Nhiệm vụ đặt ra cho công tác dân tộc, chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay

CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
TASKS FOR ETHNIC AFFAIRS, ETHNIC POLICIES  
IN THE CURRENT PERIOD  
Nguyen Van Dunga  
Nguyen Quang Hongb  
a Vietnam Academy for Ethnic Minorities  
b Academy of Politics Region I  
Received:  
Reviewed:  
Revised:  
Accepted:  
Released:  
11/11/2021  
21/11/2021  
24/11/2021  
25/11/2021  
30/11/2021  
DOI:  
arty and State always pay attention and attach importance to ethnic affairs and ethnic policies in  
P
the strategy of great national unity, on the principle of equality, respect, solidarity, mutual help  
for development among the community of Vietnam's ethnic groups, in which priority is given to the  
comprehensive development of the economy, culture, society, politics, national defense and security of the  
ethnic minority areas. This article presents the viewpoints, guidelines and policies of the Party and State  
on ethnic affairs and ethnic policies in the current period; analyze achievements in ethnic affairs and ethnic  
policies in the past time, thereby proposing main tasks and solutions to carry out ethnic affairs and ethnic  
polices in the period of 2021 - 2025.  
Keywords: Ethnic affairs; Ethnic polices; Period of 2021 - 2025; Ethnic minority and mountainous areas.  
1. Đặt vấn đề  
bảo đảm quốc phòng, an ninh, Đảng và Nhà nước ta  
đã xác định vùng đồng bào DTTS khu vực Tây Bắc,  
Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền  
Trung là những khu vực trọng yếu, giữ vị trí chiến  
lược quan trọng của đất nước.  
Số liệu điều tra năm 2019 cho thấy, nước ta có  
53 dân tộc thiểu số (DTTS) với 14.118.232 người,  
gần 3 triệu hộ (chiếm 14,7% dân số cả nước), cư  
trú thành cộng đồng ở 51 tỉnh, thành phố, 548  
huyện, 5266 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có  
Trong những năm gần đây, KT-XH vùng đồng  
382 xã biên giới (tiếp giáp với Trung Quốc, Lào bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) đã  
và Campuchia). Địa bàn cư trú của đồng bào chủ có bước phát triển mạnh, nhưng vẫn là vùng khó  
yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và khăn nhất của cả nước. Vùng Tây Bắc, Tây Nguyên,  
Tây Duyên hải miền Trung, chiếm 3/4 diện tích cả Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung chuyển  
nước. Đây là vùng có nhiều tài nguyên khoáng sản biến chậm, hạ tầng KT-XH nhỏ, lạc hậu; kinh tế  
giá trị như: vàng, nhôm, thiếc, than, ăng-ti-mon…; hàng hóa chưa phát triển; đời sống người dân gặp  
có hệ sinh thái động, thực vật đa dạng; nơi có nhiều khó khăn, là “lõi nghèo của cả nước”; trình  
14.415.381ha rừng1. Đây cũng là đầu nguồn sinh độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực thấp; đội ngũ  
thủy, gắn với các công trình thủy điện quốc gia cán bộ còn nhiều bất cập; tiềm ẩn yếu tố phức tạp  
như: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang, về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội… Do  
Trung Sơn (Thanh Hóa), Hàm Thuận - Đa Mi (Bình vậy, yêu cầu thực hiện tốt công tác dân tộc, chính  
Thuận), Yaly (Gia Lai), Ba Hạ (Phú Yên)…; vừa sách dân tộc mà trọng tâm là phát triển KT-XH, bảo  
cung cấp điện, vừa cung cấp nước sản xuất, sinh đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bào DTTS là  
hoạt cho vùng hạ du và khu vực đồng bằng. Trong nhiệm vụ quan trọng của đất nước trong giai đoạn  
Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) và hiện nay.  
1. Trong đó có 10.236,415 ha rừng tự nhiên với 4.567,106 ha rừng  
phòng hộ và 2.141,324 ha rừng đặc dụng.  
2. Tổng quan nghiên cứu  
8
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
Đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu các bài viết tiêu biểu trong cuốn sách “Ủy ban Dân  
về công tác dân tộc, chính sách dân tộc theo những tộc - 70 năm xây dựng và phát triển (1946-2016)”  
nhóm nội dung như:  
(2016) của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự  
thật. Điển hình là: Giàng Seo Phử, “Một số vấn đề  
lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về công tác  
dân tộc hiện nay”; Nông Quốc Tuấn, “Đẩy mạnh  
công tác tuyên truyền về công tác dân tộc và thực  
hiện chính sách dân tộc ở vùng DTTS&MN trong  
tình hình hiện nay”; Sơn Phước Hoan, “Những vấn  
đề đặt ra trong thực hiện chính sách phát triển KT-  
XH vùng DTTS&MN”; Lê Sơn Hải, “Thực hiện  
chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 góp phần  
phát triển toàn diện vùng dân tộc và miền núi”…  
Nghiên cứu về công tác kiểm tra, giám sát, sơ  
kết, tổng kết công tác dân tộc, chính sách dân tộc  
có sách chuyên khảo: “50 năm công tác dân tộc  
và miền núi” (1946-1996) của Nguyễn Hữu Hải,  
Nguyễn Xuân Thu, Lưu Minh Thiệu; “55 công tác  
dân tộc và miền núi” (1946-2001) của Ủy ban Dân  
tộc; “60 năm công tác dân tộc thực tiễn và bài học  
kinh nghiệm” (2006) của Viện Dân tộc; Kỷ yếu hội  
thảo quốc gia “Cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt  
Nam và chính sách đại đoàn kết dân tộc” (2010);  
“Lịch sử 65 năm cơ quan công tác dân tộc, 1946-  
Có thể thấy, các nghiên cứu đã hệ thống hóa  
2011” (2011) của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về  
công tác dân tộc, chính sách dân tộc qua từng thời  
kỳ, đồng thời tổng kết thực tiễn rút ra bài học kinh  
nghiệm trong việc thực hiện công tác dân tộc, chính  
sách dân tộc trong giai đoạn phát triển mới của đất  
nước. Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu cụ thể về  
nhiệm vụ đặt ra cho công tác dân tộc, chính sách  
dân tộc. Đây là khoảng trống nghiên cứu mà bài  
viết hướng tới.  
Bài viết của Tráng A Pao “Hội đồng dân tộc của  
Quốc hội với chức năng giám sát việc thực hiện  
chính sách dân tộc” trong cuốn “60 năm công tác  
dân tộc - Thực tiễn và bài học kinh nghiệm” của  
Viện dân tộc - Hội đồng khoa học, Ủy ban Dân tộc  
(2006) đã làm rõ chức năng giám sát của Hội đồng  
dân tộc của Quốc hội trong việc thực hiện công tác  
dân tộc, chính sách dân tộc. Bài viết của Lê Ngọc  
Thắng “Đổi mới nội dung, phương thức công tác  
dân tộc từ Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX” cho  
rằng, công tác hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện  
chính sách, chương trình, dự án ở vùng đồng bào  
DTTS là hoạt động cơ bản và quan trọng.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Bài viết sử dụng chủ yếu phương pháp thu thập,  
tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp. Trong đó, kế  
thừa nhiều kết quả nghiên cứu của các học giả đi  
trước, kết hợp với nhiều số liệu, dữ liệu được thu  
Các nghiên cứu trên cũng đề cập đến hiệu quả thập từ các báo cáo cấp Trung ương và địa phương  
quản lý nhà nước về công tác dân tộc, chính sách về lĩnh vực này, cùng các kết quả được thu thập từ  
dân tộc từ Trung ương tới địa phương qua việc đánh nghiên cứu thực địa địa phương.  
giá khá toàn diện những thành tựu, hạn chế, bài  
học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp về công tác  
dân tộc, chính sách dân tộc trong từng thời kỳ cách  
mạng Việt Nam; sự hình thành và phát triển của cơ  
quan công tác dân tộc qua các thời kỳ... Tuy nhiên,  
chưa có những đánh giá về lý luận gắn với thực tiễn  
quản lý nhà nước về công tác dân tộc xuyên suốt  
thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay...  
Các nghiên cứu về dân tộc, công tác dân tộc,  
chính sách dân tộc còn có: Hà Hùng (2014), “Nghiên  
cứu thực trạng nghèo, giảm nghèo của người dân  
tộc thiểu số ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây  
Nam Bộ”; Hoàng Xuân Lương (2014), “Tư tưởng  
Hồ Chí Minh về các dân tộc bình đẳng, đoàn kết,  
tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”; Trần Trung  
(2017), “Nghiên cứu, đánh giá kết quả thực hiện  
Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) về Công tác  
dân tộc”; Nguyễn Văn Dũng (2020) “Nghiên cứu  
cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chương trình  
bồi dưỡng kiến thức công tác dân tộc cho cán bộ,  
công chức, viên chức đến năm 2030”... Các công  
trình này đã làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản và  
thiết thực về công tác cán bộ, đào tạo cán bộ, quan  
hệ dân tộc, xóa đói giảm nghèo vùng DTTS&MN.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Một số thành tựu về công tác dân tộc, thực  
hiện chính sách dân tộc trong thời gian vừa qua  
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII  
của Đảng (Dang Cong san Viet Nam, 2016) đã xác  
định: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược  
trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Tiếp tục  
hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân  
tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài  
hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát  
triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế,  
văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào DTTS, nhất  
là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ,  
Tây Duyên hải miền Trung. Nâng cao chất lượng  
giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và  
chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc  
thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng  
các dân tộc. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh  
giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách  
dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. chống kỳ  
thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động  
chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”.  
Cụ thể hóa quan điểm, chủ trương đường lối của  
Đảng, trong những năm gần đây, Chính phủ đã ban  
hành nhiều chính sách dân tộc, thúc đẩy phát triển  
KT-XH, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo an  
Nghiên cứu quan điểm, chủ trương của Đảng,  
Nhà nước về công tác dân tộc, chính sách dân tộc có  
Volume 10, Issue 4  
9
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
sinh xã hội vùng DTTS&MN. Do đó, công tác dân  
- Khoảng cách phát triển giữa các DTTS với dân  
tộc có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều tộc Kinh, giữa các nhóm DTTS, giữa miền núi và  
thành tựu toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã miền xuôi chưa được rút ngắn. Thu nhập bình quân  
hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; phát huy sức của hộ đồng bào DTTS ở nhiều nơi chỉ bằng 40-  
mạnh đoàn kết các dân tộc, đóng góp cho sự nghiệp 50% bình quân thu nhập trong khu vực4; tỷ lệ dân  
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố lòng tin của số DTTS chiếm 14,6% nhưng tỷ lệ hộ nghèo chiếm  
đồng bào DTTS đối với Đảng, Nhà nước. Các cấp 55,27 % tổng số hộ nghèo của cả nước; có 9 tỉnh tỷ  
uỷ, chính quyền, đoàn thể các cấp đã cụ thể hoá lệ hộ DTTS nghèo chiếm trên 90% hộ nghèo của  
thực hiện Nghị quyết phù hợp với điều kiện của địa cả tỉnh;  
phương, đơn vị.  
- Một số vấn đề bất cập trong đời sống của đồng  
Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần bào DTTS như: Di cư tự phát, thiếu đất ở, đất sản  
của đồng bào từng bước được cải thiện, đảm bảo xuất, nước sinh hoạt5... chưa được giải quyết hiệu  
an sinh xã hội; vùng đồng bào DTTS&MN không quả, đời sống của một bộ phận đồng bào DTTS còn  
phát sinh các “điểm nóng”, đảm bảo an ninh chính nhiều khó khăn;  
trị, trật tự an toàn xã hội, thế trận lòng dân trong thế  
trận quốc phòng, an ninh vững mạnh được củng cố  
và tăng cường.  
- Chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa tuy đã được  
nâng lên nhưng so với mặt bằng chung vẫn còn  
thấp, mức độ tiếp cận các dịch vụ còn nhiều khó  
Trong những năm gần đây, các địa phương vùng khăn; vẫn còn khoảng 21% người DTTS trên 15  
đồng bào DTTS&MN đều đã đạt được tốc độ tăng tuổi chưa đọc thông, viết thạo tiếng Việt6;  
trưởng kinh tế cao2. Cơ cấu kinh tế bước đầu có  
- Tỷ lệ được cấp thẻ bảo hiểm y tế cao nhưng tỷ  
sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công  
nghiệp, dịch vụ. Dần hình thành vùng sản xuất nông  
lâm nghiệp hàng hóa: cà phê, chè, cao su, tiêu, cây  
dược liệu, cây lấy gỗ và sản phẩm ngoài gỗ… Kết  
cấu hạ tầng từng bước được hoàn thiện, thúc đẩy  
phát triển KT-XH từng vùng, từng khu vực3.  
lệ khám, chữa bệnh còn thấp, phòng khám đa khoa  
khu vực của các tỉnh miền núi chưa được điều trị  
nội trú và thanh toán bảo hiểm y tế; tỷ lệ phụ nữ  
mang thai được khám định kỳ mới đạt 71%; tỷ lệ  
sinh con tại nhà là 36,3%; trẻ em suy dinh dưỡng  
là 32%7;  
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và chăm sóc sức  
khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ; Công tác giữ gìn,  
bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa đặc sắc của  
cộng đồng các DTTS được quan tâm; góp phần  
nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Quyền  
bình đẳng giữa các dân tộc cơ bản được bảo đảm;  
đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố…  
- Số người không biết nói tiếng dân tộc của mình  
ngày càng tăng; dân ca, dân vũ, nhạc cụ truyền thống  
của nhiều DTTS chỉ được phục dựng khi lễ hội, ít  
có cơ hội trình diễn trong đời sống hàng ngày;  
- Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức là người  
DTTS trong cơ quan nhà nước các cấp có xu hướng  
giảm; đa số các Bộ, ngành và địa phương chưa  
đạt được tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người  
4.2. Một số hạn chế, bất cập  
Mặc dù KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN DTTS theo quy định tại Quyết định 402/QĐ-TTg  
đã có bước phát triển mạnh trong những năm qua, ngày 14/03/2016 của Thủ tướng Chính phủ;  
nhưng vẫn là vùng khó khăn nhất của cả nước. Vùng  
Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Duyên  
hải miền Trung chuyển biến chậm, hạ tầng KT-XH  
thấp kém, kinh tế chủ yếu tự cung tự cấp, đời sống  
của người dân còn nhiều khó khăn, là “lõi nghèo  
của cả nước”; chất lượng nguồn nhân lực thấp, đội  
ngũ cán bộ còn nhiều bất cập, còn một số hạn chế  
về bình đẳng giới, tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu và tệ  
nạn xã hội, tiềm ẩn yếu tố phức tạp về an ninh chính  
trị, trật tự, an toàn xã hội:  
- Vẫn còn các hủ tục lạc hậu, một số tệ nạn xã  
hội như nghiện hút, buôn bán và vận chuyển trái  
phép ma túy, buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên  
giới... là những yếu tố tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định  
an ninh trật tự vùng đồng bào DTTS&MN.  
4.3. Nguyên nhân của hạn chế, bất cập  
4. Theo Kết quả điều tra thực trạng KT-XH 53 DTTS, thu nhập b/q  
nhóm DTTS đạt 1.161 nghìn đồng/người/tháng, trung bình cả nước  
đạt 2.637 nghìn đồng/người/tháng, gấp hơn hai lần so với nhóm  
DTTS. Thu nhập bình quân đầu người cũng có sự phân hóa trong 53  
2. Bình quân các tỉnh vùng Tây Bắc tăng 8,4 %, các tỉnh vùng Tây DTTS, nhóm thu nhập thấp nhất trung bình dưới 632 nghìn đồng/  
nguyên tăng 8,1 %, các tỉnh vùng tây Nam Bộ tăng 7,3%. người/tháng, gồm các dân tộc như Mảng, Khơ Mú, Lô Lô, Chứt, La  
3. Đã có 98,4 % xã có đường ô tô đến trung tâm; trên 98% hộ DTTS Hủ, Ơ Đu, Mông, La Chí, Bru Vân Kiều, Cơ Lào và Xinh Mun...  
được sử dụng điện lưới quốc gia, 100% xã vùng DTTS & MN có 5. Số hộ DTTS di cư tự phát cần sắp xếp, bố trí ổn định dân cư:  
trường mầm non, trường TH, THCS; 99,3 % xã có trạm y tế, trong 12.976 hộ; số hộ thiếu đất sản xuất, cần hỗ trợ: 54.193 hộ; số hộ  
đó khoảng 70% xã có bác sỹ chăm sóc sức khỏe nhân dân; trên 90 thiếu đất ở, cần hỗ trợ: 58.123 hộ; số hộ thiếu nước sinh hoạt, cần  
% xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình, kết nối thông tin liên hỗ trợ: 223.449 hộ  
lạc hiện đại; 100% xã đã có điện thoại cố định và di động cung cấp 6. Tỷ lệ HS trong độ tuổi đi học THCS đạt 84%; học THPT đạt  
các dịch vụ viễn thông và Internet. Hộ nghèo ở các huyện 30a, các 41,8%; 03 DTTS chưa có người đi học đại học  
xã đặc biệt khó khăn giảm 3%-4% /năm, có nơi giảm trên 5%; các 7. Tỷ lệ trẻ em DTTS dưới 1 tuổi tử vong còn cao; tỷ lệ phụ nữ mang  
tỉnh có đông đồng bào DTTS sinh sống đã có trên 90% người dân thai được thăm, khám trong thai kỳ mới đạt 71%; phụ nữ sinh con  
được hỗ trợ mua bảo hiêm y tế.  
tại nhà là 36,3%; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em DTTS là 32%.  
10  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
dân tộc trong giai đoạn hiện nay  
4.3.1. Nguyên nhân khách quan  
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác dân  
tộc, chính sách dân tộc với việc giữ vững ổn định  
và phát triển bền vững chế độ chính trị Việt Nam,  
Văn kiện Đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam các  
khoá đều xác định đường lối cụ thể, thống nhất,  
lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc.  
Ban chấp hành TW Đảng khoá IX đã ban hành Nghị  
quyết chuyên đề số 24-NQ/TW ngày 12/03/2003 về  
công tác dân tộc (Dang Cong san Viet Nam, 2003),  
trong đó xác định rõ quan điểm: “Vấn đề dân tộc  
và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản,  
lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay  
của cách mạng Việt Nam. Phát triển toàn diện chính  
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng  
trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng  
trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực  
hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi  
dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ  
cán bộ DTTS; giữ gìn và phát huy những giá trị,  
bản sắc văn hóa truyền thống các DTTS trong sự  
nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt  
Nam thống nhất; Ưu tiên đầu tư phát triển KT-XH  
các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung  
vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói,  
giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế  
mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững  
môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự  
lực, tự cường của đồng bào các dân tộc…”  
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII  
của Đảng (Dang Cong san Viet Nam, 2021) tiếp  
tục khẳng định: “Phát triển hệ thống an sinh xã hội  
toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính  
sách phong ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro  
cho người dân, đảm bảo trợ giúp cho các nhóm đối  
tượng yếu thế. Cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa  
tầng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ - bền  
vững. Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo  
đa chiều, bền vững, đảm bảo mức sống tối thiểu và  
các dịch vụ cơ bản. Nâng cao chất lượng xây dựng  
nông thôn mới, triển khai có hiệu quả chương trình  
phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai  
đoạn 2021-2030, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo  
giữa các vùng, miền, dân tộc”. Trải qua các thời kỳ  
cách mạng, công tác dân tộc, chính sách đã đạt được  
những kết quả to lớn góp phần quan trọng vào sự  
nghiệp cách mạng chung của đất nước.  
Xuất phát điểm của vùng đồng bào DTTS&MN  
thấp, địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, chất  
lượng nguồn nhân lực thấp; rất khó khăn trong việc  
thu hút đầu tư; cơ sở hạ tầng thấp kém, thiếu việc  
làm, đói nghèo, thiên tai, bệnh tật, đang là thách  
thức lớn.  
Nhu cầu về cơ sở hạ tầng lớn trong khi nguồn  
lực thực hiện chính sách còn chưa đáp ứng nhu cầu  
thực tế, dẫn đến việc một số chính sách được ban  
hành nhưng không được phân bổ vốn để thực hiện.  
Các thế lực thù địch liên tục lợi dụng vấn đề dân  
tộc, tôn giáo để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương,  
chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là những  
khó khăn về kinh tế của đất nước, an ninh chính trị  
vùng biên giới dẫn đến một số địa bàn vẫn còn tiềm  
ẩn nhiều nguy cơ bất ổn về an ninh, trật tự.  
4.3.2. Nguyên nhân chủ quan  
Cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền ở một số nơi  
chưa nhận thức đầy đủ về công tác dân tộc, chính  
sách dân tộc nên thiếu sâu sát trong lãnh đạo, chỉ đạo,  
kiểm tra, đôn đốc thực hiện Nghị quyết và các chính  
sách; chưa quan tâm đúng mức đến công tác tạo  
nguồn quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ người DTTS.  
Hệ thống chính sách phát triển KT-XH cho vùng  
đồng bào DTTS&MN chưa thực sự đồng bộ; cơ chế  
thực thi chính sách còn thiếu những đổi mới mang  
tính đột phá. Mặt khác, sự phối hợp giữa các ngành,  
các cấp còn chưa chặt chẽ, hiệu quả, nhận thức của  
một số cán bộ, công chức, viên chức còn phiến  
diện, chưa thực sự quan tâm đến vùng DTTS&MN;  
sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương chưa  
thường xuyên, chặt chẽ.  
Đồng bào các DTTS sinh sống ở địa bàn KT-  
XH khó khăn và đặc biệt khó khăn; ở những địa  
phương nghèo, chủ yếu nhận hỗ trợ ngân sách từ  
Trung ương, khó có thể lồng ghép các chương trình,  
dự án để thực hiện chính sách dân tộc. Trong khi đó  
ngân sách Trung ương chưa bố trí được nguồn vốn  
riêng để thực hiện một số chính sách, do vậy không  
đạt được mục tiêu các đề án, chính sách đã được  
phê duyệt.  
Hệ thống cơ quan theo dõi công tác dân tộc  
thiếu ổn định, thống nhất từ Trung ương đến địa  
phương; thiếu một hệ thống cơ sở dữ liệu đầy đủ  
và mang tính liên tục, kịp thời để phục vụ mục tiêu  
theo dõi, quản lý và tham mưu chính sách. Chưa  
chú trọng đúng mức phát huy tiềm năng, lợi thế,  
văn hoá của từng vùng, từng dân tộc; chưa thúc đẩy  
việc kết nối giữa vùng đồng bào DTTS&MN với  
vùng phát triển; một số chính sách chưa tạo động  
lực cho đồng bào DTTS vươn lên, tự lập trong cuộc  
sống, tạo động lực cho người dân chủ động vươn  
lên thoát nghèo.  
Ngày nay, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng  
Cộng sản Việt Nam khởi xướng đã và đang thu  
được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch  
sử. Trong tiến trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt  
Nam chủ trương kiên định, nhất quán quan điểm  
trong công tác dân tộc và đã được khẳng định, bổ  
sung, phát triển trong Đại hội đại biểu toàn quốc  
lần thứ XIII năm 2021 của Đảng (Dang Cong san  
Viet Nam, 2021): “Đảm bảo các dân tộc bình đẳng,  
đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy  
động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn  
4.4. Quan điểm, chủ trương, chính sách của  
Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc, chính sách  
Volume 10, Issue 4  
11  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu  
kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng có đông đồng bào cầu, điều kiện của người dân tộc thiểu số và đặc thù  
DTTS. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng DTTS vùng đồng bào DTTS&MN. Bảo tồn và phát triển  
trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp  
dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự của các dân tộc; 80% thôn có nhà sinh hoạt cộng  
lực, tự cường của đồng bào DTTS trong phát triển đồng; 50% thôn có đội văn hóa, văn nghệ (câu lạc  
KT-XH, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững. bộ) truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất  
Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín lượng; Đào tạo, quy hoạch, xây dựng đội ngũ cán bộ  
tiêu biểu trong vùng đồng bào DTTS. Nghiêm trị người DTTS, nhất là các DTTS tại chỗ. Bảo đảm tỷ  
mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại lệ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS phù hợp  
đoàn kết toàn dân tộc”.  
với tỷ lệ dân số là người DTTS ở từng địa phương.  
Thực hiện mục tiêu phát triển KT-XH vùng đồng  
bào DTTS&MN theo Nghị quyết số 88/2019/QH14  
ngày 18/11/2019 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng  
thể phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN  
giai đoạn 2021-2030; ngày 14/10/2021, Thủ tướng  
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1719/QĐ-  
TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát  
triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn  
2021 - 2030. Trong đó, giai đoạn I thực hiện từ năm  
2021 đến năm 2025 với các nội dung chủ yếu (Thu  
tuong Chinh phu, 2021) sau:  
5. Thảo luận  
Để thực hiện thắng lợi chủ trương đường lối của  
Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác dân tộc,  
chính sách dân tộc, theo chúng tôi cần thực hiện  
tốt các nhiệm vụ, giải pháp theo tinh thần của Kết  
luận 65 của Bộ Chính trị (Dang Cong san Viet Nam,  
2019) như sau:  
(1) Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng  
cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức  
đảng về công tác dân tộc, nhất là ở vùng đồng bào  
DTTS&MN trong tình hình mới. Xác định công tác  
dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp  
bách; là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn  
- Phấn đấu mức thu nhập bình quân của người  
DTTS tăng trên 2 lần so với năm 2020.  
- Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào DTTS mỗi năm quân, của hệ thống chính trị.  
giảm trên 3%; phấn đấu 50% số xã, thôn ra khỏi  
địa bàn đặc biệt khó khăn; 100% xã có đường ô  
tô đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc bê tổng;  
70% thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng  
hoá; 100% số trường, lớp học và trạm y tế được xây  
dựng kiên cố; 99% số hộ dân được sử dụng điện  
lưới quốc gia và các nguồn điện khác phù hợp; 90%  
đồng bào DTTS được sử dụng nước sinh hoạt hợp  
vệ sinh; 100% đồng bào DTTS được xem truyền  
hình và nghe đài phát thanh; cải thiện cơ sở hạ tầng  
kỹ thuật, hạ tầng xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn  
(khu vực III) và thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng  
bào DTTS&MN.  
- Hoàn thành cơ bản công tác định canh, định cư;  
sắp xếp, bố trí ổn định 90% số hộ di cư không theo  
quy hoạch. Quy hoạch, sắp xếp, di dời, bố trí 60%  
số hộ DTTS đang cư trú tại các khu vực xa xôi, hẻo  
lánh, nơi có nguy cơ xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở.  
Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất  
cho đồng bào; Tỷ lệ học sinh học mẫu giáo 5 tuổi  
đến trường trên 98%, học sinh trong độ tuổi học tiểu  
học trên 97%, học trung học cơ sở trên 95%, học  
trung học phổ thông trên 60%; người từ 15 tuổi trở  
lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông trên 90%.  
(2) Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật  
liên quan đến đồng bào DTTS. Các chính sách  
phát triển KT-XH, quốc phòng, an ninh vùng dân  
tộc miền núi phải toàn diện, hướng đến mục tiêu  
phát triển bền vững và phát huy lợi thế, tiềm năng  
của vùng và tinh thần tự lực của đồng bào DTTS.  
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở vùng đồng bào  
DTTS&MN; tăng cường đồng thuận xã hội; củng  
cố lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước,  
phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức,  
hoà nhập phát triển cùng với đất nước.  
(3) Huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển KT-  
XH vùng đồng bào DTTS&MN, trong đó nguồn lực  
Nhà nước giữ vai trò quan trọng, quyết định để huy  
động các nguồn lực khác, khai thác tiềm năng, lợi thế  
để phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN;  
bảo đảm quốc phòng - an ninh; giữ gìn, phát huy bản  
sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc. Tập trung giải  
quyết có hiệu quả những vấn đề bức thiết. Rà soát,  
lồng ghép, sửa đổi, bổ sung chính sách; nâng cao  
hiệu quả các chương trình, dự án; tăng cường hợp tác  
quốc tế, đa dạng hoá và xã hội hoá nguồn lực để đầu  
tư phát triển vùng đồng bào DTTS&MN. Thúc đẩy  
đào tạo nghề, tạo việc làm, nâng cao hiệu quả và mở  
- Tăng cường công tác y tế để đồng bào DTTS rộng vốn tín dụng ưu đãi đối với các dự án phát triển  
được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện sản xuất, kinh doanh.  
đại; tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở  
vùng đồng bào DTTS&MN; 98% đồng bào tham  
gia bảo hiểm y tế; trên 80% phụ nữ có thai được  
khám thai định kỳ, sinh con ở cơ sở y tế hoặc có sự  
trợ giúp của cán bộ y tế; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh  
dưỡng thể nhẹ cân xuống dưới 15%. 50% lao động  
(4) Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, phát  
huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản  
xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị. Hình thành và phát  
triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi có  
năng suất, chất lượng cao; nhân rộng các mô hình  
sản xuất hiệu quả, tạo sản phẩm đặc sản, giá trị  
12  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
cao… Quan tâm phát triển du lịch, nhất là du lịch ngũ cán bộ cơ sở ở vùng đồng bào DTTS&MN. Coi  
sinh thái, gắn kết du lịch với giữ gìn, phát huy giá trọng phát triển đảng viên là người DTTS và khắc  
trị văn hoá các DTTS… Đến năm 2025, giải quyết phục tình trạng không có tổ chức đảng và đảng viên  
cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở cho đồng ở các thôn, bản, nhất là đảng viên là người DTTS  
bào. Điều chỉnh cơ chế, chính sách, định mức khoán ở những vùng trọng điểm, vùng đặc biệt khó khăn,  
bảo vệ rừng, tạo sinh kế cho người dân sống gần vùng biên giới…  
rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, không gian sinh  
sống của đồng bào.  
Xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS đáp ứng yêu cầu  
phát triển KT-XH của vùng đồng bào DTTS&MN…  
Ưu tiên nguồn lực của Nhà nước để đầu tư phát Coi trọng phát hiện, quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo  
triển kết cấu hạ tầng KT–XH thiết yếu, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và thực hiện tốt  
đường giao thông, công trình thuỷ lợi, chợ, trường chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ là  
học, trạm y tế, nhà văn hoá phải được kiên cố hoá… người DTTS…  
Ban hành tiêu chí nông thôn mới phù hợp với vùng  
đồng bào DTTS&MN. Phấn đấu đến năm 2030  
không còn địa bàn khó khăn.  
(8) Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản  
lý nhà nước về công tác dân tộc. Rà soát, phân tích  
đánh giá; tổ chức sửa đổi, bổ sung, lồng ghép, tích  
(5) Phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao chất hợp các chính sách hiện hành để hoàn thiện hệ  
lượng nguồn nhân lực; phát triển y tế, văn hoá, xã thống chính sách liên quan đến đồng bào DTTS,  
hội vùng đồng bào DTTS&MN.  
vùng đồng bào DTTS&MN. Đổi mới phương thức  
xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc,  
ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển  
bền vững KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai  
đoạn 2021 – 2030… Đổi mới mô hình tổ chức bộ  
máy, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà  
nước về công tác dân tộc nhằm bảo đảm đồng bộ,  
thống nhất, tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả  
hoạt động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình  
hình mới.  
Nâng cao chất lượng công tác giáo dục và đào tạo  
đối với vùng đồng bào DTTS&MN. Nâng cao chất  
lượng và mở rộng hệ thống các trường phổ thông dân  
tộc nội trú, bán trú; hỗ trợ việc ăn, ở cho học sinh,  
sinh viên vùng địa bàn đặc biệt khó khăn…  
Tăng cường công tác khám, chữa bệnh và thực  
hiện các dịch vụ y tế, nhất là khám, chữa bệnh ban  
đầu ở tuyến cơ sở; phát triển y học dân tộc kết hợp  
với y học hiện đại; đẩy mạnh phát triển y tế dự  
phòng; thực hiện các giải pháp đồng bộ…  
6. Kết luận  
Thực hiện công tác tác dân tộc, chính sách dân  
tộc là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn  
dân, của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính  
trị, do vậy cần tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả  
công tác dân tộc, chính sách dân tộc nhằm phát triển  
toàn diện KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN. Tăng  
cường tuyên truyền sâu rộng để người dân hiểu ý  
nghĩa quan trọng và đóng vai trò chủ thể trong các  
chính sách dân tộc. Đảng lãnh đạo nhất quán đối với  
công tác dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn  
dân tộc. Quốc hội, Chính phủ kịp thời thể chế hoá  
chủ trương, đường lối của Đảng thành hiến pháp,  
luật, pháp lệnh, nghị quyết, quyết định, để triển khai  
thực hiện đường lối của Đảng về công tác dân tộc,  
chính sách dân tộc trong giai đoạn phát triển mới  
của đất nước.  
Nâng cao mức hưởng thụ văn hoá đối với đồng  
bào DTTS… Phát huy vai trò làm chủ của đồng bào  
trong xây dựng đời sống văn hoá, xoá bỏ các hủ tục  
lạc hậu. Có biện pháp quyết liệt để xoá bỏ tình trạng  
tảo hôn, chấm dứt sớm hôn nhân cận huyết thống…  
(6) Xây dựng duy trì, đảm bảo thế trận quốc  
phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn  
với thế trận lòng dân vững chắc ở vùng đồng bào  
DTTS&MN; chủ động nắm chắc tình hình, giải  
quyết những mâu thuẫn ngay từ cơ sở, kiên quyết  
không để xảy ra các “điểm nóng”, “điểm phức tạp”  
về an ninh trật tự, đặc biệt ở các địa bàn chiến lược  
Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải  
miền Trung…  
(7) Đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động của  
tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, đội  
Tai lieu tham khao  
dan toc trong tinh hinh moi. Ket luan so 65-  
KL/TW ngay 30/10/2019 cua Bo Chinh tri.  
Dang Cong san Viet Nam. (2003). Van kien Hoi  
nghi lan thu bay Ban Chap hanh Trung uong  
khoa IX. Ha Noi: Nxb. Chinh tri quoc gia.  
Dang Cong san Viet Nam. (2016). Van kien Dai  
hoi dai bieu toan quoc lan thu XII. Ha Noi:  
Nxb. Chinh tri quoc gia.  
Dang Cong san Viet Nam. (2019). Tiep tuc thuc  
hien Nghi quyet so 24-NQ/TW cua Ban Chap  
hanh Trung uong Dang khoa IX ve cong tac  
Dang Cong san Viet Nam. (2021). Van kien Dai  
hoi dai bieu toan quoc lan thu XIII. Ha Noi:  
Nxb. Chinh tri quoc gia.  
Phu, G. S. (2014). Bao cao tong hop ket qua  
nghien cuu de tai khoa hoc cap Nha nuoc  
nam 2014, thuoc de tai: “Nghien cuu ly luan,  
tong ket thuc tien quan ly nha nuoc ve cong  
tac dan toc thoi ky doi moi, de xuat quan  
diem, dinh huong, giai phap nang cao chat  
Volume 10, Issue 4  
13  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
luong quan ly nhà nuoc”.  
Uy ban Dan toc. (2016). Uy ban Dan toc 70 nam  
xay dung va phat trien (1946-2016). Ha Noi:  
Nxb. Chinh tri quoc gia - Su that. Ha Noi.  
Uy ban Dan toc. (2019a). Bao cao tong ket, danh  
gia chinh sach dan toc giai doan 2011-2020  
va de xuat, kien nghi giai doan 2021-2030.  
Ha Noi.  
Uy ban Dan toc. (2019b). Bao cao tong ket  
chien luoc cong tac dan toc den nam 2020;  
dinh huong xay dung chien luoc cong tac  
dan toc giai doan 2021-2030, tam nhin den  
nam 2045.  
Uy ban Dan toc. (2019c). De an tong the phat  
trien kinh te - xa hoi vung dong bao dan toc  
thieu so va mien nui giai doan 2021-2030.  
Ha Noi.  
Quoc hoi nuoc Cong hoa Xa hoi Chu nghia Viet  
Nam. (2013). Hien phap nuoc Cong hoa  
xa hoi chu nghia Viet Nam thong qua ngay  
28/11/2013.  
Quoc hoi nuoc Cong hoa Xa hoi Chu nghia Viet  
Nam. (2019). Phe duyet De an tong the phat  
trien kinh te - xa hoi vung dong bao dan toc  
thieu so va mien nui giai doan 2021-2030  
thong qua ngay 18/11/2019. Nghi quyet so  
88/2019/QH14.  
Thu tuong Chinh phu. (2013). Phe duyet Chien  
luoc cong tac dan toc den nam 2020. Quyet  
dinh so 449/QĐ-TTg ngay 12/3/2013.  
Thu tuong Chinh phu. (2021). Phe duyet Chuong  
trinh muc tieu quoc gia phat trien kinh te -  
xa hoi vung dong bao dan toc thieu so va  
mien nui giai doan 2021 - 2030, giai doan I:  
tu nam 2021 den nam 2025. Quyet dinh so  
1719/QĐ-TTg ngay 14/10/2021.  
Uy ban Dan toc. (2019d). Thuc trang chinh sach  
dan toc, dinh huong xay dung chinh sach giai  
doan 2021-2030. Ky yeu Hoi thao quoc gia.  
Ha Noi.  
NHIỆM VỤ ĐẶT RA CHO CÔNG TÁC DÂN TỘC, CHÍNH SÁCH  
DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY  
Nguyễn Văn Dũnga  
Nguyễn Quang Hồngb  
a Học viện Dân tộc  
b Học viện Chính trị khu vực I  
Ngày nhận bài:  
11/11/2021  
Ngày phản biện: 21/11/2021  
Ngày tác giả sửa: 24/11/2021  
Ngày duyệt đăng: 25/11/2021  
Ngày phát hành: 30/11/2021  
DOI:  
ảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng công tác dân tộc, chính sách dân tộc trong chiến lược  
đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nguyên tắc: Bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển  
Đ
giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó ưu tiên phát triển toàn diện kinh tế, văn hóa xã hội, chính trị,  
quốc phòng an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bài viết này trình bày những quan điểm, chủ trương,  
chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc, chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay; phân tích  
những thành tựu đạt được trong công tác dân tộc, chính sách dân tộc trong thời gian qua, từ đó đề xuất nhiệm  
vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc trong giai đoạn 2021-2025.  
Từ khóa: Công tác dân tộc; Chính sách dân tộc; Giai đoạn 2021-2025; Vùng dân tộc thiểu số và  
miền núi.  
14  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
pdf 7 trang baolam 23020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhiệm vụ đặt ra cho công tác dân tộc, chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhiem_vu_dat_ra_cho_cong_tac_dan_toc_chinh_sach_dan_toc_tron.pdf