Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất các sản phẩm thủ công của hộ gia đình tại làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 5(2)-2021:2392-2401  
THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT CÁC SẢN  
PHẨM THỦ CÔNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH TẠI LÀNG NGHỀ ĐỆM BÀNG PHÒ  
TRẠCH, HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
Trần Cao Úy*, Nguyễn Thiện Tâm, Lê Văn Nam, Nguyễn Ngọc Truyền,  
Dương Ngọc Phước, Nguyễn Trọng Dũng, Lê Việt Linh  
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế  
*Tác giả liên hệ: [email protected].vn  
Nhận bài: 01/12/2020  
Hoàn thành phản biện: 19/03/2021  
Chấp nhận bài: 24/07/2021  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng và các yếu tố tác động đến sản xuất  
các sản phẩm thủ công làm từ cây cỏ Bàng (Lepironia actiulata) thông qua phỏng vấn những người am  
hiểu cùng 60 hộ gia đình tại làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch. Kết quả nghiên cứu cho thấy sản phẩm  
đệm bàng được sản xuất bởi các hộ cá thể với khoảng 1,21 lao động/hộ, chủ yếu là lao động nữ lớn tuổi.  
Sản phẩm chính của làng gồm chiếu (khổ từ 1,2 - 1,6 m), đệm, chẹ và các sản phẩm mỹ nghệ. Trong số  
các sản phẩm này, đệm, chẹ và chiếu kích thước nhỏ là phổ biến nhất và chủ yếu được tiêu thụ bởi  
những người thu gom nhỏ. Chi phí sản xuất, giá bán và thu nhập từ một đơn vị sản phẩm khác nhau tùy  
thuộc vào chất lượng nguyên liệu, độ dày bền và độ tinh xảo. Làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch được  
duy trì và phát triển được nhờ tính truyền thống, nguồn nguyên liệu sẵn có, khả năng tạo thu nhập ổn  
định, phù hợp với người già và phụ nữ. Trong khi đó, sản xuất đệm bàng cũng đang gặp nhiều yếu tố  
cản trở như khó sản xuất nguyên liệu đầu vào, thiếu lao động kế thừa, thị trường tiêu thụ nhỏ, thu nhập  
và năng suất lao động thấp, thiếu hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.  
Từ khóa: Đệm bàng, Phò Trạch, Thủ công truyền thống  
CURRENT SITUATION AND FACTORS AFFECTING THE PRODUCTION  
OF HANDCRAFT PRODUCTS BY HOUSEHOLDS IN DEM BANG PHO  
TRACH TRADITIONAL CRAFT VILLAGE, PHONG DIEN DISTRICT, THUA  
THIEN HUE PROVINCE, VIETNAM  
Tran Cao Uy*, Nguyen Thien Tam, Le Van Nam, Nguyen Ngoc Truyen,  
Duong Ngoc Phuoc, Nguyen Trong Dung, Le Viet Linh  
University of Agriculture and Forestry, Hue University  
ABSTRACT  
This study was implemented to explore the production status and factors impacting on the craft  
products made from Bang grass (Lepironia articulata) by interviewing 60 households in Dem Bang Pho  
Trach traditional craft village. Results revealed that the craft products were made by individual  
households with about 1.21 labors/household, mostly by elder female workers. The main products of  
the village included mat (width 1.2 to 1.6 m), cushion, cradle pad and handicrafts. Among these  
products, cushion, cradle pad and small size mats were the most popular and mainly consumed by small  
collectors. Production cost, sale price and earning from a product varied depending on its raw material  
quality, thickness, durability and sophistication. Dem Bang Pho Trach craft village has been maintained  
and developed due to its traditionality, availability of materials, the potential to yield stable income, and  
the suitability for the elder and women. Meanwhile, the craft product production was also facing many  
hindering factors such as difficulty in producing input materials, shortage of inherited labor, small  
consumption market, low income and labor productivity, and lack of cooperation in the products’  
production and consumption.  
Keywords: Bang mat, Pho Trach, Traditional craft  
2392  
Trần Cao Úy và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 5(2)-2021: 2392-2401  
1. MỞ ĐẦU  
số làng nghề thủ công trên cả nước nhưng qua  
các số liệu thống kê và các kết quả nghiên cứu  
trước đây cho thấy làng nghề thủ công luôn có  
một vị trí quan trọng trong cơ cấu làng nghề  
truyền thống ở nước ta. Mặc dù vậy, phát triển  
làng nghề thủ công truyền thống cũng đang  
gặp khá nhiều thách thức trong bối cảnh cơ  
cấu ngành nghề của nhiều địa phương đang  
chuyển dịch theo hướng khuyến khích mở  
rộng các hoạt động sinh kế mới để nâng cao  
thu nhập cho người dân.  
Nghề thủ công truyền thống là một  
loại hình ngành nghề sản xuất phổ biến và  
xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế  
giới. Ngành nghề thủ công của một quốc gia  
trưng bày lịch sử văn hóa nghệ thuật văn  
hóa phong phú của quốc gia đó (Kaur,  
2011). Trên thế giới cũng như ở nước ta, có  
rất nhiều định nghĩa khác nhau về nghề thủ  
công truyền thống. Chẳng hạn như Fabeil và  
cs. (2014) cho rằng nghề thủ công truyền  
thống là những nghề tạo ra các sản phẩm  
làm bằng tay có tính thu hút về nghệ thuật  
và văn hóa từ những vật liệu, thiết kế và tay  
nghề của người lao động. Trong khi đó,  
Rogerson lại cho rằng nghề thủ công phải  
có tối thiểu 80% giá trị thành phẩm được  
làm bằng tay từ các nguyên liệu khác nhau  
như sợi tự nhiên, đất sét, tre, gỗ hoặc các vật  
liệu tái chế (Redzuan & Aref, 2009). Ở  
nước ta, khái niệm nghề thủ công truyền  
thống đó là nghề sản xuất hoàn toàn hay một  
phần bằng chân tay những vật dụng trang  
trí, tiêu dùng, đòi hỏi các kỹ năng tay chân  
và kỹ năng nghệ thuật, được truyền từ thế  
hệ này sang thế hệ khác, thường áp dụng  
trong sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ. Nghề  
thủ công thường được chia thành nhiều lĩnh  
vực như: văn hóa tinh thần; sản xuất, chế  
biến hàng tiêu dùng; chế biến lương thực  
thực phẩm… (Trần Minh Yến, 2003).  
Làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch  
thuộc xã Phong Bình, huyện Phong Điền,  
tỉnh Thừa Thiên Huế là làng nghề truyền  
thống ra đời từ khoảng hơn 500 năm trước.  
Làng nghề đã được UBND tỉnh Thừa Thiên  
Huế ra quyết định công nhận làng nghề vào  
năm 2014. Các sản phẩm của làng nghề được  
làm từ cây cỏ Bàng (Lepironia articulata),  
một loại cây cỏ có họ hàng với cây lác hay  
cây cói, thường mọc hoặc được người dân  
trồng ở các vùng trũng có nước. Hoạt động  
của làng nghề từ trước đến nay đã thu hút  
được sự tham gia của nhiều lao động trẻ em,  
phụ nữ và người già, tạo thêm thu nhập cho  
người dân, đặc biệt trong thời gian nhàn rỗi.  
Lịch sử phát triển của nghề đan đệm bàng  
Phò Trạch cũng đã trải qua nhiều thời kỳ và  
giai đoạn thịnh vượng nhất phải kể đến  
những năm 80 của thế kỷ XX khi làng nghề  
nhận đan các sản phẩm để làm bao bì cho  
hàng xuất khẩu sang các nước Đông Âu. Sau  
khi Liên Xô tan rã do không còn thị trường  
nên làng nghề cũng bắt đầu đi xuống từ đó.  
Người dân trong làng quay trở lại sản xuất  
các sản phẩm truyền thống của mình như:  
Tấm đệm, chiếu, chẹ (tấm lót nôi cho trẻ),  
Mũ đội đầu, túi đi chợ,… như một hình thức  
duy trì nghề của cha ông và để kiếm thêm thu  
nhập hàng ngày.  
Phát triển các làng nghề và các nghề  
thủ công truyền thống ở nông thôn đang là chủ  
trương chung của cả nước và là hướng đi tích  
cực để góp phần giải quyết việc làm, nâng cao  
thu nhập, khai thác các nguồn lực địa phương,  
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông  
thôn và bảo tồn các giá trị văn hóa cũng như  
phát triển du lịch ở các khu vực nông thôn  
nước ta hiện nay. Theo thống kê của Bộ Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến năm  
2018 cả nước có khoảng 5.411 làng nghề và  
làng có nghề (Nguyễn Minh Phong, 2018).  
Tuy chưa có thống kê đầy đủ và cập nhật về  
Cũng như nhiều làng nghề khác trong  
cả nước, làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch  
đang đối diện với rất nhiều thách thức trong  
quá trình phát triển. Số lượng hộ và lao động  
2393  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 5(2)-2021:2392-2401  
tham gia vào nghề đan lát ngày càng giảm,  
thị trường đầu ra đang bị cạnh tranh bởi các  
sản phẩm công nghiệp; liên kết trong sản  
xuất và tiêu thụ kém; thu nhập của lao động  
từ ngành nghề thấp và thiếu ổn định là những  
vấn đề cơ bản có thể thấy được ở làng nghề  
này. Mặc dù vậy, đến nay vẫn chưa có  
nghiên cứu nào được tiến hành để phản ánh  
đầy đủ thực trạng hoạt động, cũng như các  
yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của  
làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch. Nghiên cứu  
này được tiến hành với mục tiêu: (i) tìm hiểu  
thực trạng sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm  
đệm bàng của các hộ gia đình ở làng nghề  
Đệm Bàng Phò Trạch và (ii) phân tích các  
yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất  
đệm bàng của các nông hộ ở làng nghề. Kết  
quả nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp cho các  
nhà nghiên cứu, các cơ quan chức năng cơ sở  
khoa học để phát triển các giải pháp và chính  
sách hỗ trợ làng nghề phát triển tốt hơn trong  
thời gian tới.  
nghề để tìm hiểu các nội dung liên quan đến  
quá trình sản xuất và tiêu thụ; các khó khăn,  
thuận lợi và các yếu tố ảnh hưởng đến sự  
phát triển nghề đan đệm bàng... Phỏng vấn  
ngẫu nhiên 60 hộ làm nghề đệm bàng bằng  
bảng hỏi bán cấu trúc để nắm bắt về thực  
trạng sản xuất; tình hình lao động tham gia;  
tình hình thị trường tiêu thụ; và các yếu tố  
ảnh hưởng đến phát triển nghề đệm bàng  
của hộ.  
2.2. Xử lý và phân tích số liệu  
Các số liệu nghiên cứu được tổng hợp  
và xử lý bằng phần mềm SPSS 22. Các  
thông số thống kê mô tả đã được sử dụng để  
trình bày số liệu xử lý như: tần suất, tỷ lệ  
phần trăm (%), giá trị trung bình và độ lệch  
chuẩn.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Khái quát về hiện trạng hoạt động  
của làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch  
Làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch hiện  
nay có 4 thôn, bao gồm: Đông Mỹ, Tây Phú,  
Triều Quý và Trung Thạnh với khoảng 630  
hộ, 2.740 nhân khẩu và 1.380 lao động (lao  
động nữ chiếm khoảng 47%). Theo thống  
kê từ văn phòng UBND xã Phong Bình thì  
hiện nay làng nghề hiện có hơn 120 hộ và  
250 người đang tham gia sản xuất, trong đó  
có khoảng 35 hộ có thu nhập chính từ nghề  
này. Các hộ làm nghề tập trung đông nhất ở  
thôn Đông Mỹ. Lao động tham gia làm nghề  
đệm bàng ở Phò Trạch hiện nay đa phần là  
những người già và phụ nữ. Trình độ lao  
động chủ yếu chưa qua đào tạo và tay nghề  
có được thông qua việc truyền nối từ những  
người đi trước. Nguồn nguyên liệu đầu vào  
100% được trồng tại địa phương, với tổng  
diện tích đất trồng cỏ Bàng trên toàn xã có  
khoảng 8,4 ha.  
2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu này tập trung vào 2 nội  
dung chính, đó là: i) Thực trạng sản xuất  
đệm bàng của các hộ gia đình trong làng  
nghề Đệm Bàng Phò Trạch; và ii) Các yếu  
tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất sản  
phẩm đệm bàng Phò Trạch. Trên cơ sở đó,  
một số phương pháp thu thập thông tin, xử  
lý và phân tích số liệu đã được tiến hành như  
sau:  
2.1. Thu thập thông tin  
Nghiên cứu đã tiến hành thu thập các  
số liệu thứ cấp thông qua các báo cáo của  
địa phương liên quan đến hoạt động của  
làng nghề để nắm thông tin tổng quan về  
nghề đan đệm bàng Phò Trạch. Các số liệu  
sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn  
người am hiểu và phỏng vấn hộ. Nghiên cứu  
đã tiến hành phỏng vấn 3 người am hiểu  
gồm 1 cán bộ cấp xã (Phó Chủ tịch UBND  
xã) và 2 nghệ nhân có nhiều năm kinh  
nghiệm làm nghề đan đệm bàng của làng  
Về tổ chức sản xuất, từ trước đến nay  
phần lớn hoạt động của làng nghề được tổ  
chức dưới dạng các hộ gia đình tự chủ sản  
xuất. Từ năm 2014 - 2016 các hoạt động của  
2394  
Trần Cao Úy và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 5(2)-2021: 2392-2401  
làng nghề được vận hành và quản lý bởi  
Hợp tác xã (HTX) Đệm Bàng Phò Trạch  
(khoảng 250 thành viên). Tuy nhiên, từ sau  
năm 2016 HTX Đệm Bàng Phò Trạch bị  
giải thể do hoạt động không hiệu quả, nghề  
đệm bàng quay trở về sản xuất theo quy mô  
hộ gia đình. Đến nay, hoạt động đan lát chủ  
yếu được thực hiện bởi các hộ riêng lẻ mà  
không có sự liên kết nào chính thống. Làng  
nghề cũng chưa có khu trưng bày giới thiệu  
các sản phẩm và liên kết tiêu thụ sản phẩm.  
Các sản phẩm của làng nghề được giới thiệu  
và bán ra bên ngoài địa phương chủ yếu nhờ  
một nghệ nhân trong làng - người này có  
nhiều năm gắn bó với nghề và thường xuyên  
tìm tòi các mẫu mã mới để sản xuất hoặc đặt  
hàng cho các hộ khác trong làng nghề sản  
xuất. Đối với các hộ khác, sản phẩm sản  
xuất chủ yếu là đệm chiếu và đệm chẹ và  
thường bán tại thị trường địa phương.  
Bảng 1 cho thấy, những hộ làm nghề  
đệm bàng chủ yếu là những người lớn tuổi  
(trên dưới 60 tuổi) với trình độ học vấn thấp  
(chưa học hết tiểu học). Hầu hết các hộ làm  
nghề đan đệm bàng đều có chủ hộ là nam  
giới (68,89%) và có số lao động gia đình  
thấp (khoảng 2 - 3 lao động), phần lớn trong  
số họ là vợ chồng già do con cái đều đã tách  
hộ ở riêng. Lao động nữ chiếm số lượng lớn  
hơn lao động nam và nghề đan đệm bàng  
được xem là nghề chính của các lao động nữ  
của nông hộ (khoảng 1,21 lao động).  
Điểm đáng chú ý khác của các hộ  
tham gia làm nghề đan đệm bàng là tỷ lệ hộ  
nghèo và cận nghèo ở nhóm hộ ngành nghề  
tương đối cao so với mức bình quân chung  
ở khu vực đồng bằng tỉnh Thừa Thiên Huế  
(11,67% và 6,67%), một số hộ thậm chí còn  
được xếp vào nhóm nghèo thuộc bảo trợ xã  
hội. Qua những đặc điểm này có thể thấy,  
việc duy trì nghề đan đệm bàng cũng được  
giải thích một phần bởi yếu tố tạo thu nhập  
do hoàn cảnh đặc thù của các hộ này.  
3.2. Đặc điểm hộ tham gia nghề đan đệm  
bàng ở làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch  
Bảng 1. Đặc điểm về cơ cấu thu nhập của nông hộ (n=60)  
(Đơn vị tính: triệu đồng)  
Nguồn thu nhập  
Nông nghiệp  
Tiểu thủ công nghiệp  
Nguồn thu khác  
Tổng thu nhập  
Trung bình (triệu đồng)  
Độ lệch chuẩn  
20.722,26  
6.425,89  
50.482,78  
56.026,78  
Cơ cấu (%)  
27,24  
19.713,33  
14.671,11  
37.996,44  
67.380,89  
20,27  
52,49  
100  
Nguồn: Phỏng vấn hộ (2019)  
3.3. Thực trạng sản xuất đệm bàng của  
các hộ gia đình trong làng nghề Đệm  
Bàng Phò Trạch  
Về thu nhập, các nguồn thu của hộ có  
thể chia thành 3 nhóm (Bảng 1), gồm:  
nguồn thu từ nông nghiệp (bao gồm các  
hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng  
thủy sản); nguồn thu từ tiểu thủ công nghiệp  
(từ nghề đệm bàng) và nguồn thu khác  
(buôn bán dịch vụ, làm thuê, lương…).  
Bình quân thu nhập hàng năm của hộ  
khoảng 67,380 triệu đồng, trong đó thu  
nhập từ nghề đan đệm bàng đạt khoảng  
14,67 triệu đồng. Xét trên cơ cấu nguồn thu,  
thu nhập từ đệm bàng đã chiếm một tỷ lệ  
đáng kể trong cơ cấu thu nhập của hộ  
(khoảng 20,27%).  
3.3.1. Nguồn nguyên liệu đầu vào  
Để tạo ra các sản phẩm của làng  
nghề, nguồn nguyên liệu duy nhất được sử  
dụng là thân cây cỏ Bàng khô, được giã dập  
thành sợi mỏng và sử dụng để đan thành các  
sản phẩm. Hiện nay, 100% nguồn nguyên  
liệu được trồng bởi các hộ gia đình tại địa  
phương với diện tích trung bình khoảng 160  
m2/hộ, hộ trồng nhiều nhất khoảng 500 m2.  
Gần đây, một số hộ đã chuyển đổi từ đất lúa  
kém hiệu quả sang trồng cỏ Bàng nguyên  
2395  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 5(2)-2021:2392-2401  
liệu để bán cho các hộ sản xuất trong địa  
phương.  
hộ sản xuất ở địa phương do qua nhiều năm  
kinh nghiệm họ có thể đánh giá được chất  
lượng các bó cỏ Bàng nguyên liệu bằng mắt  
thường để có sự định giá chính xác.  
Đối với cỏ Bàng nguyên liệu, người  
dân không dùng các đơn vị đo lường thông  
thường mà đều tự ước lượng theo đơn vị  
“nối”. Theo đó, mỗi nối gồm 6 bó, mỗi bó  
gồm 4 nắm (nắm được ước lượng bằng 2  
bàn tay người lớn gom lại, đủ để đan 1 chiếc  
chiếu 1,4 m). Sở dĩ người dân bán theo nối  
mà không bán theo bó hoặc theo nắm bởi vì  
trong mỗi nối như vậy có cả sợi cỏ Bàng  
ngắn và sợi cỏ Bàng dài, người mua khi mua  
về có thể phân loại và sử dụng vào các mục  
đích đan khác nhau (đệm lát, chiếu ngắn,  
chiếu dài hoặc chẹ…). Theo giá bán hiện  
nay, mỗi nối cỏ Bàng có giá từ 300 - 350  
nghìn đồng tùy vào chất lượng nguyên liệu.  
Qua khảo sát cho thấy, mặc dù không có các  
đơn vị đo lượng cụ thể cho việc mua và bán  
các nguồn nguyên liệu đầu vào, nhưng đây  
cũng không phải là vấn đề lớn đối với các  
3.3.2. Các sản phẩm và số lượng sản xuất  
trung bình của hộ gia đình trong làng nghề  
Đối với làng nghề Đệm Bàng Phò  
Trạch, các sản phẩm đệm lát, chiếu và chẹ  
vẫn là những mặt hàng phổ biến nhất được  
sản xuất bởi các hộ gia đình (Bảng 2). Số hộ  
và số lượng sản phẩm được sản xuất ở từng  
loại sản phẩm tương đối khác nhau. Trong  
đó, sản phẩm chẹ có 39/45 hộ tham gia và  
trung bình mỗi tháng hộ đan được khoảng  
80 cái (+ 43,64 cái). Tiếp đến là sản phẩm  
đệm lát với 23 hộ tham gia với số lượng sản  
xuất trung bình là 17,7 cái/hộ/tháng (+  
10,56 cái). Đặc điểm chung của các sản  
phẩm này là dễ đan, đòi hỏi về chất lượng  
nguồn nguyên liệu không quá cao và nhu  
cầu thị trường tương đối ổn định.  
Bảng 2. Số lượng các sản phẩm được sản xuất trung bình mỗi tháng của hộ (n=60)  
Số lượng sản phẩm sản xuất/tháng  
Loại sản phẩm  
Số hộ sản xuất  
Trung bình  
17,70  
3,67  
Độ lệch chuẩn  
Đệm lát  
31  
31  
24  
7
52  
16  
10,56  
4,93  
Chiếu 1,2 m  
Chiếu 1,4 m  
Chiếu >1,4 m  
Chẹ  
3,22  
4,39  
2,20  
1,64  
79,92  
36,00  
43,64  
33,32  
Sản phẩm khác  
Nguồn: Phỏng vấn hộ (2019)  
Đối với các sản phẩm chiếu, khổ  
chiếu càng lớn thì càng ít hộ sản xuất và số  
lượng sản xuất hàng tháng càng ít. Trung  
bình mỗi tháng các hộ sản xuất từ 3 - 4 chiếc  
đối với chiếu từ 1,2 - 1,4 m và 2 chiếc đối  
với chiếu > 1,4 m. Mặc dù đây là sản phẩm  
truyền thống của làng nghề nhưng do chịu  
sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm thay  
thế như chiếu nhựa, chiếu trúc… nên sức  
tiêu thụ tương đối thấp, các hộ chủ yếu sản  
xuất theo đặt hàng khách lẻ. Cùng với đó,  
thời gian tiêu tốn cho sản xuất 1 sản phẩm  
chiếu lớn hơn nhiều so với các sản phẩm  
khác (từ 8 - 10 giờ đối với sản phẩm chiếu  
1,2 - 1,4 m và 14 giờ đối với chiếu > 1,4 m)  
nên đây cũng được xem là một trong những  
yếu tố cản trở đến việc sản xuất sản phẩm  
chiếu của các hộ hiện nay.  
Đối với các sản phẩm khác như: túi  
xách, bị, mũ, lồng đèn,...số lượng sản phẩm  
sản xuất trung bình mỗi tháng/hộ tương đối  
lớn (36 + 33,32 sản phẩm). Tuy nhiên, đây  
là những sản phẩm đòi hỏi người đan phải  
có tay nghề cao, đồng thời các hộ sản xuất  
dưới dạng sản phẩm thô qua đơn đặt hàng  
của 1 nghệ nhân trong làng nghề nên lợi  
nhuận trên đơn vị sản phẩm nhóm này thấp  
hơn các sản phẩm khác. Đây là lý do chỉ  
16/60 hộ được phỏng vấn có sản xuất các  
sản phẩm này. Trên thực tế, nếu được tổ  
2396  
Trần Cao Úy và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 5(2)-2021: 2392-2401  
chức tốt dưới hình thức liên kết sản xuất và  
đầu tư thêm một số máy móc hỗ trợ thì các  
hộ hoàn toàn có thể cùng nhau sản xuất ra  
các sản phẩm mỹ nghệ hoàn thiện để nâng  
cao lợi nhuận thu được.  
bán những sản phẩm này thường cao hơn  
sản phẩm chiếu khổ nhỏ khá nhiều. Trung  
bình mỗi sản phẩm chiếu 1,6 m có giá bán  
238,75 nghìn đồng (+ 5,86 nghìn đồng) và  
mang lại thu nhập khoảng 166,25 nghìn  
đồng (+ 31,63 nghìn đồng).  
3.3.3. Chi phí, giá bán và thu nhập bình  
quân đối với các loại sản phẩm làng nghề  
Trong cùng 1 sản phẩm chiếu cùng  
khổ (cùng chiều rộng), các sản phẩm chiếu  
loại 1 thường được lựa chọn nguyên liệu kỹ  
càng, được đan tỉ mỉ và có độ dày bền cao  
hơn nhiều nên đã tăng chi phí sản xuất, tạo  
nên giá bán và thu nhập cũng cao hơn so với  
sản phẩm chiếu loại 2. Ở các sản phẩm  
chiếu 1,2 m và 1,4 m, chi phí sản xuất chiếu  
loại 1 cao hơn loại 2 khoảng 30-40 nghìn  
đồng và thu nhập mang lại cũng có sự khác  
biệt từ 90 - 110 nghìn. Sự dao động giá trị  
trung bình về chi phí, giá bán cũng như thu  
nhập từ các sản phẩm cùng loại ở các nông  
hộ khá lớn xuất phát từ sự khác biệt về tay  
nghề và độ tinh xảo của sản phẩm.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chi phí  
sản xuất, giá bán và thu nhập mang lại tương  
đối khác nhau giữa các nhóm sản phẩm  
(Bảng 3). Sự khác biệt này phụ thuộc khá  
nhiều vào chất lượng nguyên liệu, độ dày  
bền, kích cỡ và đặc biệt là độ tinh xảo của  
sản phẩm.  
Trước hết, đối với các sản phẩm  
chiếu, sự khác biệt về chi phí sản xuất, giá  
bán và thu nhập giữa các sản phẩm ngay  
trong nhóm sản phẩm này khá lớn. Các sản  
phẩm có kích cỡ lớn như chiếu chiếu > 1,4  
m thường khó tìm nguyên liệu hơn nên chi  
phí mua nguyên liệu cao, cùng với thời gian  
để sản xuất ra 1 sản phẩm nhiều dẫn đến giá  
Bảng 3. Chi phí, giá bán và thu nhập từ các sản phẩm đệm bàng của nông hộ (n=60)  
(Đơn vị tính: nghìn đồng)  
Chi phí sản xuất  
Giá bán  
Thu nhập/sản phẩm  
Loại sản phẩm  
Độ lệch  
chuẩn  
1,28  
Độ lệch  
chuẩn  
2,46  
Độ lệch  
chuẩn  
2,89  
0,94  
Trung bình  
Trung bình  
Trung bình  
Đệm lát  
Chẹ  
8,95  
2,54  
31,19  
6,88  
21,23  
4,37  
0,64  
0,82  
Chiếu 1,2 m  
- Loại 1  
- Loại 2  
49,55  
19,62  
7,89  
4,31  
160,91  
42,69  
8,09  
6,81  
111,36  
23,08  
15,89  
10,71  
Chiếu 1,4 m  
- Loại 1  
- Loại 2  
Chiếu >1,4 m  
Sản phẩm khác  
67,50  
27,14  
72,50  
4,58  
14,85  
6,99  
25,50  
2,07  
205,83  
56,43  
238,75  
16,44  
8,25  
4,52  
5,86  
2,70  
138,33  
29,29  
166,25  
11,08  
20,70  
8,86  
31,63  
4,14  
Nguồn: Phỏng vấn hộ (2019)  
đồng để mang lại thu nhập 4,37 nghìn đồng.  
Nếu so sánh với các sản phẩm chiếu thì mức  
thu nhập trên 1 đơn vị sản phẩm của đệm lát  
và chẹ thấp hơn rất nhiều. Trên thực tế, các  
sản phẩm này thường sử dụng nguyên liệu  
tận dụng từ các sợi cỏ Bàng ngắn, chất lượng  
thấp được loại ra từ các bó bàng nguyên liệu  
dùng để đan chiếu, kỹ thuật đan thô sơ nên  
Đối với các sản phẩm như đệm lát và  
chẹ, mặc dù có số lượng sản xuất/hộ/tháng  
lớn nhưng chi phí sản xuất, giá bán cũng như  
thu nhập mang lại từ nhóm sản phẩm này  
tương đối thấp. Trung bình mỗi sản phẩm  
đệm lát cần 8,95 nghìn đồng chi phí (chủ yếu  
chi phí nguyên liệu) để mang lại thu nhập  
khoảng 21,23 nghìn đồng. Trong khi đó, chi  
phí cho mỗi sản phẩm chẹ chỉ 2,54 nghìn  
2397  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 5(2)-2021:2392-2401  
chi phí sản xuất, giá bán và thu nhập mang  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết  
lại thấp.  
các sản phẩm của làng nghề đều được bán  
cho những người thu gom nhỏ để bán ra thị  
trường ngoài địa phương (chiếm 95%). Các  
đối tượng thu gom này đã bán lại cho những  
người thu gom ở chợ Đông Ba, chợ Sịa, chợ  
Thủy Dương (Thừa Thiên Huế), chợ Diên  
Sanh, chợ Quảng Trị (Quảng Trị) trước khi  
sản phẩm được bán ra thị trường thông qua  
các chủ sạp kinh doanh tại các chợ này. Một  
số sản phẩm đệm lát được bán ra các thị  
trường ở phía Bắc để làm nguyên liệu đầu  
vào cho việc gia công các sản phẩm khác.  
Tuy nhiên, số lượng bán ra theo hướng này  
thường rất ít.  
Với nhóm sản phẩm khác như túi  
xách, mũ, bị, lồng đèn… do hầu hết các hộ ở  
đây nhận làm gia công sản phẩm thô nên chi  
phí thường thấp và giá bán được xác định là  
phần chi trả công trên 1 đơn vị sản phẩm của  
chủ thuê gia công. Chi phí sản xuất, giá bán  
và thu nhập khác nhau đối với từng sản phẩm  
nhưng sự khác biệt này thường không quá  
lớn, thể hiện bởi phần lớn giá trị độ lệch  
chuẩn trong các chỉ tiêu này khá nhỏ.  
3.3.4. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng  
nghề  
Sơ đồ 1. Kênh tiêu thụ sản phẩm đệm bàng Phò Trạch  
Nguồn: Phỏng vấn người am hiểu (2019)  
Mặc dù chỉ chiếm 1 tỷ lệ nhỏ (khoảng  
5%) nhưng những người thu gom bán tại địa  
phương hoặc người tiêu dùng địa phương  
cũng đóng một vai trò không nhỏ cho việc  
duy trì các hoạt động đan lát đệm bàng ở làng  
Phò Trạch. Việc đặt hàng (chủ yếu là sản  
phẩm chiếu) rải rác quanh năm đã giúp các  
hộ sản xuất có thêm động lực duy trì nghề  
đan lát của mình nhờ có người tiêu thụ  
thường xuyên.  
3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động  
sản xuất sản phẩm đệm bàng Phò Trạch  
3.4.1. Yếu tố ảnh hưởng thúc đẩy sự phát  
triển làng nghề  
Trong bối cảnh các làng nghề truyền  
thống đang chịu sự cạnh tranh gay gắt của  
các sản phẩm được chế tạo bằng máy móc  
với độ tinh xảo và chính xác cao, giá thành  
sản phẩm thấp thì sự tồn tại của nó phải gắn  
với các yếu tố thuận lợi, mang tính thúc đẩy  
cao.  
Bảng 4. Các yếu tố thuận lợi thúc đẩy sự duy trì và phát triển nghề đệm bàng (n=60)  
Yếu tố thuận lợi  
Nghề truyền thống, lao động có kinh nghiệm  
Tạo ra nguồn thu hàng ngày  
Tỷ lệ hộ có ý kiến (%)  
96,67  
80,00  
Công việc phù hợp với người già và phụ nữ  
Chi phí đầu tư cho sản xuất thấp  
Sản phẩm dễ cất giữ, bảo quản  
73,33  
66,67  
58,33  
Nguồn nguyên liệu tại chỗ  
50,00  
Công việc có thể làm quanh năm  
46,67  
Nguồn: Phỏng vấn hộ (2019)  
2398  
Trần Cao Úy và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 5(2)-2021: 2392-2401  
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 yếu  
tố chính đã tạo ra động lực thúc đẩy sự tồn tại  
và phát triển của nghề đan đệm bàng ở làng  
nghề Đệm Bàng Phò Trạch cho đến nay theo  
ý kiến đánh giá của các hộ. Trong đó, nổi bật  
nhất là các yếu tố thuộc về tính chất truyền  
thống và kinh nghiệm của lao động (96,67%),  
khả năng tạo ra nguồn thu hàng ngày (80%),  
công việc phù hợp với người già và phụ nữ  
(73,33%). Các yếu tố khác như: chi phí đầu tư  
thấp, đặc điểm sản phẩm dễ bảo quản, cất giữ  
hay nguồn nguyên liệu sẵn có cũng đã thu hút  
trên 50% ý kiến người dân khi được hỏi về lý  
do họ duy trì nghề đan đệm bàng ở Phò Trạch.  
lớn tuổi ngoài việc phải mua nguyên liệu  
thô từ các hộ khác còn phải thuê nhân công  
đập (bằng cối giã) các sợi cỏ Bàng thô thành  
các sợi cỏ Bàng thành phẩm để đưa vào đan  
lát. Chính những khó khăn về sản xuất  
nguyên liệu đã gây cản trở không nhỏ đến  
quá trình sản xuất của các hộ gia đình làm  
nghề hiện nay.  
Đối với yếu tố lao động, yếu tố cản  
trở lớn nhất hiện nay đó là số lượng lao động  
tham gia vào nghề đan đệm bàng ngày càng  
giảm và hầu như rất ít lao động trẻ tham gia.  
Cùng với đó, lao động sản xuất hiện nay chủ  
yếu dựa trên kinh nghiệm, ít được qua tập  
huấn về để nâng cao tay nghề và tiếp cận  
với các mẫu mã sản phẩm mới một cách  
thường xuyên. Kết quả nghiên cứu cho thấy,  
có đến 56,66% số hộ chưa được tham gia  
bất kỳ 1 lớp tập huấn nào về kỹ thuật đan  
lát. Việc ít được tập huấn về kỹ thuật mới  
khiến người lao động làng nghề chỉ biết  
quanh quẩn bên những sản phẩm xưa nay  
họ quen làm nên không tạo ra được tính  
mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị  
trường tiêu thụ.  
Có thể thấy, hầu hết các yếu tố thuận  
lợi thúc đẩy sự phát triển của làng nghề đều  
đến từ đặc điểm nội tại của ngành nghề sản  
xuất. Các yếu tố bên ngoài như chính sách,  
thị trường, sự hỗ trợ từ bên ngoài… đều  
chưa được người dân đề cập đến, bởi thực  
tế các chính sách địa phương cũng chỉ mới  
hướng đến việc quy hoạch vùng nguyên liệu  
hoặc vận động người dân giữ nghề chứ chưa  
có các hỗ trợ về trang thiết bị máy móc hay  
hỗ trợ tìm kiếm thị trường… do những hạn  
chế về nguồn lực ngân sách ở địa phương.  
Đối với yếu tố đầu ra của sản phẩm, kết  
quả nghiên cứu cho thấy: do thị trường đầu ra  
nhỏ lẻ và chủ yếu bán cho các đối tượng thu  
gom nhỏ nên sản lượng tiêu thụ hàng tháng  
thấp. Giá bán thường phụ thuộc vào người  
mua nên việc sản xuất nhiều cũng sẽ mang  
đến khó khăn trong việc tiêu thụ do bị ép giá.  
Bên cạnh đó, hầu hết các hộ tự xoay xở đầu ra  
cho sản phẩm của mình và không có bất kỳ  
một hợp đồng liên kết tiêu thụ nào cũng đã  
trực tiếp làm cản trở đến hoạt động sản xuất  
của người dân. Có thể nói, quy mô tiêu thụ  
nhỏ lẻ và không có tính hợp đồng, liên kết  
nhằm ổn định giá đã khiến nghề sản xuất đệm  
bàng ở Phò Trạch qua thời gian dài vẫn chưa  
thể nào vươn lên để trở thành nghề mũi nhọn  
ở địa phương.  
3.4.2. Các yếu tố cản trở đến hoạt động  
sản xuất của làng nghề  
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy,  
việc phát triển sản xuất nghề đệm bàng hiện  
nay đang chịu tác động cản trở của 4 nhóm  
nhân tố chính, bao gồm: (i) sản xuất nguyên  
liệu; (ii) lao động; (iii) sản phẩm và thị  
trường đầu ra; (iv) liên kết sản xuất và tiêu  
thụ.  
Trước hết đối với nguồn nguyên liệu,  
khó khăn lớn nhất là việc trồng, chăm sóc,  
thu hoạch và sơ chế nguyên liệu ở làng nghề  
Đệm Bàng Phò Trạch hiện nay hoàn toàn  
bằng thủ công và lao động chân tay. Khoảng  
26,67% số hộ đã cắt giảm diện tích trồng cỏ  
Bàng của mình do thiếu lao động trồng,  
chăm sóc và thu hoạch, để mua nguyên liệu  
từ các hộ khác với chi phí cao hơn. Các hộ  
Về yếu tố năng suất lao động và thu  
nhập: do đặc thù sản phẩm đệm bàng hoàn  
2399  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 5(2)-2021:2392-2401  
toàn làm thủ công, đan bằng tay nên năng suất  
Chi phí sản xuất các sản phẩm tương  
lao động rất thấp. Bình quân hàng ngày mỗi  
lao động chỉ có thể đan xong 1 tấm chiếu khổ  
nhỏ và bán với giá giao động trong khoảng  
100.000 đồng. Đây là mức năng suất tạo ra  
bởi các lao động ở độ tuổi trung bình và đã  
khá lành nghề. Các lao động lớn tuổi hoặc  
chưa lành nghề thường phải tiêu tốn nhiều  
thời gian hơn. Bên cạnh đó, kết quả khảo sát  
cũng cho thấy, đối với nghề đệm bàng, giá trị  
ngày công lao động bình quân chỉ dao động  
từ 50.000 - 80.000 đồng, thấp hơn nhiều so  
với các ngành nghề phi nông nghiệp khác. Do  
đó, hầu hết các lao động trẻ và lao động có sức  
khỏe ít tham gia vào nghề này. Đây là một  
thách thức lớn cho việc duy trì và phát triển  
làng nghề trong tương lai.  
đối khác nhau, do đó giá bán và thu nhập trên  
1 đơn vị sản phẩm khác nhau khá rõ rệt. Thu  
nhập cao nhất đến từ các sản phẩm chiếu  
(khoảng từ 65.000 - 165.000 đồng tùy loại) và  
thấp nhất là các sản phẩm chẹ (khoảng gần  
4.500 đồng). Sự tồn tại và phát triển của nghề  
đan đệm bàng chịu tác động tích cực bởi tính  
chất truyền thống của nghề với đội ngủ lao  
động có kinh nghiệm; phù hợp với đối tượng  
người già, phụ nữ; có nguồn nguyện liệu tại  
chỗ và có người thu mua tại chỗ; và nghề này  
đã tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho lao động  
địa phương. Trong khi đó, các yếu tố như: khó  
khăn trong sản xuất nguồn nguyên liệu đầu  
vào; những vấn đề liên quan đến nguồn lao  
động; thị trường tiêu thụ nhỏ lẻ; năng suất lao  
động và thu nhập thấp; chưa có các phương  
thức hợp tác liên kết trong sản xuất và tiêu thụ  
sản phẩm đang là đang gây cản trở đến quá  
trình sản xuất và phát triển của làng nghề Đệm  
Bàng Phò Trạch hiện nay.  
Về hợp tác và liên kết sản xuất, việc  
thiếu một đơn vị có khả năng đứng ra tổ  
chức các hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản  
phẩm hoặc đại diện cho làng nghề trong  
việc giới thiệu, quảng bá các sản phẩm  
khiến người dân chỉ có thể sản xuất những  
sản phẩm truyền thống vốn có thị trường từ  
trước. Đối với các sản phẩm mới hoặc các  
sản phẩm mang tính kỹ nghệ cao, họ chỉ sản  
xuất khi có đầu mối đặt hàng một cách chắc  
chắn. Đây cũng được xem là yếu tố ảnh  
hưởng phần nào lên quyết định sản xuất của  
hộ đan đệm bàng ở làng nghề Đệm Bàng  
Phò Trạch hiện nay.  
Để thúc đẩy sự phát triển của làng  
nghề, chính quyền địa phương cần phải chú  
trọng hơn đến việc hỗ trợ quảng bá thương  
hiệu, xúc tiến thương mại đối với các sản  
phẩm làng nghề. Hàng năm cần hỗ trợ  
nguồn vốn đào tạo nghề, tập huấn cho người  
lao động để họ có thể nâng cao tay nghề và  
đào tạo thêm được lớp lao động kế cận.  
Cùng với đó, cần hỗ trợ nguồn vốn mua sắm  
trang thiết bị phục vụ cho sản xuất của làng  
nghề. Tiếp tục đẩy mạnh tổ chức các cuộc  
thi và có chính sách khen thưởng cho những  
nghệ nhân tiêu biểu và những người có công  
trong công tác quảng bá sản phẩm làng nghề  
ra bên ngoài. Các đơn vị như trường đại học,  
viện nghiên cứu cần triển khai các đề tài  
nghiên cứu về làng nghề, tư vấn về phương  
thức hoạt động làng nghề có hiệu quả, tư  
vấn về phương án sản xuất kinh doanh và  
marketing sản phẩm cho các hộ làm nghề  
đan đệm bàng ở trong làng nghề.  
4. KẾT LUẬN  
Làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch là  
làng nghề truyền thống có từ lâu đời nhưng  
đến nay các hoạt động sản xuất và bán sản  
phẩm chủ yếu vẫn được thực hiện bởi các  
hộ riêng lẻ. Các sản phẩm phổ biến nhất được  
các hộ đang sản xuất hiện nay gồm: chiếu (từ  
1,2 - 1,6 m), tấm đệm lát, chẹ (tấm lót nôi trẻ  
em) và một số sản phẩm khác như túi xách,  
bị, mũ… Trong đó, các sản phẩm như chẹ,  
tấm đệm lót, chiếu có số hộ tham gia nhiều  
nhất.  
2400  
Trần Cao Úy và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 5(2)-2021: 2392-2401  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Tài liệu tiếng Việt  
Ninh Công Chức. (2014). Phát triển làng nghề Cói  
truyền thống ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.  
Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Đại  
học Quốc gia Hà Nội.  
học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tạp chí Phát  
triển Khoa học và Công nghệ, 18(X2), 119 -  
125.  
Tổng cục Thống kê. (2017). Báo cáo tóm tắt kết  
quả chính thức tổng điều tra nông thôn, nông  
nghiệp và thủy sản năm 2016.  
Phạm Xuân Hậu và Trịnh Văn Anh. (2012). Giải  
pháp phát triển bền vững làng nghề truyền  
thống ở Việt Nam phục vụ du lịch. Tạp chí  
Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí  
Minh, (35), 10 - 17.  
Trần Minh Yến. (2003). Làng nghề truyền thống ở  
nông thôn Việt Nam trong quá trình Công  
nghiệp hóa-Hiện đại hóa. Luận án tiến sĩ Kinh  
tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.  
2. Tài liệu tiếng nước ngoài  
Trần Văn Hòa và Lê Quang Trực. (2015). Phát  
triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở Thừa  
Thiên Huế. Tạp chí khoa học Đại học Huế,  
109(10), 1 - 14.  
Nguyễn Thị Thu Hường. (2014). Chính sách  
nhà nước về phát triển làng nghề thủ công  
mỹ nghệ Việt Nam. Luận án tiến sĩ Quản lý  
Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.  
Đinh Xuân Nghiêm. (2010). Một số chính sách  
chủ yếu phát triển bền vững làng nghề Việt  
Nam. Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung  
ương. Đề tài cấp Bộ.  
Fabeil, N. F., Pazim, K. H., Marzuki, K. M. &  
Langgat, J. (2014). The orientation of  
handicraft entrepreneurs in Sabah: Their  
personality characteristics and motivations,  
2nd ASEAN Entrepreneurship Conference.  
Kaur, K. (2011). Revival of Punjab’s traditional  
handicraft:  
Phulkari.  
Asian  
Journal  
Management, 2(1), 28 - 38.  
Redzuan, M. & Aref, F. (2009). Path-analysis  
model of the development of handicraft (Batik)  
industries in Kelantan, Malaysia. Journal of  
American Science, 5(8), 31 - 38.  
Huỳnh Đức Thiện. (2015). Chính sách phát triển  
làng nghề của một số quốc gia ở châu Á và bài  
2401  
pdf 10 trang baolam 19780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất các sản phẩm thủ công của hộ gia đình tại làng nghề Đệm Bàng Phò Trạch, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_va_cac_yeu_to_anh_huong_den_san_xuat_cac_san_pham.pdf