Hiện trạng và giải pháp cho việc văng tục trong giao tiếp của một bộ phận sinh viên viện đào tạo quốc tế trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh

HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆC VĂNG TỤC  
TRONG GIAO TIẾP CỦA MỘT BỘ PHẬN SINH VIÊN  
VIỆN ĐÀO TẠO QUỐC TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Lương Nguyễn Thế Quang, Lý Gia Huy, Đoàn Nguyễn Đăng Khoa  
Viện Đào tạo Quốc tế, Trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Châu Ngọc Lang  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích xác định thực trạng việc  ăng tục của sinh  
viên Viện Đào tạo Quốc tế thuộc trường Đại học Công nghệ TP.HCM từ đó đề ra giải pháp  
hạn chế tình trạng  ăng tục và nâng cao  ăn hóa giao tiếp hiệu quả bằng phương pháp  
nghiên cứu định tính tìm mẫu qua giới thiệu sinh viên đến sinh viên Snowball Sampling  
(Dragan & Isaic-Maniu, 2013). Dữ liệu thu thập từ 26 sinh viên Viện Đào tạo Quốc tế thuộc  
trường Đại học Công Nghệ TP.HCM các ngành ngôn ngữ Anh, công nghệ thông tin, quản trị  
kinh doanh, công nghệ kỹ thuật ô tô,... Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên vẫn còn tình  
trạng  ăng tục trong giao tiếp hằng ngày giữa sinh viên với sinh viên mặc dù đã nhận thức  
được tác hại của  ăng tục đối với  ăn hóa giao tiếp trong môi trường giáo dục, tuy nhiên chỉ  
ở mức độ cơ bản, họ vẫn chư  thật sự xem trọng việc phải cải thiện  ăn hóa giao tiếp, trau  
chuốt từ ngữ. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt không lớn  
giữa các nhóm sinh viên khác nhau về nhận thức và hành vi trong hoạt động giao tiếp hằng  
ngày tại trường. Từ kết quả nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu đại diện cho người được  
phỏng vấn kiến nghị một số giải pháp giúp sinh viên nâng cao  ăn hóa giao tiếp và tuyên  
truyền hạn chế đến dừng việc  ăng tục trong giao tiếp giữa sinh viên tại trường Đại học.  
Từ khóa: chuẩn mực, giao tiếp, sinh viên,  ăng tục,  ăn hoá.  
1 GIỚI THIỆU  
Trường Đại học Công nghệ TP.HCM (HUTECH) là một môi trường giáo dục tốt về khả năng  
thích ứng và hỗ trợ trong học tập đối với sinh viên. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (MOET)  
(2019), trong năm học 2018 - 2019, HUTECH đã dẫn đầu trong công cuộc thi đ   thành tích  
xuất sắc đạt 86 sinh viên đạt danh hiệu "Sinh viên 5 tốt cấp Trung Ương" và có 3 tập thể  
được Nhà nước vinh danh. Đ ều này cho thấy khả năng thích ứng trong học tập và kỹ năng  
của sinh viên được phát triển tốt. Sinh viên sẽ tìm kiếm các giải pháp đến vấn đề thích ứng  
trong ứng xử giao tiếp. Tuy nhiên, có ít đề tài nói đến vấn đề này, ví dụ như là: “Đề tài Lệch  
lạc xã hội từ việc sử dụng ngôn ngữ  ăng tục trong giao tiếp của sinh viên hiện n  ” của  
ThS. Trương Văn Vỹ (xuất bản vào năm 2010) "Văn hóa ứng xử trong gia đình truyền thống  
1239  
và hiện đạ ” của TS. Lê Thị Bích Hồng (xuất bản vào năm 2015). Với mục đích xem xét quan  
đ ểm và thực trạng trong việc  ăng tục của sinh viên để có các kiến nghị phù hợp, nhóm  
nghiên cứu quyết định chọn đề tài “Phân tích ảnh hưởng tiêu cực của việc sử dụng ngôn  
ngữ phản cảm của sinh viên Viện Đào tạo Quốc tế trường Đại học Công nghệ TP HC ”  
2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1 Mục tiêu nghiên cứu  
Nghiên cứu này nhằm khảo sát nhận thức của sinh viên và đề xuất phương án giảm thiểu  
tình trạng  ăng tục của sinh viên Viện Đào tạo Quốc tế trường Đại học Công nghệ Thành  
phố Hồ Chí Minh (HUTECH), đồng thời đánh giá được tầm ảnh hưởng của các hình thức  
tuyên truyền và cải thiện.  
2.2 Nội dung nghiên cứu  
Bài nghiên cứu được sự đóng góp từ tổng cộng 26 sinh viên thuộc các ngành khác nhau từ  
năm nhất đến năm hai của Viện Đào tạo Quốc tế thuộc các ngành Ngôn ngữ Anh, Công  
nghệ thông tin, Quản trị kinh doanh, Công nghệ kỹ thuật ô tô,... với tâm lý thoải mái và chấp  
nhận phỏng vấn. Thông qua 11 câu hỏi phỏng vấn đại diện cho 03 câu hỏi nghiên cứu chính  
mà nhóm nghiên cứu đã chuẩn bị: “S nh viên có nhận thức như thế nào về tình trạng  ăng  
tục?”  “Thực trạng  ăng tục tại Viện ĐTQT HUTECH hiện nay như thế nào?”; “Bạn có đề  
xuất, kiến nghị giảm thiểu việc  ăng tục?”, bằng cách đư  ra các gợi mở trong câu hỏi giúp  
các bạn sinh viên có câu trả lời phù hợp nhất nhằm khai thác một cách cụ thể, đ  sâu vào  
nhiều khía cạnh của vấn đề.  
Nhóm nghiên cứu dự đoán các phương án khả thi trong việc giảm thiểu tình trạng  ăng tục  
trong giao tiếp tại Đại học Công nghệ TP.HCM mà người tham gia có thể đề xuất như: “Hạn  
chế chơ  chung với các bạn thích tụ tập buôn chuyện nói xấ ”, “Tạo nhiều thói quen tốt khác  
để không có thời gian rỗi tranh cã ”,”Học thiền và tĩnh lặng trước các  ư luận”, “T ếp xúc với  
các thành phần tiên tiến và lịch sự nhiều hơn”, “Đọc sách và báo chính thống nhiều để vốn  
từ đẹp và đ  dạng hơn", “Áp dụng các chế tài vào việc xử lý vi phạm”  Từ đó, nhóm nghiên  
cứu sẽ dựa trên những câu trả lời của sinh viên để đư  ra được các phương án chung, tổng  
kết chúng và đư  ra đề xuất cho trường.  
2.3 Phương pháp nghiên cứu  
Nhóm sử dụng phương pháp định tính để nghiên cứu nhằm xác định rõ về ý thức hiện trạng  
và giải pháp cho việc  ăng tục của sinh viên Viện Đào tạo Quốc tế thuộc trường Đại học  
Công nghệ TP.HCM. Và nhóm sử dụng phương pháp Snowball Sampling (Dragan & Isaic-  
Maniu, 2013) nhóm đã chọn lựa được những ứng viên phù hợp trong Viện Đào tạo Quốc tế.  
Đồng thời, tên của tất cả những người tham gia đã được nhóm mã hóa bằng bảng chữ cái  
La-Tinh để thông tin của họ được bảo mật nhấn mạnh vào mô tả thực trạng và giải pháp của  
sinh viên trong việc  ăng tục trong giao tiếp, nhóm nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn  
những bạn sinh viên Viện Đào tạo Quốc tế trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí  
Minh. Thời gian phỏng vấn từ 10/03 đến 03/05. Tổng cộng có 26 sinh viên từ năm nhất đến  
1240  
năm hai thuộc những ngành Công nghệ Kỹ thuật ôtô, Marketing, IT, Quản trị kinh doanh,  
Ngôn ngữ Anh của Viện Đào tạo Quốc tế đã nhận lời mời để tham gia cuộc phỏng vấn này.  
Nhóm đã chuẩn bị 11 câu hỏi phỏng vấn, gợi ý cho những bạn sinh viên có câu trả lời phù  
hợp nhất nhằm khai thác một cách cụ thể, đ  sâu vào nhiều cạnh của vấn đề. Sau khi đã có  
những câu trả lời từ những sinh viên được phỏng vấn, nhóm nghiên cứu sử dụng phương  
pháp phân tích so sánh (Qualitative Comparative Analysis, Ragin, 2019) để có thể đư  ra  
các kết luận chung đại diện cho tiếng nói của sinh viên. Kết quả đã được ghi nhận và phân  
tích đầy đủ ở phần bên  ưới.  
3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU  
3.1 Khái niệm  
3.1.1 Văng tục  
Theo từ đ ển Hán  ăn của Cù Phông Cư Sĩ thì: “chửi thề là phát ngôn với một phong thái  
tục tĩ , khẩu khí hồ đồ trong lúc bản thân ở trạng thái vui, buồn hay chẳng vui mà cũng  
chẳng buồn. Chửi thề lúc đó trở thành thói quen, chửi cho đỡ “ngứa miệng”, chửi cho có lời  
mà nói vậ ”  
2.1.2 Văn hoá và giao tiếp  
Văn hóa có ý nghĩ  khác nhau đối với các dân tộc khác nhau, bởi vì khái niệm  ăn hóa bao  
gồm chuẩn mực, giá trị truyền thống, phong tục tập quán (trích  ăn hóa ứng xử của người  
Việt Nam – Gs.Ts. Lê Văn Quán). Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan  
hệ giữa người với người, hoặc giữa người với các yếu tố xã hội nhằm thỏa mãn những nhu  
cầu nhất định theo cuốn “Kỹ năng giao tiếp và thương lượng trong kinh doanh trang 7,8” của  
TS. Thái Đình Dũng và trích theo “g  o tiếp tình huống trong các tình huống giao tiếp xã hội  
của Đặng Quang Hoàng, tạp chí  ăn hóa xã hội số 04 – 2007).  
2.1.3 Chuẩn mực ngôn ngữ  
Ch ẩn mực ng n ngữ được hình thành một cách từ từ, lâ   à  trong   á trình hoạt động  
 à phát tr ển củ  ng n ngữ  ướ  tác động củ  những th   đổ  trong cấ  tr c  ã hộ   Đ ề  
cốt  ế  nhất trong   á trình nà  là phả  l  n   thức được  ự cần th ết phả  t ân thủ ch ẩn  
mực ng n ngữ để đạt được mục đích g  o t ếp, PGS TS  Ng  ễn Hữ  Ch nh Đạ  học  
Ngoạ  ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nộ   à    e er      ), T  ển tập, Nxb. Tiến bộ,  
  t cơ  , tr.625-633.  
2.2 Các lý thuyết áp dụng  
2.2.1 Lý thuyết về hành vi lệch lạc xã hội  
Sinh viên cũng vậy, sinh viên được sinh sống học tập và làm việc tại các đ  thị lớn, chính  
đ ều này đã có rất nhiều tác động đến sinh viên: tác động của kinh tế, xã hội,  ăn hóa, môi  
trường xung quanh đã dễ dàng làm cho sinh viên rơ  vào tình trạng lệch lạc. Muốn thể hiện  
cho sự lệch lạc của sinh viên chính là việc sinh viên đ ng sử dụng ngôn ngữ chửi thề trong  
hoạt động giao tiếp thường ngày của mình. (trích từ luận  ăn Đề tài Lệch lạc xã hội từ việc  
1241  
sử dụng ngôn ngữ chửi thề trong giao tiếp của sinh viên hiện nay - ThS. Trương Văn Vỹ  
hướng dẫn năm 2013).  
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
4.1 Sinh viên Viện Đào tạo Quốc tế HUTECH có nhận thức sơ bộ về tác hại của việc  
văng tục trong giao tiếp  
Chửi thề là một khái niệm khá trừu tượng, trước khi đ  vào nghiên cứu, nhóm đề tài cũng đã  
tham khảo một số ý kiến của các bạn sinh viên. Đã có nhiều ý kiến khác nhau được đư  ra,  
tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp thắc mắc “chửi thề là gì?” à sao lại chửi thề?  
Trong phiếu khảo sát ý kiến của mình, nhóm chúng tôi cũng không tiện đư  ra định nghĩ  về  
“chửi thề” là gì? Thế nhưng với câu hỏi mở: “Bạn hiểu chửi thề là như thế nào?”, chúng tôi  
muốn chính những bạn sinh viên bày tỏ những suy nghĩ, cách hiểu của mình về khái niệm  
này, đâ  cũng chính là cơ sở để chúng tôi có những nhận xét, đánh giá về hành vi, ý thức  
cũng như thái độ của các bạn sinh viên trong quá trình giao tiếp hàng ngày của các bạn.  
Khi được hỏi, thì bạn (R) đư  ra khái niệm: “chửi thề là những lời nói khó nghe, dùng lời lẽ  
thiếu  ăn hóa với mục đích thóa mạ, hạ nhục người  hác”  
Bạn (C) lại cho rằng: “chửi thề là sử dụng những từ ngữ sỗ sàng, lôi tên ông, bà, cha, mẹ  
của nhau ra để nói chuyện. Thậm chí là lôi cả bộ phận sinh dục ra mà nói chuyện với đối  
tượng giao tiếp”  
Còn bạn (H) học ngành công nghệ kỹ thuật ô tô đã nêu lên quan đ ểm của mình rằng: “chửi  
thề là nói tạm, vắng những từ ngữ rất tục tĩ  và khi sử dụng nhiều thì nó trở thành một thói  
quen dễ nhiễm, khó bỏ. Nói chung là không thể chấp nhận được”  
Ngoài ra 18/26 sinh viên được phỏng vấn cho rằng những ý kiến khác của một số bạn sinh  
viên cũng có những quan đ ểm, những khái niệm tương tự như thế. Hầu như đa số các bạn  
sinh viên đều cùng có một ý kiến: “chửi thề” là sử dụng những ngôn ngữ bất lịch sự, thiếu  
 ăn hóa, rất khó nghe, không chỉ tục mà còn là rất tục gây khó chịu cho không chỉ đối tượng  
giao tiếp mà còn cả với những người xung quanh.  
Chửi thề là kiểu phát ngôn bừa bãi, khẩu khí hồ đồ, có thể là mang tính chất “ngầu hó ”  Lúc  
vui cũng chửi, buồn cũng chửi mà kể cả lúc chẳng vui, chẳng buồn cũng… chửi,  ường như  
chửi cho đỡ “ngứa miệng”, chửi cho đỡ tức…  
Như vậy, qua cuộc khảo sát này nhóm thấy được là các bạn sinh viên cũng đã phần nào  
hiểu, và nhận thức được một phần nào về khái niệm “chửi thề” là như thế nào? Cũng như  
những ảnh hưởng xấu của nó tới hiệu quả giao tiếp của con người trong các mối quan hệ  
xã hội.  
4.2 Một bộ phận sinh viên có nhận thức trước đó vẫn xảy ra văng tục trong giao tiếp  
22/26 sinh viên được phỏng vấn cho rằng  ăng tục đ ng trở thành một vấn nạn trong sinh  
viên ngày nay. Mặc dù không phải bạn trẻ nào cũng vậy, tần suất nghe được thống kê qua  
1242  
nhóm được phỏng vấn trung bình hơn 10 lần 1 ngày qua các nhóm đ ng hoặc giao tiếp 1  
với 1.  
Khi được phỏng vấn về các đối tượng được chứng kiến thường xuyên  ăng tục thuộc nhóm  
giới tính nào, (A) sinh viên ngành Công nghệ Thông tin cho biết “Cả nam và nữ sinh viên  
quanh mình đều có những phát ngôn  ăng tục, xin phép đư  ra dẫn chứng như ch* đ*, đ*  
mẹ. Tuy nhiên tần suất của nam nhiều hơn và các cuộc giao tiếp có nội dung  ăng tục đều  
diễn ra ngoài giờ học hoặc bên ngoài trường, trong lúc họp nhóm”  
Trên quan đ ểm của sinh viên nữ (N) và (V) sinh viên ngành Marketing cho rằng “ ình cho  
thấy các bạn nam  ăng tục nhiều hơn nữ, tuy nhiên các bạn nam lẫn nữ không những  ăng  
tục bằng tiếng Việt mà còn dùng cả tiếng Anh ví dụ như “Son of the B*tch”  đồ ch* đ*), “f*c  
their gr n f ther”  đ*t cụ ), “B*ll  h*t” (c*t bò) từ ngữ mang hình tượng không đẹp nhưng  
được nhắc đ  nhắc lại nhiều lần trong cuộc nói chuyện của ngừng người thuộc tầng lớp tri  
thức”  (K) cũng cho rằng “chửi thề dù là ở bất cứ hình thức nào cũng làm ảnh hưởng tiêu  
cực đến  ăn hóa giao tiếp nhưng sinh viên vẫn cố ý dùng hàng ngà ”  
Chửi thề là một thói quen “ ễ nhiễm” nhưng rất khó bỏ. Như Gs. Trần Quốc Vượng và Ts.  
Nguyễn Thị Minh Thái cũng đã nhận xét: “ ể các nhà tri thức lớn cũng bị “nh ễm”  trích từ  
lệch lạc xã hội từ việc sử dụng ngôn ngữ chửi thề trong giao tiếp của sinh viên hiện nay xuất  
bản năm 2013.  
11/26 sinh viên cho rằng học hành căng thẳng nên chửi tục,chửi thề. Chửi cho đã, để làm  
giảm bớt căng thẳng của bản thân.  
Với những câu chửi bậy như vậy và hình thành một  ăn hóa “tục tĩ ” đ   khi nhiều người  
cũng phụ họa theo một cách vô thức. Chửi bậy  ường như được coi là một câu nói thông  
thường. Thậm chí còn được gọi là câu cửa miệng “ h ng thể thiế ”, vui họ cũng chửi, buồn  
hay cũng chửi, mà những lúc buồn quá họ càng chửi mạnh hơn  Nhiều người còn bảo chửi  
thề là một cái gì đó “thật sảng  hoá ” và họ “ h ng thể hoãn cái sự sung  ướng đó lạ ”  
Theo Bộ GD&ĐT, hiện nay học sinh - sinh viên (HSSV) đ ng có biểu hiện suy thoái, lệch lạc  
về phẩm chất, đạo đức, lối sống: thiếu trung thực, trách nhiệm với bản thân, gia đình và nhà  
trường; vô lễ với cha mẹ, thầy cô giáo và người lớn tuổi; thờ ơ, vô cảm trước nỗi đ   của  
người khác, thấy đ ng không dám bảo vệ, thấy sai trái không dám đấu tr nh… Khảo sát  
tháng 12.2017 của Bộ GD&ĐT cho thấy, có 8,6% học sinh và 20,3% sinh viên tự nhận mình  
là nói tục, chửi bậy. (Nguyễn Thị Nghĩ , 2017. Dự thảo đề án “Xâ  dựng  ăn hóa ứng xử  
trong trường học” trong Đề án “Xâ  dựng  ăn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-  
   5” của ngành Giáo dục).  
Các bạn trẻ muốn làm mới bản thân là đ ều đ ng đắn. Nhưng nếu bằng cách ăn nói “th ế ”  
 ăn hóa, bằng cách ăn chơ  thác loạn thì thật sai lầm. Nhất là sinh viên – tầng lớp trí thức  
trẻ, người nắm giữ vận mệnh của đất nước mà cũng bị nhiễm thói xấu ấy thì hậu quả thật  
khó lường. Nên khẳng định bằng kết quả học tập tốt, lối ứng xử  ăn minh lịch sự thì sẽ được  
đồng tình và tạo nên một thương hiệu sinh viên 8X, 9X Việt mới thời mở cửa là tốt nhất.  
(trích từ luận  ăn Đề tài Lệch lạc xã hội từ việc sử dụng ngôn ngữ chửi thề trong giao tiếp  
của sinh viên hiện nay - ThS. Trương Văn Vỹ xuất bản vào năm 2013).  
1243  
5 KIẾN NGHỊ  
Trước tình trạng sinh viên - tầng lớp trẻ tri thức của đất nước  ăng tục trong giao tiếp ngày  
càng nhiều như hiện nay, đề tài đã đ c kết 22/26 kiến nghị cần thiết có ích cho việc tìm ra  
những hướng giải quyết tối ư  để giảm bớt thực trạng trên, nhóm nghiên cứu tổng hợp 3  
giải pháp đối với từng nhóm đối tượng có ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới hiện  
trạng trên có thể kể đến 15/26 sinh viên được phỏng vấn kiến nghị như:  
“Hạn chế chơ  chung với các bạn thích tụ tập buôn chuyện nói xấ ”, “Tạo nhiều thói quen tốt  
khác để không có thời gian rỗi tranh cã ”, “Học thiền và tĩnh lặng trước các  ư luận”, “T ếp  
xúc với các thành phần tiên tiến và lịch sự nhiều hơn”, “Đọc sách và báo chính thống nhiều  
để vốn từ đẹp và đ  dạng hơn", “Áp dụng các chế tài vào việc xử lý vi phạm” cụ thể áp dụng  
với 3 đối tượng như sau:  
5.1 Đối với sinh viên  
Khi được hỏi về các đề xuất cho việc giảm bớt tình trạng sinh viên  ăng tục trong giao tiếp  
15/26 sinh viên được phỏng vấn cho rằng “Cần tham gia các lớp giáo dục nhận thức, thay  
đổi tới ý thức của sinh    n” bởi những suy nghĩ, cách nhìn nhận của sinh viên là đ ều quan  
trọng, nếu như sinh viên suy nghĩ chệch hướng, nhận thức sai lệch sẽ dẫn đến hành vi ứng  
xử cũng lệch lạc theo. Do đó, sinh viên cần phải tự ý thức được những hành vi đó là lệch lạc  
hay không để từ đó kiểm soát hành vi của mình.  
20/26 sinh viên được phỏng vấn cho rằng “Cần thường xuyên tham gia các cuộc thi hoặc hội  
thảo hay các khóa huấn luyện, thiền định và tìm hiểu về những giá trị  ăn hó ” vốn được cho  
là những giá trị tốt đẹp của dân tộc, của cha ông và từ đó mà học hỏi và lư  giữ những nét  
đẹp truyền thống đó, nhất là nét đẹp, sự trong sáng trong  ăn hóa giao tiếp.  
10/26 sinh viên được phỏng vấn đề xuất “Các bạn nên thường xuyên trao đổi với nhau  
những lời hay ý đẹp và lựa lời nói tránh những từ ngữ mang tính công kích kèm theo cảm  
xúc nóng giận khi giao tiếp" những cách thức ứng xử với nhau và với mọi người trong xã hội  
sao cho đ ng, cho hợp. Là tầng lớp tri thức, học nhiều, biết nhiều, các bạn nên là những  
người đ  đầu trong việc giữ gìn tính  ăn minh lịch sự trong giao tiếp. Ăn nói phải có suy nghĩ,  
phải giữ ý tứ. Đồng thời đó cũng là tạo cho mình một thói quen tốt.  
Đặc biệt, 22/26 sinh viên cho rằng “Cần chọn bạn để chơ , tránh các nhóm bạn có thói quen  
 ăng tục khi giao tiếp và tự tạo các thói quen tốt cho bản thân. Khi thấy bạn mình hay thậm  
chí là những người khác nói chuyện bất lịch sự hay chửi thề thì nên nhắc nhở, phê phán tư  
tưởng và hành động sai để cho người đó thấy ngại không nói nữ ”  
“Tập kiểm soát suy nghĩ lời nói của mình”, “Ngh  m khắc với bản thân hơn về mọi mặt, đặc  
biệt là lời ăn tiếng nó ”.  
5.2 Đối với gia đình  
Vì khi trở thành sinh viên thì đ  phần các bạn sống xa nhà, song yếu tố gia đình không thể  
thiếu trong việc giáo dục cho các bạn trong cách ăn nói ứng xử. Chính vì thế những bậc làm  
cha làm mẹ trước hết cũng phải làm gương cho con cái mình, nên ăn nói lịch sự, có  ăn hóa  
1244  
để con cái noi theo. Đồng thời cũng thường xuyên nhắc nhở, bày, dạy những cái đ ng để  
con học và chỉ ra những cái sai để cho con cái biết mà sửa.  
15/26 sinh viên được phỏng vấn cho rằng “ch  mẹ hạn chế nhất có thể không cãi nhau trước  
mặt con cái, tuyệt đối trong cuộc sống sinh hoạt không nói từ ngữ tục tĩ  với con cá ”.  
Ở một khía cạnh ít ai có thể nghĩ tới đó là chúng ta không thể nào bắt cha mẹ hay người  
thân phải hiểu bản thân mình,phải thông cảm cho một hoàn cảnh hay vấn đề nào đó thay vì  
như vậy đ ều ta phải làm đó chính là lựa lời nói như thế nào để cho cha mẹ người thân trong  
gia đình hiểu được hoàn cảnh hoặc vấn đề mình gặp phải .  
5.3 Đối với giáo viên  
Với 3/26 bạn được phỏng vấn cho rằng “G áo viên cũng có thể dạy các bạn về cách giao tiếp  
với nhau và các tấm gương tốt để các em học hỏi theo”.  
15/26 sinh viên được phỏng vấn đề xuất “N n có phương pháp dạy hiệu quả và công bằng  
trong đ ểm số từ đó không tạo ra các vấn đề tiêu cực”.  
12/26 sinh viên phỏng vấn cho rằng “Cho các bạn những lời khuyên và Giáo viên luôn là  
những người tiêu biểu cho các bạn”.  
5.4 Đối với nhà trường  
20/26 sinh viên được phỏng vấn đề xuất nhà trường nên kết hợp với gia đình để quản lý và  
giáo dục sinh viên tốt hơn  Đồng thời nên thường xuyên có những buổi học ngoại khóa về kỹ  
năng sống, kỹ năng giao tiếp, ứng xử cũng như việc sử dụng ngôn ngữ sao cho lịch sự,  ăn  
minh, đạt hiệu quả trong giao tiếp.  
2/26 sinh viên được phỏng vấn cho rằng nhà trường, hội sinh viên, đoàn thanh niên nên mở  
những cuộc thi tìm hiểu về nét đẹp  ăn hóa giao tiếp, tạo dựng sân chơ  thực hành về  ăn  
hóa ứng xử lành mạnh cho các bạn sinh viên.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Creswell, J.W. (2015)- A concise introduction to mixed methods research. Sage  
Publications.  
[2] Dragan & Isaic-Maniu (2013). Snowball Sampling Completion Journal of Studies in  
Social Sciences ISSN 2201-4624 Volume 5, Number 2, 2013, 160-177.  
[3] Đặng Quang Hoàng -Giao tiếp tình huống và các tình huống giao tiếp xã hội - (tạp chí  
Văn hóa xã hội - số 04/2007).  
[4] Gordon Marshall (1998). Từ đ ển Xã hội học biên dịch từ cuốn Oxford Dictionary of  
Sociology. Nhà xuất bản Oxford University.  
[5] Hoàng Phê (1988). Đại từ đ ển tiếng Việt, NXB. Từ đ ển Bách khoa.  
[6] Lê Ngọc Hùng (2015). Lịch sử và lý thuyết xã hội học – NXB. ĐH Quốc gia Hà Nội.  
[7] Lê Văn Quán (2007). Văn hóa ứng xử con người Việt Nam – NXB. Văn hóa thông tin.  
1245  
[8] M.Weber (1990). T  ển tập, Nxb. Tiến bộ,   t cơ  , tr. 625-633 (tiếng Nga).  
[9] Ng  ễn Hữ  Chinh (2009). Chuẩn mực ngôn ngữ,  ăn hoá ngôn từ và việc rèn luyện  
các kỹ năng giao tiếp, Kỷ yếu Khoa học Đạ  học Ngoạ  ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội  
339-342.  
[10] Phạm Văn Tình (2013). Nói tục & Viết tục của Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội số 256,  
trang 66.  
[11] Ragin, C. C. (2009). Redesigning social inquiry: Fuzzy sets and beyond. University of  
Chicago Press.  
[12] Trần Thị Kim Xuyến (2007). Xã hội học nhập môn. NXB. ĐH Quốc gia Hà Nội .  
[13] Trương Văn Vỹ (2013). Ý thức đ ng bị chi phối quá lớn bởi đồng tiền. Báo Lao động  
02/12/2013, trích ngày 19/05/2021. shorturl.at/evBGJ  
[14] Trần Ngọc Thêm (1999). Cơ sở  ăn hóa Việt Nam, NXB. Giáo dục.  
[15] Vũ Quang Hà (2001). Lý thuyết xã hội học. NXB. ĐH Quốc gia Hà Nội.  
[16] Trương Văn Vỹ (2013). Lệch lạc xã hội từ việc sử dụng ngôn ngữ chửi thề trong giao  
tiếp của sinh viên hiện nay, Luận  ăn tốt nghiệp ngành tâm lý xã hội học tội phạm  
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân  ăn Tp. HCM.  
[17] Lê Thị Bích Hồng (2015). Văn hóa ứng xử trong gia đình truyền thống và hiện đại,  
Cổng thông tin đ ện tử tỉnh Bắc Giang.  
[18] Nguyễn Thị Nghĩ  (2017). Dự thảo đề án “Xâ  dựng  ăn hóa ứng xử trong trường học”  
trong Đề án “Xâ  dựng  ăn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-   5” của  
ngành Giáo dục.  
[19] GS. Trần Quốc Vượng và TS. Nguyễn Thị Minh Thái (2013). Lệch lạc xã hội từ việc sử  
dụng ngôn ngữ chửi thề trong giao tiếp của sinh viên hiện nay.  
1246  
pdf 8 trang baolam 26980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiện trạng và giải pháp cho việc văng tục trong giao tiếp của một bộ phận sinh viên viện đào tạo quốc tế trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhien_trang_va_giai_phap_cho_viec_vang_tuc_trong_giao_tiep_cu.pdf