Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất các sản phẩm thủ công của hộ gia đình tại làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY
ISSN 2588-1256
Vol. 5(2)-2021:2392-2401
THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT CÁC SẢN
PHẨM THỦ CÔNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH TẠI LÀNG NGHỀ ĐỆM BÀNG PHÒ
TRẠCH, HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Trần Cao Úy*, Nguyễn Thiện Tâm, Lê Văn Nam, Nguyễn Ngọc Truyền,
Dương Ngọc Phước, Nguyễn Trọng Dũng, Lê Việt Linh
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
*Tác giả liên hệ: [email protected].vn
Nhận bài: 01/12/2020
Hoàn thành phản biện: 19/03/2021
Chấp nhận bài: 24/07/2021
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng và các yếu tố tác động đến sản xuất
các sản phẩm thủ công làm từ cây cỏ Bàng (Lepironia actiulata) thông qua phỏng vấn những người am
hiểu cùng 60 hộ gia đình tại làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch. Kết quả nghiên cứu cho thấy sản phẩm
đệm bàng được sản xuất bởi các hộ cá thể với khoảng 1,21 lao động/hộ, chủ yếu là lao động nữ lớn tuổi.
Sản phẩm chính của làng gồm chiếu (khổ từ 1,2 - 1,6 m), đệm, chẹ và các sản phẩm mỹ nghệ. Trong số
các sản phẩm này, đệm, chẹ và chiếu kích thước nhỏ là phổ biến nhất và chủ yếu được tiêu thụ bởi
những người thu gom nhỏ. Chi phí sản xuất, giá bán và thu nhập từ một đơn vị sản phẩm khác nhau tùy
thuộc vào chất lượng nguyên liệu, độ dày bền và độ tinh xảo. Làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch được
duy trì và phát triển được nhờ tính truyền thống, nguồn nguyên liệu sẵn có, khả năng tạo thu nhập ổn
định, phù hợp với người già và phụ nữ. Trong khi đó, sản xuất đệm bàng cũng đang gặp nhiều yếu tố
cản trở như khó sản xuất nguyên liệu đầu vào, thiếu lao động kế thừa, thị trường tiêu thụ nhỏ, thu nhập
và năng suất lao động thấp, thiếu hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Từ khóa: Đệm bàng, Phò Trạch, Thủ công truyền thống
CURRENT SITUATION AND FACTORS AFFECTING THE PRODUCTION
OF HANDCRAFT PRODUCTS BY HOUSEHOLDS IN DEM BANG PHO
TRACH TRADITIONAL CRAFT VILLAGE, PHONG DIEN DISTRICT, THUA
THIEN HUE PROVINCE, VIETNAM
Tran Cao Uy*, Nguyen Thien Tam, Le Van Nam, Nguyen Ngoc Truyen,
Duong Ngoc Phuoc, Nguyen Trong Dung, Le Viet Linh
University of Agriculture and Forestry, Hue University
ABSTRACT
This study was implemented to explore the production status and factors impacting on the craft
products made from Bang grass (Lepironia articulata) by interviewing 60 households in Dem Bang Pho
Trach traditional craft village. Results revealed that the craft products were made by individual
households with about 1.21 labors/household, mostly by elder female workers. The main products of
the village included mat (width 1.2 to 1.6 m), cushion, cradle pad and handicrafts. Among these
products, cushion, cradle pad and small size mats were the most popular and mainly consumed by small
collectors. Production cost, sale price and earning from a product varied depending on its raw material
quality, thickness, durability and sophistication. Dem Bang Pho Trach craft village has been maintained
and developed due to its traditionality, availability of materials, the potential to yield stable income, and
the suitability for the elder and women. Meanwhile, the craft product production was also facing many
hindering factors such as difficulty in producing input materials, shortage of inherited labor, small
consumption market, low income and labor productivity, and lack of cooperation in the products’
production and consumption.
Keywords: Bang mat, Pho Trach, Traditional craft
2392
Trần Cao Úy và cs.
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP
ISSN 2588-1256
Tập 5(2)-2021: 2392-2401
1. MỞ ĐẦU
số làng nghề thủ công trên cả nước nhưng qua
các số liệu thống kê và các kết quả nghiên cứu
trước đây cho thấy làng nghề thủ công luôn có
một vị trí quan trọng trong cơ cấu làng nghề
truyền thống ở nước ta. Mặc dù vậy, phát triển
làng nghề thủ công truyền thống cũng đang
gặp khá nhiều thách thức trong bối cảnh cơ
cấu ngành nghề của nhiều địa phương đang
chuyển dịch theo hướng khuyến khích mở
rộng các hoạt động sinh kế mới để nâng cao
thu nhập cho người dân.
Nghề thủ công truyền thống là một
loại hình ngành nghề sản xuất phổ biến và
xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới. Ngành nghề thủ công của một quốc gia
trưng bày lịch sử văn hóa nghệ thuật văn
hóa phong phú của quốc gia đó (Kaur,
2011). Trên thế giới cũng như ở nước ta, có
rất nhiều định nghĩa khác nhau về nghề thủ
công truyền thống. Chẳng hạn như Fabeil và
cs. (2014) cho rằng nghề thủ công truyền
thống là những nghề tạo ra các sản phẩm
làm bằng tay có tính thu hút về nghệ thuật
và văn hóa từ những vật liệu, thiết kế và tay
nghề của người lao động. Trong khi đó,
Rogerson lại cho rằng nghề thủ công phải
có tối thiểu 80% giá trị thành phẩm được
làm bằng tay từ các nguyên liệu khác nhau
như sợi tự nhiên, đất sét, tre, gỗ hoặc các vật
liệu tái chế (Redzuan & Aref, 2009). Ở
nước ta, khái niệm nghề thủ công truyền
thống đó là nghề sản xuất hoàn toàn hay một
phần bằng chân tay những vật dụng trang
trí, tiêu dùng, đòi hỏi các kỹ năng tay chân
và kỹ năng nghệ thuật, được truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác, thường áp dụng
trong sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ. Nghề
thủ công thường được chia thành nhiều lĩnh
vực như: văn hóa tinh thần; sản xuất, chế
biến hàng tiêu dùng; chế biến lương thực
thực phẩm… (Trần Minh Yến, 2003).
Làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch
thuộc xã Phong Bình, huyện Phong Điền,
tỉnh Thừa Thiên Huế là làng nghề truyền
thống ra đời từ khoảng hơn 500 năm trước.
Làng nghề đã được UBND tỉnh Thừa Thiên
Huế ra quyết định công nhận làng nghề vào
năm 2014. Các sản phẩm của làng nghề được
làm từ cây cỏ Bàng (Lepironia articulata),
một loại cây cỏ có họ hàng với cây lác hay
cây cói, thường mọc hoặc được người dân
trồng ở các vùng trũng có nước. Hoạt động
của làng nghề từ trước đến nay đã thu hút
được sự tham gia của nhiều lao động trẻ em,
phụ nữ và người già, tạo thêm thu nhập cho
người dân, đặc biệt trong thời gian nhàn rỗi.
Lịch sử phát triển của nghề đan đệm bàng
Phò Trạch cũng đã trải qua nhiều thời kỳ và
giai đoạn thịnh vượng nhất phải kể đến
những năm 80 của thế kỷ XX khi làng nghề
nhận đan các sản phẩm để làm bao bì cho
hàng xuất khẩu sang các nước Đông Âu. Sau
khi Liên Xô tan rã do không còn thị trường
nên làng nghề cũng bắt đầu đi xuống từ đó.
Người dân trong làng quay trở lại sản xuất
các sản phẩm truyền thống của mình như:
Tấm đệm, chiếu, chẹ (tấm lót nôi cho trẻ),
Mũ đội đầu, túi đi chợ,… như một hình thức
duy trì nghề của cha ông và để kiếm thêm thu
nhập hàng ngày.
Phát triển các làng nghề và các nghề
thủ công truyền thống ở nông thôn đang là chủ
trương chung của cả nước và là hướng đi tích
cực để góp phần giải quyết việc làm, nâng cao
thu nhập, khai thác các nguồn lực địa phương,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông
thôn và bảo tồn các giá trị văn hóa cũng như
phát triển du lịch ở các khu vực nông thôn
nước ta hiện nay. Theo thống kê của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến năm
2018 cả nước có khoảng 5.411 làng nghề và
làng có nghề (Nguyễn Minh Phong, 2018).
Tuy chưa có thống kê đầy đủ và cập nhật về
Cũng như nhiều làng nghề khác trong
cả nước, làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch
đang đối diện với rất nhiều thách thức trong
quá trình phát triển. Số lượng hộ và lao động
2393
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY
ISSN 2588-1256
Vol. 5(2)-2021:2392-2401
tham gia vào nghề đan lát ngày càng giảm,
thị trường đầu ra đang bị cạnh tranh bởi các
sản phẩm công nghiệp; liên kết trong sản
xuất và tiêu thụ kém; thu nhập của lao động
từ ngành nghề thấp và thiếu ổn định là những
vấn đề cơ bản có thể thấy được ở làng nghề
này. Mặc dù vậy, đến nay vẫn chưa có
nghiên cứu nào được tiến hành để phản ánh
đầy đủ thực trạng hoạt động, cũng như các
yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của
làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch. Nghiên cứu
này được tiến hành với mục tiêu: (i) tìm hiểu
thực trạng sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm
đệm bàng của các hộ gia đình ở làng nghề
Đệm Bàng Phò Trạch và (ii) phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
đệm bàng của các nông hộ ở làng nghề. Kết
quả nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp cho các
nhà nghiên cứu, các cơ quan chức năng cơ sở
khoa học để phát triển các giải pháp và chính
sách hỗ trợ làng nghề phát triển tốt hơn trong
thời gian tới.
nghề để tìm hiểu các nội dung liên quan đến
quá trình sản xuất và tiêu thụ; các khó khăn,
thuận lợi và các yếu tố ảnh hưởng đến sự
phát triển nghề đan đệm bàng... Phỏng vấn
ngẫu nhiên 60 hộ làm nghề đệm bàng bằng
bảng hỏi bán cấu trúc để nắm bắt về thực
trạng sản xuất; tình hình lao động tham gia;
tình hình thị trường tiêu thụ; và các yếu tố
ảnh hưởng đến phát triển nghề đệm bàng
của hộ.
2.2. Xử lý và phân tích số liệu
Các số liệu nghiên cứu được tổng hợp
và xử lý bằng phần mềm SPSS 22. Các
thông số thống kê mô tả đã được sử dụng để
trình bày số liệu xử lý như: tần suất, tỷ lệ
phần trăm (%), giá trị trung bình và độ lệch
chuẩn.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khái quát về hiện trạng hoạt động
của làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch
Làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch hiện
nay có 4 thôn, bao gồm: Đông Mỹ, Tây Phú,
Triều Quý và Trung Thạnh với khoảng 630
hộ, 2.740 nhân khẩu và 1.380 lao động (lao
động nữ chiếm khoảng 47%). Theo thống
kê từ văn phòng UBND xã Phong Bình thì
hiện nay làng nghề hiện có hơn 120 hộ và
250 người đang tham gia sản xuất, trong đó
có khoảng 35 hộ có thu nhập chính từ nghề
này. Các hộ làm nghề tập trung đông nhất ở
thôn Đông Mỹ. Lao động tham gia làm nghề
đệm bàng ở Phò Trạch hiện nay đa phần là
những người già và phụ nữ. Trình độ lao
động chủ yếu chưa qua đào tạo và tay nghề
có được thông qua việc truyền nối từ những
người đi trước. Nguồn nguyên liệu đầu vào
100% được trồng tại địa phương, với tổng
diện tích đất trồng cỏ Bàng trên toàn xã có
khoảng 8,4 ha.
2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này tập trung vào 2 nội
dung chính, đó là: i) Thực trạng sản xuất
đệm bàng của các hộ gia đình trong làng
nghề Đệm Bàng Phò Trạch; và ii) Các yếu
tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất sản
phẩm đệm bàng Phò Trạch. Trên cơ sở đó,
một số phương pháp thu thập thông tin, xử
lý và phân tích số liệu đã được tiến hành như
sau:
2.1. Thu thập thông tin
Nghiên cứu đã tiến hành thu thập các
số liệu thứ cấp thông qua các báo cáo của
địa phương liên quan đến hoạt động của
làng nghề để nắm thông tin tổng quan về
nghề đan đệm bàng Phò Trạch. Các số liệu
sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn
người am hiểu và phỏng vấn hộ. Nghiên cứu
đã tiến hành phỏng vấn 3 người am hiểu
gồm 1 cán bộ cấp xã (Phó Chủ tịch UBND
xã) và 2 nghệ nhân có nhiều năm kinh
nghiệm làm nghề đan đệm bàng của làng
Về tổ chức sản xuất, từ trước đến nay
phần lớn hoạt động của làng nghề được tổ
chức dưới dạng các hộ gia đình tự chủ sản
xuất. Từ năm 2014 - 2016 các hoạt động của
2394
Trần Cao Úy và cs.
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP
ISSN 2588-1256
Tập 5(2)-2021: 2392-2401
làng nghề được vận hành và quản lý bởi
Hợp tác xã (HTX) Đệm Bàng Phò Trạch
(khoảng 250 thành viên). Tuy nhiên, từ sau
năm 2016 HTX Đệm Bàng Phò Trạch bị
giải thể do hoạt động không hiệu quả, nghề
đệm bàng quay trở về sản xuất theo quy mô
hộ gia đình. Đến nay, hoạt động đan lát chủ
yếu được thực hiện bởi các hộ riêng lẻ mà
không có sự liên kết nào chính thống. Làng
nghề cũng chưa có khu trưng bày giới thiệu
các sản phẩm và liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Các sản phẩm của làng nghề được giới thiệu
và bán ra bên ngoài địa phương chủ yếu nhờ
một nghệ nhân trong làng - người này có
nhiều năm gắn bó với nghề và thường xuyên
tìm tòi các mẫu mã mới để sản xuất hoặc đặt
hàng cho các hộ khác trong làng nghề sản
xuất. Đối với các hộ khác, sản phẩm sản
xuất chủ yếu là đệm chiếu và đệm chẹ và
thường bán tại thị trường địa phương.
Bảng 1 cho thấy, những hộ làm nghề
đệm bàng chủ yếu là những người lớn tuổi
(trên dưới 60 tuổi) với trình độ học vấn thấp
(chưa học hết tiểu học). Hầu hết các hộ làm
nghề đan đệm bàng đều có chủ hộ là nam
giới (68,89%) và có số lao động gia đình
thấp (khoảng 2 - 3 lao động), phần lớn trong
số họ là vợ chồng già do con cái đều đã tách
hộ ở riêng. Lao động nữ chiếm số lượng lớn
hơn lao động nam và nghề đan đệm bàng
được xem là nghề chính của các lao động nữ
của nông hộ (khoảng 1,21 lao động).
Điểm đáng chú ý khác của các hộ
tham gia làm nghề đan đệm bàng là tỷ lệ hộ
nghèo và cận nghèo ở nhóm hộ ngành nghề
tương đối cao so với mức bình quân chung
ở khu vực đồng bằng tỉnh Thừa Thiên Huế
(11,67% và 6,67%), một số hộ thậm chí còn
được xếp vào nhóm nghèo thuộc bảo trợ xã
hội. Qua những đặc điểm này có thể thấy,
việc duy trì nghề đan đệm bàng cũng được
giải thích một phần bởi yếu tố tạo thu nhập
do hoàn cảnh đặc thù của các hộ này.
3.2. Đặc điểm hộ tham gia nghề đan đệm
bàng ở làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch
Bảng 1. Đặc điểm về cơ cấu thu nhập của nông hộ (n=60)
(Đơn vị tính: triệu đồng)
Nguồn thu nhập
Nông nghiệp
Tiểu thủ công nghiệp
Nguồn thu khác
Tổng thu nhập
Trung bình (triệu đồng)
Độ lệch chuẩn
20.722,26
6.425,89
50.482,78
56.026,78
Cơ cấu (%)
27,24
19.713,33
14.671,11
37.996,44
67.380,89
20,27
52,49
100
Nguồn: Phỏng vấn hộ (2019)
3.3. Thực trạng sản xuất đệm bàng của
các hộ gia đình trong làng nghề Đệm
Bàng Phò Trạch
Về thu nhập, các nguồn thu của hộ có
thể chia thành 3 nhóm (Bảng 1), gồm:
nguồn thu từ nông nghiệp (bao gồm các
hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng
thủy sản); nguồn thu từ tiểu thủ công nghiệp
(từ nghề đệm bàng) và nguồn thu khác
(buôn bán dịch vụ, làm thuê, lương…).
Bình quân thu nhập hàng năm của hộ
khoảng 67,380 triệu đồng, trong đó thu
nhập từ nghề đan đệm bàng đạt khoảng
14,67 triệu đồng. Xét trên cơ cấu nguồn thu,
thu nhập từ đệm bàng đã chiếm một tỷ lệ
đáng kể trong cơ cấu thu nhập của hộ
(khoảng 20,27%).
3.3.1. Nguồn nguyên liệu đầu vào
Để tạo ra các sản phẩm của làng
nghề, nguồn nguyên liệu duy nhất được sử
dụng là thân cây cỏ Bàng khô, được giã dập
thành sợi mỏng và sử dụng để đan thành các
sản phẩm. Hiện nay, 100% nguồn nguyên
liệu được trồng bởi các hộ gia đình tại địa
phương với diện tích trung bình khoảng 160
m2/hộ, hộ trồng nhiều nhất khoảng 500 m2.
Gần đây, một số hộ đã chuyển đổi từ đất lúa
kém hiệu quả sang trồng cỏ Bàng nguyên
2395
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY
ISSN 2588-1256
Vol. 5(2)-2021:2392-2401
liệu để bán cho các hộ sản xuất trong địa
phương.
hộ sản xuất ở địa phương do qua nhiều năm
kinh nghiệm họ có thể đánh giá được chất
lượng các bó cỏ Bàng nguyên liệu bằng mắt
thường để có sự định giá chính xác.
Đối với cỏ Bàng nguyên liệu, người
dân không dùng các đơn vị đo lường thông
thường mà đều tự ước lượng theo đơn vị
“nối”. Theo đó, mỗi nối gồm 6 bó, mỗi bó
gồm 4 nắm (nắm được ước lượng bằng 2
bàn tay người lớn gom lại, đủ để đan 1 chiếc
chiếu 1,4 m). Sở dĩ người dân bán theo nối
mà không bán theo bó hoặc theo nắm bởi vì
trong mỗi nối như vậy có cả sợi cỏ Bàng
ngắn và sợi cỏ Bàng dài, người mua khi mua
về có thể phân loại và sử dụng vào các mục
đích đan khác nhau (đệm lát, chiếu ngắn,
chiếu dài hoặc chẹ…). Theo giá bán hiện
nay, mỗi nối cỏ Bàng có giá từ 300 - 350
nghìn đồng tùy vào chất lượng nguyên liệu.
Qua khảo sát cho thấy, mặc dù không có các
đơn vị đo lượng cụ thể cho việc mua và bán
các nguồn nguyên liệu đầu vào, nhưng đây
cũng không phải là vấn đề lớn đối với các
3.3.2. Các sản phẩm và số lượng sản xuất
trung bình của hộ gia đình trong làng nghề
Đối với làng nghề Đệm Bàng Phò
Trạch, các sản phẩm đệm lát, chiếu và chẹ
vẫn là những mặt hàng phổ biến nhất được
sản xuất bởi các hộ gia đình (Bảng 2). Số hộ
và số lượng sản phẩm được sản xuất ở từng
loại sản phẩm tương đối khác nhau. Trong
đó, sản phẩm chẹ có 39/45 hộ tham gia và
trung bình mỗi tháng hộ đan được khoảng
80 cái (+ 43,64 cái). Tiếp đến là sản phẩm
đệm lát với 23 hộ tham gia với số lượng sản
xuất trung bình là 17,7 cái/hộ/tháng (+
10,56 cái). Đặc điểm chung của các sản
phẩm này là dễ đan, đòi hỏi về chất lượng
nguồn nguyên liệu không quá cao và nhu
cầu thị trường tương đối ổn định.
Bảng 2. Số lượng các sản phẩm được sản xuất trung bình mỗi tháng của hộ (n=60)
Số lượng sản phẩm sản xuất/tháng
Loại sản phẩm
Số hộ sản xuất
Trung bình
17,70
3,67
Độ lệch chuẩn
Đệm lát
31
31
24
7
52
16
10,56
4,93
Chiếu 1,2 m
Chiếu 1,4 m
Chiếu >1,4 m
Chẹ
3,22
4,39
2,20
1,64
79,92
36,00
43,64
33,32
Sản phẩm khác
Nguồn: Phỏng vấn hộ (2019)
Đối với các sản phẩm chiếu, khổ
chiếu càng lớn thì càng ít hộ sản xuất và số
lượng sản xuất hàng tháng càng ít. Trung
bình mỗi tháng các hộ sản xuất từ 3 - 4 chiếc
đối với chiếu từ 1,2 - 1,4 m và 2 chiếc đối
với chiếu > 1,4 m. Mặc dù đây là sản phẩm
truyền thống của làng nghề nhưng do chịu
sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm thay
thế như chiếu nhựa, chiếu trúc… nên sức
tiêu thụ tương đối thấp, các hộ chủ yếu sản
xuất theo đặt hàng khách lẻ. Cùng với đó,
thời gian tiêu tốn cho sản xuất 1 sản phẩm
chiếu lớn hơn nhiều so với các sản phẩm
khác (từ 8 - 10 giờ đối với sản phẩm chiếu
1,2 - 1,4 m và 14 giờ đối với chiếu > 1,4 m)
nên đây cũng được xem là một trong những
yếu tố cản trở đến việc sản xuất sản phẩm
chiếu của các hộ hiện nay.
Đối với các sản phẩm khác như: túi
xách, bị, mũ, lồng đèn,...số lượng sản phẩm
sản xuất trung bình mỗi tháng/hộ tương đối
lớn (36 + 33,32 sản phẩm). Tuy nhiên, đây
là những sản phẩm đòi hỏi người đan phải
có tay nghề cao, đồng thời các hộ sản xuất
dưới dạng sản phẩm thô qua đơn đặt hàng
của 1 nghệ nhân trong làng nghề nên lợi
nhuận trên đơn vị sản phẩm nhóm này thấp
hơn các sản phẩm khác. Đây là lý do chỉ
16/60 hộ được phỏng vấn có sản xuất các
sản phẩm này. Trên thực tế, nếu được tổ
2396
Trần Cao Úy và cs.
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP
ISSN 2588-1256
Tập 5(2)-2021: 2392-2401
chức tốt dưới hình thức liên kết sản xuất và
đầu tư thêm một số máy móc hỗ trợ thì các
hộ hoàn toàn có thể cùng nhau sản xuất ra
các sản phẩm mỹ nghệ hoàn thiện để nâng
cao lợi nhuận thu được.
bán những sản phẩm này thường cao hơn
sản phẩm chiếu khổ nhỏ khá nhiều. Trung
bình mỗi sản phẩm chiếu 1,6 m có giá bán
238,75 nghìn đồng (+ 5,86 nghìn đồng) và
mang lại thu nhập khoảng 166,25 nghìn
đồng (+ 31,63 nghìn đồng).
3.3.3. Chi phí, giá bán và thu nhập bình
quân đối với các loại sản phẩm làng nghề
Trong cùng 1 sản phẩm chiếu cùng
khổ (cùng chiều rộng), các sản phẩm chiếu
loại 1 thường được lựa chọn nguyên liệu kỹ
càng, được đan tỉ mỉ và có độ dày bền cao
hơn nhiều nên đã tăng chi phí sản xuất, tạo
nên giá bán và thu nhập cũng cao hơn so với
sản phẩm chiếu loại 2. Ở các sản phẩm
chiếu 1,2 m và 1,4 m, chi phí sản xuất chiếu
loại 1 cao hơn loại 2 khoảng 30-40 nghìn
đồng và thu nhập mang lại cũng có sự khác
biệt từ 90 - 110 nghìn. Sự dao động giá trị
trung bình về chi phí, giá bán cũng như thu
nhập từ các sản phẩm cùng loại ở các nông
hộ khá lớn xuất phát từ sự khác biệt về tay
nghề và độ tinh xảo của sản phẩm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chi phí
sản xuất, giá bán và thu nhập mang lại tương
đối khác nhau giữa các nhóm sản phẩm
(Bảng 3). Sự khác biệt này phụ thuộc khá
nhiều vào chất lượng nguyên liệu, độ dày
bền, kích cỡ và đặc biệt là độ tinh xảo của
sản phẩm.
Trước hết, đối với các sản phẩm
chiếu, sự khác biệt về chi phí sản xuất, giá
bán và thu nhập giữa các sản phẩm ngay
trong nhóm sản phẩm này khá lớn. Các sản
phẩm có kích cỡ lớn như chiếu chiếu > 1,4
m thường khó tìm nguyên liệu hơn nên chi
phí mua nguyên liệu cao, cùng với thời gian
để sản xuất ra 1 sản phẩm nhiều dẫn đến giá
Bảng 3. Chi phí, giá bán và thu nhập từ các sản phẩm đệm bàng của nông hộ (n=60)
(Đơn vị tính: nghìn đồng)
Chi phí sản xuất
Giá bán
Thu nhập/sản phẩm
Loại sản phẩm
Độ lệch
chuẩn
1,28
Độ lệch
chuẩn
2,46
Độ lệch
chuẩn
2,89
0,94
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Đệm lát
Chẹ
8,95
2,54
31,19
6,88
21,23
4,37
0,64
0,82
Chiếu 1,2 m
- Loại 1
- Loại 2
49,55
19,62
7,89
4,31
160,91
42,69
8,09
6,81
111,36
23,08
15,89
10,71
Chiếu 1,4 m
- Loại 1
- Loại 2
Chiếu >1,4 m
Sản phẩm khác
67,50
27,14
72,50
4,58
14,85
6,99
25,50
2,07
205,83
56,43
238,75
16,44
8,25
4,52
5,86
2,70
138,33
29,29
166,25
11,08
20,70
8,86
31,63
4,14
Nguồn: Phỏng vấn hộ (2019)
đồng để mang lại thu nhập 4,37 nghìn đồng.
Nếu so sánh với các sản phẩm chiếu thì mức
thu nhập trên 1 đơn vị sản phẩm của đệm lát
và chẹ thấp hơn rất nhiều. Trên thực tế, các
sản phẩm này thường sử dụng nguyên liệu
tận dụng từ các sợi cỏ Bàng ngắn, chất lượng
thấp được loại ra từ các bó bàng nguyên liệu
dùng để đan chiếu, kỹ thuật đan thô sơ nên
Đối với các sản phẩm như đệm lát và
chẹ, mặc dù có số lượng sản xuất/hộ/tháng
lớn nhưng chi phí sản xuất, giá bán cũng như
thu nhập mang lại từ nhóm sản phẩm này
tương đối thấp. Trung bình mỗi sản phẩm
đệm lát cần 8,95 nghìn đồng chi phí (chủ yếu
chi phí nguyên liệu) để mang lại thu nhập
khoảng 21,23 nghìn đồng. Trong khi đó, chi
phí cho mỗi sản phẩm chẹ chỉ 2,54 nghìn
2397
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY
ISSN 2588-1256
Vol. 5(2)-2021:2392-2401
chi phí sản xuất, giá bán và thu nhập mang
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết
lại thấp.
các sản phẩm của làng nghề đều được bán
cho những người thu gom nhỏ để bán ra thị
trường ngoài địa phương (chiếm 95%). Các
đối tượng thu gom này đã bán lại cho những
người thu gom ở chợ Đông Ba, chợ Sịa, chợ
Thủy Dương (Thừa Thiên Huế), chợ Diên
Sanh, chợ Quảng Trị (Quảng Trị) trước khi
sản phẩm được bán ra thị trường thông qua
các chủ sạp kinh doanh tại các chợ này. Một
số sản phẩm đệm lát được bán ra các thị
trường ở phía Bắc để làm nguyên liệu đầu
vào cho việc gia công các sản phẩm khác.
Tuy nhiên, số lượng bán ra theo hướng này
thường rất ít.
Với nhóm sản phẩm khác như túi
xách, mũ, bị, lồng đèn… do hầu hết các hộ ở
đây nhận làm gia công sản phẩm thô nên chi
phí thường thấp và giá bán được xác định là
phần chi trả công trên 1 đơn vị sản phẩm của
chủ thuê gia công. Chi phí sản xuất, giá bán
và thu nhập khác nhau đối với từng sản phẩm
nhưng sự khác biệt này thường không quá
lớn, thể hiện bởi phần lớn giá trị độ lệch
chuẩn trong các chỉ tiêu này khá nhỏ.
3.3.4. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng
nghề
Sơ đồ 1. Kênh tiêu thụ sản phẩm đệm bàng Phò Trạch
Nguồn: Phỏng vấn người am hiểu (2019)
Mặc dù chỉ chiếm 1 tỷ lệ nhỏ (khoảng
5%) nhưng những người thu gom bán tại địa
phương hoặc người tiêu dùng địa phương
cũng đóng một vai trò không nhỏ cho việc
duy trì các hoạt động đan lát đệm bàng ở làng
Phò Trạch. Việc đặt hàng (chủ yếu là sản
phẩm chiếu) rải rác quanh năm đã giúp các
hộ sản xuất có thêm động lực duy trì nghề
đan lát của mình nhờ có người tiêu thụ
thường xuyên.
3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
sản xuất sản phẩm đệm bàng Phò Trạch
3.4.1. Yếu tố ảnh hưởng thúc đẩy sự phát
triển làng nghề
Trong bối cảnh các làng nghề truyền
thống đang chịu sự cạnh tranh gay gắt của
các sản phẩm được chế tạo bằng máy móc
với độ tinh xảo và chính xác cao, giá thành
sản phẩm thấp thì sự tồn tại của nó phải gắn
với các yếu tố thuận lợi, mang tính thúc đẩy
cao.
Bảng 4. Các yếu tố thuận lợi thúc đẩy sự duy trì và phát triển nghề đệm bàng (n=60)
Yếu tố thuận lợi
Nghề truyền thống, lao động có kinh nghiệm
Tạo ra nguồn thu hàng ngày
Tỷ lệ hộ có ý kiến (%)
96,67
80,00
Công việc phù hợp với người già và phụ nữ
Chi phí đầu tư cho sản xuất thấp
Sản phẩm dễ cất giữ, bảo quản
73,33
66,67
58,33
Nguồn nguyên liệu tại chỗ
50,00
Công việc có thể làm quanh năm
46,67
Nguồn: Phỏng vấn hộ (2019)
2398
Trần Cao Úy và cs.
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP
ISSN 2588-1256
Tập 5(2)-2021: 2392-2401
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 yếu
tố chính đã tạo ra động lực thúc đẩy sự tồn tại
và phát triển của nghề đan đệm bàng ở làng
nghề Đệm Bàng Phò Trạch cho đến nay theo
ý kiến đánh giá của các hộ. Trong đó, nổi bật
nhất là các yếu tố thuộc về tính chất truyền
thống và kinh nghiệm của lao động (96,67%),
khả năng tạo ra nguồn thu hàng ngày (80%),
công việc phù hợp với người già và phụ nữ
(73,33%). Các yếu tố khác như: chi phí đầu tư
thấp, đặc điểm sản phẩm dễ bảo quản, cất giữ
hay nguồn nguyên liệu sẵn có cũng đã thu hút
trên 50% ý kiến người dân khi được hỏi về lý
do họ duy trì nghề đan đệm bàng ở Phò Trạch.
lớn tuổi ngoài việc phải mua nguyên liệu
thô từ các hộ khác còn phải thuê nhân công
đập (bằng cối giã) các sợi cỏ Bàng thô thành
các sợi cỏ Bàng thành phẩm để đưa vào đan
lát. Chính những khó khăn về sản xuất
nguyên liệu đã gây cản trở không nhỏ đến
quá trình sản xuất của các hộ gia đình làm
nghề hiện nay.
Đối với yếu tố lao động, yếu tố cản
trở lớn nhất hiện nay đó là số lượng lao động
tham gia vào nghề đan đệm bàng ngày càng
giảm và hầu như rất ít lao động trẻ tham gia.
Cùng với đó, lao động sản xuất hiện nay chủ
yếu dựa trên kinh nghiệm, ít được qua tập
huấn về để nâng cao tay nghề và tiếp cận
với các mẫu mã sản phẩm mới một cách
thường xuyên. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
có đến 56,66% số hộ chưa được tham gia
bất kỳ 1 lớp tập huấn nào về kỹ thuật đan
lát. Việc ít được tập huấn về kỹ thuật mới
khiến người lao động làng nghề chỉ biết
quanh quẩn bên những sản phẩm xưa nay
họ quen làm nên không tạo ra được tính
mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị
trường tiêu thụ.
Có thể thấy, hầu hết các yếu tố thuận
lợi thúc đẩy sự phát triển của làng nghề đều
đến từ đặc điểm nội tại của ngành nghề sản
xuất. Các yếu tố bên ngoài như chính sách,
thị trường, sự hỗ trợ từ bên ngoài… đều
chưa được người dân đề cập đến, bởi thực
tế các chính sách địa phương cũng chỉ mới
hướng đến việc quy hoạch vùng nguyên liệu
hoặc vận động người dân giữ nghề chứ chưa
có các hỗ trợ về trang thiết bị máy móc hay
hỗ trợ tìm kiếm thị trường… do những hạn
chế về nguồn lực ngân sách ở địa phương.
Đối với yếu tố đầu ra của sản phẩm, kết
quả nghiên cứu cho thấy: do thị trường đầu ra
nhỏ lẻ và chủ yếu bán cho các đối tượng thu
gom nhỏ nên sản lượng tiêu thụ hàng tháng
thấp. Giá bán thường phụ thuộc vào người
mua nên việc sản xuất nhiều cũng sẽ mang
đến khó khăn trong việc tiêu thụ do bị ép giá.
Bên cạnh đó, hầu hết các hộ tự xoay xở đầu ra
cho sản phẩm của mình và không có bất kỳ
một hợp đồng liên kết tiêu thụ nào cũng đã
trực tiếp làm cản trở đến hoạt động sản xuất
của người dân. Có thể nói, quy mô tiêu thụ
nhỏ lẻ và không có tính hợp đồng, liên kết
nhằm ổn định giá đã khiến nghề sản xuất đệm
bàng ở Phò Trạch qua thời gian dài vẫn chưa
thể nào vươn lên để trở thành nghề mũi nhọn
ở địa phương.
3.4.2. Các yếu tố cản trở đến hoạt động
sản xuất của làng nghề
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy,
việc phát triển sản xuất nghề đệm bàng hiện
nay đang chịu tác động cản trở của 4 nhóm
nhân tố chính, bao gồm: (i) sản xuất nguyên
liệu; (ii) lao động; (iii) sản phẩm và thị
trường đầu ra; (iv) liên kết sản xuất và tiêu
thụ.
Trước hết đối với nguồn nguyên liệu,
khó khăn lớn nhất là việc trồng, chăm sóc,
thu hoạch và sơ chế nguyên liệu ở làng nghề
Đệm Bàng Phò Trạch hiện nay hoàn toàn
bằng thủ công và lao động chân tay. Khoảng
26,67% số hộ đã cắt giảm diện tích trồng cỏ
Bàng của mình do thiếu lao động trồng,
chăm sóc và thu hoạch, để mua nguyên liệu
từ các hộ khác với chi phí cao hơn. Các hộ
Về yếu tố năng suất lao động và thu
nhập: do đặc thù sản phẩm đệm bàng hoàn
2399
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY
ISSN 2588-1256
Vol. 5(2)-2021:2392-2401
toàn làm thủ công, đan bằng tay nên năng suất
Chi phí sản xuất các sản phẩm tương
lao động rất thấp. Bình quân hàng ngày mỗi
lao động chỉ có thể đan xong 1 tấm chiếu khổ
nhỏ và bán với giá giao động trong khoảng
100.000 đồng. Đây là mức năng suất tạo ra
bởi các lao động ở độ tuổi trung bình và đã
khá lành nghề. Các lao động lớn tuổi hoặc
chưa lành nghề thường phải tiêu tốn nhiều
thời gian hơn. Bên cạnh đó, kết quả khảo sát
cũng cho thấy, đối với nghề đệm bàng, giá trị
ngày công lao động bình quân chỉ dao động
từ 50.000 - 80.000 đồng, thấp hơn nhiều so
với các ngành nghề phi nông nghiệp khác. Do
đó, hầu hết các lao động trẻ và lao động có sức
khỏe ít tham gia vào nghề này. Đây là một
thách thức lớn cho việc duy trì và phát triển
làng nghề trong tương lai.
đối khác nhau, do đó giá bán và thu nhập trên
1 đơn vị sản phẩm khác nhau khá rõ rệt. Thu
nhập cao nhất đến từ các sản phẩm chiếu
(khoảng từ 65.000 - 165.000 đồng tùy loại) và
thấp nhất là các sản phẩm chẹ (khoảng gần
4.500 đồng). Sự tồn tại và phát triển của nghề
đan đệm bàng chịu tác động tích cực bởi tính
chất truyền thống của nghề với đội ngủ lao
động có kinh nghiệm; phù hợp với đối tượng
người già, phụ nữ; có nguồn nguyện liệu tại
chỗ và có người thu mua tại chỗ; và nghề này
đã tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho lao động
địa phương. Trong khi đó, các yếu tố như: khó
khăn trong sản xuất nguồn nguyên liệu đầu
vào; những vấn đề liên quan đến nguồn lao
động; thị trường tiêu thụ nhỏ lẻ; năng suất lao
động và thu nhập thấp; chưa có các phương
thức hợp tác liên kết trong sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm đang là đang gây cản trở đến quá
trình sản xuất và phát triển của làng nghề Đệm
Bàng Phò Trạch hiện nay.
Về hợp tác và liên kết sản xuất, việc
thiếu một đơn vị có khả năng đứng ra tổ
chức các hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm hoặc đại diện cho làng nghề trong
việc giới thiệu, quảng bá các sản phẩm
khiến người dân chỉ có thể sản xuất những
sản phẩm truyền thống vốn có thị trường từ
trước. Đối với các sản phẩm mới hoặc các
sản phẩm mang tính kỹ nghệ cao, họ chỉ sản
xuất khi có đầu mối đặt hàng một cách chắc
chắn. Đây cũng được xem là yếu tố ảnh
hưởng phần nào lên quyết định sản xuất của
hộ đan đệm bàng ở làng nghề Đệm Bàng
Phò Trạch hiện nay.
Để thúc đẩy sự phát triển của làng
nghề, chính quyền địa phương cần phải chú
trọng hơn đến việc hỗ trợ quảng bá thương
hiệu, xúc tiến thương mại đối với các sản
phẩm làng nghề. Hàng năm cần hỗ trợ
nguồn vốn đào tạo nghề, tập huấn cho người
lao động để họ có thể nâng cao tay nghề và
đào tạo thêm được lớp lao động kế cận.
Cùng với đó, cần hỗ trợ nguồn vốn mua sắm
trang thiết bị phục vụ cho sản xuất của làng
nghề. Tiếp tục đẩy mạnh tổ chức các cuộc
thi và có chính sách khen thưởng cho những
nghệ nhân tiêu biểu và những người có công
trong công tác quảng bá sản phẩm làng nghề
ra bên ngoài. Các đơn vị như trường đại học,
viện nghiên cứu cần triển khai các đề tài
nghiên cứu về làng nghề, tư vấn về phương
thức hoạt động làng nghề có hiệu quả, tư
vấn về phương án sản xuất kinh doanh và
marketing sản phẩm cho các hộ làm nghề
đan đệm bàng ở trong làng nghề.
4. KẾT LUẬN
Làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch là
làng nghề truyền thống có từ lâu đời nhưng
đến nay các hoạt động sản xuất và bán sản
phẩm chủ yếu vẫn được thực hiện bởi các
hộ riêng lẻ. Các sản phẩm phổ biến nhất được
các hộ đang sản xuất hiện nay gồm: chiếu (từ
1,2 - 1,6 m), tấm đệm lát, chẹ (tấm lót nôi trẻ
em) và một số sản phẩm khác như túi xách,
bị, mũ… Trong đó, các sản phẩm như chẹ,
tấm đệm lót, chiếu có số hộ tham gia nhiều
nhất.
2400
Trần Cao Úy và cs.
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP
ISSN 2588-1256
Tập 5(2)-2021: 2392-2401
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu tiếng Việt
Ninh Công Chức. (2014). Phát triển làng nghề Cói
truyền thống ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Đại
học Quốc gia Hà Nội.
học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tạp chí Phát
triển Khoa học và Công nghệ, 18(X2), 119 -
125.
Tổng cục Thống kê. (2017). Báo cáo tóm tắt kết
quả chính thức tổng điều tra nông thôn, nông
nghiệp và thủy sản năm 2016.
Phạm Xuân Hậu và Trịnh Văn Anh. (2012). Giải
pháp phát triển bền vững làng nghề truyền
thống ở Việt Nam phục vụ du lịch. Tạp chí
Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí
Minh, (35), 10 - 17.
Trần Minh Yến. (2003). Làng nghề truyền thống ở
nông thôn Việt Nam trong quá trình Công
nghiệp hóa-Hiện đại hóa. Luận án tiến sĩ Kinh
tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
2. Tài liệu tiếng nước ngoài
Trần Văn Hòa và Lê Quang Trực. (2015). Phát
triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở Thừa
Thiên Huế. Tạp chí khoa học Đại học Huế,
109(10), 1 - 14.
Nguyễn Thị Thu Hường. (2014). Chính sách
nhà nước về phát triển làng nghề thủ công
mỹ nghệ Việt Nam. Luận án tiến sĩ Quản lý
Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
Đinh Xuân Nghiêm. (2010). Một số chính sách
chủ yếu phát triển bền vững làng nghề Việt
Nam. Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung
ương. Đề tài cấp Bộ.
Fabeil, N. F., Pazim, K. H., Marzuki, K. M. &
Langgat, J. (2014). The orientation of
handicraft entrepreneurs in Sabah: Their
personality characteristics and motivations,
2nd ASEAN Entrepreneurship Conference.
Kaur, K. (2011). Revival of Punjab’s traditional
handicraft:
Phulkari.
Asian
Journal
Management, 2(1), 28 - 38.
Redzuan, M. & Aref, F. (2009). Path-analysis
model of the development of handicraft (Batik)
industries in Kelantan, Malaysia. Journal of
American Science, 5(8), 31 - 38.
Huỳnh Đức Thiện. (2015). Chính sách phát triển
làng nghề của một số quốc gia ở châu Á và bài
2401
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất các sản phẩm thủ công của hộ gia đình tại làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_trang_va_cac_yeu_to_anh_huong_den_san_xuat_cac_san_pham.pdf

