Impact of human intelligence on corruption in ASEAN countries

Journal of Finance – Marketing; Vol. 66, No. 6; 2021  
ISSN: 1859-3690  
ISSN: 1859-3690  
T ẠP CH Í  
NGHIÊN CỨU  
TÀI CHÍNH - MARKETING  
T
R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C T À I C H Í N H – M A R K E T I N G  
Số 66 - Tháng 12 Năm 2021  
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING  
Journal of Finance – Marketing  
IMPACT OF HUMAN INTELLIGENCE ON CORRUPTION IN ASEAN COUNTRIES  
Nguyen Van Diep1* & Bui Xuan Nam2  
1Ho Chi Minh City Open University  
2College of Foreign Economic Relations  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
DOI:  
ispaperaimstoanalyzetheinfluenceofhumanintelligenceoncorruption  
in ASEAN countries. We use a dataset of 10 ASEAN countries from 1995  
to 2019 to find empirical evidence. e Bayesian linear regression method  
analysis results have shown a non-linear relationship between intelligence  
and corruption. Specifically, the paper results provide strong evidence  
supporting an inverted U-shaped relationship between intelligence and  
corruption in ASEAN countries. e findings remained unchanged as the  
authors replaced the measure of intelligence with another data source.  
From a policy perspective, the paper’s results show that ASEAN countries  
with over an intelligent turning point need to encourage investment in  
education and people skills to have lower levels of corruption.  
10.52932/jfm.vi66.218  
Received:  
August 23, 2021  
Accepted:  
October 17, 2021  
Published:  
December 25, 2021  
Keywords:  
ASEAN; Bayesian  
regression;  
Corruption; Human  
intelligence.  
*Corresponding author:  
1
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
ISSN: 1859-3690  
T ẠP CH Í  
NGHIÊN CỨU  
TÀI CHÍNH - MARKETING  
T
R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C T À I C H Í N H – M A R K E T I N G  
Số 66 - Tháng 12 Năm 2021  
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
ẢNH HƯỞNG CỦA TRÍ TUỆ THÔNG MINH CỦA CON NGƯỜI  
ĐẾN THAM NHŨNG TẠI CÁC NƯỚC ASEAN  
Nguyễn Văn Điệp1*, Bùi Xuân Nam2  
1Trường Đại học Mở ành phố Hồ Chí Minh  
2Trường Cao đẳng Kinh tế Đối ngoại  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:  
Bài viết này nhằm phân tích ảnh hưởng của trí tuệ thông minh của con  
người đến tham nhũng ở các nước ASEAN. Nhóm tác giả sử dụng bộ dữ  
liệu của 10 nước ASEAN trong giai đoạn từ 1995 đến 2019 để tìm kiếm các  
bằng chứng thực nghiệm. Kết quả phân tích bằng phương pháp hồi quy  
tuyến tính Bayes trong trường hợp không có kiểm soát và có kiểm soát các  
yếu tố khác đã cho thấy có mối quan hệ phi tuyến giữa trí tuệ thông minh  
và tham nhũng. Cụ thể, kết quả của bài viết đã cung cấp bằng chứng mạnh  
mẽ ủng hộ mối quan hệ hình chữ U ngược giữa trí tuệ thông minh và tham  
nhũng tại các nước ASEAN. Phát hiện vẫn không thay đổi khi nhóm tác  
giả thay thế cách đo lường trí tuệ thông minh bằng nguồn dữ liệu khác. Từ  
góc độ chính sách, kết quả của bài viết cho thấy các nước ASEAN có trí tuệ  
thông minh trên điểm ngoặt cần khuyến khích đầu tư vào giáo dục và kỹ  
năng con người để có mức độ tham nhũng thấp hơn.  
10.52932/jfm.vi66.218  
Ngày nhận:  
23/08/2021  
Ngày nhận lại:  
17/10/2021  
Ngày đăng:  
25/12/2021  
Từ khóa:  
ASEAN; Hồi quy  
Bayes; am nhũng;  
Trí tuệ thông minh  
của con người.  
1. Mở đầu  
ị Phương Nga, 2015; Alfada, 2019; Nguyen &  
Duong, 2021). Bên cạnh đó, tham nhũng còn  
am nhũng đã và đang là mối đe dọa lớn  
đối với sự phát triển kinh tế ở nhiều quốc  
gia. Các bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy  
tham nhũng đã có tác động tiêu cực đến đầu  
tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng  
trưởng kinh tế (Seligson, 2002; Evrensel, 2010;  
Farooq & cộng sự, 2013; Võ Văn Dứt & Nguyễn  
gây ra bất ổn xã hội, làm biến dạng các dịch vụ  
công và giảm tính bền vững của môi trường  
(Damania & cộng sự, 2003; Richey, 2010;  
Rustiarini, 2019). Lv (2017) cho rằng từ góc độ  
phúc lợi xã hội, sự hiểu biết thấu đáo về các yếu  
tố ảnh hưởng đến tham nhũng sẽ hỗ trợ các nhà  
hoạch định chính sách đưa ra các chính sách  
chống lại các hoạt động bất hợp pháp như tham  
nhũng và qua đó, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.  
Trên cơ sở này, nhiều nhà nghiên cứu đã tập  
*Tác giả liên hệ:  
2
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
trung vào việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng như Brunei và Singapore là hai nền kinh tế vượt  
đến tham nhũng, chẳng hạn như chất lượng thể trội và có mức độ tham nhũng thấp, trong khi  
chế chính trị, chính phủ điện tử, hội nhập kinh các nền kinh tế còn lại đang phải vật lộn với  
tế toàn cầu, quy mô của nền kinh tế ngầm, chu vấn nạn tham nhũng nghiêm trọng và có thu  
kỳ kinh doanh và lòng tin xã hội (Richey, 2010; nhập trung bình và thấp. ứ hai, bài viết này  
Gokcekus & Suzuki, 2011; Uslaner, 2013; Vo là nghiên cứu đầu tiên sử dụng cách tiếp cận  
& cộng sự, 2015; Basyal & cộng sự, 2018; Park thuộc trường phái Bayes với nhiều ưu điểm  
& Kim, 2020; Anguera- Torrell, 2020; Nguyễn nổi trội hơn trường phái tần số để tìm kiếm  
Văn Điệp & cộng sự, 2021).  
bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của  
trí tuệ thông minh đến tham nhũng ở ASEAN  
(Kraemer, 2019; Wasserstein & cộng sự, 2019;  
Trafimow, 2021). ứ ba, bài viết này góp phần  
xác nhận lại mối quan hệ chữ U ngược giữa trí  
tuệ thông minh của con người và tham nhũng,  
kết quả này tương đồng với những phát hiện  
trong nghiên cứu của Lv (2017).  
Gần đây, nhiều nhà tâm lý học và kinh tế  
học tập trung điều tra vai trò của trí tuệ thông  
minh của con người và ảnh hưởng của nó đến  
xã hội, kinh tế, môi trường và thể chế (Lynn &  
Vanhanen, 2002; Jones, 2011; Kanyama, 2014;  
Kodila-Tedika & Asongu, 2015; Lynn, 2018).  
Các nghiên cứu trước đây cho thấy ảnh hưởng  
của trí tuệ thông minh đến tham nhũng tại  
Bài viết sẽ được bố cục như sau: Phần 2 trình  
các nước (Potrafe, 2012; Kanyama, 2014; Lv, bày tóm tắt tổng quan tài liệu về mối quan hệ  
2017). Cụ thể, Kanyama (2014) và Potrafe giữa trí tuệ thông minh và tham nhũng. Trong  
(2012) cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa trí phần 3, nhóm tác giả trình bày các nội dung  
tuệ thông minh và việc kiểm soát tham nhũng. liên quan đến phương pháp, mô hình nghiên  
Trong khi đó, Lv (2017) xác nhận có mối quan cứu và dữ liệu. Kết quả hồi quy Bayes và kiểm  
hệ phi tuyến giữa trí tuệ thông minh và tham định tính vững được thảo luận trong phần 4.  
nhũng. Tuy nhiên, các nghiên cứu này được Phần 5 là kết luận.  
thực hiện dựa trên các kỹ thuật kinh tế lượng  
2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước  
thuộc trường phái tần số. Bên cạnh đó, các  
nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa trí tuệ  
thông minh và tham nhũng dựa trên dữ liệu  
xuyên quốc gia trên thế giới mà chưa có nghiên  
cứu nào tập trung vào các thành viên của một  
tổ chức khu vực như Hiệp hội các quốc gia  
Đông Nam Á (ASEAN). ASEAN là một tổ chức  
khu vực, liên Chính phủ ở Đông Nam Á, bao  
gồm 10 nước: Singapore, Malaysia, Indonesia,  
Brunei, Việt Nam, ái Lan, Philippines, Lào,  
Myanmar và Campuchia. Mục đích của tổ chức  
này là thúc đẩy hợp tác liên Chính phủ và tạo  
điều kiện thuận lợi cho sự hội nhập kinh tế,  
chính trị, an ninh, quân sự, giáo dục và văn hóa  
xã hội giữa các thành viên và các nước khác ở  
châu Á (Alfada, 2019). Việc phân tích mối quan  
hệ giữa trí tuệ thông minh con người và tham  
nhũng ở các nước thành viên ASEAN có ba đóng  
góp. ứ nhất, việc nghiên cứu tham nhũng tại  
các nước ASEAN có tính độc đáo, chẳng hạn  
2.1. am nhũng và trí tuệ thông minh  
Định nghĩa phổ biến nhất về tham nhũng “là  
việc lạm dụng chức vụ công để theo đuổi lợi ích  
cá nhân” (Torsello, 2013). Cụ thể, tham nhũng  
đại diện cho một loại gian lận, bao gồm các  
cách thức bất hợp pháp để đạt được lợi ích về  
tài chính hoặc vật chất (chẳng hạn như tiền bạc,  
thăng tiến, các tài sản khác như đất đai, nhà cửa,  
ô tô, các chuyến nghỉ dưỡng,...) để tránh kiểm  
soát tài chính. Torsello (2013) cho rằng tham  
nhũng là một cơ chế xã hội làm cầu nối giữa  
khu vực công và khu vực tư nhân. am nhũng  
đòi hỏi một thỏa thuận không chính thức giữa  
hai hoặc nhiều bên đại diện cho các thể chế hoặc  
tổ chức khác nhau với các mục tiêu khác nhau  
nên không thể phát triển một mô hình lý thuyết  
toàn diện áp dụng cho tham nhũng (Torsello,  
2013). Tuy nhiên, có ba cách tiếp cận về vấn đề  
3
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
tham nhũng. ứ nhất là tập trung vào sự lựa quyết định khả năng học tập và trình độ học  
chọn hợp lý của các cá nhân. eo đó, mỗi cá tập của một cá nhân (Kyllonen & Tirre, 1988).  
nhân sẽ theo đuổi lợi ích cá nhân của mình nếu  
được phép. am nhũng sau đó là cơ hội để đạt  
2.2. Khung lý thuyết  
Lý thuyết vốn con người (human capital  
theory) cho rằng giáo dục và hệ thống y tế có  
vai trò quan trọng trong nền kinh tế và đây là  
những kênh hiệu quả để thúc đẩy tăng trưởng.  
Lý thuyết này giải thích lợi ích của quá trình  
tích lũy cho giáo dục và đào tạo như một hình  
thức đầu tư vào nguồn nhân lực (Romer, 1990).  
Ý tưởng cơ bản của lý thuyết vốn con người  
đối với tham nhũng có thể được giải thích như  
sau: Các cá nhân có trình độ học vấn càng cao  
có xu hướng trở thành công dân lương thiện  
nên ít có hành vi tham nhũng hơn. Bởi vì Derry  
và Murphy (1986) cho rằng, khả năng học  
tập có thể được coi là một dạng trí tuệ thông  
minh có thành phần rèn luyện. Mặt khác, theo  
Rindermann (2008), trí tuệ thông minh và kiến  
thức không chỉ hỗ trợ cho các quyết định hợp  
lý cho riêng các cá nhân mà còn hỗ trợ cho các  
thể chế và hệ thống chính trị khác nhau. Do đó,  
Kanyama (2014) cho rằng trí tuệ thông minh  
sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thể chế vì những  
người tham gia cần hiểu rõ hơn về các nguyên  
tắc và quy tắc chi phối các thể chế chính phủ  
trong đó có hành vi tham nhũng.  
được những lợi ích cụ thể; giá trị của những lợi  
ích này tăng lên liên quan đến các yếu tố cụ thể:  
số lượng của những lợi ích này, thiếu khả năng  
tiếp cận các nguồn lực, lòng tin xã hội và sự  
hợp tác thấp (Kaufmann & Siegelbaum, 1997;  
Torsello, 2013). ứ hai là cách tiếp cận chủ  
nghĩa thể chế. am nhũng xuất hiện khi các  
đặc điểm cấu trúc của thể chế kinh tế và chính  
trị tạo điều kiện để củng cố tham nhũng. Chẳng  
hạn như các quốc gia mà nhà nước có quyền  
kiểm soát phần lớn đối với nền kinh tế, và trong  
đó, các nhóm chính trị cụ thể độc quyền về tài  
sản, lợi ích và nguồn lực thì có mức độ tham  
nhũng cao (Torsello, 2013). Cách tiếp cận thứ  
ba là thuyết tương đối. eo đó, tham nhũng  
được xem là một biến văn hóa của xã hội, được  
biểu hiện bằng xu hướng của một quốc gia có  
mức độ tham nhũng ít hay nhiều phụ thuộc các  
đặc điểm văn hóa – xã hội cụ thể. Nhiều nghiên  
cứu đã cho thấy, mức độ tham nhũng của các  
quốc gia là do sự khác biệt văn hóa (Nam, 2018;  
Zhao & cộng sự, 2017).  
Trí tuệ thông minh của con người, một thành  
phần quan trọng nhất của vốn con người, được  
định nghĩa là một khả năng tâm thần chung để  
lập luận, giải quyết vấn đề và học tập (Colom  
& cộng sự, 2010). Vì bản chất chung của nó, trí  
tuệ thông minh tích hợp các chức năng nhận  
thức như sự am hiểu, chú ý, trí nhớ, ngôn ngữ  
hoặc lập kế hoạch. Trên cơ sở định nghĩa này,  
trí tuệ thông minh có thể được đo lường một  
cách tin cậy bằng các bài kiểm tra tiêu chuẩn  
và điểm số thu được từ các bài kiểm tra này có  
thể dùng để dự đoán một số kết quả xã hội rộng  
rãi như thành tích giáo dục, hiệu quả công việc,  
sức khỏe và tuổi thọ. Nhiều nhà nghiên cứu  
cho rằng, trí tuệ thông minh có mối quan hệ  
tích cực đến sự kiên nhẫn (Kanyama, 2014) và  
các kỹ năng nhận thức như kiến thức chung và  
trình độ lập luận là những yếu tố quan trọng  
Tương tự, lý thuyết hiện đại hóa  
(modernisation theory) cũng tập trung vào vai  
trò của giáo dục trong việc chuyển đổi hệ thống  
giá trị và hành vi của một cá nhân (Kumar &  
Kober, 2012). Việc tiếp xúc với các cơ sở vật  
chất hiện đại bao gồm trường học, phương tiện  
thông tin đại chúng, phương tiện internet và các  
ngành công nghiệp sẽ có xu hướng khắc sâu các  
giá trị và thái độ hiện đại của các cá nhân. Sự gia  
tăng của những điểm tiếp xúc này làm thay đổi  
vĩnh viễn mối quan hệ của cá nhân với cấu trúc  
xã hội. Do đó, số lượng người tiếp xúc với các  
thể chế hiện đại càng nhiều thì mức độ hiện đại  
của từng cá nhân sẽ càng lớn, điều này làm gia  
tăng mức độ hiện đại hóa của xã hội và thúc đẩy  
phát triển kinh tế. Do đó, việc mở rộng giáo dục  
4
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
và đào tạo thông qua các tác động của nó đến  
các giá trị và lợi ích cá nhân sẽ tạo ra những nền  
tảng cần thiết cho lực lượng lao động có trình  
độ. Những cá nhân có trí tuệ thông minh cao sẽ  
tham gia vào việc xây dựng danh tiếng, hợp tác  
lâu dài và qua đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh  
tế bền vững hơn.  
ứ hai, nghiên cứu thực nghiệm đã cho  
thấy ảnh hưởng của trí tuệ thông minh đến  
tham nhũng là phi tuyến. Cụ thể, nghiên cứu Lv  
(2017) đã tiến hành một phân tích thực nghiệm  
cho 171 nước trong giai đoạn 2007-2011 bằng  
phương pháp OLS và hồi quy phân vị. Trong  
nghiên cứu này, Lv (2017) đo lường tham  
nhũng bằng cách đảo ngược giá trị của Chỉ số  
cảm nhận tham nhũng, trong khi đó, chỉ số IQ  
đến từ Lynn và Vanhanen (2012) và Becker và  
Rindermann (2016). Kết quả phân tích dữ liệu  
đã cho thấy, trong trường hợp không có biến  
kiểm soát thì trí tuệ thông minh có tác động  
tiêu cực đến tham nhũng. Sau khi bổ sung biến  
IQsquare và các biến kiểm soát khác, kết quả  
cho thấy, có mối quan hệ phi tuyến giữa trí  
tuệ thông minh và tham nhũng. Cụ thể, trí tuệ  
thông minh quốc gia sẽ có tác động làm gia tăng  
tham nhũng nhưng khi trên điểm ngoặt (71,25  
đến 82,68 điểm) thì trí tuệ thông minh sẽ làm  
giảm tham nhũng. Kết quả kiểm định tính vững  
bằng cách thay đổi nguồn dữ liệu của chỉ số trí  
tuệ thông minh và tham nhũng cũng cho kết  
quả gần như tương tự.  
2.3. Các nghiên cứu trước  
Các nghiên cứu thực nghiệm trước cho thấy,  
có hai mối quan hệ giữa trí tuệ thông minh của  
con người và tham nhũng. Đầu tiên, các nghiên  
cứu thực nghiệm cho thấy mối quan hệ này là  
tích cực. Potrafe (2012) phân tích ảnh hưởng  
của trí tuệ thông minh đến tham nhũng của các  
quốc gia trên thế giới. Trong nghiên cứu này,  
Potrafe (2012) đã đảo ngược giá trị của Chỉ số  
cảm nhận tham nhũng năm 2010 để đại diện  
cho mức độ tham nhũng và chỉ số IQ phiên  
bản năm 2002 và 2006 của Lynn và Vanhanen  
(2012) để đo lường trí tuệ thông minh của con  
người. Bằng phương pháp OLS với sai số chuẩn  
vững mạnh (robust standard errors), Potrafe  
(2012) đã cho thấy bằng chứng có ý nghĩa thống  
kê về ảnh hưởng tích cực của trí tuệ thông minh  
trong việc kiểm soát tham nhũng tại các nước  
trên thế giới. Kết quả này vẫn không thay đổi  
ngay cả khi được Potrafe (2012) bổ sung thêm  
các biến kiểm soát và thay đổi nguồn dữ liệu  
về trí tuệ thông minh. Một nghiên cứu được  
thực hiện bởi Kanyama (2014) cũng cho kết  
quả tương tự. Trong nghiên cứu này, Kanyama  
(2014) phân tích ảnh hưởng của trí tuệ thông  
minh đến chất lượng thể chế của 164 nước  
trong giai đoạn 2006-2010 bằng phương pháp  
2SLS. Kanyama (2014) sử dụng nguồn dữ liệu  
của chỉ số IQ tương tự như trong nghiên cứu  
của Potrafe (2012) và tham nhũng đo lường  
bằng chỉ số kiểm soát tham nhũng trong bộ chỉ  
số quản trị toàn cầu của Ngân hàng ế giới. Kết  
quả nghiên cứu này đã cho thấy, trí tuệ thông  
minh có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng thể  
chế của các nước, trong đó có việc kiểm soát  
tham nhũng tốt hơn. Kanyama (2014) đã bổ  
sung biến kiểm soát là yếu tố vị trí khu vực của  
các nước cũng cho kết quả tương tự.  
Nhìn chung, ba nghiên cứu thực nghiệm  
trước (Potrafe, 2012; Kanyama, 2014; Lv,  
2017) có ưu điểm là sử dụng bộ dữ liệu lớn của  
tất cả các nước trên thế giới để phân tích mối  
quan hệ giữa trí tuệ thông minh và tham nhũng  
nên kết quả của ba nghiên cứu này đã cung cấp  
bằng chứng thực nghiệm ở cấp độ toàn cầu.  
Tuy nhiên, ba nghiên cứu này có nhược điểm  
là sử dụng cách tiếp cận tần số nên kết quả  
diễn giải sẽ có nhiều hạn chế và thiếu độ tin cậy  
(Kraemer, 2019; Wasserstein & cộng sự, 2019;  
Trafimow, 2021)1.  
Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước cũng cho  
thấy, các yếu tố khác có ảnh hưởng đến tham  
nhũng. Chẳng hạn, GDP bình quân đầu người  
(Potrafe, 2012; Kanyama, 2014; Lv, 2017; Zhao  
1
Vì giới hạn độ dài của bài viết nên nhóm tác giả  
không trình bày chi tiết những hạn chế của trường  
phái tần số. Độc giả có thể xem những hạn chế  
này trong nghiên cứu của Wasserstein và cộng sự  
(2019) hoặc Kraemer (2019).  
5
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
& cộng sự, 2017; Nguyễn Văn Điệp & cộng sự,  
Trong nghiên cứu này, phân phối tiên  
2021), quy mô chính phủ (Lv, 2017), tỷ lệ đô thị nghiệm được sử dụng là phân phối chuẩn cho  
hóa (Lv, 2017), độ mở thương mại (Kanyama, các tham số β và phân phối Gamma nghịch đảo  
2014), và hiệu quả của chính phủ (Basyal & cho tham số σ2 theo đề xuất của Permai và Tanty  
cộng sự, 2018; Nguyễn Văn Điệp & cộng sự, (2018), Nguyen và Duong (2021), Oanh và cộng  
2021). Do đó, nhóm tác giả sẽ bổ sung các biến sự (2022). Trong khi đó, phân phối hậu nghiệm  
số này vào mô hình nghiên cứu.  
sẽ dựa vào phương pháp Markov Chain Monte  
Carlo bằng thuật toán lấy mẫu Gibbs. eo  
Gelman và Rubin (1992), cách tiếp cận này sẽ  
làm giảm sai lệch trong ước tính khi thực hiện  
hồi quy Bayes và có thể áp dụng cho đầu ra của  
bất kỳ thuật toán Markov Chain Monte Carlo .  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Phương pháp ước lượng  
Nhóm tác giả sử dụng phương pháp hồi quy  
tuyến tính Bayes để phân tích ảnh hưởng của trí  
tuệ thông minh của con người đến tham nhũng  
của các nước ASEAN. eo quan điểm Bayes,  
tất cả các tham số trong mô hình không phải là  
một giá trị ước tính duy nhất và được rút ra từ  
phân phối xác suất (Permai & Tanty, 2018). Mô  
hình hồi quy tuyến tính Bayes như sau:  
3.2. Mô hình nghiên cứu  
Để phân tích ảnh hưởng của trí tuệ thông  
minh đến tham nhũng tại các nước ASEAN,  
nhóm tác giả sử dụng mô hình kinh tế lượng có  
dạng như sau:  
Corruption = β0 + β1IQ + βi’ CV + ε  
(3)  
Y ~ N(βT X, σ2 I)  
(1)  
Nghiên cứu của Lv (2017) đã tìm thấy bằng  
chứng về mối quan hệ chữ U ngược giữa trí tuệ  
thông minh và tham nhũng. Do đó, trong bài  
viết này nhóm tác giả sẽ kiểm tra xem liệu có  
tồn tại mối quan hệ hình chữ U ngược giữa trí  
tuệ thông minh và tham nhũng tại các nước  
ASEAN hay không theo phương pháp tiếp cận  
Bayes. Như vậy, phương trình (3) sẽ trở thành:  
Trong đó: Biến phụ thuộc (Y) có phân phối  
chuẩn được mô tả bởi giá trị trung bình và  
phương sai (σ2). Giá trị trung bình của hồi quy  
tuyến tính là chuyển vị của ma trận trọng số  
nhân với ma trận dự đoán.  
Xác suất hậu nghiệm (posterior) của các  
tham số trong mô hình có điều kiện dựa trên  
dữ liệu đầu vào và đầu ra như sau:  
Corruption = β0 + β1IQ + β2IQsquare  
(4)  
+ β3’CV + ε  
P(β|Y,X) = P(Y|β,X) × P(β,X)/P(Y,X) (2)  
Trong đó, IQ đại diện cho trí tuệ thông minh,  
IQsquare là bình phương của IQ, Corruption  
đại diện cho tham nhũng, CV là tập hợp các  
biến kiểm soát và ε là sai số ngẫu nhiên. Trong  
phương trình (4), để xác nhận bằng chứng cho  
mối quan hệ chữ U ngược, nhóm tác giả kỳ  
vọng dấu của β1 là dương và dấu của β2 là âm.  
Cuối cùng, điểm ngoặt (turning point) mà tại  
đó IQ sẽ làm giảm tham nhũng được tính toán  
như sau:  
Trong đó: P(β|Y,X) là xác suất hậu nghiệm  
của các tham số, P(Y|β,X) là xác suất hàm hợp  
lý (likelihood) của dữ liệu, P(β,X) là xác suất  
tiên nghiệm (prior) của các tham số và P(Y,X)  
là hằng số chuẩn hóa.  
eo Permai và Tanty (2018) thì phân phối  
tiên nghiệm liên hợp (conjugate prior) là trong  
những phân phối tiên nghiệm có thể được sử  
dụng trong cách tiếp cận Bayes khi thực hiện  
mô hình hồi quy tuyến tính. Việc ước lượng các  
tham số của mô hình hồi quy Bayes có thể được  
IQ* = – β1 / 2β2  
(5)  
thực hiện bằng cách phép lặp ở phân phối hậu 3.3. Dữ liệu và đo lường các biến  
nghiệm bằng cách nhân phân phối tiên nghiệm  
với hàm hợp lý.  
Nhóm tác giả thu thập dữ liệu của 10 nước  
thành viên ASEAN trong giai đoạn 1995 – 2019,  
6
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
bao gồm: Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào,  
Dữ liệu về trí tuệ thông minh (IQ) được lấy  
Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, từ công trình của Lynn và Vanhanen (2012). Bộ  
ái Lan và Việt Nam.  
dữ liệu này là tập hợp của hàng trăm bài kiểm  
tra IQ quốc gia được quan sát trong thế kỷ 20  
và 21 bằng cách sử dụng các phương pháp thực  
hành tốt nhất (Kanyama, 2014). Các nghiên cứu  
trước như Potrafe (2012), Kanyama (2014) và  
Lv (2017) cũng đã sử dụng bộ dữ liệu này để  
đại diện cho trí tuệ thông minh quốc gia. Trong  
khi đó, dữ liệu về IQ của Becker và Rindermann  
(2016) được sử dụng trong phần kiểm tra tính  
vững của mô hình.  
Để đo lường tham nhũng (Corruption),  
nhóm tác giả sử dụng Chỉ số cảm nhận tham  
nhũng (Perception of Corruption Index) do  
Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency  
International) công bố. Serra (2006) cho rằng  
chỉ số này đáng tin cậy hơn các chỉ số đơn  
giản do các nguồn riêng lẻ tạo ra. Đồng thời,  
các nghiên cứu về trí tuệ thông minh và tham  
nhũng cũng sử dụng chỉ số này để đo lường  
tham nhũng (Potrafe, 2012; Lv, 2017). eo đề  
xuất của Potrafe (2012) và Lv (2017), chúng tôi  
sẽ đảo ngược giá trị của chỉ số này theo thang  
đo từ 0 (không có tham nhũng) đến 10 (tham  
nhũng nghiêm trọng).  
Bên cạnh đó, các biến kiểm soát cũng được  
đưa vào mô hình bao gồm: GDP bình quân đầu  
người (GDP per capita), độ mở thương mại  
(Openness), tỷ lệ đô thị hóa (Urbanization),  
quy mô chính phủ (Size of government) và hiệu  
quả của chính phủ (Government effectiveness).  
Bảng 1. Định nghĩa biến và nguồn dữ liệu  
Biến số  
Đo lường  
Nguồn  
Corruption  
Nằm trong khoảng từ 0 (không có tham Transparency International  
nhũng) đến 10 (tham nhũng nghiêm  
trọng)  
IQ  
Điểm IQ quốc gia  
Lynn & Vanhanen (2012), Becker &  
Rindermann (2016)  
GDP per capita  
Openness  
Log của GDP bình quân đầu người World Development Indicators  
(USD) theo giá so sánh năm 2010  
Tổng giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa và World Development Indicators  
dịch vụ trên GDP (%)  
Urbanization  
Size of government  
Mức độ đô thị hóa (Dân số thành thị/ World Development Indicators  
Tổng dân số)  
Chi tiêu chung cho tiêu dùng cuối cùng World Development Indicators  
của chính phủ (% GDP)  
Government  
effectiveness  
Nằm trong khoảng từ -2,5 (yếu) đến 2,5 Worldwide Governance Indicators  
(tốt)  
Bảng 2 trình bày thống kê mô tả của hai biến minh kém nhất (IQ trung bình là 85,00 điểm)  
trọng tâm của nghiên cứu là tham nhũng và và Singapore là nước có trí tuệ thông minh cao  
trí tuệ thông minh của 10 nước ASEAN trong nhất với IQ trung bình là 107,10 điểm. Nhìn  
mẫu nghiên cứu. Đối với biến tham nhũng, chung, các nước ASEAN có mức độ tham nhũng  
Myanmar là nước tình trạng tham nhũng cao thấp (ngoại trừ Singapore) và thuộc nhóm các  
nhất (8,03) và Singapore là nước ít tham nhũng nước có trí tuệ thông minh trung bình hoặc  
nhất (1,03). Tượng tự, kết quả thống kê cũng trung bình thấp.  
cho thấy Myanmar là nước có trí tuệ thông  
7
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Bảng 2. Mô tả tóm tắt cho biến tham nhũng và trí tuệ thông minh của các nước ASEAN  
TT Nước  
Corruption  
4,22  
IQ  
TT Nước  
Corruption  
5,04  
IQ  
1
2
3
4
5
Brunei  
89,00  
85,80  
92,00  
89,00  
85,00  
6
7
8
9
Malaysia  
91,70  
86,10  
107,10  
89,90  
94,00  
Indonesia  
Campuchia  
Lào  
7,31  
7,93  
7,50  
8,03  
Philippines  
Singapore  
ái Lan  
7,03  
1,03  
6,58  
7,16  
Myanmar  
10 Việt Nam  
4. Kết quả thực nghiệm  
4.1. Kết quả hồi quy tuyến tính Bayes  
Bảng 3. Kết quả mô phỏng hậu nghiệm  
Hệ số  
Hệ số  
Hệ số  
Hệ số  
Hệ số  
Hệ số  
am số  
trung bình trung bình trung bình trung bình trung bình trung bình  
(1)  
(2)  
(3)  
(4)  
(5)  
(6)  
0,39249  
[1,0000*]  
-0,00352  
0,44754  
[1,0000*]  
-0,00309  
0,45275  
[1,0000*]  
-0,00318  
0,36457  
[1,0000*]  
-0,00269  
0,32789  
[1,0000*]  
-0,00223  
0,32198  
[1,0000*]  
-0,00222  
IQ  
IQsquare  
[1,0000**] [1,0000**] [1,0000**] [1,0000**] [1,0000**] [1,0000**]  
-1,04692  
-0,99141  
-0,30603  
-0,29113  
-0,24109  
Log GDP per capita  
Size of government  
Urbanization  
Openness  
–
–
–
–
[1,0000**] [1,0000**] [0,9997**] [0,9998**] [0,9820**]  
-0,02276  
-0,04906  
-0,05109  
-0,04915  
–
–
–
[0,9809**] [1,0000**] [1,0000**] [1,0000**]  
-0,03722  
-0,03515  
-0,03195  
–
–
[1,0000**] [1,0000**] [1,0000**]  
-0,00441  
[1,0000**] [0,9953**]  
-0,00310  
–
-0,22144  
[0,9704**]  
Government  
effectiveness  
–
–
–
–
–
-0,24428  
-0,27016  
-0,20471  
0,29159  
0,13353  
[0,5546*]  
0,14335  
73,64  
-0,09120  
[0,5377**]  
0,13809  
72,53  
Hằng số  
[0,5958**] [0,6067**] [0,5829**] [0,6114*]  
1,29280  
55,79  
Phương sai (σ2)  
Điểm ngoặt (IQ*)  
0,21916  
72,44  
0,21759  
71,26  
0,15793  
67,70  
ống kê Rc lớn nhất  
1,00012  
0,98650  
1,00006  
0,97730  
1,00000  
0,93140  
1,00001  
0,95390  
1,00013  
0,95050  
1,00030  
0,91380  
Chỉ số hiệu quả  
lấy mẫu nhỏ nhất  
ESS nhỏ nhất  
ESS lớn nhất  
29.595  
30.000  
29.318  
30.000  
27.943  
30.000  
28.616  
30.000  
28.515  
30.000  
27.413  
30.000  
Ghi chú: trong dấu ngoặc vuông [ ] là xác suất hậu nghiệm; * xác suất hậu nghiệm > 0; ** xác suất  
hậu nghiệm < 0.  
8
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
tham nhũng ở các nước ASEAN. Kết quả này  
tương tự với lập luận của Lv (2017), đó là mức  
độ ảnh hưởng của trí tuệ thông minh đối với  
tham nhũng không đồng đều và rõ ràng hoặc  
sự gia tăng của trí tuệ thông minh qua các cấp  
độ phát triển nhận thức có thể không nhất quán  
với việc làm giảm tham nhũng. Tuy nhiên, các  
điểm ngoặt về trí tuệ thông minh (thấp nhất  
là 55,79 điểm và cao nhất là 73,64 điểm) được  
tìm thấy trong nghiên cứu này thấp hơn điểm  
ngoặt trong nghiên cứu của Lv (2017). Dữ liệu  
tại Bảng 2 cho thấy, các nước ASEAN đều có  
IQ trên điểm ngoặt nên trí tuệ thông minh của  
con người càng cao sẽ góp phần làm giảm tham  
nhũng tại các nước này. Phát hiện này cho thấy,  
các nước có IQ cao do được hưởng chất lượng  
thể chế tốt hơn, trong đó, có tình trạng tham  
nhũng thấp. Kanyama (2014) lập luận rằng,  
một quốc gia có chất lượng thể chế tốt có thể  
tạo ra hệ thống giáo dục xuất sắc và hệ thống  
y tế tốt cho phép các tài năng phát triển. Đồng  
thời, các công dân có IQ cao là các công dân  
lương thiện nên tính trung thực cao, và do đó  
có hành vi tuân thủ pháp luật cao (Dee, 2004;  
Milligan & cộng sự, 2004). Bên cạnh đó, bởi vì  
trí tuệ thông minh có mối tương quan thuận với  
sự kiên nhẫn (Kanyama, 2014) nên dân số có  
trí tuệ thông minh cao sẽ tham gia vào việc xây  
dựng danh tiếng và hợp tác lâu dài nên hành vi  
tham nhũng sẽ kém hấp dẫn hơn. Trong trường  
hợp này, trí tuệ thông minh cao sẽ đảm bảo chất  
lượng thể chế tốt hơn, điều này đồng nghĩa với  
mức độ tham nhũng sẽ thấp.  
Để ước tính hồi quy tuyến tính Bayes, nhóm  
tác giả thực hiện mô phỏng mẫu Markov Chain  
Monte Carlo lặp lại bằng thuật toán Gibbs với số  
chuỗi tiêu chuẩn là 3 và độ dài của mỗi Markov  
Chain Monte Carlo là 12.500 quan sát. Trong  
mỗi lần chạy phân tích thì 20% số quan sát đầu  
tiên (2.500 quan sát) bị loại bỏ và do đó, kích cỡ  
mẫu cho mỗi Markov Chain Monte Carlo sẽ là  
10.000. Bảng 3 trình bày kết quả mô phỏng hậu  
nghiệm của phương trình 4 bằng phương pháp  
hồi quy tuyến tính Bayes. Nhóm tác giả cũng  
tóm tắt những thông tin về các hệ số trung bình  
của các tham số trong mô hình thực và xác suất  
hậu nghiệm của các hệ số trung bình này. Bên  
cạnh đó, Bảng 3 cũng trình bày các giá trị của  
điểm ngoặt được tính toán theo công thức 5.  
Cụ thể, trong cột (1) thì hệ số trung bình của  
biến IQ là 0,39249 và xác suất ảnh hưởng tích  
cực của IQ đến tham nhũng là 100%. Đồng thời,  
cột (1) cũng cho thấy hệ số trung bình của biến  
IQsquare là -0,00352 và xác suất ảnh hưởng tiêu  
cực của IQsquare đến tham nhũng là 100%. Kết  
quả này cung cấp bằng chứng mạnh mẽ về mối  
quan hệ phi tuyến giữa trí tuệ thông minh của  
con người và tham nhũng ở các nước ASEAN.  
Đồng thời, kết quả hồi quy được thể hiện từ cột  
(2), (3), (4), (5), và (6) sau khi bổ sung các biến  
kiểm soát (GDP bình quân đầu người, quy mô  
chính phủ, đô thị hóa, độ mở thương mại và  
hiệu quả của chính phủ) cho thấy: thứ nhất,  
hệ số trung bình của biến IQ đều dương (hệ  
số trung bình của IQ dao động trong khoảng  
0,32198 đến 0,45275) và xác suất ảnh hưởng  
ảnh hưởng tích cực của biến IQ đến tham  
nhũng là 100%; thứ hai, các hệ số trung bình  
của biến IQsquare đều âm (hệ số trung bình  
của biến IQsquare dao động từ -0,00318 đến  
-0,00222) và xác suất ảnh hưởng tiêu cực của  
biến IQsquare đến tham nhũng là 100%. Điều  
này cho thấy sau khi bổ sung các biến kiểm soát  
thì dấu của các hệ số trung bình của hai biến  
IQ và IQsquare vẫn không đổi và xác suất ảnh  
hưởng của hai biến này đến tham nhũng là cao  
tuyệt đối (100%). Kết quả này một lần nữa ủng  
hộ bằng chứng mạnh về mối quan hệ phi tuyến  
(hình chữ U ngược) của trí tuệ thông minh đến  
Đối với các biến kiểm soát, kết quả cho thấy:  
ứ nhất, hệ số trung bình của biến GDP bình  
quân đầu người có dấu âm và xác suất ảnh  
hưởng tiêu cực của biến này đến tham nhũng  
trên 98%. Do đó, có bằng chứng mạnh mẽ về  
ảnh hưởng của GDP bình quân đầu người đến  
tham nhũng, cụ thể những quốc gia có thu nhập  
bình quân đầu người cao hơn sẽ giúp làm giảm  
tham nhũng. Kết quả này phù hợp với công  
bố của Nguyễn Văn Điệp và cộng sự (2021),  
Lv (2017), Zhao và cộng sự (2017), Kanyama  
(2014), và Potrafe (2012). ứ hai, các hệ số  
trung bình của biến quy mô chính phủ đều có  
9
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
giá trị âm với xác suất ảnh hưởng tiêu cực của Markov Chain Monte Carlo nên hay xảy ra hiện  
quy mô chính phủ đến tham nhũng là trên 98%. tượng tự tương quan trong các mẫu. Hay nói  
Kết quả này cung cấp bằng chứng mạnh mẽ về một cách khác, các mẫu liên tiếp không độc  
mối quan hệ tiêu cực giữa quy mô chính phủ và lập với các mẫu trước đó. Điều này làm giảm  
tham nhũng, và nó tương đồng với nghiên cứu ESS và độ chính xác trong việc biểu diễn phân  
của Lv (2017). ứ ba, những hệ số trung bình phối hậu nghiệm (Kass & cộng sự, 1998). Mặc  
của biến đô thị hóa đều có dấu âm và xác suất dù tiêu chí về độ chính xác là khác nhau với  
ảnh hưởng tiêu cực đến tham nhũng là 100%. mỗi mô hình hồi quy Bayes, nhưng để có được  
Do đó, kết quả này cung cấp bằng chứng mạnh ESS tốt nhất thì các nhà nghiên cứu cho rằng  
mẽ cho thấy tỷ lệ đô thị hóa càng hóa càng cao có thể căn cứ vào chỉ số lấy mẫu hiệu quả với  
thì mức độ tham nhũng càng giảm. Kết quả này ngưỡng giá trị là 0,01 (Gelman & Rubin, 1992;  
trái ngược với nghiên cứu của Lv (2017). ứ Oanh & cộng sự, 2022). Bảng 3 cho thấy, các giá  
tư, biến độ mở thương mại có các hệ số trung trị thống kê Rc lớn nhất của tất cả các tham số  
bình mang dấu âm và xác suất ảnh hưởng tiêu trong 6 trường hợp đều nhỏ hơn 1,1. Bên cạnh  
cực đến tham nhũng là gần 100% nên có bằng đó, chỉ số hiệu quả lấy mẫu nhỏ nhất của các  
chứng mạnh mẽ về mối quan hệ tiêu cực giữa tham số trong 6 trường hợp đều lớn hơn 0,01  
độ mở thương mại và tham nhũng ở các nước nên thuật toán Markov Chain Monte Carlo đạt  
ASEAN. Kết quả này tương tự với kết luận của hiệu quả lấy mẫu (ESS dao động trong khoảng  
Kanyama (2014). Cuối cùng, hệ số trung bình từ 27.413 đến 30.000 quan sát). Như vậy, thuật  
của biến chính phủ hiệu quả có dấu âm với xác toán Markov Chain Monte Carlo đã hội tụ.  
suất ảnh hưởng tiêu cực của Chính phủ hiệu  
quả đến tham nhũng là khoảng 97%. Kết quả  
4.2. Kiểm định tính vững của mô hình  
Trong phần này, nhóm tác giả kiểm tra tính  
hợp lệ của các kết quả nghiên cứu bằng cách  
thay thế nguồn dữ liệu của trí tuệ thông minh  
của Becker và Rindermann (2016). Nhóm tác  
giả cũng sử dụng phương pháp hồi quy tuyến  
tính Bayes trong trường hợp này.  
này đã cung cấp bằng chứng mạnh mẽ cho thấy  
một càng Chính phủ hiệu quả sẽ giúp kiểm soát  
tham nhũng càng tốt và phù hợp với kết luận  
của Nguyễn Văn Điệp và cộng sự (2021) và  
Basyal và cộng sự (2018).  
Trong cách tiếp cận Bayes thì thuật toán  
Markov Chain Monte Carlo cần hội tụ đến điểm  
dừng, nghĩa là dừng lấy mẫu Markov Chain  
Monte Carlo (Gelman & Rubin, 1992; Kass &  
cộng sự, 1998; Roy, 2020). Trong bài viết này,  
nhóm tác giả sử dụng chẩn đoán Gelman-Rubin  
và kích thước mẫu hiệu quả (ESS) để kiểm định  
sự hội tụ của thuật toán Markov Chain Monte  
Carlo. Roy (2020) cho rằng chẩn đoán Gelman-  
Rubin là phương pháp phổ biến nhất để đánh  
giá các mẫu thu được từ việc thực hiện các thuật  
toán MCMC. eo Gelman và Rubin (1992),  
mô phỏng hậu nghiệm sẽ dừng khi thống kê  
Rc của chẩn đoán Gelman-Rubin nhỏ hơn 1,1  
(Gelman & cộng sự, 2013). Bên cạnh đó, phân  
phối hậu nghiệm được lấy mẫu bằng thuật toán  
Cụ thể, bảng 4 trình bày các hệ số trung bình  
của biến IQ và IQsquare được tính toán từ dữ  
liệu của Becker và Rindermann (2016). Dấu của  
các hệ số trung bình của IQ và IQsquare và xác  
suất ảnh hưởng của các hệ số này tương tự với  
những kết quả được báo cáo trong Bảng 3. Kết  
quả này một lần nữa xác nhận mối quan hệ hình  
chữ U ngược giữa trí tuệ thông minh và tham  
nhũng tại các nước ASEAN. Cuối cùng, Bảng  
4 cũng cho thấy điểm ngoặt của IQ dao động  
trong khoảng 56,30 đến 81,62 điểm. Bên cạnh  
đó, các biến kiểm soát cũng cho kết quả tương  
tự như Bảng 3. Các kiểm định trong trường hợp  
này cũng cho thấy thuật toán Markov Chain  
Monte Carlo là hội tụ.  
10  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Bảng 4. Kết quả mô phỏng hậu nghiệm bằng cách thay thế cách đo lường IQ  
Hệ số  
Hệ số  
Hệ số  
Hệ số  
Hệ số  
Hệ số  
am số  
trung bình trung bình trung bình trung bình trung bình trung bình  
(1)  
(2)  
(3)  
(4)  
(5)  
(6)  
0,36951  
[1,0000*]  
0,46273  
[1,0000*]  
0,46324  
[1,0000*]  
0,37225  
[1,0000*]  
0,31948  
[1,0000*]  
0,32041  
[1,0000*]  
IQ  
-0,00328  
-0,00312  
-0,00312  
-0,00262  
-0,00200  
-0,00196  
IQsquare  
[1,0000**] [1,0000**] [1,0000**] [1,0000**] [1,0000**] [1,0000**]  
-1,10837  
-1,12531  
-0,38784  
-0,34278  
-0,41620  
Log GDP per capita  
Size of government  
Urbanization  
Openness  
–
–
–
–
[1,0000**] [1,0000**] [0,9999**] [0,9999**] [0,9998**]  
0,00148  
[0,5489*]  
-0,02900  
-0,04193  
-0,03405  
–
–
–
[0,9965**] [0,9999**] [0,9993**]  
-0,03925  
[1,000**]  
-0,03357  
[1,0000**] [1,0000**]  
-0,00688  
[1,0000**] [1,0000**]  
-0,03039  
–
–
-0,00683  
–
Government  
effectiveness  
-0,02601  
[0,5899**]  
–
–
–
–
–
-0,59854  
-1,11143  
-1,01332  
-0,65632  
-0,47167  
-0,8564  
Hằng số  
[0,7256**] [0,8682**] [0,8478**] [0,7480**] [0,6843**] [0,6861**]  
Phương sai (σ2)  
Điểm ngoặt (IQ*)  
1,58061  
56,30  
0,26547  
74,22  
0,27182  
74,28  
0,20870  
71,00  
0,15687  
79,81  
0,15409  
81,62  
ống kê Rc  
lớn nhất  
Chỉ số hiệu quả  
lấy mẫu nhỏ nhất  
1,00004  
0,97610  
1,00011  
0,97180  
1,00010  
0,95660  
1,00014  
0,94370  
1,00018  
0,91170  
1,00019  
0,92900  
ESS nhỏ nhất  
ESS lớn nhất  
29.282  
30.000  
29.153  
30.000  
28.699  
30.000  
28.312  
30.000  
27.352  
30.000  
27.871  
30.000  
Ghi chú: trong dấu ngoặc vuông [ ] là xác suất hậu nghiệm; * xác suất hậu nghiệm > 0; ** xác suất hậu  
nghiệm < 0.  
5. Kết luận và hàm ý chính sách  
sẽ đảo ngược và tình trạng tham nhũng có xu  
hướng giảm dần. Một hàm ý quan trọng của bài  
viết này là kiểm soát tham nhũng là một kênh  
quan trọng mà thông qua đó trí tuệ thông minh  
có ảnh hưởng tích cực gián tiếp đến tăng trưởng  
kinh tế. Cụ thể hơn, trí tuệ thông minh của con  
người cao hơn sẽ làm giảm tham nhũng, từ đó  
ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế.  
Đóng góp chính của bài viết này cho lý thuyết  
Bài viết này nhằm phân tích ảnh hưởng  
của trí tuệ thông minh đến tham nhũng thông  
qua bộ dữ liệu từ 10 nước ASEAN trong giai  
đoạn 1995 – 2019. Kết quả hồi quy tuyến tính  
Bayes cho thấy rằng, có mối quan hệ hình chữ  
U ngược giữa trí tuệ thông minh của con người  
và tham nhũng. Điều này hàm ý rằng, ở giai  
đoạn đầu của quá trình phát triển nhận thức, là cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy  
sự gia tăng chỉ số IQ của quốc gia sẽ làm gia trí tuệ thông minh của con người thực sự quan  
tăng tham nhũng. Nhưng khi chỉ số IQ vượt trọng đối với việc kiểm soát tham nhũng của  
qua một ngưỡng nhất định, mối quan hệ này Chính phủ.  
11  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài viết đề  
xuất một số gợi ý quan trọng cho các nhà hoạch  
định chính sách của các nước ASEAN trong  
việc kiểm soát tham nhũng như sau: (i) 10  
nước trong mẫu nghiên cứu đều có mức điểm  
IQ trên điểm ngoặt nên nhóm tác giả đề xuất  
nên tăng cường đầu tư vào giáo dục và kỹ năng  
con người để đạt được lợi ích làm giảm tham  
nhũng; (ii) chú trọng phát triển kinh tế và hội  
nhập kinh tế khu vực và toàn cầu vì khi kinh tế  
phát triển dẫn đến thịnh vượng hơn và tham  
nhũng sẽ giảm; và (iii) cần gia tăng cho chi tiêu  
chính phủ và xây dựng Chính phủ càng hiệu  
quả sẽ có ích trong việc ngăn chặn tham nhũng.  
Đối với Việt Nam, theo lý thuyết vốn con  
người thì giáo dục là yếu tố then chốt vì nó  
được coi là phương tiện chính để phát triển  
kiến thức và kỹ năng nhận thức của con người.  
Do đó, để cải thiện trí tuệ thông minh thì chính  
phủ Việt Nam cần có các chính sách đào tạo để  
nâng cao nhận thức cho công dân hướng đến  
xây dựng văn hóa trung thực. Tuy nhiên, trong  
ngắn hạn thì chính phủ Việt Nam cần ban hành  
cách chính sách trừng phạt thật nặng các hành  
vi tham nhũng trong khu vực công.  
Tài liệu tham khảo  
Alfada, A. (2019). Corruption and Economic Growth in ASEAN Member Countries. Economics and Finance in  
Anguera-Torrell, O. (2020). Entrepreneurship, trust and corruption. European Journal of Political Economy, 65,  
Basyal, D. K., Poudyal, N., & Seo, J. W. (2018). Does E-government reduce corruption? Evidence from a  
heterogeneous panel data model. Transforming Government: People, Process and Policy, 12(2), 134-154.  
Becker, D., & Rindermann, H. (2016). e relationship between cross-national genetic distances and IQ-  
differences. Personality and Individual Differences, 98, 300-310. https://doi.org/10.1016/j.paid.2016.03.050  
Colom, R., Karama, S., Jung, R. E., & Haier, R. J. (2010). Human intelligence and brain networks. Dialogues in  
Damania, R., Fredriksson, P. G., & List, J. A. (2003). Trade liberalization, corruption, and environmental policy  
formation: theory and evidence. Journal of Environmental Economics and Management, 46(3), 490-512.  
Dee, T. S. (2004). Are there civic returns to education? Journal of Public Economics, 88(9), 1697-1720. https://doi.  
org/10.1016/j.jpubeco.2003.11.002  
Derry, S. J., & Murphy, D. A. (1986). Designing Systems that Train Learning Ability: From eory to Practice.  
Evrensel, A. Y. (2010). Corruption, growth, and growth volatility. International Review of Economics & Finance,  
Farooq, A., Shahbaz, M., Arouri, M., & Teulon, F. (2013). Does corruption impede economic growth in Pakistan?  
Gelman, A., Carlin, J. B., Stern, H. S., Dunson, D. B., Vehtari, A., & Rubin, D. B. (2013). Bayesian data analysis.  
CRC press.  
Gelman, A., & Rubin, D. B. (1992). Inference from Iterative Simulation Using Multiple Sequences. Statistical  
Gokcekus, O., & Suzuki, Y. (2011). Business cycle and corruption. Economics Letters, 111(2), 138-140. https://doi.  
org/10.1016/j.econlet.2011.01.023  
Jones, G. (2011). National IQ and National Productivity: e Hive Mind Across Asia. Asian Development Review,  
28(1), 51-71.  
12  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Kanyama, I. K. (2014). Quality of institutions: Does intelligence matter? Intelligence, 42, 44-52. https://doi.  
org/10.1016/j.intell.2013.10.002  
Kass, R. E., Carlin, B. P., Gelman, A., & Neal, R. M. (1998). Markov Chain Monte Carlo in Practice: A Roundtable  
Discussion. e American Statistician, 52(2), 93-100. https://doi.org/10.1080/00031305.1998.10480547  
Kaufmann, D., & Siegelbaum, P. (1997). Privatization and Corruption in Transition Economies. Journal of  
Kodila-Tedika, O., & Asongu, S. A. (2015). e effect of intelligence on financial development: A cross-country  
Kraemer, H. C. (2019). Is It Time to Ban the P Value? JAMA Psychiatry, 76(12), 1219-1220. https://doi.org/10.1001/  
jamapsychiatry.2019.1965  
Kumar, A., & Kober, B. (2012). Urbanization, human capital, and cross-country productivity differences.  
Kyllonen, P. C., & Tirre, W. C. (1988). Individual differences in associative learning and forgetting. Intelligence,  
Lv, Z. (2017). Intelligence and corruption: An empirical investigation in a non-linear framework. Journal of  
Behavioral and Experimental Economics, 69, 83-91. https://doi.org/10.1016/j.socec.2017.06.003  
Lynn, R. (2018). e Intelligence of Nations. In R. J. Sternberg (Ed.). e Nature of Human Intelligence, 256-269.  
Lynn, R., & Vanhanen, T. (2002). IQ and the wealth of nations. Praeger Publishers/Greenwood Publishing Group.  
Lynn, R., & Vanhanen, T. (2012). Intelligence: A unifying construct for the social sciences. Ulster Institute for Social  
Research.  
Milligan, K., Moretti, E., & Oreopoulos, P. (2004). Does education improve citizenship? Evidence from the United  
States and the United Kingdom. Journal of Public Economics, 88(9), 1667-1695. https://doi.org/10.1016/j.  
jpubeco.2003.10.005  
Nam, T. (2018). Examining the anti-corruption effect of e-government and the moderating effect of national  
culture: A cross-country study. Government Information Quarterly, 35(2), 273-282. https://doi.  
org/10.1016/j.giq.2018.01.005  
Nguyen, D. V., & Duong, M. T. H. (2021). Shadow Economy, Corruption and Economic Growth: An Analysis  
of BRICS Countries. e Journal of Asian Finance, Economics and Business, 8(4), 665-672. https://doi.  
org/10.13106/jafeb.2021.vol8.no4.0665  
Nguyễn Văn Điệp, Phạm Xuân u, & Nguyễn Hoàng i (2021). Chính phủ điện tử, văn hóa quốc gia và tham  
nhũng: Bằng chứng từ tiếp cận Bayes. Tạp chí Kinh tế và Ngân hàng châu Á, 185, 5-20.  
Oanh, T. T. K., Diep, N. V., Truyen, P. T., & Chau, N. X. B. (2022). e Impact of Public Expenditure on Economic  
Growth of Provinces and Cities in the Southern Key Economic Zone of Vietnam: Bayesian Approach. In  
N. Ngoc ach, D. T. Ha, N. D. Trung, & V. Kreinovich (Eds.). Prediction and Causality in Econometrics  
5_26  
Park, C. H., & Kim, K. (2020). E-government as an anti-corruption tool: Panel data analysis across countries.  
InternationalReviewofAdministrativeSciences,86(4),691-707.https://doi.org/10.1177/0020852318822055  
Permai, S. D., & Tanty, H. (2018). Linear regression model using bayesian approach for energy performance of  
residential building. Procedia Computer Science, 135, 671-677. https://doi.org/10.1016/j.procs.2018.08.219  
Potrafe, N. (2012). Intelligence and corruption. Economics Letters, 114(1), 109-112. https://doi.org/10.1016/j.  
econlet.2011.09.040  
Richey, S. (2010). e Impact of Corruption on Social Trust. American Politics Research, 38(4), 676-690. https://  
doi.org/10.1177/1532673x09341531  
Rindermann, H. (2008). Relevance of education and intelligence at the national level for the economic welfare of  
13  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Romer, P. M. (1990). Human capital and growth: eory and evidence. Carnegie-Rochester Conference Series on  
Public Policy, 32, 251-286. https://doi.org/10.1016/0167-2231(90)90028-J  
Roy, V. (2020). Convergence Diagnostics for Markov Chain Monte Carlo. Annual Review of Statistics and Its  
Rustiarini, N. W. (2019). e role of e-government in reducing corruption: A systematic review. Jurnal Perspektif  
Pembiayaan dan Pembangunan Daerah, 7(3), 269-286.  
Seligson, M. A. (2002). e Impact of Corruption on Regime Legitimacy: A Comparative Study of Four Latin  
American Countries. e Journal of Politics, 64(2), 408-433.  
Serra, D. (2006). Empirical determinants of corruption: A sensitivity analysis. Public Choice, 126(1), 225-256.  
Torsello, D. (2013). Introduction: Corruption and rationality. Human Affairs, 23(2), 119-123. https://doi.  
org/10.2478/s13374-013-0114-8  
Trafimow, D. (2021). Philosophical or empirical incommensurability of frequentist versus Bayesian thinking.  
Uslaner, E. M. (2013). Trust and corruption revisited: How and why trust and corruption shape each other.  
Vo, D. H., Ha, D. T. T., & Ly, T. H. (2015). Shadow Economy and Corruption in the ASEAN: Complement or  
Substitute? In H. G. Djajadikerta & Z. Zhang (Eds.). A New Paradigm for International Business, 151-169.  
Springer Singapore.  
Võ Văn Dứt, & Nguyễn ị Phương Nga (2015). Ảnh hưởng của tham nhũng đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước  
ngoài vào các quốc gia châu Á. HCMCOUJS – Kinh tế và Quản trị kinh doanh, 10(5), 162-172.  
Wasserstein, R. L., Schirm, A. L., & Lazar, N. A. (2019, 2019/03/29). Moving to a World Beyond “p<0.05”. e  
Zhao, H., Ahn, M. J., & Manoharan, A. P. (2017). E-government, corruption reduction and culture: A study  
based on panel data of 57 countries. Proceedings of the 18th Annual International Conference on Digital  
Government Research, Staten Island, NY, USA.  
14  
pdf 14 trang baolam 25460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Impact of human intelligence on corruption in ASEAN countries", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfimpact_of_human_intelligence_on_corruption_in_asean_countrie.pdf