Hội đoàn kết sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ với các hoạt động hướng đến đời sống xã hội và vấn đề đặt ra

Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 – 2018  
39  
BẠCH THANH SANG*  
HỘI ĐOÀN KẾT SƯ SÃI YÊU NƯỚC VÙNG TÂY NAM BỘ  
VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG HƯỚNG ĐẾN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI  
VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA  
Tóm tắt: Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ là tổ  
chức của giới Chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer, ra đời theo  
chủ trương của Khu ủy Tây Nam Bộ. Giai đoạn 1964 -1975, Hội  
được xem là tổ chức chính trị - xã hội tham gia ủng hộ các  
phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.  
Từ năm 1991, hoạt động của Hội có tính chất như một tổ chức  
xã hội - chính trị tham gia các hoạt động trên phương diện của  
đời sống xã hội. Qua 25 năm củng cố, tái lập và thành lập mới,  
Hội đã phát huy tốt vai trò tập hợp, vận động Chư tăng và Phật  
tử Khmer thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng,  
pháp luật của Nhà nước và đạt được nhiều kết quả thiết thực.  
Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến một số  
kết quả hoạt động hướng đến đời sống xã hội nhằm khẳng định  
vị trí, vai trò của Hội đối với cộng đồng người Khmer vùng Tây  
Nam Bộ trong thời kỳ hội nhập quốc tế.  
Từ khóa: Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước; Khmer; Tây Nam Bộ.  
1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Hội Đoàn kết  
Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ  
Năm 1964, Khu ủy Tây Nam Bộ chủ trương thành lập Hội Sư sãi  
yêu nước ở 03 cấp (huyện, tỉnh, khu) nhằm mục đích vận động Chư  
tăng và Phật tử Khmer tham gia phong trào cách mạng (sau đây gọi  
tắt là Hội). Hội là thành viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam  
Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Khmer vận khu Tây  
Nam Bộ. Hội ở cấp khu do Hòa thượng Thạch Som, Phó Chủ tịch Mặt  
* Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.  
Ngày nhận bài: 15/11/2018; Ngày biên tập: 04/12/2018; Ngày duyệt đăng: 19/12/2018.  
40  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam khu Tây Nam Bộ làm  
Hội trưởng; Hòa thượng Sơn Vọng, Phó chủ tịch Mặt trận Dân tộc  
Giải phóng Miền Nam Việt Nam làm Chủ tịch danh dự. Hoạt động  
của Hội với phương châm: “Muốn cứu đạo phải cứu nước. Không có  
độc lập dân tộc, không đánh thắng được đế quốc Mỹ xâm lược thì đạo  
pháp chân chính không thể tồn tại và phát triển được”1.  
Sự thành lập tổ chức Hội các cấp được xem là một tất yếu của lịch  
sử, của khát vọng độc lập, thống nhất đất nước. Mặt khác, Hội cũng là  
tổ chức mang tính đối trọng với hai tổ chức do chính quyền Sài Gòn  
thành lập là Giáo hội Phật giáo Khemaranikay và Giáo hội Phật giáo  
Theravada. Giai đoạn 1964-1975, Hội được xem là tổ chức chính trị -  
xã hội trong giới Chư tăng Khmer và Phật tử Khmer; hoạt động như  
một tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị; nội dung và phương  
thức hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, vận động Chư tăng và Phật tử  
Khmer tham gia, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Sau  
30/4/1975, các giáo phái khác nhau từ trước giải phóng đã tự tiêu  
vong và quay lại với phái gốc của mình là Mahanikaya. Tuy nhiên,  
“sau vụ bạo loạn tháng 11 năm 1976, rồi vụ án KC50 diễn ra năm  
1985, tất cả làm cho tình hình hoạt động của Phật giáo Khmer bị  
chựng lại. Thậm chí Phật giáo Khmer ở một số tỉnh bị tê liệt không  
còn hoạt động, như: Trà Vinh, Sóc Trăng….”2. Thời gian này, mặc dù  
Hội Sư sãi yêu nước khu Tây Nam Bộ đã chấm dứt hoạt động nhưng  
tại một số địa phương các tổ chức Hội vẫn còn duy trì hoạt động nhằm  
tập hợp, đoàn kết Chư tăng và Phật tử khắc phục hậu quả chiến tranh;  
đồng thời duy trì hoạt động của Phật giáo Nam tông Khmer (PGNTK).  
Kết quả hoạt động của Hội trong giai đoạn 1964-1975 được Hòa  
thượng Dương Nhơn nhận xét đánh giá như sau: “Phong trào đấu  
tranh chống Mỹ cứu nước của các vị sư sãi càng lên cao, đến mùa  
thu năm 1964, Hội Sư sãi yêu nước miền Tây Nam Bộ đã ra đời, do  
Đại đức Thạch Som làm Hội trưởng, là một tổ chức đoàn kết rộng rãi  
với các tôn giáo, dân tộc anh em, đấu tranh vì lợi ích của Tổ quốc và  
nhân dân... Có thể nói Hội Sư sãi yêu nước miền Tây Nam Bộ là sản  
phẩm trong sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ cứu nước của đồng bào  
Khmer và Sư sãi nói chung”3. Với những kết quả đã đạt được, “Phật  
40  
Bạch Thanh Sang. Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước…  
41  
giáo Tiểu thừa Khmer đã được Trung ương cục Miền Nam tặng 2  
Huân chương Giải phóng vì đã có thành tích trong kháng chiến  
chống Mỹ cứu nước, đó là vinh dự lớn lao mà chưa một tôn giáo nào  
có được hân hạnh đó”4.  
Hội là tổ chức xã hội của giới Chư tăng PGNTK có mối liên hệ mật  
thiết với cộng đồng người Khmer nhưng lại không trực thuộc Giáo hội  
Phật giáo Việt Nam (GHPGVN). Năm 1981, các vị cao tăng PGNTK  
đại diện cho các tổ chức Hội ở vùng Tây Nam Bộ tham gia ủng hộ  
thống nhất Phật giáo Việt Nam, từ đó PGNTK trở thành 01 trong 09 tổ  
chức, hệ phái Phật giáo trực thuộc GHPGVN. Tại Đại hội Thống nhất  
Phật giáo cả nước, Hòa thượng Maha Sa Rây và Hòa thượng Thạch  
Som được suy tôn được làm Phó Pháp chủ; Hòa thượng Châu Mum  
được suy cử làm Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Phật giáo Việt Nam.  
GHPGVN đã trải qua 8 kỳ Đại hội, PGNTK ngày càng khẳng định vai  
trò, vị thế của mình trong ngôi nhà chung theo đường hướng: Đạo  
pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội.  
Từ năm 1991, thực hiện tinh thần Chỉ thị 68-CT/TW, ngày  
18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI), các địa  
phương có đông đồng bào Khmer đã có chủ trương củng cố, tái lập và  
thành lập được 08 tổ chức Hội, với tên gọi mới là: Hội Đoàn kết Sư  
sãi yêu nước (Hội ĐKSSYN). Sau hơn 25 năm hoạt động, Hội đã luôn  
nỗ lực dấn thân đồng hành gắn bó cùng dân tộc, đoàn kết, năng động  
và có nhiều sáng kiến trong các hoạt động thi đua yêu nước, nhất là  
phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân  
cư, sống tốt đời đẹp đạo, góp phần vào sự phát triển chung của đất  
nước, nâng cao vị thế của PGNTK nói chung, của Hội nói riêng trong  
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  
Song song với đó, tổ chức các cấp của Hội cũng được đánh giá là:  
“làm tốt công tác tổ chức các lớp học tiếng Khmer, chương trình Pali  
và chương trình Vini (Phật học); hoạt động đúng điều lệ theo phương  
châm “Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, tích cực tham gia  
tuyên truyền giáo dục, vận động sư sãi và đồng bào Phật tử thực hiện  
tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà  
nước, hăng hái lao động sản xuất, nâng cao dân trí, giữ gìn văn hóa  
42  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
truyền thống dân tộc, tham gia các phong trào cách mạng tại địa  
phương, góp phần tích cực vào việc xây dựng khối đại đoàn kết tôn  
giáo và dân tộc”5.  
Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập quốc tế, tính cố kết cộng đồng,  
cũng như mối liên hệ giữa cá nhân Phật tử Khmer với nhà chùa, với  
chức sắc, với Chư tăng PGNTK có chiều hướng giảm sút; các nghi lễ  
tôn giáo dần dần có xu hướng chuyển sang giải quyết các vấn đề  
“trần tục”. Đây này là nguyên nhân, cũng là hậu quả dẫn đến sự các  
biểu hiện khác thường trong hoạt động tôn giáo mang tính truyền  
thống của cộng đồng người Khmer. Dù biết rằng, các biểu hiện của  
sự biến đổi trong đời sống tôn giáo là xu thế chung, nhưng cần lưu ý  
để hạn chế và ngăn chặn những biểu hiện có tính “trần tục hóa”,  
“chính trị hóa” trong một bộ phận Chư tăng Khmer đang được bộc lộ  
ở một số phương diện của đời sống xã hội, trong đó, không loại trừ  
việc một bộ phận Chư tăng trẻ tham gia các tổ chức có hoạt động đi  
ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, như: Hội Tăng sinh Khmer tỉnh  
Trà Vinh, Hội bảo trợ Phật học và văn hóa Khmer huyện Trà Cú,  
Hội Tăng sinh Khmer vòng hoa lài, Hội Giáo viên yêu nước chùa  
Xoài Xiêm mới, hoặc xa hơn là các tổ chức: Hiệp hội Khơ-me Krom  
ở Campuchia, Hội Khơ-me Krom ở hải ngoại, Liên đoàn Khơ-me  
Kampuchia Krom, v.v...  
Mặc khác, có thể nhận thấy rằng: Hoạt động lợi dụng PGNTK để  
chống phá cách mạng Việt Nam được thực hiện chủ yếu trên 04 yếu  
tố: (1) Tôn giáo; (2) Quan hệ dân tộc - tộc người; (3) Lịch sử và địa -  
chính trị; (4) Hạn chế trong việc thực hiện chủ trương, chính sách.  
Đây là vấn đề có tính chất phức tạp và dễ gây mất an ninh chính trị, do  
đó, cần phải nhìn nhận và đánh giá đúng những biểu hiện chống phá  
một cách khách quan, khoa học, đồng thời nâng cao công tác nắm bắt  
tình hình, phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh, làm thất bại mọi âm  
mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch.  
Nhìn chung, Tây Nam Bộ là vùng đa dân tộc và nhiều tôn giáo, vấn  
đề dân tộc - tôn giáo luôn có sự đan xen, thẩm thấu vào nhau, cái này  
là nguyên nhân của cái kia và ngược lại, hoặc nếu cái này là “cái toàn  
bộ” thì cái kia là “cái bộ phận”, và ngược lại. Xu hướng biến đổi trong  
42  
Bạch Thanh Sang. Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước…  
43  
đời sống tôn giáo trong cộng đồng người Khmer là từ rời rạc lên chặt  
chẽ, từ chưa tiến bộ lên văn minh. Sự biến đổi này là phù hợp với thời  
đại và xu thế chung nhưng cũng cần thấy rằng, tác động mạnh mẽ của  
nền kinh tế thị trường đã len lỏi ngày càng sâu rộng vào đời sống tôn  
giáo. Xu hướng Phật giáo “nhập thế” ngày càng được thể hiện rõ hơn  
qua việc các vị Chư tăng tham gia hoạt động gắn liền với các phương  
diện của đời sống xã hội. Tất nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế,  
cần lưu ý để hạn chế và ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực làm ảnh  
hưởng đến lợi ích của quốc gia, dân tộc trong một bộ phận Chư tăng  
Khmer. Đồng thời, phát huy những biểu hiện tích cực giúp cho  
PGNTK tiếp tục thực hiện tốt phương châm hành đạo: Đạo pháp -  
Dân tộc - Chủ ngĩa xã hội, với mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân  
chủ, công bằng, văn minh.  
2. Một số kết quả hoạt động hướng đến đời sống xã hội của Hội  
Đoàn kết Sư sãi yêu nước  
Vùng Tây Nam Bộ được xem là vùng giàu tiềm năng, nhưng theo  
kết quả nghiên cứu khoa học thì vùng Tây Nam Bộ đang tồn tại “năm”  
cái nhất so với các vùng miền trên cả nước là: “nghèo nhất, lạc hậu  
nhất, trình độ học vấn thấp nhất, cơ sở hạ tầng kém nhất và hưởng thụ  
an sinh xã hội kém nhất”6. Cụ thể, trước và trong giai đoạn 1991-  
2000, “kinh tế của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nam Bộ còn  
chậm phát triển, ở vùng sâu, vùng xa, vùng ngập lụt, có nơi còn lạc  
hậu, nhiều khó khăn thiếu thốn; kinh tế chủ yếu vẫn là tự cung tự cấp,  
các hộ thuộc diện nghèo chiếm tỷ lệ cao so với một số vùng khác: (1)  
Ở vùng Tây Nam Bộ, số hộ thuộc diện nghèo chiếm 39,6%, số hộ giàu  
chỉ chiếm 3%, số hộ khá chiếm khoảng 12%; (2) Dân trí đồng bào dân  
tộc thiểu số ở vùng Tây Nam Bộ cũng thấp so với mặt bằng chung, số  
có trình độ đại học chiếm tỉ lệ rất thấp”7.  
Điều đó cho thấy, đời sống của người Khmer còn rất khó khăn nên  
việc thực hiện các hoạt động thiện nguyện - từ thiện xã hội còn rất hạn  
chế, thậm chí không được thực hiện trong một thời gian dài. Tuy  
nhiên, trong thời gian gần đây, khi cuộc sống của người Khmer được  
cải thiện, cụ thể là: “Tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng giảm từ 14,18% cuối  
năm 2001 và còn 3,54% vào cuối năm 2015. Riêng tỷ lệ hộ nghèo dân  
44  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
tộc cuối năm 2001 là 35,61% giảm còn 29,59% vào cuối năm 2005 và  
tiếp tục giảm, còn 13,01% vào cuối năm 2015 (theo tiêu chí cũ) và  
hiện còn trên 21% đến cuối năm 2016 (theo tiêu chí mới)”8 thì các vị  
Chư tăng Khmer đã dần dần phát huy được tinh thần và giá trị của  
việc bố thí trong Phật giáo. Thông qua Hội ĐKSSYN, các vị Chư tăng  
đã bắt đầu quan tâm đến các hoạt động thiện nguyên - từ thiện xã hội.  
Đây là biểu hiện mới trong PGNTK, trong đó Hội ĐKSSYN là chủ  
thể thực hiện các hoạt động hướng đến đời sống xã hội đã và đang  
mang lại những kết quả thiết thực. Chúng tôi điểm qua một số kết quả  
như sau:  
Tỉnh Trà Vinh, Hội ĐKSSYN nhiệm kỳ 2008-2013 vận động được  
“hơn 6 tỷ đồng”9, nhưng trong nhiệm kỳ 2013-2018, Hội đã tích cực  
vận động được hơn “58,2 tỷ đồng thực hiện công tác từ thiện xã  
hội”10. Tỉnh Sóc Trăng, “trong 5 năm (2005-2012) đã thực hiện công  
tác từ thiện xã hội được 4,683 tỷ đồng và trên 80 tấn gạo, vận động  
Phật tử và các chùa hiến 27.600 m2 đất để xây dựng trường học, làm  
giao thông”11, nhưng đến cuối nhiệm kỳ 2012-2017, Hội ĐKSSYN  
Tỉnh đã vận động được hơn “19,68 tỷ đồng và trên 100 tấn gạo”12.  
Tỉnh Kiên Giang, từ năm 2005 đến 2014, “Hội Đoàn kết Sư sãi yêu  
nước các cấp đã vận động sư sãi, đồng bào Khmer đóng góp trên 10  
ngàn ngày công lao động, sửa chữa làm mới hàng chục ngàn mét  
đường, bắc mới 136 cây cầu bê tông, xây cất 723 căn nhà đại đoàn  
kết, bốc khoảng 600 ngàn thang thuốc nam với số tiền đóng góp gần  
20 tỷ đồng”13; riêng trong năm 2015 “các Chi hội đã vận động được  
hơn 6,5 tỷ đồng”14. Song song với đó, nhiều vị cao tăng Khmer là  
những tấm gương tiêu biểu, đi đầu trong các hoạt động thiện nguyện -  
từ thiện xã hội, như: Hòa thượng Trần Nhíp ở Kiên Giang đã vận động  
sư sãi, Phật tử, các mạnh thường quân tham gia sửa chữa và bê tông  
hóa trên 15 km đường nông thôn, bắc mới 112 cây cầu nông thôn với  
số tiền trên 10 tỷ đồng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao  
động hạng III và nhiều bằng khen, giấy khen, v.v...  
Mặt khác, Hội ĐKSSYN có những hoạt động tuyên truyền góp phần  
ổn định an ninh chính trị tại các địa phương. “Từ 2008 đến nay, tỉnh  
Sóc Trăng đã tổ chức tuyên truyền được 11 cuộc với hơn 4.500 lượt  
44  
Bạch Thanh Sang. Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước…  
45  
người nghe. Tỉnh Trà Vinh, bằng nhiều hình thức, các vị trụ trì và Ban  
Quản trị chùa thực hiện lồng ghép tuyên truyền các nội dung văn bản có  
liên quan đến dân tộc, tôn giáo cho Phật tử vào 4 ngày quy y, thọ giới  
trong tháng của Phật giáo Nam tông Khmer (ngày 8, 15, 23 và 30 mỗi  
tháng). Tỉnh Bạc Liêu (2009-2013) tổ chức được 29 cuộc, với 3.350  
lượt người và ở Hậu Giang có 6.000 người dự nghe về lược sử vùng đất  
Nam Bộ”15. “Vĩnh Long từ khi thành lập đến nay, Hội đã phối hợp với  
các ngành chức năng tuyên truyền được 10 cuộc với trên 700 lượt người  
dự. Ngoài ra, các tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer cũng có phối  
hợp tốt công các tổ chức tuyên truyền hàng năm của Ban Chỉ đạo Tây  
Nam Bộ trong sư sãi, Ban Quản trị chùa và đồng bào Khmer”16.  
Đặc biệt, Hội ĐKSSYN tỉnh Sóc Trăng đã phối hợp với các ngành  
chức năng giải quyết có hiệu quả vụ việc phức tạp xảy ra tại Trường  
Bổ túc Văn hóa - Trung cấp Pali Nam Bộ (8/2/2007) và tại các chùa  
Praey Chóp, chùa Tà Sết (5/2013). Hội ĐKSSYN tỉnh Kiên Giang  
tham gia vận động giải quyết có hiệu quả các vụ việc phức tạp liên  
quan đến sư sãi và đồng bào Khmer, điển hình như: vụ tranh chấp đất  
đai ở chùa Láng Cát (Tp. Rạch Giá), chùa Sóc Xoài (Hòn Đất), chùa  
KhLang Mương (Châu Thành), chùa Kinh 2 (Vĩnh Thuận). Hội  
ĐKSSYN tỉnh Bạc Liêu giải quyết tốt mâu thuẫn nội bộ giữa Phật tử  
và Ban Quản trị chùa Cù Lao (xã Hưng Hội) trong việc di dời 06 tháp  
cốt nhỏ vào một tháp cốt lớn; việc đền bù, giải tỏa hàng rào chùa Mới  
(thị trấn Hòa Bình). Bên cạnh đó, Hội còn kết hợp với chính quyền và  
các cơ quan chức năng tại địa phương xây dựng mô hình 66 tổ Tự  
quản trong dòng tộc, với 1.280 thành viên tham gia, thực hiện nhiệm  
vụ bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội ở khu dân cư, khóm ấp.  
Ngoài ra, trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc đã xuất  
hiện nhiều tấm gương có uy tín gương mẫu, tiêu biểu, như: Hòa  
thượng Đào Như, Hòa thượng Tăng Nô, Hòa thượng Thạch Sok Xane,  
Hòa Thượng Thạch Hà, Hòa thượng Danh Nhưỡng, Hòa thượng Danh  
Đổng, Hòa thượng Trần Nhíp, Thượng tọa Danh Dỗ, Thượng tọa  
Danh Nhuôl… vì đã nhiệt tình hỗ trợ cơ quan Công an và các ban  
ngành thực hiện công tác tuyên truyền, vận động Chư tăng và đồng  
bào Khmer thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước. Đáng chú ý,  
46  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
“Đại đức Hữu Trung, chùa Cao Dân (Tân Lộc, Thới Bình, Cà Mau) đã  
phát hiện và chủ động đấu tranh, vận động đồng bào dân tộc không tin  
vào lời kích động, lôi kéo của đối tượng xấu tuyên truyền, kích động  
tư tưởng hận thù dân tộc giữa người Khmer và người Kinh…”17.  
3. Một số biểu hiện ảnh hưởng đến hoạt động của Hội Đoàn kết  
Sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ  
3.1. Biểu hiện về sự trẻ hóa và giảm sút đội ngũ Chư tăng Khmer  
Giáo lý, giáo luật của Phật giáo Nam tông đã ăn sâu vào đời sống  
tinh thần và đã trở thành nếp sống của người Khmer. Chùa chiền, Chư  
tăng và những nghi thức lễ hội đã trở thành “máu thịt” của cộng đồng  
người Khmer. Một điều hiển nhiên với người Khmer là sự tôn kính  
Chư tăng vì họ cho rằng Chư tăng chính là sự hiện thân của Đức Phật.  
Đây là điểm tích cực mà cũng là điểm đáng lưu ý của tôn giáo này,  
trong đó biểu hiện của sự trẻ hóa các vị trụ trì là điều đáng quan tâm.  
Cụ thể, “số trụ trì có tuổi trung bình là 43, sư trẻ ở độ tuổi 20-30 nhiều  
gấp 2,05 lần số sư tuổi 31-40, gấp 3,9 lần số sư tuổi 41-50, gấp 13 lần  
số sư tuổi 51-60 và gấp 5,57 lần số sư ở độ tuổi 61-70”18. Vấn đề trẻ  
hóa đội ngũ “trụ trì” sẽ dẫn đến hai khuynh hướng: (1) Sự trẻ hóa sẽ  
tạo ra được tính năng động sáng tạo, có nhiều điều kiện để tiếp xúc  
với các thành tựu khoa học kỹ thuật, nhạy bén với những cái mới; (2)  
Sự trẻ hóa sẽ dễ dẫn tới nguy cơ “chệch hướng”, bởi vì phần đông  
trình độ của các vị Chư tăng đều thấp, sự nhận thức về đạo pháp, về  
quốc gia, dân tộc, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước  
còn nhiều hạn chế.  
Hạn chế về trình độ nhận thức nhưng yếu tố “năng động, sáng tạo”  
có thể bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo và trở thành mối nguy  
hiểm trước mắt và lâu dài cho cộng đồng, cho đất nước, vì trong thực  
tế đã “có trên 1.000 sư sãi Khmer đi tu học nước ngoài (chủ yếu là  
Campuchia, Thái Lan, Myanma, Sri Lanka, Ấn Độ...), trong đó có 100  
trường hợp đi hợp pháp. Đáng chú ý có trên 60 trường hợp bị tổ chức  
phản động lưu vong KKK đưa đi huấn luyện, đào tạo. Đồng thời, KKF  
có ý định thao túng các chùa Khmer ở bên ngoài (Mỹ, Australia, Thái  
Lan, Campuchia...) làm tụ điểm hoạt động chống phá hoặc “lánh nạn”  
khi trốn ra ngước ngoài”19.  
46  
Bạch Thanh Sang. Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước…  
47  
Đối với biểu hiện giảm sút Chư tăng Khmer, cuốn sách Người Việt  
gốc Miên của tác giả Lê Hương cho thấy số lượng chùa Khmer ở Nam  
Bộ những năm 1960 có khoảng 500 chùa… Vào những năm 1970-  
1975, có chùa mỗi năm có khoảng 500 vị Chư tăng tu học. Nhưng  
hiện nay số lượng Chư tăng giảm nhiều; số lượng Chư tăng giảm đồng  
nghĩa với việc thanh thiếu niên hiện nay do những điều kiện nhất định  
đã không còn vào chùa đi tu nhiều như trước. Hơn nữa, thời gian tu  
tập ở chùa thường là không đủ lâu để thanh niên đó khi “xuất tu” có  
đủ những kiến thức nhất định trở thành trụ cột khi lập gia đình. Nói  
theo cách nhà chùa, người này “Phật tính” chưa cao, nên sau khi trở  
về với cuộc sống đời thường rất dễ sa vào các tệ nạn xã hội, hoặc sự  
tôn trọng của người dân có phần nào ít đi.  
Bên cạnh đó, trong bài viết của tác giả Trần Hồng Liên (2014), Sự  
chuyển đổi tôn giáo trong người Khmer ở tỉnh Trà Vinh, cũng cho  
thấy: “Tình trạng thanh thiếu niên vào tu học trong chùa theo tập quán  
truyền thống, với thời gian tối thiểu là 3 năm hiện nay đã thay đổi.  
Thời gian vào tu học trong chùa ngày nay đôi khi chỉ còn 3 ngày”20.  
Theo kết quả khảo sát thì: “Độ tuổi sư trụ trì đang trẻ hóa. Tuổi bình  
quân của sư trụ trì là 43; Sư trong độ tuổi 20 - 30 chiếm 39%,... Bình  
quân số lượng sư trong một chùa từ năm 1975 đến tháng 12/2013 có  
nhiều thay đổi: Năm 1975: 29 sư/chùa; năm 1985 là 19 sư/chùa; năm  
1995 là 16 sư/chùa; năm 1999 là 19 sư/chùa; tháng 6/2004 khoảng 20  
sư/chùa; tháng 12/2013 là 21 sư/chùa”21. Sự giảm sút số Chư tăng  
Khmer dẫn đến hệ quả là các vị trụ trì ngày càng được trẻ hóa, và một  
số địa phương thiếu người làm trụ trì.  
Nhìn chung, những người muốn suốt đời chăm lo tu tập Phật Pháp  
có xu hướng giảm dần. Hầu hết thanh niên đi tu không hoàn toàn  
mang đầy đủ ý nghĩa như trước mà chủ yếu là làm cho xong “nghĩa  
vụ” với nhà chùa, gia đình và phum, sóc. Tình trạng tu tập ngày càng  
ít có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân cơ bản nhất vẫn xuất  
phát từ kinh tế gia đình. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu ổn  
định cuộc sống, nhu cầu hưởng thụ cũng được tăng theo. Thanh niên  
Khmer ngày nay phải tranh thủ lao động để nuôi sống bản thân và gia  
đình, chăm lo đời sống kinh tế, mặt khác, họ còn nhận thức rằng, vào  
48  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
chùa tu không phải là cách duy nhất để con cái báo hiếu cho cha mẹ,  
mà “đi làm để phụng dưỡng cha mẹ, ông bà cũng là cách báo hiếu”.  
Cùng theo đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, mọi  
lĩnh vực trong đời sống con người đều có bước nhảy vọt, xu thế toàn  
cầu hóa thể hiện ngày càng rõ nét. Điều kiện đó đòi hỏi con người  
phải hết sức năng động, nhanh nhạy nắm bắt vấn đề trong cuộc sống.  
3.2. Biểu hiện về cải giáo của một bộ phận người Khmer  
Khi nghiên cứu về biểu hiện này, Nguyễn Mạnh Cường trong  
nghiên cứu Phật giáo Khmer Nam Bộ - Những vấn đề nhìn lại cho  
rằng, “khi vừa chào đời mặc nhiên người Khmer đã được xem là một  
tín đồ Phật giáo. Người Khmer Nam Bộ từ bé đã được cha mẹ giáo  
dục nếp sống theo triết lý, lối sống của đạo Phật, bởi thế người Khmer  
con tiếp cha, đời tiếp đời sống trong niềm tin theo triết lý Phật giáo”22.  
Tuy nhiên, tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nên nó “thường biến đổi  
chậm so với cơ sở kinh tế, xã hội mà nó sinh ra. Tính lạc hậu, bất cập  
và lỗi thời khiến nhiều hình thức tôn giáo tín ngưỡng bộc lộ mặt phản  
giá trị và trở thành lực lượng kìm hãm sự phát triển xã hội”23. Điều đó  
cho thấy vấn đề giảm thực hành tôn giáo truyền thống và cải giáo là  
vấn đề mang tính tất yếu.  
Nhìn chung, việc cải giáo của một bộ phận người Khmer có thể là  
do không gian xã hội của cá nhân ngày càng mở rộng đã tạo điều kiện  
tiếp nhận thêm những giá trị của các tôn giáo, phù hợp với tâm lý, sở  
thích của từng cá nhân. Theo số liệu tổng điều ra dân số năm 2009 thì  
người Khmer hiện có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành trong cả nước, với  
1.260.640 người; riêng vùng Tây Nam Bộ có 1.183.476, còn lại  
77.164 người sống tập trung ở một số tỉnh miền Đông Nam Bộ và  
Thành phố Hồ Chí Minh; trong đó, có hơn 4.000 người sống rải rác ở  
vùng Trung du miền núi phía Bắc, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng  
Trung Bộ - duyên hải Miền Trung và Tây Nguyên.  
Đặc biệt, theo thống kê của các địa phương vùng Tây Nam Bộ, tính  
đến năm 2016 có 4.776 hộ gia đình, với 14.524 nhân khẩu (trong đó  
có hộ người Khmer) do cuộc sống khó khăn nên phải rời quê hương  
đến các khu công nghiệp, khu chế xuất tại các thành phố lớn để tìm  
kiếm việc làm mong để có cơ may thay đổi cuộc sống. Mặc khác, từ  
48  
Bạch Thanh Sang. Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước…  
49  
năm 1991 đến nay, hiện tượng phụ nữ Khmer kết hôn với người nước  
ngoài ngày càng nhiều, ví dụ: “Bạc Liêu có 156 trường hợp, Cà Mau:  
198 trường hợp, Vĩnh Long: 50 trường hợp và Thành phố Cần Thơ: 27  
trường hợp”24. Đây cũng là nguyên nhân gián tiếp hoặc trực tiếp dẫn  
đến việc cải giáo người Khmer trong thời gian gần đây.  
Nhìn chung, dù đạo Tin Lành và Công giáo chưa truyền giáo mạnh  
vào vùng dân tộc Khmer như ở các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc,  
nhưng hiện nay nhiều người Khmer đi lao động ở nước ngoài và làm  
công nhân tại các khu công nghiệp ở trong nước cũng là vấn đề đáng  
quan tâm trong việc thực hành tôn giáo. Trong bài viết: “Phật giáo  
Nam tông Khmer ở Kiên Giang - Những biến đổi trong đời sống hiện  
nay” của tác giả Danh Lắm, chúng tôi rất bất ngờ khi thấy con số gần  
19.000 người Khmer bỏ đạo truyền thống để theo các tôn giáo khác,  
trong đó, “có 17.810 người theo Phật giáo hệ phái Bắc tông và Khất  
sĩ, 422 người theo Công giáo, 54 người theo đạo Cao Đài, 33 người  
theo Phật giáo Hòa Hảo, 562 người theo đạo Tin Lành, 43 người theo  
Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam”25. Xét về giá trị truyền thống của  
người Khmer gắn liền với Phật giáo Nam tông từ nhiều thế kỷ thì đây  
là biểu hiện mới vì người Khmer lâu nay ít chịu ảnh hưởng bởi triết lý  
của các tôn giáo khác. Qua khảo sát thực tế, các nguyên nhân dẫn đến  
một bộ phận người Khmer bỏ tôn giáo truyền thống để theo tôn giáo  
khác chủ yếu là:  
(1) Do một bộ phận đồng bào Khmer còn khó khăn về kinh tế, dân  
trí thấp nên đã chấp nhận từ bỏ đạo truyền thống để theo tôn giáo khác  
nhằm có được những lợi ích vật chất trước mắt. Ngoài ra, việc chuyển  
đổi niềm tin tôn giáo của thanh niên Khmer lao động xa quê còn diễn ra  
dưới các dạng: (i) Chủ sử dụng lao động là người của tôn giáo khác  
truyền đạo cho người lao động thuộc đơn vị mình quản lý; (ii) Nhóm  
truyền đạo tìm cách tiếp xúc, thâm nhập vào nơi có đông thanh niên  
Khmer lao động xa quê. Dù không được cho phép, họ vẫn đến các nhà  
trọ gửi giấy mời dự thánh nhạc truyền giảng, tổ chức gặp gỡ, tổ chức  
sinh hoạt tôn giáo thích hợp, tổ chức hỗ trợ không kèm điều kiện nhưng  
có mục đích cuối cùng là truyền đạo, thúc đẩy gia nhập tôn giáo; (iii)  
Chuyển đổi niềm tin tôn giáo do hôn nhân có yếu tố nước ngoài.  
50  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
(2) Nội dung giáo lý, giáo luật và hình thức thực hành tôn giáo của  
các tôn giáo khác có nhiều sức hấp dẫn, đơn giản, mang tính dân chủ  
và phù hợp với thời gian lao động của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa.  
(3) Một số nơi, chức sắc, Chư tăng PGNTK là người đứng đầu cơ  
sở thờ tự, đứng đầu tổ chức thiếu sự quan tâm đến cuộc sống của Phật  
tử; chưa gần gũi và tạo được niềm tin thông qua các hoạt động thiện  
nguyện - từ thiện xã hội để giúp đỡ người nghèo khi gặp khó khăn,  
thiếu thốn hoặc khi bị thiên tai trong cuộc sống.  
Mặc dù một bộ phận người Khmer bỏ tôn giáo truyền thống để  
theo tôn giáo khác, nhưng qua quan sát thực tiễn thì họ vẫn đi chùa  
và tham gia các ngày lễ hội gắn với truyền thống dân tộc. Do đó,  
không thể không quan tâm đến việc người Khmer chuyển đổi niềm  
tin tôn giáo do bị lôi kéo, tác động, vì lợi ích kinh tế trước mắt hoặc  
do các thế lực lôi kéo nhằm thực hiện mục đích chính trị. Mặc khác,  
với con số 4.433 người Khmer theo các tôn giáo khác ổn định từ  
nhiều năm nay, trong đó số theo đạo “Tin Lành là 2.153, Công giáo:  
2.186, Cao Đài: 78, Baha’i: 34”26 cho thấy những biểu hiện như  
trường hợp tại tỉnh Kiên Giang cũng đã và đang diễn ra ở khắp các  
địa phương có người Khmer sinh sống. Vấn đề này rất cần một cuộc  
điều ra, khảo sát để có số liệu cơ bản để có những đánh giá đúng bản  
chất của sự biến đổi tôn giáo trong cộng đồng người Khmer một  
cách khách quan và khoa học.  
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cùng với sự đổi mới về chính  
sách tôn giáo ở Việt Nam, dự báo số người Khmer chuyển đổi niềm  
tin tôn giáo có thể tiếp tục tăng và sẽ là điều kiện xuất hiện “thị trường  
tôn giáo” ở vùng Tây Nam Bộ. Một bài học kinh nghiệm ở Trung  
Quốc trong những năm gần đây là: “… đi kèm với sự phục hưng của  
Phật giáo là những biểu hiện thiếu lành mạnh, như: tha hóa, biến thái,  
đánh mất những đặc tính truyền thống, mưu cầu lợi ích kinh tế,  
thương mại hóa, thế tục hóa…”27. Tuy nhiên, xét về lâu dài, các tôn  
giáo khác khó có thể trở thành tôn giáo chủ lưu thay cho Phật giáo  
Nam tông trong cộng đồng người Khmer do nền tảng giáo lý của tôn  
giáo này đã in sâu trong đời sống tôn giáo qua nhiều thế hệ người  
50  
Bạch Thanh Sang. Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước…  
51  
Khmer ở vùng cực Nam của Tổ quốc nên sẽ hạn chế sự phát triển của  
các tôn giáo khác.  
Thế nhưng, nếu đúng như dự báo thì sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến  
tình cảm, tâm lý và tác động trực tiếp đến tín ngưỡng, tôn giáo truyền  
thống; tạo nên sự vênh về văn hóa, tôn giáo của các thế hệ trong một  
gia đình, các gia đình trong một phum/sóc hoặc gây sự hiểu lầm xa  
cách, mất đoàn kết nội bộ; thậm chí dẫn đến xung đột trong gia đình,  
dòng họ anh em với nhau và giữa người Khmer theo tôn giáo truyền  
thống với người Khmer theo các tôn giáo khác; rộng hơn là sự va  
chạm, thậm chí là xung đột trong mối quan hệ giữa các tôn giáo. Song  
song với đó, nó còn tác động đến chính sách đại đoàn kết dân tộc, tôn  
giáo của Đảng và Nhà nước, tạo ra sự phát triển không cân bằng và  
bền vững ở vùng đất vốn tiềm ẩn những yếu tố làm mất ổn định tình  
hình an ninh chính trị.  
Tóm lại, trong điều kiện kinh tế thị trường, các tôn giáo đều có sự  
biến động. Các chức sắc, Chư tăng PGNTK tưởng chừng như xa rời  
đời sống thế tục, gắn với thực hành thiền định nhưng lại tỏ ra khá  
nhập thế. Nếu căn cứ theo 10 điều cấm trong giới luật của Phật giáo  
Nam tông (không trộm cắp; không tà dâm; không nói láo; không uống  
rượu; không ăn ngoài bữa; không xem múa hát; không dùng đồ trang  
sức; không chiếm ghế cao và giường nệm; không đụng đến vàng bạc)  
thì một bộ phận có cuộc sống xa hoa hiện đại, không giữ đời sống tu  
trì thanh tịnh và tiết kiệm. Giới Chư tăng trẻ ngày nay phải vừa học  
Phật, vừa học Thế nên mọi khía cạnh của đời sống tu hành dường như  
đều có nhuốm màu thế tục hóa.  
Mặc khác, những biểu hiện về sự trẻ hóa, giảm sút số lượng đội  
ngũ Chư tăng và chuyển đổi niềm tin tôn giáo của một bộ phận người  
Khmer không chỉ ảnh hưởng đến niềm tin tôn giáo mà còn ảnh hưởng  
đến hoạt động của PGNTK nói chung, Hội ĐKSSYN nói riêng. Do  
đó, các vị Chư tăng cần nhận thức đúng đắn tính tiêu cực và tích cực  
của vấn đề “thế tục hóa” để tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của  
PGNTK đối với cộng đồng người Khmer trong bối cảnh hội nhập  
quốc tế ngày càng sâu rộng vì thế tục hóa đang đồng nghĩa với sự suy  
thoái, đánh mất dần tính thiêng, suy giảm niềm tin tôn giáo, v.v…  
52  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Các biểu hiện như đã nêu trên nếu tham chiếu với nhận định của  
các nhà tư tưởng lớn của thế kỷ 19, 20, như: “Auguste Comte, Herbert  
Spencer, Karl Marx, Émile Durkheim, Max Weber và Sigmund Freud,  
tất cả đều cho rằng với sự phát triển của xã hội công nghiệp, tôn giáo  
sẽ mất dần tầm quan trọng và sẽ không còn ý nghĩa đối với xã hội hiện  
đại”28 thì rõ ràng PGNTK có nguy cơ lép vế và có xu hướng nhường  
chỗ cho các tôn giáo khác nếu như “thị trường tôn giáo” phát triển ở  
vùng dân tộc Khmer. Bởi lẽ, theo lý thuyết thế tục hóa, sự suy giảm  
của tôn giáo tập trung vào hai điểm chính: Một, sự hình thành một thế  
giới quan duy lý dẫn đến sự xói mòn niềm tin tôn giáo. Hai, sự chuyên  
biệt hóa chức năng xã hội trong xã hội công nghiệp dẫn đến sự suy  
yếu chức năng của các tổ chức tôn giáo đối với đời sống xã hội và hệ  
lụy của nó là sự suy yếu của chính tôn giáo29.  
Kết luận  
Vấn đề đoàn kết được V. I. Lênin nêu rõ: “Bất cứ sự bất đồng nào,  
ngay cả một sự bất đồng không đáng kể, cũng có thể nguy hiểm về  
mặt chính trị”30. Vận dụng tư tưởng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho  
rằng, đoàn kết thống nhất là nguồn gốc của sức mạnh, là then chốt  
của thành công. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đoàn kết là  
một lực lượng vô địch”31, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành  
công, thành công, đại thành công”32. Đối với tổ chức, Chủ tịch Hồ  
Chí Minh nhấn mạnh: “Muốn đoàn kết toàn dân, cần phải có một  
đoàn thể rộng lớn, rất độ lượng thì mới có thể thu hút được mọi đoàn  
thể và cá nhân có lòng tha thiết yêu nước, không phân biệt tuổi tác,  
trai gái, tôn giáo, nghề nghiệp...”33.  
Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí  
Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Cách mạng là sự  
nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân, cho nên ra sức chăm lo  
và phát triển các tổ chức quần chúng. Bên cạnh việc phát huy vai trò  
của các hội truyền thống đã có, Đảng đã lập ra nhiều hội yêu nước và  
cách mạng”34. Giai đoạn 1964 -1975, Hội Sư sãi yêu nước tồn tại với  
tư cách một tổ chức chính trị - xã hội đã thể hiện rõ vai trò của mình  
trong các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất  
nước.  
52  
Bạch Thanh Sang. Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước…  
53  
Sau năm 1975, tổ chức Hội ở một số địa phương tồn tại với tư cách  
là tổ chức xã hội quần chúng nhằm tập hợp Chư tăng và Phật tử  
Khmer đoàn kết khắc phục hậu quả chiến tranh. Năm 1981, Hội Sư sãi  
yêu nước khu Tây Nam Bộ (với tư cách là tổ chức của giới Chư tăng  
PGNTK đã từng tồn tại trong giai đoạn 1964 -1975) đại diện cho các  
tổ chức Hội vùng Tây Nam Bộ, đại diện cho tín đồ PGNTK thống  
nhất hoạt động trong ngôi nhà chung của GHPGVN với đường hướng:  
Đạo pháp - Dân tộc - Chủ ngĩa xã hội.  
Tuy nhiên, do tính biệt truyền của mỗi hệ phái nên Chư tăng và  
Phật tử Khmer phần lớn sinh hoạt gắn bó với các tổ chức Hội tại các  
địa phương. Đa số các vị Chư tăng và Phật tử Khmer xem Hội như là  
tổ chức “Giáo hội”. Trải qua quá trình lịch sử, Hội vẫn mặc nhiên tồn  
tại và phát huy vai trò của mình đối với cộng đồng dân tộc Khmer. Do  
vậy, việc duy trì các tổ chức Hội là vấn đề tồn tại của lịch sử, là vấn  
đề khách quan, là sự lựa chọn duy lý của cộng đồng người Khmer ở  
vùng Tây Nam Bộ.  
Mặc khác, ngoài việc giúp cho GHPGVN thực hiện công tác Phật  
sự đối với hệ phái Nam tông Khmer, Hội còn có ảnh hưởng sâu rộng  
và chi phối tư tưởng tình cảm và nếp sống đạo của mỗi Phật tử; tập  
hợp, đoàn kết, vận động đồng bào cùng chung tay xây dựng đời sống  
cộng đồng, tuân thủ luật pháp, gắn bó và đồng hành với dân tộc, góp  
phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng người  
Khmer. Tóm lại, tuy không liệt kê đầy đủ tất cả kết quả hoạt động của  
các tổ chức Hội ở vùng Tây Nam Bộ nhưng nhìn tổng thể chúng tôi  
rút ra một số nhận xét:  
Một là, với tư cách là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,  
hoạt động của Hội đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy công  
cuộc đổi mới đất nước một cách toàn diện, thúc đẩy sự phát triển của  
xã hội;  
Hai là, với tư cách là hội quần chúng, là thành tố của hệ thống  
chính trị, qua 25 năm hoạt động, Hội đã hỗ trợ đắt lực cho công cuộc  
xây dựng và đổi mới hệ thống chính trị, giúp hệ thống chính trị ngày  
càng vững mạnh;  
54  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Ba là, với tư cách là tổ chức xã hội quần chúng, hoạt động của Hội  
trong thời gian qua đã góp phần không nhỏ vào việc phát triển con  
người mới trong bối cảnh hội nhập quốc tế.  
Từ đó, có thể khẳng định rằng, sự tồn tại của các cấp Hội là rất  
quan trọng đối với sự phát triển của cộng đồng người Khmer ở vùng  
Tây Nam Bộ. Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, cộng đồng  
người Khmer càng phải đối mặt với những khó khăn thách thức của  
nền kinh tế thị trường, của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4. Việc  
tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết đấu tranh giải phóng dân tộc,  
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đồng thời, giúp cho PGNTK nói  
chung, các tổ chức Hội nói riêng cần tiếp tục phát huy tinh thần yêu  
nước, khẳng định vị trí, vai trò của mình trong việc bảo tồn giá trị văn  
hóa truyền thống nhằm góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa dân  
tộc Việt Nam là vấn đề rất thiết thực. /.  
CHÚ THÍCH:  
1
Ban Dân vận Trung ương - Cơ quan Thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh  
(20/05/2014), Tài liệu Tọa đàm Tổ chức và hoạt động của Hội Đoàn kết Sư sãi  
Yêu nước trong Phật giáo Nam tồng Khmer - Thực trạng và giải pháp, tr. 2.  
2
3
4
5
Nguyễn Mạnh Cường (2008), Vài nét về người Khmer Nam bộ, Nxb. Khoa học  
xã hội, Hà Nội, tr. 83.  
Trần Hồng Liên (1966), Phật giáo Nam bộ từ thế kỷ 17 đến 1975, Nxb. Thành  
phố Hồ Chí Minh, tr. 113.  
Nguyễn Mạnh Cường - Nguyễn Minh Ngọc (2004), Tôn giáo - Tín ngưỡng của  
các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Phương Đông, tr. 131.  
Ban Cán sự Đảng ủy Ban Dân tộc (2017), Báo cáo Tổng kết 25 năm thực hiện  
Chỉ thị 68CT/TW, ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) về  
công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơ-me, số108, Hà Nội, tr. 7.  
6
Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và Thành ủy Cần Thơ  
(2014), Kỷ yếu Hội thảo khoa học:“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,  
nông thôn vùng ĐBSCL - 30 năm nhìn lại“, Cần Thơ, tr. 448.  
7
8
Võ Thị Hồng Hoa (2014), “Tăng cường đảm bảo quốc phòng an ninh vùng đồng  
bào dân tộc thiểu số ở Tây Nam Bộ (1986 -2006)”, Lịch sử Đảng, tr. 85.  
Ban Cán sự Đảng ủy Ban Dân tộc (2017), Báo cáo Tổng kết 25 năm thực hiện  
Chỉ thị 68-CT/TW, ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI)  
về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơme, số 108, Hà Nội, tr. 4.  
9
Ban Dân vận Tỉnh ủy Trà Vinh (2013), Báo cáo thực trạng, tổ chức hoạt, động  
của Hội ĐKSSYN trong Phật giáo Nam tông Khmer, số 23, Trà Vinh, tr. 6.  
10 Văn kiện Đại hội Đại biểu Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước tỉnh Trà Vinh, lần thứ  
VII nhiệm kỳ (2018-2023), Trà Vinh, tr. 14.  
54  
Bạch Thanh Sang. Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước…  
55  
11 Ban Dân vận Tỉnh ủy Sóc Trăng (2013), Báo cáo thực trạng, tổ chức hoạt, động  
của Hội ĐKSSYN trong Phật giáo Nam tông Khmer, số 186, Sóc Trăng, tr. 5.  
12 Văn kiện Đại hội Đại biểu Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng, lần thứ  
VIII nhiệm kỳ (2017-2022), Sóc Trăng, tr. 9.  
13 Ban Dân vận Trung ương (2014), Tài liệu Tọa đàm Tổ chức và hoạt động của  
Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước trong Phật giáo Nam tông Khmer - Thực trạng và  
giải pháp, Cần Thơ, tr. 33.  
14 Hội ĐKSSYN tỉnh Kiên Giang (2016), Báo cáo tổng kết công tác hoạt động năm  
2015 và phương hướng hoạt động năm 2016, Kiên Giang, tr. 8.  
15 Ban Dân vận Trung ương - Cơ quan Thường trú tại Tp. Hồ Chí Minh (2013),  
Báo cáo thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước  
trong Phật giáo Nam tông Khmer, Tp. Hồ Chí Minh, tr. 9.  
16 Ban Dân vận Trung ương (2014), Tài liệu Tọa đàm Tổ chức và hoạt động của  
Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước trong Phật giáo Nam tông Khmer - Thực trạng và  
giải pháp, Cần Thơ, tr. 69.  
17 Báo cáo tình hình, kết quả công tác phát huy vai trò người có uy tín trong phong  
trào Toàn dân bảo vệ Tổ quốc khu vực Tây Nam Bộ giai đoạn 2008 - 2014, Hà  
Nội, 2014, tr. 8-9.  
18 Nguyễn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khơ Me Nam Bộ (những vấn đề nhìn  
lại), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 240-241.  
19 Lê Hoàng Việt Lâm (2017), “Phát huy vai trò của người uy tín góp phần đảm  
bảo an ninh vùng dân tộc Khmer ở vùng Tây Nam Bộ” trong Kỷ yếu Hội thảo  
khoa học: Những vấn đề dân tộc ở vùng Tây Nam Bộ trong bối cảnh toàn cầu  
hóa, hội nhập khu vực và quốc tế do Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ tổ  
chức, Cần Thơ, tr. 386.  
20 Trần Hồng Liên (2014), “Sự chuyển đổi tôn giáo trong người Khmer ở tỉnh Trà  
Vinh”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 05 (131), tr. 47-52.  
21 Lê Quốc Lý (2017), Chính sách đối với Phật giáo Nam tông Khmer và đồng bào  
Khmer vùng Tây Nam Bộ, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự Thật, Hà Nội, tr. 230 -231.  
22 Nguyễn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khmer Nam Bộ - Những vấn đề nhìn lại,  
Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 95.  
23 Ngô Đức Thịnh (2006), Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, Nxb.  
Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 785.  
24 Báo cáo Tổng kết 25 năm thực hiện Chỉ thị 68-CT/TW, ngày 18/4/1991 của Ban  
Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơme  
của các địa phương: Bạc Liêu, Cà Mau, Vĩnh Long, Cần Thơ.  
25 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh (2018),  
Kỷ yếu Tọa đàm Khoa học Việt Nam – Thái Lan: Đối thoại văn hóa vùng, Tp.  
Hồ Chí Minh, tr. 213-227.  
26 Ban Cán sự Đảng ủy Ban Dân tộc (2017), Báo cáo Tổng kết 25 năm thực hiện  
Chỉ thị 68-CT/TW, ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI)  
về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơme, số 108, Hà Nội, tr. 14.  
27 Phạm Thanh Hằng (2018), “Biến động trong các tôn giáo ở Trung Quốc và  
những tác động của nó đến đời sống xã hội”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 07 (175),  
tr. 128.  
56  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
28 Nguyễn Phú Lợi (2018), “Một số lý thuyết nghiên cứu tôn giáo đương đại”,  
Nghiên cứu Tôn giáo, số 02 (170), tr. 11.  
29 Nguyễn Phú Lợi (2018), “Một số lý thuyết nghiên cứu tôn giáo đương đại”, Bđd, tr. 11.  
30 V. I. Lênin (1977), Toàn tập, tập 42, Nxb. Tiến bộ, Matxccơva (Nga), tr. 336.  
31 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 104.  
32 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 119.  
33 Hồ Chí Minh (2010), Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội,  
tr. 452.  
34 Thang Văn Phúc (2002), Vai trò của các hội trong đổi mới và phát triển đất  
nước, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 42.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ (2014), Tổng kết năm 2013 và chương trình công tác  
năm 2014, số 155, Cần Thơ.  
2. Ban Cán sự Đảng ủy Ban Dân tộc (2017), Báo cáo Tổng kết 25 năm thực hiện  
Chỉ thị 68-CT/TW, ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI)  
về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơme, số 108, Hà Nội.  
3. Ban Dân vận Thành ủy Cần Thơ (04 /7/2013), Báo cáo thực trạng, tổ chức hoạt,  
động của Hội ĐKSSYN trong Phật giáo Nam tông Khmer, số 134, Cần Thơ.  
4. Ban Dân vận Tỉnh ủy Sóc Trăng (2013), Báo cáo thực trạng, tổ chức hoạt, động  
của Hội ĐKSSYN trong Phật giáo Nam tông Khmer, số 186, Sóc Trăng.  
5. Ban Dân vận Trung ương (2006), Báo cáo Tổng kết việc tổ chức thực hiện Chỉ  
thị 68-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) về công tác ở vùng  
đồng bào dân tộc Khmer”, số 03, Hà Nội.  
6. Ban Dân vận Trung ương - Cơ quan Thường trú tại TP. Hồ Chí Minh (2013),  
Báo cáo thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước  
trong Phật giáo Nam tông Khmer, Tp. Hồ Chí Minh.  
7. Ban Dân vận Trung ương (2014), Tài liệu Tọa đàm Tổ chức và hoạt động của  
Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước trong Phật giáo Nam tông Khmer - Thực trạng và  
giải pháp, Cần Thơ.  
8. Ban Dân vận Tỉnh ủy Trà Vinh (2013), Báo cáo thực trạng, tổ chức hoạt động  
của Hội ĐKSSYN trong Phật giáo Nam tông Khmer, số 23, Trà Vinh.  
9. Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và Thành ủy Cần Thơ  
(2014), Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,  
nông thôn vùng ĐBSCL - 30 năm nhìn lại, Cần Thơ.  
10. Bộ Công an (2014), Báo cáo tình hình, kết quả công tác phát huy vai trò người  
có uy tín trong phong trào Toàn dân bảo vệ Tổ quốc khu vực Tây Nam Bộ giai  
đoạn 2008 - 2014, số 486, Hà Nội.  
11. Nguyễn Mạnh Cường - Nguyễn Minh Ngọc (2004), Tôn giáo - Tín ngưỡng của  
các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Phương Đông.  
12. Nguyễn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khơ Me Nam Bộ - Những vấn đề nhìn  
lại, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.  
13. Nguyễn Mạnh Cường (2008), Vài nét về người Khmer Nam Bộ, Nxb. Khoa học  
xã hội, Hà Nội.  
56  
Bạch Thanh Sang. Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước…  
57  
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/01/2018 của  
Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường công tác ở vùng đồng  
bào dân tộc Khơ- me trong tình hình mới, Hà Nội.  
15. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2018), Tài liệu Hội nghị chuyên đề Phật giáo Nam  
tông Khmer lần thứ VIII, Tp. Hồ Chí Minh.  
16. Phạm Thanh Hằng (2018), “Biến động trong các tôn giáo ở Trung Quốc và  
những tác động của nó đến đời sống xã hội”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 07 (175).  
17. Võ Thị Hồng Hoa (2014), “Tăng cường đảm bảo quốc phòng an ninh vùng đồng  
bào dân tộc thiểu số ở Tây Nam Bộ (1986 -2006)”, Lịch sử Đảng, Hà Nội.  
18. Hội ĐKSSYN tỉnh Kiên Giang (2016), Báo cáo tổng kết công tác hoạt động năm  
2015 và phương hướng hoạt động năm 2016, Kiên Giang.  
19. Hội ĐKSSYN tỉnh ủy Vĩnh Long (2015), Văn kiện Đại hội Hội ĐKSSYN tỉnh  
Vĩnh Long, lần thứ II, nhiệm kỳ 2014 -2019, Vĩnh Long.  
20. Hội ĐKSSYN tỉnh Hậu Giang (2017), Báo cáo tổng kết hoạt động Phật sự - Xã  
hội cuối năm 2016 và phương hướng công tác nhiệm vụ Phật sự sáu tháng đầu  
năm 2017, Hậu Giang.  
21. Trần Hồng Liên (1966), Phật giáo Nam bộ từ thế kỷ 17 đến 1975, Nxb. Thành  
phố Hồ Chí Minh.  
22. Trần Hồng Liên (2014), “Sự chuyển đổi tôn giáo trong người Khmer ở tỉnh Trà  
Vinh”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 05 (131).  
23. Nguyễn Phú Lợi (2018), “Một số lý thuyết nghiên cứu tôn giáo đương đại”,  
Nghiên cứu Tôn giáo, số 02 (170).  
24. Lê Quốc Lý (2017), Chính sách đối với Phật giáo Nam tông Khmer và đồng bào  
Khmer vùng Tây Nam Bộ, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự Thật, Hà Nội.  
25. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2010.  
26. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3, 10, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011.  
27. Thang Văn Phúc (2002), Vai trò của các hội trong đổi mới và phát triển đất  
nước, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
28. Bạch Thanh Sang (2018), “Cộng đồng Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ với  
phong trào giải phóng dân tộc và giữ gìn bản sắc văn hóa tôn giáo”, Nghiên cứu  
Tôn giáo, số 07 (175).  
29. Ngô Đức Thịnh (2006), Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, Nxb.  
Khoa học xã hội, Hà Nội.  
30. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh ( 2018),  
Kỷ yếu tọa đàm khoa học Việt Nam - Thái Lan: Đối thoại văn hóa vùng, Tp. Hồ  
Chí Minh.  
31. Văn kiện Đại hội Đại biểu Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng, lần thứ  
VIII nhiệm kỳ (2017-2022), Sóc Trăng.  
32. Văn kiện Đại hội Đại biểu Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước tỉnh Trà Vinh, lần thứ  
VII nhiệm kỳ (2018-2023), Trà Vinh.  
33. Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ ( 2017), Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Những  
vấn đề dân tộc ở vùng Tây Nam bộ trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập khu  
vực và quốc tế, Cần Thơ.  
34. V. I. Lênin Toàn tập, tập 42, Nxb. Tiến bộ, Matxccơva, 1977.  
58  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Abstract  
SOLIDARITY ASSOCIATION OF PATRIOTIC MONKS IN  
THE SOUTH WEST PART OF THE SOUTH VIETNAM WITH  
ACTIVITIES TOWARDS SOCIAL LIFE AND PROBLEMS  
Bach Thanh Sang  
Ho Chi Minh National Academy of Politics  
Solidarity association of patriotic monks in the Southwest was an  
organization of Khmer Theravada Buddhist monks. It was established  
by policy of the South West Regional Committee. In the period of  
1964-1975, the Association was considered as a socio-political  
organization to participate in supporting the national liberation and  
unification movement. Since 1991, the Association has been similar a  
social-political organization with the activities on the aspect of social  
life. Over 25 years of consolidation, re-establishment, the Association  
has promoted the role of gathering, mobilizing monks and Khmer  
Buddhists to strictly follow the guidelines and policies of the Party  
and the laws of the State. And it has achieved many practical results.  
However, in this article, the author just mentions some activities  
towards social life in order to affirm the status and role of the  
Association of the Khmer community in the Southwest region in the  
context of international integration.  
Keywords: Solidarity Association of Patriotic Monks; Khmer;  
Southwest; Vietnam.  
58  
pdf 20 trang baolam 24860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hội đoàn kết sư sãi yêu nước vùng Tây Nam Bộ với các hoạt động hướng đến đời sống xã hội và vấn đề đặt ra", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoi_doan_ket_su_sai_yeu_nuoc_vung_tay_nam_bo_voi_cac_hoat_do.pdf