Phát triển kinh tế - Xã hội trên cơ sở phát huy sức mạnh nội sinh của văn hóa các dân tộc thiểu số
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
SOCIO-ECONOMIC DEVELOPMENT ON THE BASIS OF
PROMOTING THE ENDOGENOUS STRENGTH OF ETHNIC
MINORITY CULTURE
Giang Khac Binh
Vietnam Academy for Ethnic Minorities
Email: [email protected]
Received:
Reviewed:
Revised:
Accepted:
Released:
03/10/2021
16/10/2021
27/10/2021
19/11/2021
30/11/2021
DOI:
n the process of national development, our Party always attaches importance to cultural development,
I
exploiting the values and potentials of culture to serve the cause of national construction and
development. One of the important goals set by our Party is to build a comprehensively developed
Vietnamese culture and people, aiming for truth - goodness - beauty, imbued with the national spirit of the
nation, humanity, democracy and science; building culture into a solid spiritual foundation of society, to
be an important endogenous strength to ensure sustainable development and firmly defend the Fatherland
for the sake of a rich people, a strong country, a democratic, fair and civilized society.
Resolution No. 88/2019/QH14 dated November 18th, 2019 of the National Assembly approving the
master plan for socio-economic development in ethnic minority and mountainous areas for the period of
2021-2030 has emphasized: “Socio-economic development policies in ethnic minority and mountainous
areas must be comprehensive, aiming at sustainable development and promoting the advantages and
potentials of the region and the self-reliance of the ethnic minorities” (Quoc Hoi, 2019). “Advantages and
potentials” here are not only natural resources and minerals, but above all cultural resources and human
resources, which are the great endogenous strength of ethnic minority culture that up to now has not yet
been effectively exploited.
Keywords: Endogenous resources; Sustainable development; Ethnic minority culture; Ethnic minority
and mountainous areas; Socio-economic development.
1. Đặt vấn đề
dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm
văn hóa; chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đây là vấn đề cơ
bản, trọng tâm, cốt lõi để phát triển văn hóa - nguồn
lực nội sinh nhằm xây dựng và phát triển bền vững
đất nước.
Tuy nhiên, để có thể tận dụng được nguồn lực
văn hóa, nguồn lực nội sinh của đồng bào các dân
tộc thiểu số (DTTS) để phục vụ cho sự phát triển
kinh tế - xã hội vùng DTTS cần nhận diện, đánh giá
tổng quát về sức mạnh, tiềm năng của nguồn lực
đó, trên cơ sở đó đề ra những chiến lược, giải pháp
Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ xây
dựng con người gắn với xây dựng văn hóa làm nền
tảng tinh thần, trong đó con người là chủ thể sáng
tạo văn hóa và thụ hưởng các giá trị, sản phẩm văn
hóa; chú trọng xây dựng con người Việt Nam đẹp
về nhân cách, đạo đức, tâm hồn; cao về trí tuệ, năng
lực, kỹ năng sáng tạo; khỏe về thể chất; nâng cao
trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn
trọng, tuân thủ pháp luật. Đại hội XII cũng đề cao
nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh
tế; phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây
Volume 10, Issue 4
21
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
nhằm phát huy những giá trị sao cho hiệu quả.
sức mạnh nội sinh của văn hóa, trong đó có văn hóa
các DTTS.
2. Tổng quan nghiên cứu
Trong công trình “Ảnh hưởng của phong tục tập
quán của đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền
núi phía Bắc đến hiệu quả xây dựng Nông thôn
mới” (Trung, 2017), các tác giả đã miêu tả khá rõ
đặc điểm phong tục, tập quán các DTTS khu vực
miền núi phía Bắc cùng những tác động, ảnh hưởng
của chúng đến hiệu quả xây dựng nông thôn mới.
Những cứ liệu cùng những luận điểm khoa học
được trình bày trong báo cáo của đề tài là những
căn cứ xác đáng để xác lập mối quan hệ giữa văn
hóa các DTTS với sự nghiệp xây dựng và phát triển
vùng DTTS nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã
hội đất nước nói chung.
Trong bài báo “Bản sắc văn hoá vùng dân tộc
thiểu số gắn với phát triển du lịch bền vững ở Việt
Nam thời kỳ hội nhập” (Giao & Anh, 2018), các tác
giả đã phân tích mối liên hệ giữa bản sắc văn hóa
DTTS với việc phát triển du lịch bền vững ở Việt
Nam. Từ đó, rút ra những kinh nghiệm trong thực
tiễn, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn
cầu của Việt Nam.
Trong suốt quá trình lịch sử lãnh đạo nhân dân
cả nước giành độc lập, chống các thế lực ngoại xâm
và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
Đảng ta luôn coi trọng sức mạnh, giá trị của văn hóa
dân tộc. “Đề cương văn hoá Việt Nam” (1943) là
văn kiện chính thức đầu tiên của Đảng về công tác
văn hoá, văn nghệ, phân tích đúng đắn tình hình đời
sống văn hoá dưới sự thống trị của thực dân Pháp và
phát xít Nhật, vạch ra đường lối văn hoá cách mạng
và những nhiệm vụ trước mắt, tiến tới xây dựng nền
văn hoá dân tộc, nhân dân.
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm
1986) trở đi, các văn kiện của Đảng luôn dành cho
văn hóa một vị trí quan trọng và luôn có những tư
tưởng mới bổ sung để làm giàu thêm nhận thức về
một lĩnh vực nóng của xã hội. Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 5 khóa VIII khẳng định: “Xây dựng và
phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì
xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển
toàn diện. Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời
là động lực của phát triển kinh tế. Các nhân tố văn
hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động
Trong bài “Chiến lược phát triển công nghiệp
xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã văn hóa tại Việt Nam” (Hoa, 2020), tác giả nhấn
hội, luật pháp, kỷ cương…”. Không chỉ chú trọng mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng nền công
mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, văn hóa và nghiệp văn hóa trên cơ sở khai thác các giá trị truyền
đời sống xã hội, các văn kiện, nghị quyết qua các thống và đương đại.
kỳ đại hội, hội nghị Trung ương… đều cho thấy sự
quan tâm sâu sắc của Đảng đối với việc khai thác
các giá trị tiềm năng của văn hóa để phục vụ cho
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI
(Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014) về Xây
dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước nhấn
mạnh: “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh
thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh
quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đại hội XII
cũng đề cao nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong chính
trị và kinh tế; phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi
với xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản
phẩm văn hóa; chủ động hội nhập quốc tế về văn
hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đây là vấn
đề cơ bản, trọng tâm, cốt lõi để phát triển văn hóa
- nguồn lực nội sinh nhằm xây dựng và phát triển
bền vững đất nước. Trong quan điểm chỉ đạo, Nghị
quyết Đại hội XIII của Đảng xác định rõ: “... gắn
kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ,
trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm;
xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là
nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là
trọng yếu, thường xuyên”.
Cũng bàn về vấn đề phát triển công nghiệp văn
hóa ở Việt Nam, trong bài viết “Phát triển du lịch
văn hóa thành ngành công nghiệp văn hóa ở Việt
Nam” (Bon, 2020), tác giả khẳng định tầm quan
trọng của việc thúc đẩy, phát triển du lịch văn hóa
trở thành một yếu tố trong công nghiệp văn hóa:
“Việc phát triển ngành công nghiệp du lịch văn hóa
sẽ mang lại nhiều hiệu quả về kinh tế, chính trị và
văn hóa cho đất nước ta hiện nay cũng như lâu dài
thông qua việc kết nối và thúc đẩy sự phát triển các
ngành công nghiệp văn hóa khác”.
Trong bài “Phát huy lợi thế, tiềm năng của đồng
bào dân tộc thiểu số” (HP, 2021), tác giả nêu một số
giải pháp cụ thể nhằm triển khai các nghị quyết của
Đảng về phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng và
tinh thần tự lực của đồng bào các DTTS.
Đặc biệt, bàn về việc khai thông các nguồn lực
văn hóa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
hiện nay, trong bài báo “Vai trò của nguồn lực văn
hóa với quá trình phát triển kinh tế - xã hội” (Thien,
2021), Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng: “văn hóa
có vai trò vô cùng quan trọng với quá trình phát
triển… khai thông nguồn lực văn hóa, phát huy các
giá trị văn hóa là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh
mới hiện nay, góp phần thúc đẩy khát vọng phát
triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo tinh thần
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”.
Để có thể triển khai hiệu quả, đưa các nghị quyết
của Đảng vào thực tiễn, nhiều bài báo, nhiều công
trình nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu về các giá trị,
Điểm qua một số bài viết cho thấy vấn đề phát
huy các giá trị văn hóa dân tộc, phát huy sức mạnh
22
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
nội sinh của các dân tộc vào sự nghiệp xây dựng cộng đồng bởi đây là yếu tố vô cùng đặc sắc, lý giải
và phát triển đất nước đang được rất nhiều các nhà tường minh cho hầu hết mọi phẩm chất, cá tính của
quản lý, các nhà nghiên cứu quan tâm. Các bài viết đồng bào các DTTS nói riêng và cộng đồng các dân
từ góc độ quản lý thường tập trung vào phân tích tộc Việt Nam nói chung.
quan điểm và cách thức chỉ đạo, điều hành. Các bài
viết từ góc nhìn khoa học tập trung đi sâu phân tích
nội hàm khái niệm, từ đó đưa ra những chỉ dẫn về
việc khai thác, phát huy nguồn sức mạnh nội sinh
của các dân tộc. Tuy nhiên, chưa có công trình
nghiên cứu nào nhận diện một cách đầy đủ về khái
niệm này, từ đó đề xuất những giải pháp mang tính
tổng thể để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh
thần của xã hội và nguồn lực nội sinh của công cuộc
phát triển.
- Con người trong mối quan hệ với tự nhiên lại
thể hiện nhân sinh quan và thế giới quan mang đậm
chất nhân văn của đồng bào các DTTS. Cách con
người ứng xử với thế giới tự nhiên, bảo vệ rừng đầu
nguồn, bảo vệ nguồn nước… là cơ sở để xây dựng
một xã hội phát triển bền vững theo tinh thần “Báo
cáo Brunđtland” của Ủy ban Môi trường và Phát
triển Thế giới (WCED) của Liên hợp quốc năm
1987: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng
các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương
Kế thừa các nghiên cứu về văn hóa DTTS, bài đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng các
viết muốn khái lược sức mạnh văn hóa, sức mạnh nhu cầu của họ”.
nội sinh của các DTTS, từ đó đề xuất một số giải
pháp cơ bản, cấp thiết để có thể phát huy tối đa
nguồn lực bất tận này trong nâng cao hiệu quả công
tác dân tộc, chính sách dân tộc, góp phần phát triển
kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS.
Khoảng 50 - 70 năm trước, đồng bào các DTTS
thường sinh sống trong các địa giới riêng biệt, ít có
sự pha trộn giữa các thành phần dân tộc. Khi đó, ý
niệm về các cộng đồng tộc người (ethnic) hay cộng
đồng quốc gia – dân tộc (nation) có thể còn chưa
hình thành. Mối liên hệ gắn kết chủ yếu giữa con
người với con người, giữa cá nhân với tập thể chủ
yếu thông qua cộng đồng thôn/bản/buôn/sóc. Đó
cũng là nơi tạo dựng thiết chế văn hóa điển hình với
những già làng, trưởng bản, các chức sắc, chức việc
trông coi, sắp đặt, ra những quyết định quan trọng,
ảnh hưởng đến cuộc sống của cả cộng đồng. Thay
cho “luật” (của Nhà nước) là những “tục” (luật tục),
“lệ” (lệ làng) mà cả cộng đồng phải tuân thủ. Con
người sống dựa vào cộng đồng, tình nguyện tuân
theo các luật tục, quy ước… do cộng đồng quy định.
Trong bối cảnh phải đương đầu với thiên nhiên khắc
nghiệt và hung dữ, lại thường xuyên phải đối mặt
với các thế lực bên ngoài (tranh chấp đất đai, tranh
chấp thú săn…), việc sống và tuân thủ theo hình
thức cộng đồng là cách thức tối ưu để con người tồn
tại và phát triển.
Tổ chức xã hội theo hình thức cộng đồng không
chỉ giúp cư dân DTTS đối phó với các thế lực tự
nhiên hay xã hội mà còn là cách thức quản lý rất
hiệu quả: “Quản lý xã hội qua luật tục, quy ước là
phương pháp quản lý truyền thống của các DTTS ở
nước ta. Với những quy định, quy ước chung trong
cộng đồng, tất cả các thành viên trong cộng đồng
thực hiện các quy định, quy ước đó một cách tự
giác và nghiêm túc với sự giám sát chặt chẽ của cả
cộng đồng. Một trong những cách để đánh giá và
duy trì sự giám sát là dư luận chung của cộng đồng.
Bất kỳ sự sai phạm của thành viên nào trong cộng
đồng cũng bị dư luận lên án và nghiêm khắc phán
xét, kể cả những người có chức quyền, vốn có uy
tín trong cộng đồng. Do vậy, tất cả người dân trong
cộng đồng luôn tôn trọng và gìn giữ các quy định,
quy ước và coi đó như là khuôn thước trong việc
giáo dục, dạy dỗ con em trong gia đình, dòng họ
thực hiện đúng phong tục tập quán của tộc người”
3. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các tài liệu thứ
cấp, cụ thể là các công trình nghiên cứu về văn hóa
các DTTS Việt Nam, bài viết nhận diện khái niệm
và đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm phát huy
hiệu quả nguồn lực văn hóa của đồng bào các DTTS
trong thực tiễn công tác dân tộc.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Nhận diện sức mạnh nội sinh của văn hóa
các dân tộc thiểu số
Văn hóa là một khái niệm rất rộng. Có nhà nghiên
cứu đã thống kê, có hơn 500 khái niệm khác nhau
về văn hóa, song không có khái niệm nào bao chứa
được hết nội hàm ý nghĩa của văn hóa. Mặc dù vậy,
các khái niệm về văn hóa vẫn có điểm chung thống
nhất: văn hóa được hiểu là tất cả những gì con người
có và sáng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần
và vật chất của mình, đồng thời thích ứng với thiên
nhiên và xã hội. Văn hóa thuộc về con người, nói
đến văn hóa là nói đến con người. Nói đến sức mạnh
nội sinh của các DTTS là nói đến sức mạnh của một
cộng đồng. Đó không phải là phép cộng giản đơn
giữa những cá nhân hay những cộng đồng riêng lẻ
mà là sức mạnh tổng hòa, xuyên thấu của các nền văn
hóa, các cộng đồng nhỏ hợp thành một cộng đồng
lớn mà bản thân nó lại nằm trong một cộng đồng lớn
hơn – cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Tựu chung lại, để nhận diện sức mạnh nội sinh
của văn hóa DTTS phải dựa trên sức mạnh nội sinh
của con người trong hai mối quan hệ chủ yếu:
- Con người trong mối quan hệ với xã hội mà
tâm điểm là trong các mối quan hệ cộng đồng, từ
cộng đồng nhỏ là một thôn/bản/buôn/sóc… cho đến
cộng đồng lớn là một thành phần dân tộc, một quốc
gia. Sở dĩ chúng tôi nhấn mạnh mối quan hệ với
Volume 10, Issue 4
23
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
(Trung, 2017).
vệ môi trường sống, cũng tức là bảo vệ rừng, bảo vệ
không gian văn hóa truyền thống.
Chính cuộc sống cộng đồng đã làm nảy sinh ý
thức cộng đồng, trong đó con người sẵn sàng sẻ
chia, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Đây là cơ sở tạo
nên những nét tính cách đặc trưng của người Việt:
“Thương nhau chia củ sắn lùi – Bát cơm sẻ nửa,
chăn sui đắp cùng” (Thơ Tố Hữu), “Thương người
như thể thương thân” (Ca dao), “Một con ngựa đau,
cả tàu bỏ cỏ” (Thành ngữ), “Ngần sèn tảng tôm
nhả, tha nả tẩy sliên kim” (tiền bạc coi như đất, cỏ;
tình cảm con người còn quý hơn nghìn vàng - Tục
ngữ Tày), “Một người đàn ông không dựng nổi
nhà - Một người đàn bà không cắt nổi gianh” (Ca
dao Mường)… Có thể nói, mặc dù mỗi dân tộc có
những bản sắc văn hóa khác nhau, nhưng các dân
tộc trên đất nước Việt Nam, trong những điều kiện
sống khá tương đồng, đều có chung ý thức cộng
đồng – cơ sở hình thành khối đại đoàn kết dân tộc.
Khi Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân
cả nước đấu tranh giành độc lập dân tộc, công tác
tuyên truyền, vận động nhân dân cả nước phát huy
tinh thần đoàn kết đã luôn được chú trọng. Trong bức
thư gửi “Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam”
ngày 19/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết:
“Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai
hay Êđê, Xê Đăng hay Ba Na và các DTTS khác đều
là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt...”.
Có thể nói, quan điểm đoàn kết dân tộc của Đảng
kết hợp với truyền thống đấu tranh chống các thế lực
ngoại xâm đã đẩy ý thức cộng đồng lên một tầm cao
mới – ý thức dân tộc. Mối quan hệ giữa con người
với xã hội cũng đã có sự phát triển vượt bậc, không
chỉ là con người trong mối quan hệ với cộng đồng
thôn/bản nhỏ hẹp, mà là quan hệ giữa cộng đồng này
với cộng đồng khác, giữa nông thôn với thành thị,
giữa miền ngược với miền xuôi, tạo nên sức mạnh
mà không một thế lực nào có thể khuất phục.
Nếu như trong các mối quan hệ xã hội, đồng bào
DTTS đã thể hiện giá trị cơ bản nhất là tính cộng
đồng thì trong mối quan hệ với thiên nhiên, một giá
trị khác lại được thể hiện nổi bật: tính bền vững.
Từng sống giữa thiên nhiên hoang dã, nơi điều kiện
thời tiết, khí hậu khắc nghiệt (Nước Sơn La, ma Hòa
Bình), thú dữ đe dọa, rình rập, đồng bào các DTTS
không lựa chọn cách đối đầu với tự nhiên, không tìm
cách khuất phục, cai trị tự nhiên mà tìm cách dung
hòa với tự nhiên, coi tự nhiên là bầu bạn. Tận dụng
mọi nguồn lực của tự nhiên để phục vụ cho cuộc
sống, nhưng đồng bào DTTS không quên bảo vệ các
nguồn lực đó để đảm bảo lợi ích lâu dài. Một trong
những ví dụ điển hình về mối quan hệ giữa đồng bào
DTTS với tự nhiên là cách đồng bào bảo vệ rừng.
Với các cộng đồng DTTS, rừng không chỉ là không
gian sinh tồn mà còn là không gian văn hóa. Bởi vậy,
rừng được thiêng hóa (rừng thiêng, rừng ma), được
bảo vệ chặt chẽ thông qua luật tục. Rừng được quản
lý thông qua luật tục cộng đồng và hệ thống niềm tin
được thiêng hóa, có ý nghĩa lớn lao trong việc bảo
Luật tục Êđê có đoạn:
“… Cây le đang đâm chồi thế mà họ chặt mất
ngọn, cây lồ ô đang đâm chồi thế mà họ chặt mất
đọt. Nếu người ta bắt được họ đem cho người
tù trưởng nhà giàu thì chân họ tất phải trói lại
ngay, tay của họ tất phải xiềng lại ngay. Cả rừng
le bị cháy khô, cả rừng lồ ô bị cháy trụi, hang
thỏ, hang chồn đều bị thiêu trụi tất cả. Vì vậy có
chuyện nghiêm trọng cần phải xét xử họ” (Bao
Du lich, 2009) .
Luật tục người Mường quy định về thu hái
măng nói rõ:
“Bắt đầu từ khi các loại măng tre, bương,
luồng, nứa,… mọc cho đến trước ngày 20 tháng
6 âm lịch hàng năm, bất luận là ai cũng không
được bẻ măng trong rừng hay trong các gồ bương
tre,… trong vườn do chính tay mình trồng. Ai vi
phạm dù là con trẻ hay người lớn (kể cả các gia
đình thả rông gia súc vào rừng giẫm đạp làm đổ
gãy măng) nếu bị phát hiện thì gia đình đó phải
nộp phạt cho mường 1 con lợn cái (lợn nái đã
đẻ)” (Thuy, 2010).
Nhìn từ phương diện khoa học, luật tục được
xây dựng trước hết để bảo vệ các nguồn lợi từ thiên
nhiên, đảm bảo cho cuộc sống ổn định lâu dài. Nhìn
từ phương diện xã hội, cách đồng bào bảo vệ rừng,
bảo vệ các loài muông thú vào mùa sinh sản, cách
khai thác sản vật hạn chế để có thể tiếp tục khai
thác vào mùa sau… dựa trên một nguyên tắc cơ bản
mà cơ chế quản lý xã hội hiện tại thường bỏ qua:
nguyên tắc phát triển bền vững. Điều đó cũng giúp
chúng ta rút ra bài học: Chỉ khi nào đồng bào DTTS
thực sự làm chủ và ý thức được vai trò làm chủ của
mình đối với rừng, chỉ khi nào các thiết chế văn
hóa truyền thống phát huy đầy đủ sức mạnh vốn có
của nó thì việc khai thác rừng, khai thác tài nguyên
thiên nhiên mới đảm bảo tính bền vững.
Sức mạnh văn hóa của đồng bào các DTTS là
một phạm trù rất rộng, được biểu hiện phong phú
trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống. Trong khuôn
khổ hạn hẹp của một bài báo, người viết chỉ điểm
qua một vài biểu hiện cụ thể dựa trên hai mối quan
hệ cơ bản, có thể gợi ý, định hướng cho các chiến
lược, chính sách phát triển bền vững vùng DTTS
theo quan điểm, định hướng của Đảng.
4.2. Sức mạnh nội sinh của văn hóa các dân
tộc thiểu số
Sức mạnh nội sinh của văn hóa DTTS nói chung
và văn hóa các dân tộc nói riêng không nằm ở các
cá nhân mà nằm ở nhân tố trung tâm của văn hóa
dân tộc: cộng đồng. Bởi vậy, muốn phát huy được
nguồn sức mạnh này, cần coi cộng đồng là nhân tố
trung tâm của các chiến lược, chính sách phát triển.
Tiếng nói của cộng đồng cần được tôn trọng, thậm
24
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
chí quyết định trong việc lựa chọn nội dung, cách xóa tan tư tưởng tự ti, yếm thế, loại bỏ các tư tưởng
thức điều hành, tổ chức giám sát…, ít nhất là trong tự kỳ thị, tự định kiến, tạo mọi điều kiện để nguồn
phạm vi của cộng đồng. Ví dụ: trong các chính sách lực văn hóa phát huy sức mạnh vốn có. Đó chính là
phát triển kinh tế, cộng đồng quyết định lựa chọn loại khơi gợi, phát huy sức mạnh nội sinh của văn hóa
cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, làm cơ sở, nền tảng, động lực, nguồn lực cho sự
xã hội tại địa phương, trong các chính sách về quản phát triển.
lý di sản văn hóa, cộng đồng quyết định di sản nào
cần được bảo tồn và cách thức bảo tồn như thế nào…
- Giải pháp về chính sách
+ Cần thay đổi tư duy, cách thức xây dựng và tổ
chức thực hiện chính sách. Có hai kiểu tư duy cần
thay đổi:
Thứ nhất, chính sách phải vận động theo hướng
“từ dưới lên” thay vì “từ trên xuống” như hiện tại.
Không để người dân đứng bên lề chính sách, coi
trọng vai trò của các địa phương trong các chiến
lược phát triển, các chương trình mục tiêu quốc gia.
Thứ hai, chính sách cần linh hoạt để có thể tận
dụng thế mạnh từng vùng miền, địa phương, cộng
đồng. Không nên xây dựng chính sách theo kiểu
“một mô hình cho tất cả” (vì mô hình có thể phù
hợp với địa phương này nhưng lại không phù hợp
với địa phương khác). Chính phủ và các bộ, ngành
Trung ương chỉ nên xây dựng, ban hành chiến lược
phát triển và khung chính sách chung. Việc cụ thể
hóa nội dung chính sách sẽ do các địa phương, các
cộng đồng thực hiện.
Do sự biến đổi của xã hội, đặc biệt là sự tác động
của quá trình di dịch cư, có thể thấy các cộng đồng
ngày nay đã không còn “thuần khiết” (chỉ bao gồm
một thành phần dân tộc) như trước đây, thay vào đó
là các cộng đồng mới với đa dạng các thành phần
dân tộc. Vai trò của các nhân tố trong các thiết chế
cộng đồng truyền thống cũng thay đổi cơ bản, trong
đó vai trò của các già làng, trưởng bản… không
còn được coi trọng như trước. Trong tình hình đó,
không thể đặt vấn đề khôi phục các thiết chế truyền
thống nguyên bản mà phải xác lập các cộng đồng
văn hóa mới, trong đó có thể bao gồm nhiều thành
phần dân tộc. Thay thế cho vai trò của các già làng,
trưởng bản (phổ biến trong các cộng đồng DTTS ở
Tây Bắc, Tây Nguyên trước đây) là lớp người có uy
tín, có tiếng nói quan trọng trong cộng đồng.
Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất một số giải
pháp cấp thiết như sau:
Phong trào Làng mới của Hàn Quốc (Anh,
Minh, & Trang, 2016) những năm 70 của thế kỷ
XX có thể cho chúng ta những bài học bổ ích về
việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách sao
cho có thể tận dụng tối đa mọi nguồn lực của địa
phương, quan trọng nhất là có thể phát huy toàn
diện các nguồn lực nội sinh – nguồn lực văn hóa của
cộng đồng các DTTS. Sau khi Nhà nước ban hành
chiến lược phát triển và khung chương trình, chính
sách chung, khung chương trình, chính sách này
- Giải pháp về nhận thức:
+ Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức,
viên chức về văn hóa, về sức mạnh nội sinh của văn
hóa các dân tộc. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức
cần hiểu rõ giá trị, tiềm năng của văn hóa các dân
tộc, sức mạnh của cộng đồng. Cần loại trừ tận gốc
các tư tưởng kỳ thị, định kiến về đồng bào các dân
tộc và có niềm tin rằng đồng bào có thể “nói được,
làm được”.
+ Người dân là chủ thể văn hóa, chủ thể các hoạt được cụ thể hóa sao cho phù hợp với điều kiện kinh
động kinh tế, có nghĩa người dân là chủ thể phát tế - xã hội của từng địa phương và được phổ biến
triển. Trong các chiến lược, chính sách phát triển, đến các cộng đồng. Các cộng đồng, qua tham vấn
người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng. Với ý kiến của người dân, sẽ lựa chọn các mục tiêu ưu
vai trò chủ thể phát triển, người dân có quyền lựa tiên cho từng giai đoạn, đề xuất phương án tổ chức
chọn, đề xuất, quản lý, giám sát việc tổ chức thực thực hiện và giám sát, báo cáo lên cấp trên. Sau khi
hiện chính sách và thụ hưởng chính sách một cách các nội dung chương trình, chính sách đã được lấp
chính đáng, minh bạch theo tinh thần Nghị quyết đầy, Chính phủ mới ban hành chương trình chi tiết
Đại hội Đảng lần thứ XIII (Dân biết, dân bàn, dân để các địa phương thực hiện.
làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng).
Chỉ người dân mới thực sự biết mình cần gì và điều
đó cần được đáp ứng như thế nào.
Chương trình sẽ được triển khai từ cơ sở. Mọi
nhân lực, vật lực chủ yếu do người dân đóng góp.
Cộng đồng đóng vai trò tổ chức thực hiện. Vai trò
+ Nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò, chủ yếu của các cơ quan Nhà nước là hỗ trợ kỹ
ý thức trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng và thuật và các nguồn lực khác trong điều kiện có thể,
bảo vệ đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: giám sát, đánh giá và điều hành, mở rộng quy mô
“Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân và phạm vi theo từng giai đoạn của chương trình đã
liệu cũng xong”. Chỉ khi nào người dân nhận thức được hoạch định từ trước. Mô hình chính sách này
đầy đủ về vai trò, ý thức trách nhiệm và cả năng đã thành công và được nhân rộng đến hàng trăm
lực của mình đối với sự nghiệp phát triển thì nguồn nước trên thế giới.
lực văn hóa - nguồn lực nội sinh mới có thể bộc lộ
hết sức mạnh vốn có của nó. Cần khơi gợi niềm tự
hào về truyền thống dân tộc, truyền thống văn hóa,
Việc áp dụng các bài học kinh nghiệm từ phong
trào Làng mới của Hàn Quốc phù hợp với điều kiện
cụ thể của Việt Nam hiện nay là vấn đề cần bàn
Volume 10, Issue 4
25
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
thêm, tuy nhiên đó có thể là những gợi ý bổ ích về đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích
xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách để có thể cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế;
phát huy tối đa sức mạnh nội sinh – sức mạnh văn phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong
hóa của các DTTS trong quá trình xây dựng và phát đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người
triển đất nước.
là quan trọng nhất”. Đây là sự kế thừa tư tưởng của
Đảng trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, thời
kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ: phát huy tối đa mọi nguồn lực, trong đó có
nguồn lực văn hóa – nguồn lực con người – nguồn
lực nội sinh để phát triển đất nước.
Tuy nhiên, cùng là nguồn lực văn hóa nhưng ý
nghĩa và giá trị trong thời kỳ chiến tranh và thời
kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội có nhiều điểm khác
biệt. Để có thể phát huy tối đa nguồn lực đó, trước
hết cần nhận diện đầy đủ và chính xác các tầng bậc
và ý nghĩa của văn hóa các dân tộc, từ đó có những
giải pháp hiệu quả để khai thác nguồn lực này phục
vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
5. Thảo luận
Kể từ khi thành lập (năm 1930) đến nay, Đảng
ta luôn chú trọng việc xây dựng và củng cố khối đại
đoàn kết dân tộc. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam
hình thành trên cơ sở hòa hợp, kết tinh sức mạnh
văn hóa của từng cộng đồng riêng biệt, chính là tiền
đề của khối đại đoàn kết ấy và cũng là yếu tố quyết
định giúp cho “một dân tộc nhỏ có thể đánh thắng
hai đế quốc to” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng
nói. Nhờ có sức mạnh nội sinh của cả một nền văn
hóa đó, dân tộc ta đã kiên cường đánh Pháp đuổi
Nhật, giành độc lập tự do cho dân tộc, sau đó lại tiếp
tục đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống
nhất đất nước, tiếp tục vững bước trên con đường
xây dựng chủ nghĩa xã hội.
6. Kết luận
Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành
Trong bối cảnh hiện nay, việc Đảng và Nhà nước Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc
ta chủ động hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng khẳng định quan điểm: “Công tác dân tộc và thực
để tận dụng các nguồn lực từ bên ngoài, đồng thời hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng,
phát huy tối đa sức mạnh nội lực trong nước là chủ toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của
trương hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt. Cuộc cách toàn bộ hệ thống chính trị” (Ban Chap hanh Trung
mạng công nghiệp lần thứ tư mang đến rất nhiều cơ uong Dang khoa IX, 2006). Mỗi cán bộ, công chức,
hội nhưng đồng thời cũng tạo ra vô vàn khó khăn, viên chức đều phải có trách nhiệm chăm lo cho đời
thách thức, nhất là trong điều kiện thiên tai, dịch sống đồng bào các DTTS. Tuy nhiên, trong thực
bệnh như hiện nay. Giao thương đình trệ, hàng trăm tiễn công tác dân tộc không thể duy ý chí hay áp
ngàn cơ sở sản xuất phải đóng cửa, người lao động đặt các tư tưởng chủ quan. Người làm công tác dân
mất việc làm, ngân sách nhà nước phải tập trung tộc, bên cạnh đạo đức phẩm chất, tài năng và tinh
chủ yếu để phòng chống dịch bệnh, chăm lo sức thần khát khao cống hiến còn phải hiểu sâu sắc về
khỏe cho nhân dân… Trong điều kiện, hoàn cảnh văn hóa đồng bào, sẵn sàng cảm thông, chia sẻ với
khó khăn, vai trò và sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt những khó khăn, thách thức của đồng bào. Trên hết,
của Đảng càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết. phải hiểu rõ giá trị và sức mạnh của văn hóa, khơi
gợi và phát huy “sức mạnh nội sinh” vô tận đó vào
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng
định: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
Tai lieu tham khao
Anh, N. T., Minh, P. Q., & Trang, L. T. M.
(2016). Phong trao Lang moi o Han Quoc
va chuong trinh Nong thon moi o Viet Nam.
Tap chi Khoa hoc Xa hoi va Nhan van, 2(1b),
tr.16-25.
Bao Du lich. (9/1/2009). Can biet bi quan cho
van hoa Tay Nguyen. Tap chi Moi truong Du
lich Viet Nam. https://moitruongdulich.vn/
index.php/item/1541.
Chuan, N. T. (4/9/2021). Vai tro cua nguon luc
van hoa voi qua trinh phat trien kinh te - xa
hoi. Tap chi Cong san.
Hoa, N. T. (5/10/2020). Chien luoc phat trien
cong nghiep van hoa tai Viet Nam. Tap chi
Con so va Su kien.
HP. (11/9/2021). Phat huy loi the, tiem nang cua
dong bao dan toc thieu so. Bao dien tu Dang
Cong san Viet Nam.
Ban Chap hanh Trung uong Dang khoa IX.
(2006). Nghi quyet ve Cong tac dan toc. Nghi
quyet Hoi nghi lan thu bay, ngay 4/8/2006.
Bon, N. Van. (2020). Phat trien du lich van hoa
thanh nganh cong nghiep van hoa o Viet
Nam. Cong thong tin dien tu cua truong Dai
Giao, H. N. K., & Anh, H. D. T. (2018). Ban sac
van hoa vung dan toc thieu so gan voi phat
trien du lich ben vung o Viet Nam thoi ky hoi
nhap. Hoi thao Thuc trang va tac dong cua
cac yeu to an ninh phi truyen thong vung dan
toc thieu so o Viet Nam thoi ky doi moi. Hoi
thao do Tap chi Cong san va Truong Dai hoc
Can Tho phoi hop to chuc, ngay 21/3/2018
26
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Quoc hoi. (2019). Phe duyet Đe an tong the
phat trien kinh te - xa hoi vung dong bao
dan toc thieu so va mien nui giai doan 2021-
2030. Nghi quyet so 88/2019/QH14, ngay
18/11/2019.
Thien, N. N. (11/01/2021). Nguon luc van hoa
cho phat trien dat nuoc hien nay. Tap chi
Cong san.
Thuy, T. T. (06/01/2010). Luat tuc trong doi
song dong bao cac dan toc thieu so nhung
gia tri can bao ton, phat huy va nhung hu tuc
can loai bo. Tap chi Dan toc.
Trung, T. (2017). Anh huong cua phong tuc tap
quan cua dong bao dan toc thieu so khu vuc
mien nui phia Bac den hieu qua xay dung
Nong thon moi (Chu bien). Ha Noi: Nxb.
Chinh tri quoc gia Su that.
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TRÊN CƠ SỞ PHÁT HUY SỨC MẠNH NỘI SINH
CỦA VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Giang Khắc Bình
Học viện Dân tộc
Email: [email protected]
Ngày nhận bài:
03/10/2021
Ngày phản biện: 16/10/2021
Ngày tác giả sửa: 27/10/2021
Ngày duyệt đăng: 19/11/2021
Ngày phát hành: 30/11/2021
DOI:
rong quá trình phát triển đất nước, Đảng ta luôn coi trọng phát triển văn hóa, khai thác giá trị, tiềm
năng của văn hóa để phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Một trong những mục tiêu
quan trọng được Đảng ta đặt ra là xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng
đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; xây dựng văn hóa trở
thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền
vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
T
Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 đã nhấn mạnh: “Các chính
sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải toàn diện, hướng đến mục
tiêu phát triển bền vững và phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng và tinh thần tự lực của đồng bào dân tộc
thiểu số” (Quoc hoi, 2019). “Lợi thế, tiềm năng” ở đây không chỉ là những tài nguyên, khoáng sản mà trên
hết là nguồn lực văn hóa, nguồn lực con người, là sức mạnh nội sinh to lớn của văn hóa dân tộc thiểu số
mà cho đến nay vẫn chưa được khai thác hiệu quả.
Từ khóa: Nguồn lực nội sinh; Phát triển bền vững; Văn hóa dân tộc thiểu số; Vùng dân tộc thiểu số và
miền núi; Phát triển kinh tế - xã hội.
Volume 10, Issue 4
27
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển kinh tế - Xã hội trên cơ sở phát huy sức mạnh nội sinh của văn hóa các dân tộc thiểu số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phat_trien_kinh_te_xa_hoi_tren_co_so_phat_huy_suc_manh_noi_s.pdf

