển khai mình bao nhiêu thì tôi càng bao bọc  
mình bấy nhiêu và đeo bám chặt hơn vào sự định  
nghĩa chính mình…. và chúng ta càng bị hấp dẫn  
với sự thỏa mãn bao nhiêu thì càng đau đớn khi  
chúng ta nhận ra giới hạn của nó bấy nhiêu” [2].  
Sống với giá trị ảo và một khi con người phát hiện  
ra nó sẽ rơi vào trạng thái sợ hãi. Krishnamurti gọi  
rằng chủ nghĩa duy lý đã bất lực trong việc giải  
phóng con người. Ông bắt đầu xây dựng lâu đài  
tư tưởng nhân sinh của mình bằng cách phê phán  
sự bất khả thi của chủ nghĩa duy lý mà mũi nhọn  
là chỉ ra sự bất lực và có giới hạn của lý tính. Đây  
là một màu sắc nhân văn mang tên J.Krishnamurti.  
Những chủ đề chính trong triết lý nhân  
sinh của J.Krishnamurti:  
Triết học nhân sinh của Krishnamurti bàn về  
rất nhiều chủ đề liên quan đến đời sống nhân sinh  
với mục đích khắc phục tha hóa của con người  
song hành với sự vận động và phát triển của xã  
hội. Trong khuôn khổ của bài báo này chỉ tập trung  
làm rõ tính nhân văn của hai chủ đề quan trọng  
nhất trong triết lý nhân sinh của Krishnamurti đó  
là: Cuộc đời là "dòng sông thanh tẩy"; Cuộc đời  
không tâm điểm và Hướng đi cho cuộc đời.  
a. Cuộc đời là “dòng sông thanh tẩy”  
Theo Krishnamurti, đời người cũng như dòng  
sông và dòng sông cũng biến đổi không ngừng.  
Nhưng con người - dòng sông ấy đã và đang bị  
nhiễm bẩn, đang bị băng hoại. Với ông, phải cứu đó là tình trạng sợ hãi căn nguyên. Trạng thái này  
lấy dòng sông ấy bằng cách thanh tẩy, bằng cách đeo đẳng con người như một cái bóng và nguyên  
làm sạch để cho dòng sông ấy trở về dạng tinh nhân của sự mất an ninh trong sự hiện hữu: “Tôi  
càng khẳng định mình bao nhiêu, càng buộc với  
mình bao nhiêu thì tôi càng hoảng kinh bởi tất cả  
cái ở bên kia, tất cả mọi cái mà nó không phải là  
của tôi thì tôi càng cô lập mình, tôi càng trở nên  
hoảng sợ bấy nhiêu” [2].  
nguyên ban đầu. Krishnamurti giải thích tiếp, con  
người là sinh vật có ý thức và ngôn ngữ, nhờ đó  
mà tạo ra cái tôi của mình với tư cách là cá nhân  
không có bàn tay can thiệp của các thần linh. Từ  
cái tinh nguyên ban đầu, con người đã tự tha hóa  
mình bằng tư tưởng tích trữ do ý thức được về  
cái tôi của mình. Sự tích trữ sẽ xô đẩy cá nhân  
đến tình trạng cá nhân không thể giải thích được  
và không thể truyền đạt. Krishnamurti cho rằng,  
chính sự phát triển của ý thức cá nhân trở thành  
nguyên nhân của sự tha hóa. Theo ông, con người  
càng tự khẳng định mình thì càng tự đánh mất  
mình. “Tôi càng khẳng định mình bao nhiêu, có  
nghĩa là tôi càng rút lui vào những biên giới nhỏ  
xíu bấy nhiêu, thì tôi càng nhận thấy mình là một  
mảnh li ti giữa vô số những nỗi hiểm nguy bấy  
nhiêu” [2]. Nghĩa là con người càng tô điểm cho  
mình bao nhiêu lại càng đánh mất mình bấy nhiêu.  
Vì thế, để trở về với bản tính nguyên sơ, ở đó mọi  
Krishnamurti lý giải sự tích trữ và khuyếch  
trương của ý thức là nguyên nhân của thống khổ  
và bất an trong mỗi cá nhân. Giống như một dòng  
sông tuôn chảy, mỗi cá nhân là một giọt nước của  
dòng sông ấy. Mỗi cộng đồng là một con suối và  
trăm ngàn con suối sẽ đổ vào sông và trăm ngàn  
con sông cũng sẽ hòa vào biển cả. Do vậy để thanh  
tẩy dòng đời phải bắt đầu từ những cá nhân với  
tư cách là giọt nước. Sự thanh tẩy không phải là  
hoa hồng rắc trên bề mặt của dòng sông ấy mà  
là tự trong đáy sâu của dòng sông ấy. Đây không  
phải là đẽo củi tìm trầm mà là giữ cho trầm vẹn  
toàn hương thơm tinh túy của nó. Trầm phải là  
gốc của mọi loại hương thơm: “Có thể con sông  
47  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
ấy có một bắt đầu và một kết thúc. Nhưng cái bắt vô cùng” [4, tr. 159] vì ta “cứ nhắm vào một trật  
đầu thì không phải dòng sông, cái kết thúc cũng tự bên ngoài, rồi từ phía bên ngoài ấy, ta lại điều  
không phải là dòng sông. Dòng sông là dòng nước chỉnh cuộc đời ta theo những quyết định bên trong  
chảy ở giữa. Nó đi qua làng mạc, đô thị và người khiến cho con người rơi vào những xung đột kéo  
ta ném mọi thứ xuống nó. Sông bị ô nhiễm, rác dài”[4, tr. 159]. Nghĩa là khi ta đặt quá nhiều mục  
rưởi và nước cống tuôn xuống mình, nhưng chỉ đích để thoả mãn thì mỗi mục đích sẽ trở thành  
ít năm sau, sông tự mình thanh tẩy. Trong dòng một phần tử trong tập rỗng. Đời không tâm điểm  
sông đó, mọi sự sinh sống, cá lội bên dưới và con được hiểu ở 2 nghĩa. Thứ nhất, đời là hiện hữu  
người uống nước ở trên. Dòng sông đó, đằng sau của con người như thế nào thì hãy để nguyên như  
nó là áp suất lớn lao của nước đã diễn tiến thanh  
tẩy. Tâm trí thơ ngây như dòng sông. Không bắt  
đầu, không chấm dứt - không thời gian”[5, tr.  
192]. Như vậy, thanh tẩy không có nghĩa là xóa  
bỏ mà làm cho mình thanh khiết trở lại như cái  
trinh nguyên ban đầu. Với cách quan niệm này,  
con người được Krishnamurti khai thác, nhìn nhận  
từ thế giới nội tâm. Nó thể hiện cái nhìn sâu lắng  
và thâm trầm về kiếp người của ông.  
thế, không cần đến sự trang điểm. Thứ hai, đời  
là không cần phải đặt ra những tâm điểm để tuân  
theo, để trở thành nô lệ của những tâm điểm đó.  
Đời không tâm điểm được biểu hiện ở 3 khía cạnh  
sau: Sống là hiện tượng không thời gian, biết là  
không suy niệm và là hành động không chủ đích.  
Đó là những con đường để con người tự hoàn  
thiện mình để trở lại những giá trị trinh nguyên  
ban đầu, với tính nguyên thủy của xã hội chưa  
bị tạp chất của cá nhân làm vấy bẩn dòng chảy.  
Đó là hướng đi cuộc đời, là con đường giải thoát  
khỏi hiện thực. Trong đó, sống không thời gian  
được hiểu là: “Anh có thể được giải thoát, nhưng  
Tóm lại, với Krishnamurti, đời như dòng  
sông và dòng sông ấy phải được thanh tẩy - đây  
là chủ đề chính trong triết học nhân sinh của ông.  
Nguyên nhân làm cho dòng sông bị ô nhiễm, con  
người bị tha hóa làm mất nhân vị của mình là do phải ở hiện tại, ngay bây giờ đây chứ không phải  
con người đã tích trữ và khuyếch trương cái tôi  
của mình, tìm cách thu nạp cái vốn không phải của  
mình (giá trị vật chất và giá trị tinh thần). Tích trữ  
là biểu hiện của sự tham lam, quá tải, còn khuyếch  
trương nó lên trong mọi phương diện để quảng bá  
cho cái tôi vì thế đã làm cho dòng sông trở nên  
vẩn đục. Cần phải thanh tẩy để dòng sông đó trở  
về cái trong trẻo ban đầu. Thanh tẩy không phải  
loại bỏ mà làm cho nó chảy đúng hướng, đúng  
như cái tự nhiên vốn có của nó. Để giữ cho dòng  
sông không nhiễm bẩn trở lại, cuộc đời trở nên  
thánh thiện thì cần phải xác định con đường nên  
đi là: Đời không tâm điểm và Hướng đi cuộc đời.  
ở ngày mai” [3, tr. 196]. Quá khứ là những bản  
tính tinh nguyên, bản tính tự nhiên của con người  
đã bị biến tướng trong quá khứ do con người đã  
sống với những giá trị ảo và nguy hại hơn nó  
được phóng chiếu trong tương lai. Vì vậy, sống là  
hiện tượng không thời gian là sống nhập cuộc và  
hiện hữu ngay trong hiện tại. Nó không có nghĩa  
là sống không trong thời gian mà vẫn sống trong  
thời gian nhưng đó là thời gian của chính mình  
với ý nghĩa do chính chủ thể tạo ra. Nó thể hiện  
năng lực sống của chủ thể, là “đi thẳng vào cuộc  
sống, đừng tránh né một bên. Phải nhập với cuộc  
sống, phải tự mình là cuộc sống”[3, tr. 190]. Còn  
b. Đời không tâm điểm và Hướng đi cho Hành động không chủ đích là hành động trong  
cuộc đời  
một khối thống nhất vẹn toàn vì hành động của  
một con người cụ thể được bao quanh trong một  
không gian cụ thể và được xác định trong một  
thời gian cụ thể. Hoạt động không chủ đích được  
hiểu như là một sợi dây nối giữa con người với  
cuộc sống để bảo tồn những giá trị vốn có của nó  
chưa bị pha tạp trong cuộc đời, đời chưa làm tha  
hóa nó. Hành động không chủ đích còn là hành  
Con người trước khi hành động luôn đặt mục  
đích và cách để hoàn thành mục đích đó. Khi mục  
đích đã đạt được không phải là điểm kết thúc của  
hành động mà chỉ là kết thúc một tích trữ và là  
khởi đầu cho một tích trữ mới và càng ngày càng  
mở rộng, vì vậy sự tha hoá con người ngày càng  
tăng lên. Theo Krishnamurti “đó là một cuộc chiến  
48  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
động trong trạng thái tự do không bị chi phối bởi con người có cách suy nghĩ và hành động phù  
bất cứ quan hệ nào. Lúc này, họ sống đúng với hợp đừng làm tổn thương thế giới xung quanh  
trạng thái hưng phấn của họ, vượt qua những rào thêm nữa.  
cản của lý tính ngăn chặn trạng thái hưng phấn.  
Hoạt động không chủ đích còn được hiểu là loại  
bỏ những việc làm nửa vời, lừng chừng. Nghĩa là  
hành động không kéo dài trong quá khứ hay vắt  
qua tương lai, mà là hành động ngay lập tức. Theo  
ông, bản chất của hành động này là không có sự  
can thiệp của quá khứ và tương lai. Con người  
chịu trách nhiệm về hành động của mình. Rộng  
ra là con người tự quyết định trạng thái hành động  
của mình và mọi sự lựa chọn của con người về  
trạng thái hành động đều phải được xem là đúng.  
Đó là hành động hết sức rõ ràng không cần bất  
cứ một sự che đậy nào và lúc đó con người đã bỏ  
đi những mặc cảm: “Sợ những tiếng đời dị nghị  
dèm pha luôn luôn che phủ bản thân bằng những  
cái bề ngoài đó” [4, tr. 426] để đối diện, để nhìn  
thẳng vào cái đang là - đó chính là mình chứ không  
phải người khác.  
2.3. Giá trị thực tiễn của tư tưởng nhân  
sinh của Krishnamurti trong việc giáo dục  
nhân văn đối với con người Việt Nam hôm nay  
Giải đáp những vấn đề về xã hội, về cuộc  
sống của con người, không phải bây giờ mới bàn  
tới mà các nhà triết học ngay từ thời cổ đại ở cả  
phương Đông và phương Tây đã đi tìm đường  
hướng cho nhân loại với mong muốn xây dựng  
một thế giới đại đồng, con người sống hòa mục  
với nhau như anh em một nhà, “tứ hải giai huynh  
đệ”… Rất nhiều, rất nhiều nhà triết học dù đứng  
trên lập trường duy tâm hay duy vật, có cái nhìn  
biện chứng hay siêu hình về nhân sinh cũng đều  
cố gắng đưa ra cách giải quyết các vấn đề xã hội  
và con người với mong muốn hiệu quả nhất, triệt  
để nhất. Điểm chung này cho thấy các học thuyết  
triết học dù là cổ hay kim, đông hay tây, nhân sinh  
hay tôn giáo đều thấm đẫm tinh thần nhân văn.  
Nhưng dường như vấn đề nhân sinh của cả nhân  
loại, của từng dân tộc cũng như của mỗi cá nhân  
vẫn chưa giải quyết được tận cùng nguyên nhân  
của nó khi phương tây hiện đại bước vào giai đoạn  
kỹ trị và chủ nghĩa duy lý thống trị. Lấp lánh trên  
bầu trời triết học của phương Tây hiện đại thế kỷ  
XX là “hiện tượng Krishnamurti” “có phong cách  
Theo Krishnamurti, Không tâm điểm cũng  
chính là một hướng đi cho cuộc đời, đó là đi  
trong thanh tịnh và bền vững. Cuộc đời của  
Krishnamurti là minh chứng thuyết phục nhất  
về hướng đi đúng cho cuộc đời để mọi người  
nhìn vào, học theo để thanh tẩy mọi tham vọng  
của mình trên hành trình nhân sinh của mình.  
Krishnamurt đã từ chối tất cả vòng hào quang nhân sinh mới” đã góp thêm một tiếng nói, một  
của tôn giáo, nhẫn nại để tự giải thoát chính mình cách tiếp cận mới mang tính hướng nội để lý giải  
ra khỏi ảo tưởng và sự mê hoặc; khỏi sự tự tôn những điều bí ẩn trong mỗi con người mà ông ví  
nó cũng bí ẩn như vũ trụ bao la vậy.  
kiêu hãnh, khỏi hư danh và mọi hình thức thống  
trị bằng quyền uy thế lực đối với kẻ khác để giải  
thoát linh hồn mình. Tiếp cận triết lý nhân sinh  
của Krishnamurt dù ở góc độ nào mà lấy sự vươn  
lên của con người trong sạch thanh cao thì đều  
đáng trân trọng. Có thể Đời không tâm điểm và  
hướng đi cho cuộc đời của Krishnamurti có cái  
nhìn thiên lệch về sự suy tôn những giá trị vốn có  
ban đầu và bị nhiều nhà triết học cho đó là duy  
tâm nhưng nếu duy tâm thông minh còn hơn duy  
vật mà thô thiển. Trên tinh thần của phép biện  
chứng duy vật, ta nên đãi cát tìm vàng trong triết  
lý nhân sinh của Krishnamurti những điểm hay,  
ý đúng để góp thêm một lời khuyên bổ ích cho  
Triết lý của Krishnamurt tập trung bàn về  
sự giải thoát để cho tâm hồn con người trở nên  
thánh thiện trong cõi đời đầy cám dỗ và cạm  
bẫy. Cạm bẫy mà ông nói đến chính là toan tính  
cá nhân trong việc mưu cầu danh lợi sẽ đẩy con  
người đến sự tha hóa. Phương cách giải thoát của  
Krishnamurti khỏi sự tha hóa có ảnh hưởng nhất  
định trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật, giáo  
dục, tâm lý học, thể thao… Trong xã hội hiện đại,  
khi khoa học càng phát triển bao nhiêu thì vấn đề  
thế giới tâm linh càng bất ổn bấy nhiêu. Sự xuất  
hiện của Krishnamurti như là một sự cứu rỗi cho  
sự khủng hoảng đó. Krishnamurti không loại bỏ  
49  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
khoa học mà chỉ tìm cách đưa con người thoát khỏi vô thủy. Bản thân ông cũng yêu cầu mọi người  
mê cung của sự sùng bái khoa học một cách thái coi những lời nói của ông chỉ là lời tâm tình trò  
quá. Vì vậy, triết lý nhân sinh của Krishnamurti chuyện giữa những người bạn, không phải là lời  
trở thành nhịp cầu nối khoa học và tôn giáo.  
của bậc thầy. Vì nếu coi ai đó là bậc thầy thì cái  
hào quang tiềm ẩn trong ý nghĩ về bậc thầy đã  
gián tiếp tước đoạt sự tự do của chính mình trên  
con đường đi tìm chân lý.  
Cuộc đời và lời khuyên của ông đã có ảnh  
hưởng sâu sắc đến ý thức nhân loại ở nửa sau thế  
kỷ XX. Tư tưởng nhân sinh của Krishnamurti  
không chỉ hợp với giới trí thức, uyên bác, với  
Dẫu biết rằng cuộc sống luôn tiến về phía  
người lớn tuổi từng trải có thời gian để chiêm trước nên buộc mỗi người phải không ngừng nỗ  
nghiệm cuộc đời mà nó còn phù hợp với giới trẻ. lực phấn đấu để không bị bỏ lại phía sau.Trên  
Sinh thời, khi đi thuyết giảng cho học sinh, sinh hành trình mưu sinh để tồn tại và phát triển,  
viên của các trường học, ông luôn tạo ra một bầu con người đã ấp ủ nhiều ước mơ, nuôi dưỡng  
không khí thoải mái, không sợ hãi, không kèn bao khát vọng với mong muốn chúng sớm trở  
cựa, khuyến khích các em tự tìm về nội tâm, tìm thành hiện thực. Nhưng không phải ai cũng có  
hiểu về chính mình, thức tỉnh cảm quan của họ ước mơ đẹp, nhu cầu chính đáng. Đâu đó, vẫn  
về cái đẹp của thiên nhiên, về sự cảm thông với có những cá nhân quá tham lam, ích kỷ, chỉ  
những thống khổ của kiếp người, khuyến khích muốn có được tất cả mọi thứ trên cuộc đời này  
họ đi vào những đề tài sinh động, phức tạp nhất và tìm mọi cách đê hèn, sử dụng nhiều công cụ  
đó là hoạt động tâm não con người. Cả cuộc đời vô nhân đạo, nhiều phương thức tàn bạo để đạt  
của ông kiên trì với lý tưởng “để cho mọi người cho bằng được mục tiêu của cuộc đời về tiền  
được tự do, giải thoát vô điều kiện”. Chính vì vậy, tài, danh vọng, sự nghiệp, hôn nhân - gia đình,  
lúc cuối đời, nhiều người trẻ ở Mỹ vẫn tìm đến giá trị bản thân, quan hệ xã hội, địa vị xã hội...  
ông như là tới ngồi dưới một tàng cây cổ thụ rủ Thậm chí có những người bằng mọi cách, bằng  
bóng để ươm tẩm phần tâm hồn.  
mọi thủ đoạn, bất chấp đạo lý để sao cho nhanh  
nhất đạt được những mục tiêu của đời mình mà  
không bao giờ tự hỏi rằng có chính đáng và hợp  
pháp hay không. Họ dùng tiền, rất nhiều tiền để  
mua quan bán chức, để chạy chỗ, chạy tội, chạy  
chức, chạy quyền và sống sa đọa, trụy lạc trong  
khi rất nhiều người xung quanh còn đang đói  
khát, nghèo khổ, lam lũ. Nếu không được hoặc  
chưa được, họ sẽ cảm thấy đau khổ, dằn vặt và  
không bao giờ cảm thấy mình hạnh phúc rồi đổ  
cho số phận, đổ lỗi cho người khác, cho xã hội  
và từ đó có thái độ thù địch với những người  
xung quanh. Không thích hợp tác, không biết  
quan tâm, chia sẻ, không biết đồng cảm và sẵn  
sàng xung đột, đối đầu với tất cả khi cho rằng  
lợi ích cá nhân bị ảnh hưởng, bị xâm phạm. Một  
khi mù quáng chạy theo những lợi ích vật chất  
và tinh thần tầm thường, thực dụng, cá nhân đó  
đã đánh mất mình, tha hóa mình, trượt dài và  
trượt sâu vào vũng bùn của tội lỗi, tội ác mà  
không thể cứu vãn, không thể thoát ra. Chỉ còn  
một cách duy nhất trả giá cho sai lầm của mình  
Thiết nghĩ, việc nghiên cứu triết lý nhân sinh  
của Krishnamurti có ý nghĩa to lớn đối với việc  
giáo dục các giá trị đạo đức nhân văn cho người  
Việt Nam hôm nay đặc biệt là thế hệ trẻ. Bởi vì  
ông đã chỉ ra cho chúng ta biết một trong những  
nguyên nhân của vấn đề, nguồn gốc của mâu thuẫn  
và bạo lực đã tiềm ẩn ngay trong tâm con người  
ra sao. Giá trị thực tiễn của triết lý Krishnamuti  
là ở chỗ, ông không tặng chúng ta một cách giải  
quyết theo kiểu “mì ăn liền” những vấn đề của  
mỗi cá nhân cũng như của thời đại. Ông đã nhìn  
thấy những vấn đề được coi là triệu chứng của một  
chứng bệnh được xem là thâm căn, cố đế, nằm sâu  
trong tâm não của mỗi người chúng ta. Và ông  
nhắc nhở mọi người hãy nhìn vào nội tâm, dựa  
vào sức mạnh tinh thần của chính mình để tự giải  
thoát ra khỏi những xiềng xích tư tưởng rập khuôn  
của người khác, đừng bao giờ làm nô lệ cho bất  
cứ loại tư tưởng nào của bất cứ ai dù đó là người  
có thẩm quyền. Nên thanh lọc những ô nhiễm do  
bị những “thẩm quyền” nhồi nhét vào tâm não từ  
50  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
là hình phạt nghiêm khắc của pháp luật và sự lên tưởng Krishnamurti là ở chỗ, ông nhìn thấy mặt  
án gay gắt của dư luận xã hội, sự phán xét, kết trái của xã hội phương Tây hiện đại và phê phán  
tội của tòa án lương tâm. Khó mà tìm được sự xã hội từ phía hữu. Tuy chưa vượt qua được sự phê  
tha thứ, bao dung của cộng đồng xã hội. Đây là  
kết cục được báo trước cho tất cả những ai đã,  
đang và có ý định lựa chọn lối sống chỉ biết đề  
cao cái tôi, tuyên chiến với tất cả. Những kẻ như  
vậy trong xã hội đang ngày càng nhiều. Đây là  
mầm mống của sự xuống cấp, băng hoại về đạo  
đức, bất ổn về chính trị - xã hội, kết băng, lập  
đảng xã hội đen, hình thành thế giới tội phạm…  
làm cho xã hội ngày càng trở nên bất an, bất ổn.  
phán thuần túy trước đó nhưng vẫn được coi là một  
tiếng nói đáng trân trọng về thân phận con người  
và mở ra một hướng đi lên của con người trong  
cái sự đối lập của thời đại: “càng nhận thức xa  
về vũ trụ bao nhiêu càng biết ít về con người bấy  
nhiêu”. Cả cuộc đời Krishnamurti mong mỏi tìm  
kiếm một con đường mới để giải thoát con người  
trong xã hội hiện đại. Có thể điều ông nói chưa  
trở thành hiện thực, thậm chí mãi mãi chỉ là mơ  
ước nhưng ít ra Krishnamurti cũng tạo ra những  
giá trị tiền đề cần thiết để các thế hệ sau tiếp tục  
nghiên cứu và phát triển thêm để giải quyết những  
vấn đề bất cập do cách mạng 4.0 đẻ ra.  
Một nguyên nhân khách quan khác phải kể  
ra ở đây là do mặt trái của cơ chế thị trường đã  
làm cho sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng  
xã hội trên mọi mặt của đời sống xã hội ở nước  
ta càng trở nên sâu sắc, càng làm cho nhiều người  
bị tha hóa nhanh bởi chính cái tôi tham lam đã  
vượt ngưỡng của mình gây ra. Xã hội cũng vì  
thế mà ngày càng trở nên phức tạp và trở thành  
môi trường sống nguy hiểm, mất an toàn, đe dọa  
và luôn rình rập lấy đi cuộc sống an nhiên, hạnh  
phúc của mọi cá nhân bất cứ lúc nào. Đã đến lúc,  
hồi chuông cảnh báo về sự xuống cấp, suy thoái  
đạo đức, vi phạm pháp luật gióng lên liên hồi để  
thức tỉnh, kêu gọi mọi người hãy bình tâm, tĩnh  
trí nhìn lại mình để suy xét và chọn điểm dừng,  
dũng cảm và ngay lập tức từ bỏ những tham vọng  
quá đáng của mình để đổi lấy sự bình yên, quay  
về với cái ban đầu thiện lương, thiện lành, tử tế,  
không so đo hơn thiệt, không chạy theo mục tiêu  
viển vông, hão huyền, hư danh. Làm được như  
vậy, chúng ta đã tìm về với Krishnamurti, đã tự  
thanh lọc tâm hồn, đã giải thoát mình ra khỏi kiếp  
nô lệ của những cám dỗ vật chất tầm thường, của  
những toan tính đê hèn, của mọi nhục dục xấu  
xa và mọi thị phi để đổi lấy sự tự do tuyệt đối,  
hạnh phúc đích thực và niềm vui trọn vẹn. Làm  
được như vậy, mỗi cá nhân đã sống theo tinh thần  
của Krishnamurti, đã biết lựa chọn hướng đi cho  
cuộc đời của mình một cách thông minh, một sự  
hiện hữu khôn ngoan, bền vững trong bối cảnh  
xã hội đương đại có đầy rẫy những áp lực và sự  
cạnh tranh khốc liệt.  
Với ý nghĩa đó, thông điệp của bài báo này  
muốn gửi tới thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay là  
hãy cảm nhận, hãy học hỏi và làm theo sự chỉ  
dẫn, khuyên nhủ của Krishnamurti để lựa chọn  
cho mình một hướng đi đúng cho cuộc đời. Hy  
vọng sẽ tạo ra một thế hệ công dân mới, sống  
nhân văn, biết khao khát vươn lên, biết cống hiến  
cho xã hội nhiều cái đúng, cái đẹp, cái tốt nhưng  
cũng biết thanh lọc để buông bỏ, từ chối, đoạn  
tuyệt với cái xấu, ác, sai đang giày vò trong suy  
nghĩ, ý thức của các em để tạo ra sự cân bằng  
giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của  
mỗi cá nhân cũng như của toàn xã hội. Một khi  
biết buông bỏ, thanh lọc những rác rưởi, xấu xa  
trong ý thức nghĩa là đã biết sống bao dung, độ  
lượng, vị tha, tự do và tự chủ. Đó chính là biểu  
hiện của lối sống nhân văn hiện đại cần phải có  
để người Việt Nam hôm nay làm chủ khoa học,  
công nghệ thời đại 4.0.  
3. Kết luận  
Giá trị nhân văn của tư tưởng Krishnamurti  
là không cần phải bàn cãi. Một lần nữa, trên quan  
điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác,  
chúng ta nên đọc và cần đọc lại để suy ngẫm và  
lựa trong tư tưởng nhân sinh của ông những viên  
ngọc nhân văn quý giá để có cơ sở khoa học và  
thực tiễn đề ra các giải pháp giáo dục con người  
Việt Nam nhất là thế hệ trẻ hôm nay cách sống  
Tóm lại, giá trị nhân văn lớn nhất của tư  
51  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 40 (10-2019)  
trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, cách mạng 4.0 và mỗi ngày của mình để đọc, ngẫm và làm theo  
hội nhập quốc tế sâu rộng sao cho đúng đắn, văn những điều Krishnamurti nêu ra ở trên, tôi chắc  
minh đầy tính nhân văn, cao thượng góp phần tạo chắn rằng, lòng họ sẽ bớt đi ưu tư, phiền muộn,  
dựng lên một thế giới hòa bình bền vững mà ở biết đủ để sống sao cho hạnh phúc, biết buông  
đó tự do của xã hội là điều kiện tự do cho mỗi cá để nhẹ lòng, biết sống chậm lại một ít để được  
nhân. Mỗi chúng ta đặc biệt là thế hệ trẻ nên suy thanh thản, biết tha thứ để tránh xung đột không  
ngẫm về triết lý nhân sinh của Krishnamurti để cần thiết, không tiến hành những hành động có  
lựa chọn cho mình một lối sống tử tế, giàu lòng mục đích xấu, động cơ thấp hèn, tư lợi cá nhân  
vị tha, nhân văn, nhân đạo khi cuộc cách mạng bất chính đó chính là hướng đi cho cuộc đời an  
4.0 đã gõ cửa từng nhà, từng cửa sổ tâm hồn của yên, hạnh phúc và đời khi đó thực sự sẽ là dòng  
mỗi người. Nếu ai cũng giành chút ít thời gian sông thanh tẩy.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. NguyễnTiến Dũng (1999), Lịch sử triết học phương Tây, NXBTổng hợpThành phố Hồ Chí Minh.  
[2]. R. Fouère (2007), Krishnamurti - Cuộc đời và tư tưởng, (Võ Văn Quế biên dịch), NXB Văn  
hóa Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh.  
[3]. P. Jayakar (1997), Tiểu sử Krishnamurti, (Mỹ Liên dịch), California.  
[4]. J. Krishnamurti (1969), Đường vào hiện sinh, (Trúc Thiên biên dịch), NXB An Tiêm, Sài Gòn.  
[5]. J. Krishnamurti (2002), Krishnamurti, Cuộc đời và tư tưởng - Tập III: Dòng sông thanh tẩy,  
(Nguyễn Ước biên dịch), NXB Văn học Hà Nội.  
[6]. J. Krishnamurti (2007), Cuộc đời phía trước, (Lê Tuyên biên dịch), NXB Văn hoá Dân tộc,  
Hà Nội.  
[7]. J. Krishnamurti (2007), Tham thiền, vẻ đẹp và tình yêu, (Thanh Lương- Thiện Sáng dịch), NXB  
Lao động, Nhà phát hành Văn Lang.  
[8]. Hồ Bá Thâm (2009), “Vấn đề con người, nhân văn trong triết học phương Tây hiện đại và chủ  
nghĩa duy vật nhân văn hiện nay”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Những vấn đề triết học phương Tây thế kỷ  
XX, tháng 11/2006.  
J.KRISHNAMURTI’S LIFE PHILOSOPHY AND PRACTICAL VALUES FOR  
EDUCATING HUMANITIES TO THE VIETNAMESE IN THE CURRENT PHASE  
Summary  
J.Krishnamurti was the 20th century’s great life philosopher. His philosophy raises issues to not only  
contemporary concerns but to all times because these are eternal problems in human life such as fate,  
existence, transcendence and deterioration. In his view, human deterioration in modern Western society is  
caused by the self filled with selfishnesses. He offered solutions to persuade people to purify individuals  
and social souls via such lifestyles as "life without focus", "Living is a timeless phenomenon, knowing  
is without contemplations and acting without intents". In fact, these are spiritual solutions, inclining to  
move and awaken the inner world, awakening individual consciousness in human life. Although these  
are not new in the philosophical and idealistic history, Krishnamurti's most important contribution is to  
point out the emerging problems in individual life as well as in modern society nowadays.  
Keywords: Life is a purifying river, deterioration, Krishnamurti's life philosophy, humanistic thought.  
Ngày nhận bài: 15/5/2019; Ngày nhận lại: 04/10/2019; Ngày duyệt đăng: 16/10/2019.  
52  
pdf 11 trang baolam 26220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Triết lý nhân sinh của J.Krishnamurti và giá trị thực tiễn đối với việc giáo dục nhân văn cho con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftriet_ly_nhan_sinh_cua_j_krishnamurti_va_gia_tri_thuc_tien_d.pdf