Lao động nữ di cư ở Việt Nam những năm gần đây

Lao động nữ di cư ở Việt Nam những năm gần đây  
Bùi Thị Hồng(*)  
Lại Thị Thanh Bình(**)  
Tóm tắt: Lao động di cư là hiện tượng tất yếu trong quá trình hội nhập và phát triển kinh  
tế - xã hội của đất nước. Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và đa dạng hóa các hoạt  
động kinh tế, sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền, chênh lệch mức sống,...  
đã tạo ra làn sóng di cư lao động ngày càng mạnh mẽ ở Việt Nam những năm gần đây.  
Trong đó, đáng chú ý là xu hướng lao động nữ di cư từ nông thôn ra các đô thị lớn tìm  
kiếm cơ hội việc làm ngày một gia tăng. Trên cơ sở tổng quan các kết quả nghiên cứu về  
di cư tại Việt Nam 10 năm trở lại đây, bài viết đề cập đến thực trạng lao động nữ di cư từ  
nông thôn ra thành thị ở Việt Nam và cuộc sống của họ.  
Từ khóa: Di cư, Lao động nữ di cư, Nông thôn - thành thị, Chất lượng cuộc sống,  
Việt Nam  
Abstract: Labor migration is an inevitable phenomenon in the process of national  
integration and socio-economic development. Along with economic growth and  
diversification of economic activities, uneven regional development, gaps in living  
standards, etc., have created an increasingly strong wave of labor migration in Vietnam  
in recent years. In particular, it is worth noting that there’s an increase in female migrant  
workers from rural areas to large cities to seek employment opportunities. Based on a  
literature review in Vietnam the past 10 years, the paper addresses the current situation  
of these workers and their life.  
Keywords: Migration, Female Migrant Workers, Rural - Urban, Life Quality, Vietnam  
1. Đặt vấn đề12  
nghề nghiệp,... làm cho quá trình di cư có  
Ở Việt Nam, những năm gần đây, sự chiều hướng gia tăng, đặc biệt là ở giới nữ.  
chuyển đổi cơ cấu kinh tế cùng với quá Kết quả Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở  
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2019  
như sức ép về dân số, việc làm, đất đai, (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà  
ở Trung ương, 2019: 108) cho thấy, trong  
tổng dân số di cư, nữ giới chiếm 55,5%, cao  
hơn so với mức 50,1% của dân số không  
di cư. Xét theo từng loại hình di cư, tỷ lệ  
nữ giới cũng vượt trội hơn hẳn so với nam  
giới. Luồng di cư lao động là nữ giới hiện  
nay phần lớn là từ nông thôn ra thành thị  
(*) ThS., Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Hàn  
lâm Khoa học xã hội Việt Nam;  
(**) ThS., Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Hàn  
lâm Khoa học xã hội Việt Nam;  
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020  
30  
làm nghề tự do và làm công nhân tại các II/2017, Việt Nam có trên 1 triệu người di  
khu công nghiệp, khu chế xuất. Theo kết cư, trong đó 816 nghìn người là lao động di  
quả Điều tra biến động dân số và kế hoạch cư. Lao động nữ di cư nhiều hơn lao động  
hóa gia đình thời điểm 01/4/2018 (Tổng nam di cư trong cả giai đoạn từ năm 2012  
cục Thống kê, 2019a: 80), trong luồng di đến quý II/2017 (Bảng 1). Mặc dù tỷ trọng  
cư từ nông thôn ra thành thị, nữ giới chiếm lao động nữ di cư có xu hướng giảm dần từ  
57,3%, cao hơn so với nam giới (42,7%). năm 2012 đến quý II/2017 (57,65% xuống  
Nhiều phụ nữ nông thôn quyết định đến 52,88%) nhưng nhiều chuyên gia nhận định  
thành phố tìm kiếm những công việc giản đây vẫn là xu hướng khá cao trong giai  
đơn nhằm có thêm thu nhập để trang trải đoạn hiện nay (ILSSA, ILO, 2018: 28).  
cuộc sống gia đình và lo cho con cái học  
Lao động nữ di cư thường lựa chọn các  
hành ở quê nhà. Tuy vậy, cuộc sống của công việc như làm công nhân tại các khu  
họ tại thành thị cũng vì thế mà đối mặt với công nghiệp, khu chế xuất, hoặc lao động  
nhiều rủi ro, cám dỗ, thiếu bền vững.  
2. Thực trạng lao động nữ di cư ở Việt rong, phục vụ,... mức độ ổn định thấp, bấp  
Nam hiện nay bênh. Theo Nguyễn Thu Hoài, Trương Thị  
tự do như giúp việc gia đình, bán hàng  
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, Ly (2016: 16-17), kết quả điều tra 1.600 lao  
hiện đại hóa đất nước, hiện trạng di cư ở động nữ di cư cho thấy, có 27,8% số người  
Việt Nam trong những năm gần đây diễn ra trả lời cho biết tình trạng công việc hiện  
vô cùng mạnh mẽ và là vấn đề được nhiều nay của họ là không ổn định, đặc biệt ở  
học giả quan tâm, nghiên cứu, trong đó có nhóm nữ lao động tự do tỷ lệ này là 41,3%.  
chiều cạnh giới và di cư. Hầu hết các nghiên  
cứu đều cho thấy xu hướng nữ hóa di cư từ đây đều cho thấy, nhiều lao động nữ di cư  
nông thôn ra đô thị chiếm số lượng lớn. ở độ tuổi khá trẻ trong khoảng thời gian  
a) Số lượng lao động nữ di cư và đặc tương đối dài. Nhận định này trùng với  
điểm nhân khẩu học của họ Kết quả Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở  
Kết quả các cuộc điều tra về di cư gần  
Căn cứ theo kết quả của các cuộc điều thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2019  
tra di cư trong khoảng 10 năm trở lại đây, số (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà  
lượng lao động nữ di cư gia tăng theo từng ở Trung ương, 2019), cụ thể: tuổi trung vị  
năm. Tính toán từ điều tra về lao động việc của nữ di cư thấp hơn so với nam di cư, của  
làm do Viện Khoa học lao động và xã hội những người di cư ngoại tỉnh thấp hơn so  
(ILSSA) - Bộ Lao động, Thương binh và với những người di cư nội tỉnh (đều tương  
Xã hội và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ứng là 27 tuổi so với 29 tuổi), nữ giới có  
cho thấy, tỷ lệ lao động nữ di cư ở Việt Nam xu hướng di cư sớm hơn và ở độ tuổi càng  
đều cao hơn nhiều so với nam giới. Quý trẻ, người di cư càng có xu hướng đi xa để  
thay đổi môi trường sống cũng  
như tìm kiếm cơ hội việc làm  
Bảng 1: Cơ cấu lao động di cư theo giới (%)  
Năm  
Quý  
tốt hơn. Kết quả này cũng khá  
tương đồng với kết quả Điều  
tra lao động việc làm năm 2018  
(Tổng cục Thống kê, 2019b) chỉ  
ra, số người di cư từ 15 tuổi trở  
2012 2013 2014 2015 2016  
II/2017  
Giới tính  
Nam  
42,35 44,34 43,87 46,16 45,21 47,12  
57,65 55,66 56,13 53,84 54,79 52,88  
Nữ  
Nguồn: ILSSA, ILO (2018).  
Lao động nữ…  
31  
lên là 788,9 nghìn người, trong đó 57,0% 39). Kết quả điều tra 215 hộ gia đình tại 4  
là phụ nữ và phần lớn là di chuyển đến xã của 2 huyện Quế Võ và Yên Phong, tỉnh  
khu vực thành thị (61,1%). Tương tự như Bắc Ninh (nơi có tổng số 353 lao động di  
vậy, kết quả điều tra về “Thực trạng và cư) chỉ ra rằng, đa số người di cư là những  
giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống người trẻ tuổi. Lao động di cư từ 16-30 tuổi  
của lao động nữ di cư” do Học viện Phụ chiếm 53,8% và giảm dần ở những độ tuổi  
nữ khảo sát năm 2016 cho thấy, tỷ lệ lao lớn hơn. Nữ giới có xu hướng di cư sớm  
động nữ di cư khá cao trong độ tuổi từ 15- hơn và nhiều người trẻ hơn so với nam  
59 tuổi. Trong đó, 59,5% lao động nữ di cư giới với 59,4% nữ giới di cư trong nhóm  
làm việc trong các khu công nghiệp, khu tuổi dưới 30 và chỉ có 48,3% nam giới di  
chế xuất và 40,5% làm nghề tự do. Về đặc cư trong độ tuổi này (Nguyễn Thị Diễn và  
điểm nhân khẩu học, lao động nữ di cư xuất cộng sự, 2018: 74). Kết quả khảo sát 150  
thân chủ yếu từ khu vực nông thôn (86,5%) hộ gia đình có người di cư tại xã Hòa Phú,  
và từ khắp các vùng miền, độ tuổi trung huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên năm 2018  
bình xấp xỉ 33, đa số đều có trình độ học cũng cho thấy tỷ lệ lao động nữ di cư ra  
vấn thấp, tình trạng sức khỏe ở mức trung thành phố làm ăn khá cao (40,5%). Hầu hết  
bình trở lên. Hơn nữa, ở tất cả các vùng trên họ có trình độ học vấn thấp (Xem: Trần Thị  
cả nước, tỷ trọng nữ di cư tập trung đông Thanh Phương, 2018: 44).  
nhất tại vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng  
Phụ nữ có xu hướng di cư cùng với  
sông Hồng, thể hiện rõ xu hướng “nữ hóa” người thân trong gia đình, trong khi đó nam  
trong di cư (Dẫn theo: Nguyễn Hoàng Anh, giới thường di cư một mình hoặc di cư cùng  
Trương Thúy Hằng, 2018; Tổng cục Thống bạn bè, người quen. Có 64,7% nam giới di  
kê, 2019b; Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân cư một mình, 27,7% di cư cùng người thân  
số và nhà ở Trung ương, 2019).  
trong gia đình như vợ/chồng, con cái, cha  
Không chỉ các nghiên cứu quy mô lớn mẹ, v.v... và 7,1% di cư cùng bạn bè, đồng  
cho thấy tỷ lệ lao động nữ di cư ngày càng hương, người quen biết. Tỷ lệ này ở nữ  
gia tăng và di cư ở độ tuổi khá trẻ mà ngay giới lần lượt là 59,3%, 34,4% và 5,6%. Mặt  
cả một số cuộc điều tra quy mô nhỏ cũng khác, số nữ giới di cư làm công việc nội trợ  
chỉ ra điều tương tự như vậy. Nghiên cứu (giúp việc gia đình) (10,4%) (Xem: Tổng  
của Vũ Thị Hoàng Lan, Phan Thị Hương, cục Thống kê, UNFPA, 2016a: 14, 64).  
phỏng vấn 215 nữ di cư lao động tự do Một xu hướng nhất quán được thấy qua  
đang tạm trú tại phường Phúc Xá, quận cả hai cuộc Tổng Điều tra Dân số và Nhà  
Ba Đình, Hà Nội năm 2011, cho thấy nữ ở và cuộc Điều tra Dân số giữa kỳ 2014  
di cư lao động tự do đang có xu hướng là nữ giới thường di cư trong phạm vi địa  
tăng nhanh. Độ tuổi trung bình của họ là giới hành chính nhỏ hơn (Xem: Tổng cục  
35,2. Phần lớn (88%) số phụ nữ này đang Thống kê, UNFPA, 2016a: 45, 64).  
có chồng, 12% chưa kết hôn, hoặc đã ly  
hôn, ly thân, góa chồng. Trình độ học vấn  
b) Lý do lao động nữ di cư  
Nhiều nghiên cứu cho thấy, nguyên  
của họ khá thấp, đa số có trình độ học vấn nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng lao động  
dưới bậc trung học cơ sở, 35% có trình độ nữ di cư ở Việt Nam hiện nay là để tìm  
học vấn dưới bậc tiểu học (Xem: Vũ Thị việc và đoàn tụ với người thân. Kết quả  
Hoàng Lan, Phan Thị Hương, 2012: 38- Điều tra biến động dân số và kế hoạch  
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020  
32  
hóa gia đình thời điểm 01/4/2018 cho phụ nữ di cư chủ yếu làm các công việc  
thấy, lý do “bắt đầu công việc mới” chiếm chân tay, thu nhập thấp, nhiều bấp bênh và  
tỷ trọng lớn nhất trong số các lý do di cư thiếu bền vững.  
(28,3%), tiếp đến là “tìm việc” (22,3%)  
Công việc của họ không có mức thời  
và “theo gia đình/nghỉ hưu” chiếm 18,6% gian cố định, đa số họ phải làm việc theo  
(Tổng cục Thống kê, 2019a: 81). Kết quả ca kíp với cường độ làm việc căng thẳng.  
Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở thời điểm Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của lao  
0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2019 (Ban Chỉ động nữ di cư năm 2016 cho thấy, thời gian  
đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung làm việc trung bình của lao động nữ di cư  
ương, 2019) cũng cho thấy điều tương tự tự do nhiều hơn so với nhóm lao động nữ  
như trên, phần lớn người di cư quyết định di cư làm việc tại các khu công nghiệp, khu  
chuyển tới nơi mới vì lý do tìm việc/bắt chế xuất. Cụ thể, thời gian làm việc trung  
đầu công việc mới (36,8%).  
bình của nữ công nhân là từ 6-8 giờ/ngày,  
Người dân di cư và đặc biệt là lao động trong khi đó, nhóm lao động nữ làm nghề  
nữ di cư từ nông thôn ra thành thị ngày càng tự do có thời gian làm việc trung bình từ  
nhiều, ngoài mục đích kinh tế, họ còn có lý 9-12 giờ/ngày. Ở cả hai nhóm này, thời gian  
do gần người thân, đoàn tụ với con cái đi làm việc cao nhất trong ngày là trên 13 giờ  
học. Mặt khác, sự giảm cầu lao động trong với tỷ lệ 26,1% ở nhóm lao động tự do và  
các hoạt động nông nghiệp tại nông thôn 8,5% ở nhóm công nhân. Thu nhập trung  
và gia tăng các cơ hội việc làm cho phụ nữ bình của lao động nữ di cư thường ở mức  
tại các thành phố và các khu công nghiệp là trung bình thấp, xấp xỉ 3,1 triệu đồng/tháng  
những lý do chính của hiện tượng gia tăng (Xem: Nguyễn Hoàng Anh, Trương Thúy  
số lượng và tỷ lệ nữ giới di cư này (Tổng Hằng, 2018: 43).  
cục Thống kê, UNFPA, 2016b: 24-25).  
3. Cuộc sống của lao động nữ di cư  
Kết quả trên cũng khá tương đồng với  
nghiên cứu khảo sát về lao động nữ di cư  
Các nghiên cứu về di cư gần đây cho tại Hà Nội (18-30 tuổi) đang làm việc cho  
thấy, đại đa số lao động nữ di cư phải đối các doanh nghiệp1, cho thấy hầu hết lao  
mặt với nhiều khó khăn, thách thức, cuộc động nữ phải làm việc trong khoảng thời  
sống bấp bênh.  
a) Về môi trường làm việc và thu nhập ca kíp nên kết thúc ngày làm việc thường  
của lao động nữ di cư muộn hơn so với thời gian làm việc phổ  
gian tương đối dài, đồng thời phải làm theo  
Luồng di cư chủ yếu của lao động nữ biến (từ 8 giờ đến 17 giờ hằng ngày). Thêm  
theo hướng từ nông thôn ra đô thị, nơi có vào đó, nhận thức và trình độ của lao động  
nhiều cơ hội việc làm với mức thu nhập nữ còn hạn chế, đa số đều không có trình  
hấp dẫn hơn. Đại đa số lao động nữ di độ chuyên môn kỹ thuật (Xem: Phùng Lê  
cư làm việc trong các khu vực kinh tế Khanh và cộng sự, 2019).  
phi chính thức chưa qua đào tạo kỹ năng  
1
nghề. Kỹ năng nghề nghiệp mà họ có được  
chủ yếu thông qua quá trình tích lũy kinh  
nghiệm thực tế. Sự hạn chế về trình độ,  
nhận thức và khó khăn trong việc tiếp cận  
các nguồn lực đã dẫn đến một thực tế là  
Một nghiên cứu thuộc khuôn khổ dự án  
“Empowering Female Migrant Youth to Succeed in  
the City and Workplace” - Tạo cơ hội cho nữ thanh  
niên di cư thành công tại đô thị và nơi làm việc, do  
tổ chức Plan International Việt Nam cùng nhóm tư  
vấn độc lập thực hiện năm 2017.  
Lao động nữ…  
33  
Với môi trường làm việc cường độ cao, lượng cuộc sống của lao động nữ di cư” của  
thời gian làm việc kéo dài và thu nhập bình Học viện Phụ nữ năm 2016 khi phần lớn  
quân hằng tháng ở mức thấp như vậy, nhiều lao động nữ di cư có cuộc sống khó khăn,  
lao động nữ di cư phải đối mặt với nhiều họ phải sống trong những căn nhà thuê có  
khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt hằng diện tích chật hẹp, ẩm thấp, vệ sinh chung,  
ngày. Có những người không chịu nổi áp không đảm bảo an toàn, an ninh, tiềm ẩn  
lực công việc nên thường xuyên thay đổi nhiều rủi ro, đe dọa sự an toàn về thể chất  
công việc hoặc quay trở về quê hương làm và sự riêng tư của họ (Dẫn theo: Nguyễn  
nghề nông như trước đây.  
b) Về điều kiện sống của lao động nữ  
di cư  
Hoàng Anh, Trương Thúy Hằng, 2018).  
Điều kiện sử dụng điện, nước sinh  
hoạt, bếp, công trình phụ của lao động nữ  
Kết quả Tổng Điều tra Dân số và Nhà di cư cũng là một vấn đề nan giải đối với  
ở thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2019 họ. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn  
cho thấy, đa số người di cư sống trong các Hoàng Anh và Trương Thúy Hằng (2018)  
ngôi nhà kiên cố hoặc bán kiên cố. Diện về chất lượng sống của lao động nữ di cư,  
tích nhà ở bình quân đầu người của người nhóm lao động nữ di cư làm nghề tự do  
di cư thấp hơn người không di cư, tỷ lệ và nhóm lao động nữ di cư làm việc tại  
người di cư sống trong ngôi nhà, căn hộ các khu công nghiệp, khu chế xuất đều sử  
có diện tích bình quân đầu người dưới 8m2 dụng cả nước máy và nước giếng khoan  
là 19% (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số trong sinh hoạt hằng ngày. Tỷ lệ được  
và nhà ở Trung ương, 2019: 112). Điều đó sử dụng công trình phụ khép kín ở nhóm  
chứng tỏ số người di cư sống trong những nữ lao động tự do thấp hơn so với nhóm  
căn nhà có diện tích chật hẹp vẫn còn khá nữ công nhân, tương đương là 56,9% và  
nhiều, trong số đó có cả lao động nữ di cư. 67,8%; nhiều lao động nữ di cư không có  
Năm 2014, ILSSA cùng với Dự án Hỗ trợ nhà tắm, vệ sinh ngay tại nơi ở. Về điện  
chính sách Thương mại và Đầu tư của châu thắp sáng, hầu hết lao động nữ di cư đều  
Âu (EU-MUTRAP) khảo sát về “thu nhập có đèn điện thắp sáng tại nơi ở, tỷ lệ này  
và điều kiện sống của lao động nữ di cư chiếm đến gần 100% ở cả nhóm lao động  
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực nữ di cư làm nghề tự do và lao động nữ  
tiếp nước ngoài” cũng cho thấy cuộc sống di cư làm trong các khu công nghiệp, khu  
của lao động nữ di cư còn gặp khá nhiều chế xuất. Tuy nhiên, các thiết bị sinh hoạt  
khó khăn. Nguồn thu nhập chủ yếu của lao tiện ích hiện đại như tủ lạnh, máy giặt, lò  
động nữ di cư là từ tiền lương, làm thêm vi sóng, máy tính kết nối Internet,... lại  
giờ, phụ cấp, tiền thưởng,... Với thu nhập là những món đồ khá xa xỉ và hiếm thấy  
bình quân trên dưới 5 triệu đồng/tháng trong căn nhà trọ của những lao động nữ di  
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước cư này (Nguyễn Hoàng Anh, Trương Thúy  
ngoài tại Bắc Ninh, Đồng Nai, Tp. Hồ Chí Hằng, 2018: 42).  
Minh, lao động nữ di cư gặp nhiều khó  
Nhìn chung, chất lượng cuộc sống  
khăn trong việc tiếp cận nhà ở và các vấn đề của lao động nữ di cư còn gặp nhiều khó  
về giáo dục con cái, chăm sóc sức khỏe,... khăn. Do thu nhập thấp nên đa số họ phải  
(ILSSA, EU-MUTRAP, 2015). Thực tế thuê nhà giá rẻ, hoặc thuê chung, ở ghép,  
này khá tương đồng với điều tra về “chất chất lượng nhà cho thuê kém, vệ sinh môi  
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020  
34  
trường, điện, nước không đảm bảo an toàn.  
Phần lớn lao động nữ làm việc trong  
Sống trong điều kiện thiếu thốn như vậy, các khu công nghiệp có hợp đồng lao  
nhiều nữ lao động không có cơ hội được động (80%), đây cũng là điều kiện pháp  
nghỉ ngơi thoải mái để tái tạo sức lao động lý quan trọng để nữ lao động tiếp cận với  
sau cả ngày làm việc nặng nhọc, mệt mỏi. bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo  
c) Về khả năng tiếp cận các dịch vụ an hiểm xã hội và các chế độ bảo trợ khác  
sinh xã hội và dịch vụ công của lao động theo luật định, trong khi đó, lao động nữ  
nữ di cư  
di cư tự do hầu như không có bảo hiểm  
Mặc dù chiếm số lượng đông đảo thất nghiệp, bảo hiểm y tế mà nếu có cũng  
nhưng với các đặc điểm giới đặc thù, lao rất khó khăn trong việc tiếp cận hệ thống  
động nữ di cư vẫn là nhóm chịu nhiều bất khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế. Kết  
bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ quả điều tra ở thành phố Hồ Chí Minh cho  
an sinh xã hội và sự kỳ thị của cộng đồng thấy, có tới 59,2% số lượng người di cư  
tại nơi đến. Lao động nữ di cư từ nông đến thành phố Hồ Chí Minh không có bảo  
thôn ra thành thị thường thuộc diện tạm hiểm y tế, trong đó tỷ lệ nữ chiếm 52,6%  
trú, không có hộ khẩu tại nơi đến, ảnh tổng số nữ di cư (Dương Chí Thiện, 2013:  
hưởng lớn đến khả năng tiếp cận các dịch 55). Kết quả này cũng tương đồng với kết  
vụ công. Nghiên cứu của Bùi Thị Hòa quả nghiên cứu về “quyền an sinh xã hội  
(2019) cho thấy, có ít nhất 1/3 số lao động của lao động nữ di cư ở Việt Nam” do  
nhập cư nghèo rất khó khăn khi tiếp cận, Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Lao động, Thương  
sử dụng dịch vụ công. Mặt khác, cũng do binh và Xã hội thực hiện năm 2018 cho  
vấn đề hộ khẩu, lao động nữ di cư phải trả thấy những khoảng trống về pháp luật  
chi phí cho các dịch vụ xã hội cơ bản như trong chính sách đối với lao động nữ di  
y tế, giáo dục, nhà ở, điện, nước sinh hoạt cư. Cụ thể, lao động thường gặp khó khăn  
cao hơn hẳn so với dân cư địa phương. về việc làm, rủi ro bị mất việc rất cao, lao  
Chẳng hạn như nhiều con em của lao động động nữ làm việc trong các khu vực kinh  
nữ di cư do không có hộ khẩu thường trú tế phi chính thức hầu hết không có bảo  
nên việc học hành cũng gặp nhiều khó hiểm xã hội, chiếm gần 98% (Dẫn theo:  
khăn hơn. Nghiên cứu của Nguyễn Tôn Ngân Anh, 2018).  
Thị Tường Vân (2012: 1-2) về vấn đề học  
Khả năng tiếp cận các dịch vụ an sinh  
tập của con em công nhân ở lứa tuổi mầm xã hội và dịch vụ công của lao động nữ  
non tại các khu công nghiệp thành phố Hồ di cư rất hạn chế, khiến cuộc sống của họ  
Chí Minh cho thấy, với chi phí nuôi con vốn khó khăn lại càng trở nên bấp bênh  
chiếm khoảng 70% tổng các chi phí thì chi hơn. Có 90% lao động nữ di cư khó tiếp  
phí cho việc giữ trẻ phải được tính toán kỹ cận tới các dịch vụ an sinh xã hội và chính  
lưỡng. Phần đông công nhân muốn được sách công tại nơi đến (Nguyễn Hoài Anh,  
gửi con học ở trường công lập vì chi phí 2018). Ngoài ra, các dịch vụ như giới  
phù hợp với thu nhập của họ và độ an toàn thiệu việc làm, tư vấn pháp luật, trợ giúp  
cao, song đa số họ đều là lao động nhập pháp lý, sự can thiệp, giúp đỡ của các  
cư không có hộ khẩu thường trú tại địa đoàn thể, cơ quan chính quyền sở tại,...  
phương nên việc xin cho con vào học ở cũng được lao động nữ di cư tiếp cận ở  
các trường này không dễ dàng.  
mức khiêm tốn.  
Lao động nữ…  
35  
Tài liệu tham khảo  
Do việc tiếp cận với các dịch vụ an  
1. Nguyễn Hoài Anh (2018), “Lao động  
nữ di cư: 90% khó tiếp cận các dịch  
vụ an sinh xã hội và chính sách công”,  
Tạp chí điện tử Bảo hiểm xã hội, http://  
tapchibaohiemxahoi.gov.vn/tin-tuc/  
lao-dong-di-cu-nu-90-kho-tiep-can-cac-  
dich-vu-an-sinh-xa-hoi-va-chinh-sach-  
cong-20346, truy cập ngày 26/11/2018.  
2. Nguyễn Hoàng Anh, Trương Thúy  
Hằng (2018), “Về chất lượng cuộc sống  
của lao động nữ di cư ở Việt Nam hiện  
nay”, Tạp chí Thông tin Khoa học xã  
hội, số 4, tr. 39-44.  
sinh xã hội của lao động nữ di cư bị hạn  
chế nên khi xảy ra biến cố chẳng hạn như  
điều kiện kinh tế khó khăn, doanh nghiệp  
phá sản, nhiều lao động nữ bị mất việc  
làm, không được trợ cấp thất nghiệp và  
các loại hình bảo trợ xã hội khác khiến họ  
lâm vào tình cảnh thiếu thốn, cuộc sống  
càng trở nên khó khăn hơn. Chính vì vậy,  
việc đảm bảo quyền an sinh xã hội cho  
nhóm đối tượng lao động nữ di cư hiện  
nay là một việc làm cần thiết và đáng  
quan tâm.  
4. Kết luận  
3. Ngân Anh (2018), “Quyền an sinh  
xã hội cho lao động nữ di cư: vấn còn  
những khoảng trống”, Trang tin điện tử  
com.vn/xahoi/item/38643502-quyen-  
an-sinh-xa-hoi-cho-lao-dong-nu-di-cu-  
van-con-nhung-khoang-trong.html, truy  
cập ngày 21/12/2018.  
4. Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và  
nhà ở Trung ương (2019), Kết quả Tổng  
Điều tra Dân số và Nhà ở thời điểm 0  
giờ ngày 1 tháng 4 năm 2019, Nxb.  
Tổng cục Thống kê, Hà Nội.  
5. Nguyễn Thị Diễn, Ngô Trung Thành,  
Nguyễn Thị Minh Khuê, Philippe  
Lebailly, Nguyễn Đức Chiện (2018),  
“Di cư theo giới và sản xuất nông  
nghiệp ở vùng đồng bằng sông Hồng  
(phần 1)”, Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ  
và Châu Á, số 9, tr. 70-77.  
6. Bùi Thị Hòa (2019), “Phát triển hệ  
thống dịch vụ bảo vệ, hỗ trợ, thúc đẩy  
hòa nhập xã hội đối với lao động nữ di  
cư từ nông thôn ra đô thị”, Tạp chí điện  
org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-  
/2018/815607/phat-trien-he-thong-dich-  
vu-bao-ve%2C-ho-tro%2C-thuc-day-  
Nhìn chung, xu hướng lao động nữ  
tham gia vào quá trình di cư tìm kiếm việc  
làm những năm gần đây ngày càng chiếm  
tỷ lệ cao trong biểu đồ di cư nói chung ở  
Việt Nam. Lao động nữ di cư là một trong  
những nhóm yếu thế của xã hội hiện nay.  
Xu hướng di cư của lao động nữ từ nông  
thôn ra thành thị và thực trạng về đời sống,  
việc làm cũng như khả năng tiếp cận các  
dịch vụ an sinh xã hội của lao động nữ di  
cư như hiện nay cho thấy họ còn gặp vô  
vàn khó khăn. Chính vì vậy, để bảo vệ, hỗ  
trợ và thúc đẩy hòa nhập xã hội đối với  
lao động nữ di cư rất cần vai trò nòng cốt  
của các đoàn thể chính trị - xã hội, trong  
đó có Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam với  
vai trò là tổ chức đại diện cho phụ nữ, là  
cầu nối, tập hợp, vận động lao động nữ di  
cư và tăng cường phối hợp với các cơ quan  
quản lý nhà nước, doanh nghiệp và cả xã  
hội. Lao động nữ di cư cần được hỗ trợ  
để tham gia các khóa đào tạo nghề, nâng  
cao trình độ, chuyển đổi tay nghề, kỹ năng  
an toàn,... Đồng thời, cần tăng cường cơ  
hội tiếp cận thông tin về các chính sách  
an sinh xã hội cho lao động nữ di cư để họ  
hiểu đúng và đầy đủ quyền an sinh xã hội  
của mình  
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020  
36  
hoa-nhap-xa-hoi-doi-voi-lao-dong-nu- 13. Tổng cục Thống kê, Quỹ Dân số Liên  
di-cu-tu-nong-thon-ra-do-thi.aspx, truy  
cập ngày 01/12/2019.  
7. Nguyễn Thu Hoài, Trương Thị Ly  
(2016), “Nữ lao động di cư dưới góc  
Hợp Quốc (UNFPA) (2016b), Điều tra  
dân số và nhà ở giữa kỳ 2014: Di cư và  
đô thị hóa ở Việt Nam, Nxb. Thống kê,  
Hà Nội.  
nhìn công tác xã hội”, Tạp chí Lao động 14. Tổng cục Thống kê (2019a), Kết quả  
và Xã hội, số 534, tr. 16-17.  
chủ yếu Điều tra biến động dân số  
và kế hoạch hóa gia đình thời điểm  
01/4/2018, Xuất bản bởi Vụ Thống kê  
Dân số và Lao động, Tổng cục Thống  
kê, Hà Nội.  
8. Phùng Lê Khanh, Lê Thị Hồng Liên và  
nhóm nghiên cứu (2019), “Việc làm của  
lao động nữ di cư tại Hà Nội”, Trang tin  
điện tử Viện Khoa học Giáo dục nghề  
nghiệp, https://nivet.org.vn/nghien-cuu 15. Tổng cục Thống kê (2019b), Báo cáo  
-khoa-hoc/hoat-dong-khoa-hoc/item/  
998-viec-lam-cua-lao-dong-nu-di-cu-tai  
-ha-noi, truy cập ngày 28/6/2019.  
điều tra lao động việc làm năm 2018,  
Nxb. Thống kê, Hà Nội.  
16. Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (2012),  
“Thực trạng tiếp cận dịch vụ giữ trẻ của  
công nhân khu chế xuất, khu công nghiệp  
ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”,  
trong: Kỷ yếu hội thảo “Chất lượng cuộc  
sống của người dân thành phố Hồ Chí  
Minh trong bối cảnh kinh tế hiện nay”,  
Viện Nghiên cứu Phát triển Tp. Hồ Chí  
Minh tổ chức, ngày 20/12/2012.  
9. Vũ Thị Hoàng Lan, Phan Thị Hương  
(2012), “Thực trạng kiến thức và tiếp  
cận thông tin về nhiễm khuẩn đường  
sinh sản trong phụ nữ di cư lao động  
tự do tại phường Phúc Xá, Ba Đình,  
Hà Nội năm 2011”, Tạp chí Y học Việt  
Nam, số 1, tháng 12, tr. 37-42.  
10. Trần Thị Thanh Phương (2018), “Di cư  
lao động nông thôn - đô thị từ góc độ 17. Viện Khoa học Lao động và Xã hội  
người ở lại (Nghiên cứu tại xã Phú Hòa,  
huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên)”, Luận  
văn thạc sĩ Xã hội học, Học viện Khoa  
học xã hội.  
(ILSSA), Dự án hỗ trợ chính sách  
Thương mại và Đầu tư của châu Âu  
(EU-MUTRAP) (2015), Báo cáo kết  
quả khảo sát thu nhập và điều kiện sống  
của lao động nữ di cư trong các doanh  
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước  
ngoài, Hà Nội.  
11. Dương Chí Thiện (2013), “An sinh xã  
hội đối với người lao động di cư từ nông  
thôn ra đô thị ở Việt Nam hiện nay”,  
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 5 18. Viện Khoa học Lao động và Xã hội  
(66), tr. 51-59.  
(ILSSA), Tổ chức Lao động quốc tế  
(ILO) (2018), Xu hướng lao động và xã  
hội Việt Nam năm 2012-2017, Ấn phẩm  
thuộc bản quyền của Tổ chức Lao động  
quốc tế, Hà Nội.  
12. Tổng cục Thống kê, Quỹ Dân số Liên  
Hợp Quốc (UNFPA) (2016a), Điều tra  
di cư nội địa quốc gia 2015: Các kết  
quả chủ yếu, Nxb. Thống kê, Hà Nội.  
pdf 8 trang baolam 23320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lao động nữ di cư ở Việt Nam những năm gần đây", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflao_dong_nu_di_cu_o_viet_nam_nhung_nam_gan_day.pdf