Tìm hiểu một số danh xưng trong Phật giáo thời Lê qua tư liệu văn bia ở Bắc Ninh

122  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
NGUYỄN QUANG KHẢI*  
TÌM HIỂU MỘT SỐ DANH XƯNG TRONG PHẬT GIÁO  
THỜI LÊ QUA TƯ LIỆU VĂN BIA Ở BẮC NINH  
Dẫn nhập  
Trong khi đọc văn bia trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, chúng tôi thấy  
nhiều văn bia Phật giáo có ghi lại một số danh xưng mà ngày nay  
không thấy được sử dụng. Nhận thấy đây là vấn đề thú vị, trong bài  
viết này, chúng tôi cung cấp đến quý bạn đọc những thông tin có liên  
quan đến các danh xưng đó, nhằm góp phần làm phong phú thêm kiến  
thức về Phật giáo nói riêng và về văn hóa Việt Nam nói chung. Các  
danh xưng của Phật tử Phật giáo thời Lê ở Bắc Ninh thấy phổ biến là:  
Thiện sĩ, Tri kỳ anh phủ sĩ, Phủ sĩ, Huyện sĩ, Tổng sĩ, Thái lão vãi,  
Lão vãi,... Những danh xưng trên đây không phải là tên người, cũng  
không phải một loại chức vụ của các tăng sĩ trong Giáo hội Phật giáo  
mà chỉ có ở nam nữ tín đồ Phật tử. Những danh xưng trên ít thấy xuất  
hiện vào thời Nguyễn, và từ năm 1945 đến nay, hoàn toàn không thấy  
được sử dụng.  
1. Về danh xưng Thiện sĩ  
Là người Việt Nam ở lửa tuổi trung niên trở lên, có lẽ không ai là  
người không một lần xem vở chèo Quan Âm Thị Kính. Ngoài nhân vật  
trung tâm là tiểu Kính Tâm, chúng ta còn thấy có nhiều nhân vật khác:  
Mãng Ông, Mãng Bà, Sùng Ông, Sùng Bà, anh Nô, Thị Mầu, sư thầy,  
các vị chức sắc trong làng và Thiện sĩ - chồng của Thị Kính. Lâu nay,  
hầu hết người xem vở chèo này đều hiểu rằng Thiện sĩ là tên một nhân  
vật. Nhưng đọc một số văn bia thời Lê ở Bắc Ninh, chúng tôi mới phát  
hiện ra rằng, Thiện sĩ không phải là tên một con người mà là danh  
xưng để chỉ về người đàn ông có đức tính thiện với tư cách là một  
Phật tử của chùa làng. Điều này được thể hiện ở tình tiết, sau chữ  
Thiện sĩ là họ tên, tên tự, tên hiệu của một người đàn ông. Cụ thể:  
* Tỉnh Bắc Ninh.  
Nguyễn Quang Khải. Tìm hiểu một số danh xưng trong Phật giáo…  
123  
Văn bia Thiên Phúc Tự Bi tại đình thôn Đại Lâm, xã Tam Đa, huyện  
Yên Phong, dựng năm Phúc Thái 6 (1648), có ghi: “Thiện sĩ Lê Bá  
Minh tự Phúc Đức”. Văn bia Thiên Phúc Tự Bi/ bản xã thập phương  
công đức ở đình làng Đại Lâm, xã Tam Đa, huyện Yên Phong, dựng  
năm Chính Hòa 10 (1689) có ghi: “Thiện sĩ Phạm Văn Ân, tự Phúc  
Huệ; Thiện sĩ Nguyễn Văn Mô, tự Phúc Thịnh; Thiện sĩ Ngô Đức Hữu,  
tự Phúc An; Thiện sĩ Đào Lộng, tự Phúc Tín”. Văn bia Tân tạo tiền  
đường bi Khánh Lâm Tự - Cấu tác hậu đường thụ mộc di ký ở chùa  
Khánh Lâm, thôn Giới Tế, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, dựng năm  
Vĩnh Trị 2 (1667), có khắc: “Thiện sĩ Ngô Văn Tri, tự Phúc Hòa; Thiện  
sĩ Ngô Hữu Đạo, tự Phúc Đương; Thiện sĩ Ngô Văn Vị, tự Phúc Nhân;  
Thiện sĩ Đỗ Hữu Toàn, tự Phúc Tiên; Thiện sĩ Nguyễn Đình Chung tự  
Phúc Nghĩa”. Văn bia Phật Pháp Tăng/ Nguyệt Hằng tự /tạo thiên đài/  
vạn đại ký ở chùa Hằng Sơn, thôn Đồng Lạng, xã Hoàn Sơn, huyện  
Tiên Du, dựng năm Chính Hòa 17 (1696) có ghi họ tên một số vị Thiện  
sĩ: “Thiện sĩ Chu Tam Bào, tự Phúc Minh, thụy Đức Độ; Thiện sĩ Phạm  
Năng Đạt; tự Phúc Kiêm, thụy Đức Quang; Thượng lão Thiện sĩ  
Nguyễn Thế Thông, tự Phúc Hòa; Thiện sĩ Vũ Đình Thọ, tự Phúc  
Trường; Thiện sĩ Nguyễn Nhuận, tự Chân Diệu; Thiện sĩ Nguyễn Đắc  
Hậu, tự Phúc Đăng; Thiện sĩ Hoàng Tiến Phú, tự Phúc Thành, hiệu Mỹ  
Thắng; Thiện sĩ Hoàng Chiêm Bảng, tự Phúc Toàn, hiệu Đức Thắng;  
Thiện sĩ Nguyễn Tôn, tự Phúc Vin; Thiện sĩ Nghiêm Đức Minh, tự  
Phúc Thịnh; Thiện sĩ Đỗ Công Hà, tự Phúc Hưng”, v.v...  
Có thể nói, tìm hiểu bia trùng tu, bia công đức xuất hiện vào thời  
Lê ở Bắc Ninh, chúng tôi đều thấy có danh xưng Thiện sĩ kèm theo họ  
tên, tên tự, tên hiệu, tên thụy của những người đàn ông. Vậy danh  
xưng đó do ai tôn xưng và ý nghĩa xã hội của nó là gì? Theo chúng  
tôi, danh xưng Thiện sĩ là do giới Phật tử trong nội bộ một làng đặt ra  
và dùng để gọi những người đàn ông có nhiều việc làm thiện theo  
quan điểm của Phật giáo đối với dân làng. Thiện sĩ không phải là một  
chức danh lại càng không phải là tên người mà chỉ là một danh xưng  
để tôn vinh một số người có nhiều công đức với chùa làng.  
2. Về các danh xưng Tri phủ sĩ, Phủ sĩ, Huyện sĩ, Tổng sĩ  
Văn bia Nhự Nương Tự Bi ở chùa Tường Quang, thôn Đông Sơn,  
xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, dựng năm Vĩnh Tộ (1622), có khắc:  
124  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
“Kiêm Tri phủ sĩ Nguyễn Sĩ Đăng, tự Phúc Dư; Phủ sĩ Nguyễn Kim  
Lâu, tự Phúc Quang, hiệu Đạo Minh, Tri phủ sĩ Nguyễn Uyển, tự Huệ  
Kinh, hiệu Phúc Cao”. Văn bia Tân tạo tiền đường bi Khánh Lâm tự -  
Cấu tác hậu đường thụ mộc di ký ở chùa Khánh Lâm, thôn Giới Tế, xã  
Phú Lâm, huyện Tiên Du dựng năm Vĩnh Trị 2 (1667), có ghi danh  
xưng Tri phủ sĩ cho các trường hợp: Tri phủ sĩ Trương Viết Bôi, tự  
Phúc Quảng, hiệu Đạo Cao; Tri phủ sĩ Đỗ Văn Toại, tự Phúc Thịnh;  
Tri phủ sĩ Đỗ Văn Độ, tự Đạo Chính, hiệu Phúc Trung; Tri phủ sĩ  
Nguyễn Văn Ngư, tự Phúc Lương; Tri phủ sĩ Ngô Văn Liễn, tự Phúc  
Tiến; Kiêm Tri phủ sĩ Đỗ Tiến Túc, tự Phúc Miên; Tri phủ sĩ Nguyễn  
Chuyết, tự Phúc Lộc; Tri phủ sĩ Ngô Văn Chí, tự Phúc Đạt; Tri Phủ sĩ  
Đỗ Tuấn Nghệ tự Phúc Lượng; Tri phủ sĩ Ngô Tất Dục, tự Phúc Sơn;  
Tri phủ sĩ Nguyễn Văn Duy, tự Phúc Ninh; Tri phủ sĩ Nguyễn Văn  
Đa, tự Phúc Truyên; Tri phủ sĩ Nguyễn Sĩ Biện, tự Phúc Đại; Tri phủ  
sĩ Lưu Văn Cẩm, tự Phúc Cẩn; Tri phủ sĩ Ngô Văn Kiêm, tự Phúc Tri;  
Tri phủ sĩ Đỗ Tiến Cao, tự Phúc Quang; Phủ sĩ Ngô Hữu Lộc, tự Phúc  
Đắc; Tri phủ sĩ Ngô Tất Đắc, tự Phúc Vạn; Tri phủ sĩ Lê Nhất, tự  
Phúc Hiền; Phủ sĩ Đỗ Hanh Đức; Tri phủ sĩ Ngô Xuân Tu, tự Phúc  
Đức; Đạo lục tư kiêm Tri phủ sĩ Nguyễn Duy Hiền, tự Huyền Tăng,  
hiệu Đạo Nguyên; Tri phủ sĩ kiêm Văn thư Nguyễn Duy Cảnh, tự  
Huyền Thịnh, hiệu Phúc Cận; Tri phủ sĩ Nguyễn Hùng Tài, tự Huyền  
Lương, hiệu Đức Chính.  
Văn bia Hưng Công Tân Tạo ở chùa Quang Phúc, thôn Ân Phú, xã  
Phú Lâm, huyện Tiên Du, dựng năm Vĩnh Khánh 3 (1731), có các vị  
có danh xưng Tri phủ sĩ và Phủ sĩ: Tri phủ sĩ Nguyễn Hữu Đồng, tự  
Phúc Lai; Tri phủ sĩ Nguyễn Hữu Tuấn, tự Thông Huyền Cơ, hiệu  
Phúc Công; Phủ sĩ Nguyễn Đăng Khôi, tự Phúc Chân; Tri phủ sĩ  
Nguyễn Hữu Điều, tự Phúc Thung; Tri phủ sĩ Nguyễn Đình Tri, tự  
Phúc Nhẫn; Tri phủ sĩ Nguyễn Nhân Luân, tự Huyền Tông, hiệu Phúc  
Lan; Tri phủ sĩ Đào Công Phú, tự Phúc Minh; Tri phủ sĩ Nguyễn Đăng  
Tướng, tự Phúc Đức; Tri phủ sĩ Đào Văn Liêu, tự Phúc Lãnh; Tri phủ  
sĩ Nguyễn Hữu Nghiễm, tự Phúc Hiền.  
Văn bia Tăng Lục Tự Bi - Chư hậu Phật ký ở chùa Tăng Lục, thôn  
Hộ Vệ, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, dựng năm Chính Hòa 14 ghi danh  
Nguyễn Quang Khải. Tìm hiểu một số danh xưng trong Phật giáo…  
125  
xưng Tri Đốc phủ phủ sĩ và Tri phủ phủ sĩ của các vị sau: Tri Đốc phủ  
phủ sĩ Nguyễn Văn Đạt, tự Phúc Lục; Tri Đốc phủ phủ sĩ Nguyễn Văn  
Chức, tự Phúc Tước; Văn thư kiêm Tri phủ phủ sĩ Nguyễn Gia Thịnh,  
tự Phúc Hưng; Phủ sĩ Nguyễn Gia Trai, tự Phúc Lộc; Phủ sĩ Nguyễn  
Đức Kiêm tự Phúc Long.  
Văn bia Nhự Nương Tự Bi ở chùa Tường Quang, làng Đông Sơn,  
xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, dựng năm Vĩnh Tộ 4 (1622) có ghi  
danh xưng Tri phủ sĩ, Phủ sĩ và Tổng sĩ: Tri phủ sĩ Nguyễn Sĩ Đăng,  
tự Phúc Dư Phú Thọ, hiệu Đạo Long; Phủ sĩ Nguyễn Kim Lâu, tự  
Phúc Quang, hiệu Đạo Minh; Tổng sĩ Triêu Hoa bá Đỗ Vinh, tự Phúc  
Thành; Tri phủ sĩ Nguyễn Huy, tự Huệ Kính, hiệu Phúc Cao.  
Văn bia Thanh Vân Tự Bi ở chùa Thanh Vân, thôn Hoài Bão, xã  
Hoài Bão, huyện Tiên Du, dựng năm Chính Hòa 12, có ghi các vị có  
danh xưng Tri phủ sĩ, Huyện sĩ: Tri phủ sĩ Nguyễn Viết Hối, tự Phúc  
Quang; Tri phủ sĩ Trần Vinh Đa, tự Pháp Công, hiệu Huyền Quý; Tri  
phủ sĩ Nguyễn Công Nói, tự Phúc Đạt; Tri phủ sĩ Trần Phú Lịch, tự  
Phúc Tửu; Tri phủ sĩ Nguyễn Nhân Tài, tự Phúc Sơn; Tri phủ sĩ Trần  
Đắc, tự Phúc Tâm; Tri phủ sĩ Trần Vinh Phú, tự Phúc Sinh; Huyện sĩ  
Trần Thế Tiến, tự Phúc Tình.  
Văn bia Thiên Phúc Tự Bi ở chùa Thiên Phúc, thôn Đại Lâm, xã  
Tam Đa, huyện Yên Phong, dựng năm Vĩnh Thọ 2 (1659) có khắc  
danh xưng Tri phủ sĩ và Phủ sĩ của các vị: Tri phủ sĩ bản tự Nguyễn  
Thế An, tự Phúc Thành; Phủ sĩ Nguyễn Thời Tập, tự Phúc Khánh;  
Phủ sĩ Nguyễn Thân Trường, tự Phúc Lộc: Phủ sĩ Nguyễn Văn An, tự  
Phúc Quảng; Phủ sĩ Nguyễn Tất Tài, tự Phúc Hằng; Phủ sĩ Nguyễn  
Thế Vinh, tự Phúc Thụ.  
Văn bia Thiên Phúc Tự Bi ở đình thôn Đại Lâm, xã Tam Đa, huyện  
Yên Phong, dựng năm Phúc Thái 6 (1648) cho biết các vị có danh  
xưng Phủ sĩ, Huyện sĩ, Tổng sĩ: Phủ sĩ Nguyễn Mậu Phúc, tự Đạo  
Nguyên; Phủ sĩ Đặng Văn Đình, tự Pháp Tâm; Phủ sĩ Nguyễn Viết  
Phú, tự Phúc Hào; Phủ sĩ Nguyễn Văn Tú, tự Phúc Hòa; Phủ sĩ  
Nguyễn Thế An, tự Phúc Thành Công; Phủ sĩ Nguyễn Đắc Lộc, tự  
Phúc Khang; Phủ sĩ Nguyễn Thời Tập, tự Phúc Khánh; Phủ tổng sĩ  
Nguyễn Củng, tự Phúc Lộc.  
126  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Huyện sĩ Nguyễn Phúc Xương, hiệu Phúc Trí.  
Tổng sĩ Nguyễn Nhữ Đa, hiệu Đạo Trị, tự Thọ Trường.  
Văn bia Thiên Phúc tự bi/bản xã thập phương công đức ở đình làng  
Đại Lâm, xã Tam Đa, huyện Yên Phong, dựng năm Chính Hòa 10 ghi  
những người có danh xưng Tri phủ sĩ và Phủ sĩ: Tri phủ sĩ kiêm Văn  
thư Đặng Đắc Lộc, tự Pháp Đạt, hiệu Phúc Tiến; Tri phủ sĩ Phạm  
Song, tự Phúc Hòa; Tri phủ sĩ Nguyễn Văn Tuyển, tự Phúc Lan; Tri  
phủ sĩ Nguyễn Vinh Tiến, tự Phúc Độ; Tri phủ sĩ Đào Công Tu, tự  
Phúc Huân; Tri phủ sĩ Nguyễn Quang Hiển, tự Pháp Hựu, hiệu Phúc  
Sùng; Tri phủ sĩ Vương Vạn Khước, hiệu Huyền Đình, tự Phúc Lai;  
Tri phủ sĩ Ngô Đăng Cao, tự Đạo Hải; Tri phủ sĩ Đặng Đàn, tự Phúc  
Kiên; Tri phủ sĩ Nguyễn Tuấn Tùy, tự Phúc Khánh; Tri phủ sĩ Nguyễn  
Văn Ngạn, tự Phúc Trường; Tri phủ sĩ Nguyễn Văn Đạo, tự Phúc  
Quảng; Tri phủ sĩ Nguyễn Hữu Cung, tự Phúc Công; Tri phủ sĩ  
Nguyễn Văn Miêu, tự Phúc Tín; Tri phủ sĩ Nguyễn Hữu Truyền, tự  
Phúc Minh; Tri phủ sĩ Nguyễn Công Chế, tự Phúc Quảng; Tri phủ sĩ  
Nguyễn Văn Vị, tự Phúc Hợp; Tri phủ sĩ Nguyễn Đắc Vị, tự Pháp An;  
Tri phủ sĩ Nguyễn Văn Hội, tự Phúc Hợp.  
Văn bia này cũng khắc danh xưng Tri lão vãi của một số người: Tri  
Lão vãi Nguyễn Thị Ngạn, hiệu Từ Quảng; Tri Lão vãi Nguyễn Thị  
Bảo, hiệu Từ Lão; Tri Lão vãi Nguyễn Thị Tỉnh, hiệu Diệu Thanh.  
Văn bia Vân La Tự Tỉnh Bi ở chùa Vân La, thôn Phù Lưu, xã Trung  
Nghĩa, huyện Yên Phong, dựng năm Vĩnh Tộ 4 (1621) có ghi danh  
xưng Tri phủ sĩ của một số người: Tri phủ sĩ Nguyễn Công Phụ, tự  
Lương Bật Pháp, hiệu Đức Thành; Tri phủ sĩ Nguyễn Tuấn Nghệ, tự  
Văn Trinh, hiệu Đức Ngạn.  
Văn bia Tân tạo tiền đường bi Khánh Lâm Tự - Cấu tác hậu đường  
thụ mộc di ký ở chùa Khánh Lâm, thôn Giới Tế, xã Phú Lâm, huyện  
Tiên Du dựng năm Vĩnh Trị 2 (1667) có khắc danh xưng Huyện sĩ của  
hai vị: Huyện sĩ Đỗ Văn Dụng, tự Phúc Tồn; Huyện sĩ Nguyễn Văn  
Nghị, tự Huyền Định, hiệu Đức Vân.  
Văn bia Nhự Nương Tự Bi ở chùa Tường Quang, làng Đông Sơn,  
xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, dựng năm Vĩnh Tộ 4 (1622) có khắc  
Nguyễn Quang Khải. Tìm hiểu một số danh xưng trong Phật giáo…  
127  
danh xưng Huyện sĩ của một số vị: Huyện sĩ Nguyễn Học Phái, tự  
Phúc Gia; Huyện sĩ Nguyễn Đắc Lộc, tự Đức Hiền; Huyện sĩ Phan  
Hưng Công, tự Pháp Công, hiệu Du Sơn; Huyện sĩ Nguyễn Chiêm, tự  
Phúc Thịnh, hiệu An Lộc; Huyện sĩ Nguyễn Như Cương, tự Huyền  
Chính; Huyện Sĩ Nguyễn Chân, tự Phúc Ninh; Huyện sĩ Nguyễn Như  
Trúc, tự Huyện An, hiệu Phúc Thái; Huyện sĩ Trần Trác, tự Phúc Lai;  
Huyện sĩ Nguyễn Quý Phái, tự Phúc Gia; Huyện sĩ Nguyễn Đắc Lộc,  
tự Đức Hiền; Huyện sĩ Phan Hưng Công, tự Pháp Vân, hiệu Du Sơn;  
Huyện sĩ Nguyễn Như Trúc, tự Huyền An, hiệu Phúc Thái; Huyện sĩ  
Trần Nhẫn, tự Phúc Lai.  
Văn bia Trùng Tu Phúc Lâm Tự Bi ở chùa Phúc Lâm, làng Tam  
Tảo, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, dựng năm Dương Hòa 2 (1636), có  
khắc ghi danh xưng Huyện sĩ của một số vị: Huyện sĩ Nguyễn Văn  
Đinh, tự Phúc Trang; Huyện sĩ Ngô Hữu Tại, tự Phúc Lộc; Huyện sĩ  
Nguyễn Nhân Đồng, tự Phúc Khanh; Huyện sĩ Nguyễn Đức Trương,  
tự Tài Lộc.  
Văn bia Thiên Phúc Tự Bi ở chùa Thiên Phúc, làng Đại Lâm, xã  
Tam Đa, huyện Yên Phong, dựng năm Vĩnh Thọ 2 (1659) có khắc các  
vị Huyện sĩ: Huyện sĩ Ngô Đăng Khoa, tự Đạo Tiến, hiệu Pháp Lộc;  
Huyện sĩ Nguyễn Lịch, tự Phúc Trung; Huyện sĩ Nguyễn Đắc Danh,  
tự Phúc Truyện.  
Văn bia Nhự Nương Tự Bi ở chùa Tường Quang, thôn Đông Sơn,  
xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, dựng năm Vĩnh Tộ 4 (1622) có ghi  
danh xưng Tổng sĩ: Tổng sĩ Triêu Hoa, bá Đỗ Vinh, tự Phúc Thành.  
Tìm hiểu văn bia Phật giáo ở Bắc Ninh, chúng tôi thấy các danh  
xưng Tri phủ sĩ, Phủ sĩ, Huyện sĩ, Tổng sĩ là các danh xưng phổ biến  
xuất hiện ở thời Lê mà có thể nói văn bia trùng tu, văn bia công đức ở  
chùa nào cũng có. Vậy ý nghĩa của những danh xưng đó là gì? Tìm  
hiểu một số Từ điển Phật giáo, như: Phật giáo đại từ điển do Đinh  
Phúc Bảo soạn (Đài Loan), Từ điển Phật học Hán Việt, (Nxb. Khoa  
học xã hội, Hà Nội, 2004),... chúng tôi không thấy có mục từ nào giải  
thích về những danh xưng trên đây. Trao đổi với một số vị cao tăng và  
suy xét từ nội dung văn bia, chúng tôi thấy:  
128  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Cũng như danh xưng Thiện sĩ, các danh xưng Tri phủ sĩ, Phủ sĩ,  
Huyện sĩ, Tổng sĩ là các danh xưng chứ không phải chức danh, dùng  
để chỉ những người đàn ông đã có tuổi tham gia vào các tổ chức của  
tín đồ Phật giáo của phủ (Phủ sĩ), của huyện (Huyện sĩ), của tổng  
(Tổng sĩ). Chữ Tri đứng trước chữ Phủ sĩ có ý nghĩa tăng thêm sự tôn  
trọng đối với vị Phủ sĩ đó. Các tổ chức của tín đồ Phật giáo ở cấp tổng,  
huyện, phủ mà người tham gia được gọi là Phủ sĩ, Huyện sĩ, Tổng sĩ  
đó, ở thời Lê là những tổ chức không do chính quyền cấp tương  
đương lập ra và quản lý, nhưng những người tham gia có thể là quan  
chức đã về hưu, hoạt động hoàn toàn vì mục đích từ thiện và hoằng  
dương Phật pháp, không có quyền lợi vật chất gì cả.  
Tương tự như danh xưng Tri phủ sĩ của các Phật tử là đàn ông được  
trọng vọng, các bà vãi có danh vọng trong làng, được các Phật tử gọi  
là Tri lão vãi.  
Nhưng danh xưng Phủ sĩ không phải do ai muốn là được, mà là do  
các vị Phật tử trong làng tiến cử ra. Chứng cứ là, trong văn bia Nhự  
Nương Tự Bi ở chùa Tường Quang, thôn Đông Sơn, xã Việt Đoàn,  
huyện Tiên Du, dựng năm Vĩnh Tộ 4 (1622), chúng tôi thấy có danh  
xưng Câu đương Phủ sĩ: Câu đương Phủ sĩ Nguyễn Văn Chí, tự Phúc  
Cần; Câu đương Phủ sĩ Nguyễn Nhân Hậu, tự Phúc Thành; Câu  
đương Phủ sĩ Nguyễn Viết Thọ, tự Phúc Lộc; Câu đương Phủ sĩ Trần  
Đình Thưởng, tự Tích Lộc. Cụm từ Câu đương Phủ sĩ ở đây cho  
chúng ta biết rằng ở làng đó còn khuyết chân Phủ sĩ ở trên phủ, vì vậy  
có một vài người được làng tạm thời cử ra để tham gia vào tổ chức tín  
đồ Phật giáo ở phủ.  
3. Về danh xưng Tri kỳ anh đại sĩ và Tri Đốc phủ kỳ anh  
Văn bia không có tiêu đề ở chùa Khánh Lâm, thôn Giới Tế, xã Phú  
Lâm, huyện Tiên Du, dựng năm Vĩnh Thịnh 6 (1710), có khắc danh  
xưng Tri kỳ anh đối với những vị: Tiền Quan viên tử Tri cai xã kiêm  
Trùm trưởng Kỳ anh đại sĩ chính thất Ưu Bà Di Lão vãi Trương Thị  
Trà, hiệu Từ Thông viên thành Chân nhân; Tiền Quan viên tử kiêm  
Tổng xã xã quan Tri Trùm trưởng kỳ anh đại sĩ chính thất Ưu Bà Di  
Lão vãi Trương Thị Môn, hiệu Từ Tri chân nhân; Nho sinh Tri Trùm  
trưởng kiêm kỳ anh đại sĩ Ngô Công Bính, tự Pháp Trương, hiệu Đạo  
Nguyễn Quang Khải. Tìm hiểu một số danh xưng trong Phật giáo…  
129  
Huy Viên Toàn chân nhân; Quan viên tôn kiêm Trùm trưởng Tri kỳ  
anh đại sĩ hương lão Nguyễn Văn Tài, tự Phúc Tằng Viên Chính chân  
nhân; Phủ sinh kiêm Tổng xã Xã quan Tri kỳ anh đại sĩ trắc thất Ưu  
bà Di Lão vãi Ngô Thị Thảng, hiệu Từ Du Viên Hài chân nhân.  
Văn bia Thanh Vân tự bi ở chùa Thanh Vân, thôn Hoài Bão, xã  
Liên Bão, huyện Tiên Du, dựng năm Chính Hòa 12 (1691) có ghi các  
vị có danh xưng Tri kỳ anh: Tri kỳ anh thượng sĩ Nguyễn Đăng Phụ,  
tự Phúc Vinh; Tri kỳ anh thượng sĩ Đỗ Khả Xứng, tự Phúc Khánh; Tri  
kỳ anh thượng sĩ Nguyễn Thế Khoa, tự Pháp Thịnh; Tri kỳ anh thượng  
sĩ Nguyễn Tâm Bản, tự Phúc An.  
Văn bia chùa Hồng Lô, thôn Trần, phường Hạp Lĩnh, Tp. Bắc Ninh  
có khắc danh xưng Tri Đốc phủ kỳ anh: Hương lão Xã trưởng kiêm  
Tri đốc phủ kỳ anh thôn Sơ của bản xã là Xã trưởng thượng sĩ Nguyễn  
Ngọc Đường, tự là Phúc Bản, hiệu là Cảnh Tiên; Hương lão kiêm Tri  
đốc phủ kỳ anh thượng sĩ Mai Chí Bình, tự Trường Phúc, hiệu Cảnh  
Thọ; Hương lão Trùm trưởng Tri đốc phủ kỳ anh thượng sĩ thôn Ất  
của bản xã là Nguyễn Sĩ Triều, tự Phúc Hậu.  
Vậy, Tri kỳ anh Đại sĩ và Tri Đốc phủ kỳ anh có ý nghĩa gì? Tìm  
hiểu một số bộ Từ điển cổ, chúng tôi được biết, kỳ anh là thuật ngữ để  
chỉ những người đàn ông đã ở độ tuổi 80-90, chữ tri là thể hiện sự tôn  
trọng đối với người đó; đại sĩ, thượng sĩ là cách gọi tôn xưng người  
nào đó trong Phật giáo. Như vậy, cụm từ Tri kỳ anh đại sĩ là cách gọi  
tôn xưng những vị Phật tử là đàn ông đã ở đội tuổi 80-90 một cách  
trân trọng, tôn quý. Còn cụm tự Tri Đốc phủ kỳ anh, ngoài ý nghĩa  
như cụm từ Tri kỳ anh hoặc Tri kỳ anh đại sĩ, có thể còn dùng để gọi  
người đứng đầu tổ chức tín đồ Phật giáo ở cấp phủ.  
Ngoài một số danh xưng trên đây, tìm hiểu văn bia Phật giáo thời  
Lê ở Bắc Ninh, chúng tôi còn thấy một số danh xưng khác chũng cần  
chú ý. Đó là: Tín sĩ, Tín quan, Thạc đức, Thái lão vãi, Tri lão vãi, Lão  
vãi, Tín vãi,... Trong đó, các danh xưng Tín sĩ, Tín quan, Thạc đức là  
dùng cho các Phật tử đàn ông, còn các danh xưng Thái lão vãi, Tri lão  
vãi, Lão vãi, Tín vãi là dùng cho Phật tử đàn bà.  
Tóm lại, trong văn bia Phật giáo thời Lê ở Bắc Ninh có nhiều danh  
xưng mà cho đến nay, chúng tôi chưa thấy có tài liệu nào giải thích  
130  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
tường tận về nguồn gốc, ý nghĩa của chúng. Những danh xứng đó  
cũng ít thấy xuất hiện ở văn bia thời Nguyễn và ngày nay thì hầu như  
không thấy ai dùng. Cũng như các danh xưng Ưu Bà di, Ưu Bà tắc,...  
các danh xưng trên đây được dùng rất phổ biến ở thời Lê, điều đó  
chứng tỏ, cùng với sự phát triển của Nho giáo, Phật giáo trong dân  
gian thời kỳ này cũng phát triển rất mạnh và có sắc thái riêng. /.  
________________  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Thiên Phúc Tự bi, KH: 3947- 3948.  
2. Thiên Phúc Tự bi/bản xã thập phương công đức, KH:3965- 3966.  
3. Tân tạo tiền đường bi Khánh Lâm tự- Cấu tác hậu đường thụ mộc di ký, KH:  
3893- 3894.  
4. Hưng công tân tạo, KH: 3901- 3902.  
5. Trùng tu Phúc Lâm Tự bi, KH: 3926- 3927.  
6. Tăng Lục Tự bi- Chư hậu Phật ký, KH: 6689- 6690.  
7. Vô đề, KH: 6691- 6692.  
8. Nhự Nương Tự bi, KH: 2192.  
9. Vô đề, KH: 3885.  
10. Phật Pháp Tăng/ Nguyệt Hằng tự /tạo thiên đài/ vạn đại ký, KH: 6772- 6773-  
6774- 6775.  
11. Thanh Vân Tự bi, KH: 6791- 6792.  
12. Vân La Tự tỉnh bi, KH: 1388- 1389- 1390.  
pdf 9 trang baolam 21300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tìm hiểu một số danh xưng trong Phật giáo thời Lê qua tư liệu văn bia ở Bắc Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftim_hieu_mot_so_danh_xung_trong_phat_giao_thoi_le_qua_tu_lie.pdf