Lineages relations through wedding ritual of the tay ethnic group in Tuyen Quang province

VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
LINEAGES RELATIONS THROUGH WEDDING RITUAL  
OF THE TAY ETHNIC GROUP IN TUYEN QUANG PROVINCE  
Hua Duc Hoi  
Tan Trao University  
Received:  
Reviewed:  
Revised:  
Accepted:  
Released:  
21/7/2021  
16/8/2021  
23/8/2021  
20/9/2021  
30/9/2021  
edding ritual is a cultural and spiritual phenomenon that plays an important role in the cultural  
W
life of the Tay people in Tuyen Quang province. There are hidden many cultural values of the  
families and lineages; represents the beliefs of that community. Wedding ritual show the rules of conduct  
between individuals in the family, in the lineages, between the lineages and the community. That behavior  
creates a covenant and rules not only related to the dead, but that force people to live together, force  
people to have obligations and responsibilities to family members, lineages, community; create a scientific  
basis for the development of village cultural conventions in rural areas; develop practical policies for the  
development of “agriculture, rural areas, farmers”.  
Keywords: Lineages; Weding ritual; Tay people; Tuyen Quang.  
1. Đặt vấn đề  
sử học, dân tộc học, văn hoá học, triết học… Trong  
đó, có một số công trình tiêu biểu như: “Nghi lễ  
cưới xin của người Tày ở thôn Pò Cại, xã Gia Cát,  
huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn” (Huong, 2015);  
“Dòng họ của người Tày ở Việt Nam” (Thanh &  
Duong, 2020); “Một số mục ngắn trong sách: Văn  
hóa truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở  
Tuyên Quang” (Do, Khanh & Hung, 2003); “Đến  
với người Tày, văn hóa Tày” (Y, 2010);… Các công  
trình nghiên cứu khoa học đó giúp chúng ta nhận  
thức sâu sắc hơn về dòng họ và các nghi lễ cưới xin  
của người Tày một cách riêng biệt. Luận án Tiến  
sĩ Nhân học “Dòng họ người Tày ở huyện Bạch  
Thông, tỉnh Bắc Kạn” (Chau, 2017) đã làm rõ những  
đặc điểm của dòng họ; quan hệ dòng họ trong đời  
sống tộc người; vai trò, giải pháp bảo tồn và phát  
huy các giá trị của dòng họ trong đời sống người  
Tày hiện nay. Khi nghiên cứu về quan hệ dòng họ  
tác giả đã làm rõ các vấn đề về quan hệ dòng họ với  
dòng họ khác; quan hệ dòng họ với thiết chể bản;  
quan hệ dòng họ trong đời sống chính trị và quan  
hệ dòng họ trong trong nội bộ dòng họ. Quan hệ  
trong nội bộ dòng họ đó là về quan hệ dòng họ trong  
Ở xã hội hiện đại, nhiều giá trị văn hóa, đạo đức  
truyền thống đã và đang bị biến đổi, thậm chí bị mai  
một. Sự phục hưng văn hóa, nghi lễ, tín ngưỡng,  
tôn giáo của gia đình, dòng họ theo hướng tích cực  
đã đóng góp rất nhiều vào việc duy trì và bảo lưu  
những giá trị văn hóa, đạo đức đặc sắc mà thế hệ  
đi trước đã dày công xây dựng và vun đắp. Bằng  
chứng là, những vấn đề liên quan đến dòng họ, quan  
hệ dòng họ, nghi lễ cưới xin được nghiên cứu thời  
gian qua đã có những đóng góp không nhỏ đối với  
việc xây dựng quy ước văn hóa thôn bản ở địa bàn  
nông thôn. Vì vậy, việc nghiên cứu quan hệ dòng họ  
qua nghi lễ cưới xin của người Tày ở Tuyên Quang  
sẽ góp phần tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng  
những chính sách thiết thực đối với vấn đề phát  
triển “nông nghiệp, nông thôn, nông dân” ở nước ta.  
2. Tổng quan nghiên cứu  
Nghiên cứu về dòng họ, nghi lễ cưới xin, quan  
hệ dòng họ qua nghi lễ cưới xin trong xã hội Việt  
Nam truyền thống và đương đại từ lâu đã thu hút sự  
quan tâm của giới nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực  
Volume 10, Issue 3  
131  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
tương trợ sản xuất nông nghiệp; trong hoạt động sản những người cùng chung huyết thống. Mỗi dòng họ  
xuất kinh doanh, dịch vụ buôn bán; trong sinh đẻ; thường bắt nguồn từ một vị thuỷ tổ, thường là những  
trong lễ kỳ yên; trong làm nhà mới; trong tang ma người có công trong việc “khai sơn phá thạch” khởi  
và tương trợ trong tổ chức đám cưới (chủ yếu ở góc đầu cho dòng họ tại một địa vực nhất định (Hai &  
độ tương trợ về kinh tế). Còn nghiên cứu quan hệ Doan, 2000, tr.2). Theo thời gian dòng họ có thể  
dòng họ qua nghi lễ cưới xin ít có công trình nghiên sinh sôi, nảy nở bao gồm nhiều chi ngành và thế hệ  
cứu, do đó bài viết của tác giả là một góc nghiên tiếp nối. Vì vậy, nếu mở rộng ra thì quan hệ họ hàng  
cứu mới để góp phần tìm hiểu thêm những vấn đề không chỉ gồm những người cùng huyết thống mà  
tín ngưỡng, nghi lễ, lịch sử và văn hoá dân tộc.  
cả những người có quan hệ thân tộc với nhau thông  
qua hôn nhân. Tác giả Lê Minh Anh khi nghiên cứu  
về dòng họ của người Nùng cho rằng, dòng họ là  
“những người cùng quan hệ huyết thống mà còn là  
những người cùng họ, cùng ma” (Anh, 2014, tr.36).  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Trong quá trình nghiên cứu, bài viết đã sử dụng  
kết hợp một số phương pháp chủ yếu như:  
- Phương pháp thu thập tài liệu, thống kê lựa  
chọn tài liệu, thông tin liên quan đến nội dung  
và đối tượng nghiên cứu. Từ đó tác giả sử dụng  
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá  
tổng hợp một cách khách quan vấn đề nghiên cứu.  
- Phương pháp điền dã: Tác giả đã tiến hành  
thực địa, quan sát, khảo sát và phỏng vấn trưởng  
họ hoặc người có uy tín trong cộng đồng người Tày  
sinh sống ở tỉnh Tuyên Quang như xã Bằng Cốc,  
xã Nhân Mục ở huyện Hàm Yên, xã Hồng Quang,  
huyện Lâm Bình để có cái nhìn tổng quan về quan  
hệ dòng họ của người Tày qua nghi lễ cưới xin.  
Nghiên cứu về dòng họ người Tày ở huyện Bạch  
Thông, tỉnh Bắc Kạn, tác giả Triệu Quỳnh Châu cho  
rằng, dòng họ người Tày là “Toàn thể những người  
cùng huyết thống, cùng ông tổ, tiếng Tày họi là Cần  
chang họ, tổ chỏ, chựa. Cùng một dòng máu hay  
những người cùng một cha mẹ sinh ra tiếng Tày  
gọi là bì noọng tó slai đưa” (Chau, 2017, tr.39). Tác  
giả Nguyễn Ngọc Thanh và Nguyễn Thùy Dương  
khi nghiên cứu về dòng họ của người Tày ở Việt  
Nam thì cho rằng “Dòng họ là khái niệm chỉ những  
người được khởi sinh từ cùng một thủy tổ, có quan  
hệ huyết thống. Mỗi cá nhân dòng họ thường được  
liên kết bởi ba mối quan hệ cơ bản, đó là: họ bố  
(họ nội), họ mẹ (họ ngoại) và họ bên vợ” (Thanh  
& Duong, 2020, tr.82). Người Tày ở tỉnh Tuyên  
Quang cũng có quan niệm về dòng họ như vậy, đó  
là toàn thể những người cùng huyết thống, cùng  
họ, cùng tổ tiên. Tính huyết thống được tính theo  
bên bố, họ bên nội, người Tày gọi là “pạng nả”,  
còn những người thuộc bên mẹ, họ bên ngoại gọi  
là “pạng lăng”. Khi người phụ nữ lớn lên đi lấy  
chồng, trong ngày cưới được thầy cúng làm lễ nhập  
họ (nhập ma-hồn) vào nhà chồng và sau này chết  
thuộc về ma bên nhà chồng.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Người Tày ở tỉnh Tuyên Quang và quan  
hệ dòng họ  
Người Tày là một cộng đồng dân tộc thuộc khối  
Bách Việt xưa và tộc danh Tày (hay Táy) đã xuất  
hiện từ rất lâu đời, đó là tên gọi chung của nhiều dân  
tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái cư trú ở vùng  
Đông Nam Á lục địa. Người Tày – Thái cổ đã có  
mặt ở vùng Đông Bắc của Việt Nam từ rất sớm, có  
thể từ nửa cuối thiên niên kỷ I trước công nguyên.  
Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/4/2019, tỉnh  
Tuyên Quang có 784.811 người. Trên địa bàn tỉnh  
có 23 dân tộc cùng sinh sống, trong đó, dân tộc Tày  
chiếm khoảng 25%. Ở khu vực nông thôn, người  
Tày thường sống tập trung thành từng làng (bản),  
tạo thành các quần thể riêng, đây là đặc điểm nổi  
bật của các làng người Tày truyền thống. Còn ở  
các vùng thành phố, thị trấn họ sống xen kẽ với các  
dân tộc khác, chủ yếu là dân tộc Kinh. Dân tộc Tày  
Vậy, nghiên cứu quan hệ dòng họ qua nghi lễ  
cưới xin của người Tày ở tỉnh Tuyên Quang trong  
bài viết này là nghiên cứu mối quan hệ với những  
người bên họ bố, họ mẹ, họ bên nhà vợ (bởi người  
Tày theo chế độ phụ hệ, phụ quyền) và cô dâu, chú  
rể là người Tày.  
4.2. Quan hệ dòng họ qua các nghi lễ chính  
định cư ở tỉnh Tuyên Quang từ lâu đời, trong quá trong cưới xin  
trình tồn tại và phát triển, người Tày và các dân tộc  
khác như Kinh, Dao, Sán Dìu,... có sự giao thoa văn  
hóa lẫn nhau (Hoi, 2021a, tr.115). Thực tế, một số  
hiện tượng văn hóa của dân tộc giao thoa mạnh mẽ,  
khiến cho các nhà nghiên cứu khó có thể phân biệt  
được một cách rõ ràng. Mặc dù vậy, một số yếu  
tố văn hóa của người Tày vẫn tồn tại, phát triển,  
có bản sắc khá riêng biệt, trong đó có mối quan hệ  
dòng họ qua nghi lễ cưới xin của người Tày ở tỉnh  
Tuyên Quang.  
Theo quy định tại điểm d, khoản 2, điều 2 Luật  
Hôn nhân và Gia đình quy định cấm kết hôn “giữa  
những người có họ trong phạm vi ba đời” (Quoc  
hoi, 2014). Người Tày cũng như các dân tộc khác  
kết hôn là một vấn đề vô cùng hệ trọng trong cuộc  
đời của mỗi con người, phải tuân thủ những nguyên  
tắc, nghi lễ và tuân theo quy định pháp luật của Nhà  
nước. Người Tày thực hiện hôn nhân theo nguyên  
tắc ngoại hôn dòng họ. Những trai, gái cùng họ với  
nhau thì phải khác tổ mới được kết hôn với nhau.  
Theo tác giả Mai Văn Hai, dòng họ là toàn thể Nếu tính theo thế hệ, thì cách nhau ít nhất 5 thế  
132  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
hệ, mới được kết hôn với nhau (Nam, 2014, tr.212). có thể gộp lễ dạm ngõ và lễ ăn hỏi thành 1 nghi lễ  
Quy định đó hoàn toàn phù hợp với quan niệm tín và bỏ nghi lễ lại mặt.  
ngưỡng thờ cúng tổ tiên dòng họ của người Tày. Tác  
giả Ngô Đức Thịnh cho rằng, người Tày thờ tổ tiên  
theo 4 đời gồm bố mẹ, ông bà, cụ, kỵ tới đời thứ 5.  
Theo quan niệm của người Tày, linh hồn tổ tiên biến  
thành ma phù hộ cho chăn nuôi gia súc và bàn thờ ở  
vách nhà trước cửa ra vào. Tác giả Bế Văn Hậu lại  
quan niệm, người Tày, người Nùng coi ma nhà (phi  
rườm) là tổ tiên trực tiếp và giống như quan niệm  
của người Việt; ma nhà chỉ tính đến 4 đời, từ đời  
gia chủ đến đời cha, ông, cụ, kỵ hoặc có nơi 3 đời  
là cha, ông, cụ. Còn theo tác giả La Công Ý, người  
Tày cũng thờ tổ tiên 3 đời, mỗi khi cầu cúng họ chỉ  
xướng tên bố mẹ, ông bà và các cụ, còn từ đời thứ  
4 trở lên thì được gộp vào tổ tiên nói chung. Người  
Tày ở Tuyên Quang cũng duy trì truyền thống như  
vậy (Hoi, 2021a, tr.117). Vì vậy, đôi bạn trẻ chỉ có  
thể kết hôn với nhau khi hai gia đình không thờ  
cúng tổ tiên chung 1 dòng họ. Nếu vi phạm nguyên  
tắc kết hôn của gia đình, dòng họ, dân tộc Tày thì  
phải làm lễ tạ tội tổ tiên nhưng không được vi phạm  
pháp luật.  
Lễ dạm hỏi của người Tày ở tỉnh Tuyên Quang  
thường được tiến hành vào những ngày được coi là  
ngày lành, tháng tốt. Vào ngày định sẵn, gia đình  
nhà trai, nhờ chú bác, anh chị em trong dòng họ  
bên nội, bên ngoại có gia đình đầy đủ, đứng tuổi,  
đông con cái, ăn nói tốt, hiểu biết đến “đặt vấn đề”  
với nhà gái. Người Tày ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao  
Bằng lại không cần đến ông mối mà đích thân bố  
hoặc mẹ còn nếu như bố và mẹ của chàng trai đều  
đã mất thì anh trai hoặc chị gái của chàng trai sẽ  
đảm nhận việc đi dạm hỏi vợ cho em mình (Vien  
Dan toc hoc, 1992, tr.191). Lễ vật nhà trai khi đi  
dạm hỏi tùy từng điều kiện gia đình, địa phương có  
nơi gồm: 2 đôi gà thiến, 4 ống gạo, 2 chai rượu; có  
nơi cũng chỉ cần con gà, chai rượu và một số bánh  
trái. Mục đích của lễ dặm hỏi là nhà trai chính thức  
ngỏ lời với nhà gái về việc tác thành cho đôi bạn trẻ,  
để 2 nhà kết thành thông gia, đồng thời, xin lá số tử  
vi của cô gái về so với lá số tử vi của con trai mình.  
Sau khi thắp mấy nén hương trên bàn thờ tổ tiên để  
trình báo sự việc, nhà gái trịnh trọng trao lá số tử vi  
Việc tổ chức lễ cưới không ngoài mục đích cho đại diện nhà trai. Sau khi có lá số tử vi của cô  
chính thức hoá mối quan hệ hôn nhân giữa hai cá gái, nhà trai sẽ đến nhà thầy cúng để xem giúp sự  
thể, đồng thời còn là dịp để họ hàng thân thích, hàng tương hợp, cơ sở chính của số mệnh là thuyết “âm  
xóm, láng giềng cũng như bạn bè gần xa đến chứng dương ngũ hành, tương sinh tương khắc”, nếu số  
kiến cuộc hôn phối, công nhận đôi vợ chồng trẻ và mệnh hợp nhau, thì xem ngày làm lễ ăn hỏi luôn.  
chia vui với gia chủ. “Dưới góc độ tín ngưỡng, tâm So lá tử vi có hợp hay không hiện nay chỉ mang tính  
linh việc tổ chức đám cưới có ý nghĩa là “cắt khẩu” hình thức nhưng nó lại là cơ sở để các thầy cúng  
và “nhập khẩu” cho nàng dâu hoặc chàng rể nạp xem giờ, ngày, tháng làm lễ ăn hỏi. Trong nghi lễ  
tế, chuyển hồn vía của họ từ chỗ là thành viên của dặm hỏi quan hệ dòng họ được thể hiện ở phạm vi  
dòng họ này thành con cháu của dòng họ khác” (Y, rất hẹp, thành phần tham gia nghi lễ là gia đình nhà  
2010, tr.257). “Trong lễ cưới có cúng đưa dâu và trai, nhà gái đặt tiền đề đầu tiên cho việc xây dựng  
cúng đón dâu lên nhà và trình gia tiên” (Tinh, 2020, mối quan hệ với dòng họ bên vợ sau này. Tuy ở  
tr.109). Đối với người Tày, việc cưới hỏi là cả một phạm vi gia đình nhà trai, nhà gái nhưng ở đó ẩn  
quá trình, diễn ra trong một thời gian tương đối dài, chứa cả mối quan hệ gia đình, dòng họ giữa những  
nhiều khi 2-3 năm, trải qua nhiều bước khác nhau người đang sống; giữa người sống với người chết  
và nhiều nghi lễ khá rườm rà, phức tạp và tốn kém và giữa người chết với nhau thể hiện qua việc tìm  
(Y, 2010, tr.257). Người Tày ở huyện Bạch Thông, hiểu về gia đình, dòng họ đôi bên, các lễ vật, sự việc  
tỉnh Bắc Kạn thì “Sau khi tổ chức ăn hỏi hai gia được trình báo tổ tiên gia đình, dòng họ.  
đình thường thống nhất khoảng một năm sau mới tổ  
chức lễ cưới cho đôi bạn trẻ. Đây cũng là thời gian  
chuẩn bị lễ vật” (Chau, 2017, tr.91). Người Tày ở  
tỉnh Tuyên Quang cũng có truyền thống như vậy.  
Vì thế, rất ít gia đình có thể tự lực hoàn toàn trong  
việc lấy vợ gả chồng cho con cái, mà thường phải  
nhờ vào sự tương trợ, giúp đỡ của họ hàng bên nội,  
bên ngoại, bên vợ sau đó là hàng xóm, láng giềng,  
bạn bè. Trong xu hướng giao lưu văn hoá giữa các  
dân tộc, vùng miền thì hiện nay các nghi lễ cưới xin  
của người Tày ở tỉnh Tuyên Quang cũng đã được  
đổi mới, rút gọn, nhưng tựu chung lại người Tày ở  
Tuyên Quang có 4 nghi lễ chính trong đám cưới đó  
là dạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới chính thức và lễ lại  
mặt. Tuy nhiên, tùy từng gia đình, dòng họ cụ thể  
do điều kiện ở xa, đôi bạn trẻ bận công việc… thì  
Lễ ăn hỏi, thường diễn ra sau lễ dặm hỏi khoảng  
1–2 tháng. Khi tổ chức lễ này, nhà trai phải mang  
đến cho nhà gái một số lễ vật nhất định như thịt,  
rượu, gạo, bánh trái… để nhà gái sửa vài mâm cơm  
thiết đãi họ hàng thân thích. Tùy theo địa phương  
mà lễ vật có thể nhiều ít khác nhau, nhưng số lượng  
bao giờ cũng là số chẵn với ý nghĩa cầu mong cho  
con cái của họ thành cặp, thành đôi và sống hạnh  
phúc cho đến trọn đời, trọn kiếp. Các lễ vật mà nhà  
trai trước khi mang đi phải thắp hương báo cáo tổ  
tiên gia đình, dòng họ, khi đi đến nhà gái các lễ vật  
cũng được đặt lên trước bàn thờ tổ tiên gia đình,  
dòng họ nhà gái để trình báo. Qua khảo sát người  
Tày ở xã Bằng Cốc, xã Nhân Mục, huyện Hàm Yên,  
tỉnh Tuyên Quang, lễ vật thường là 01 đôi gà trống  
thiến, 02 chai rượu, 02kg gạo nếp, thuốc lá, trầu  
Volume 10, Issue 3  
133  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
cau… (Hoi, 2018, tr.51). “Ở xã Xuân Quang, huyện hơn so với nghi lễ dặm hỏi, nếu gia đình khó khăn  
Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang số lễ vật mà nhà thì rất khó để chuẩn bị đầy đủ, vì vậy cần có sự giúp  
trai mang đến nhà gái bao gồm 01 con lợn khoảng đỡ của anh, em bên nội và anh, em bên ngoại. Từ  
40kg (nếu không có lợn thì có thể thay bằng sáu đây đôi bạn trẻ có thể sống với nhau như vợ chồng,  
đôi gà thiến), 20 chai rượu, 120 cái bánh chưng và có con cái nếu như chưa có điều kiện tổ chức lễ cưới  
12 cái bánh dầy. Ở một số xã lân cận, ngoài những chính thức mà không bị gia đình, họ hàng, làng xóm  
thứ kể trên còn kèm theo 20 kg bún” (Vien Dan toc chê cười (Hoi, 2021b).  
hoc, 1992, tr.194). Ở huyện Nà Hang (tỉnh Tuyên  
Quang), khi làm lễ ăn hỏi, nhà trai phải mang cho  
nhà gái 04 đôi gà thiến, 04 chai rượu, 04 ống gạo  
nếp, 04 gói thuốc lào, 04 gói trầu và 40 quả cam  
sành (Y, 2010, tr.259). Nhà trai còn phải mang sang  
nhà gái số vải đủ để khâu chăn màn, áo, gối cho đôi  
vợ chồng trẻ, bố mẹ ông bà bên vợ, ngoài ra còn  
có khoảng 10 con gà, 10 lít rượu, 20kg gạo nếp để  
phục vụ bạn gái đến giúp cô dâu khâu (Đo, Khanh  
& Hung, 2003, tr.56). Còn lễ vật đối với người Tày  
ở thôn Pò Cại, xã Gia Cát, huyện Cao Lộc, tỉnh  
Lạng Sơn trong lễ ăn hỏi thì chỉ mang theo 01 kg  
thịt lợn và 01 chai rượu (Huong, 2015, tr.84). Vậy,  
lễ vật mang đến nhà gái trong lễ ăn hỏi ở mỗi gia  
đình, dòng họ, địa phương khác nhau là khác nhau.  
Lễ cưới chính thức là việc quan trọng nhất trong  
nghi thức cưới xin, có nhiều nghi lễ nhất, lễ vật  
nhất, nghi lễ mang tính quan hệ xã hội rộng hơn  
(các nghi lễ khác chỉ mang tính chất nội bộ dòng  
họ) được tổ chức cả hai bên nhà trai và nhà gái,  
đều mời họ hàng, dân bản ăn cỗ. Thời gian tổ chức  
thường diễn ra từ hai đến ba ngày, trong đó một  
ngày là tiệc chính, chi phí rất tốn kém. Vì vậy, tục lệ  
giúp nhau bằng cách gửi gạo, rượu, gà thiến, lợn…  
giúp đám cưới trong anh em gia đình, dòng họ, hàng  
xóm cùng bản làng đến khi đám cưới nhà mình thì  
được giúp đỡ lại. Trước đây, do điều kiện kinh tế  
- xã hội khó khăn nên việc chuẩn bị các lễ vật mất  
nhiều thời gian, nhiều khi mất đến 2 đến 3 năm.  
Trong thời gian đó, nếu như đôi bạn trẻ chưa sống  
Trong nghi lễ ăn hỏi, đại diện họ nhà trai và họ với nhau như vợ chồng thì hàng năm nhà trai làm  
hàng nhà gái cùng nhau chính thức xác lập mối “lễ sêu Tết” vào dịp Tết Nguyên đán: Gồm 24 chiếc  
quan hệ vợ chồng của đôi bạn trẻ, xác định thời gian bánh chưng Tày, 02 con gà thiến, 02 chai rượu, 4kg  
tổ chức lễ cưới, giờ nhà trai đến nhà gái đón dâu vào gạo nếp; tết rằm tháng 7 gồm 44 chiếc bánh dợm,  
nhà chồng. Mặt khác, họ cũng bàn bạc, thảo luận và 2 con gà thiến, 02 chai rượu, 04kg gạo nếp (Đo,  
thống nhất với nhau về khoản tiền mặt cũng như số Khanh & Hung, 2003, tr.56). Nghi lễ này nhằm mục  
lượng hiện vật mà nhà trai phải mang sang cho nhà đích xác lập tình trạng mối quan hệ của đôi bạn trẻ,  
gái dưới hình thức sính lễ và nhà gái cũng thông báo cũng như mối quan hệ giữa 2 gia đình, họ hàng đôi  
những thứ mà cô dâu sẽ mang theo về nhà chồng bên. Nếu như ăn hỏi và cưới ngay thì không có nghi  
với tư cách là của hồi môn hoặc quà cho anh em bên lễ này.  
nhà chồng. Lễ ăn hỏi có ý nghĩa như là lễ đính hôn,  
thông qua đó đã xác định hôn nhân của đôi bạn trẻ,  
quan hệ của hai dòng họ và hai nhà gần như đã trở  
thành thông gia của nhau, họ có thể đi lại, thăm hỏi  
lẫn nhau trong những trường hợp nhất định. Sau khi  
bàn bạc, thảo luận thống nhất, nhà gái mời cơm nhà  
trai, đây là bữa cơm đầu tiên của hai bên gia đình  
thông gia, qua bữa cơm hai gia đình sẽ tìm hiểu về  
gia đình, nhà trai cũng như nhà gái, phong tục, tập  
quán của dòng họ đôi bên. Theo phong tục người  
Tày, khi đại diện nhà trai về, nhà gái thường phải  
“trả gánh”, “hoàn phúc” cho nhà trai. Đoàn nhà trai  
về đến nhà thì trong bữa cơm trưởng đoàn dòng họ  
nhà trai sẽ báo cáo kết quả của lễ ăn hỏi cho các cụ,  
ông, bà, bác… những người không đi cùng đoàn  
sang nhà gái và nhà trai cũng bàn bạc cho những  
công việc tiếp theo của lễ cưới. Nhưng đặc biệt là  
trình báo tổ tiên gia đình, dòng họ kết quả của nghi  
lễ ăn hỏi.  
Trước lễ cưới chính một ngày thì những người  
anh em bên nội, bên ngoại phải họp lại bàn bạc việc  
tổ chức đám cưới (họp họ). Cuộc họp này gia chủ  
thường không đứng lên điều hành mà do trưởng  
họ, trưởng chi hoặc người có uy tín trong dòng họ  
điều hành, phân công các công việc để giúp gia chủ  
như tiếp khách, bếp núc, chuẩn bị đồ lễ… đặc biệt  
là chuẩn bị lên danh sách thành phần đi đón dâu  
(đối với nhà trai), đi đưa dâu (đối với nhà gái). Đồ  
sinh lễ nhà trai mang sang nhà gái gồm nhiều thứ  
khác nhau như thịt lợn, gà, rượu, xôi, bánh trái,  
trầu cau, vải vóc, tiền mặt. Tuỳ theo phong tục địa  
phương, phụ thuộc vào yêu cầu, đòi hỏi của nhà  
gái cũng như hoàn cảnh kinh tế của nhà trai mà số  
lượng lễ vật có thể nhiều ít khác nhau, nhưng đã  
được thống nhất ở lễ ăn hỏi. Ở huyện Nà Hang, tỉnh  
Tuyên Quang, lễ vật thông thường bao gồm 120 lá  
trầu, 60 quả cau, 60kg thịt lợi hơi, 30 đến 40kg gạo  
nếp, 24 chiếc bánh dày, 60 chai rượu, 02 gà trống  
Vậy, trong nghi lễ ăn hỏi của người Tày ở tỉnh thiến. Ngoài ra, còn có miếng vải khổ ước chiều  
Tuyên Quang, mối quan hệ dòng họ đã được mở rộng bằng một khổ khải chiều dài chừng 8 đến 10m  
rộng nhiều thành phần hơn, đặc biệt là ngoài họ nội, (Đo, Khanh & Hung, 2003, tr.58). Sau này, khi đôi  
họ ngoại thì đôi trẻ còn có thêm dòng họ bên vợ vợ chồng trẻ sinh con đầu lòng, bà ngoại sẽ dành  
hoặc chồng. Lễ vật trong nghi lễ ăn hỏi cũng nhiều một phần tấm vải này để khâu địu tặng cháu nhỏ.  
134  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
Một số nơi khác lễ vật nhà trai mang đến nhà gái (Hoi, 2021b). Sau khi làm lễ trước bàn thờ tổ tiên để  
bao gồm 100-120kg thịt lợn, 01 đôi gà thiến, 50-60 xin phép xuất giá, đi lấy chồng vào giờ đẹp, cô dâu  
chai rượu, 50-60 ống gạo nếp, 50-60 ống gạo tẻ, được phù dâu và một thiếu nữ hộ tống, dìu ra khỏi  
riêng ở tỉnh Lạng Sơn thêm 01 con lợn quay và ở nhà. “Lễ cắt khẩu” của cô dâu về nhà chồng được  
huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang nhất thiết phải có thực hiện bởi thầy cúng. Đoàn đưa dâu có cùng số  
12kg cá bống. Ở tỉnh Cao Bằng thì không thể thiếu lượng người và với thành phần tương tự như đoàn  
02 cặp bánh chưng (Y, 2010, tr.264). Số tiền mặt có đón dâu, ngoài cô dâu (lùa) còn có quan làng, bà  
thể từ 5 đến 20 triệu đồng tùy từng hoàn cảnh gia đưa, phù dâu, anh em họ hàng bên nội và bên ngoại  
đình nhà trai, nhà gái và tập tục địa phương. Người nhà cô dâu.  
Tày ở thôn Pò Cại, xã Gia Cát, huyện Cao Lộc, tỉnh  
Lạng Sơn lễ vật mang đến nhà gái trước ngày cưới  
một ngày bao gồm 01 mâm thủ lợn, 02 mâm xôi gà,  
01 mâm trầu cau, 01 mâm chè thuốc, 01 mâm lợn  
quay, 01 mâm bánh dày, 70-80kg lợn móc hàm, 04  
con gà trống và 8-18 triệu đồng tiền mặt (tùy từng  
thời điểm) (Huong, 2015, tr.85). Những lễ vật này  
khi mang đến nhà gái thì đặt lên bàn thờ tổ tiên của  
nhà gái để trình báo sự việc. Trước lễ cưới một vài  
ngày, nhà gái phải lo khâu màn, khâu chăn, làm gối,  
chuẩn bị của hồi môn cho con gái mang theo khi  
về nhà chồng. Một phần trong số đó dùng làm quà  
tặng cho những người thân thiết nhất của chồng,  
trước hết là ông bà (kể cả bên nội lẫn bên ngoại),  
các bác, bố mẹ và anh chị em ruột bên chồng. Trước  
đây, có nơi số chăn, gối để cho con gái mang về  
nhà chồng làm của hồi môn khá nhiều, trung bình  
khoảng 10-12 bộ thậm chí có những người mang  
theo tới 18-20 bộ (Y, 2010, tr.261). Hiện nay, người  
Tày ở xã Hồng Quang, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên  
Quang vẫn giữ phong tục này nhưng chăn, gối đã  
được mua ở chợ và anh, em họ hàng bên nhà gái sẽ  
giúp đỡ bằng cách tặng các lễ vật cụ thể để cô dâu  
mang về nhà chồng. Còn người Tày ở xã Bằng Cốc,  
xã Nhân Mục, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang  
phong tục này hiện không còn lưu giữ. Đặc biệt, bố  
mẹ cô gái cũng phải chuẩn bị của hồi môn cho con  
gái khi về nhà chồng giá trị vật chất tùy hoàn cảnh  
gia đình nhà gái (Hoi, 2021.b).  
Nguyên tắc đón và đưa dâu là đi lẻ, về chẵn.  
Đoàn đón dâu (nhà trai) ngoài chú rể còn có ông  
quan làng là trưởng đoàn (là người đàn ông đứng  
tuổi, người trong họ nội hoặc họ ngoại hiện thân  
cho sự phúc đức, vợ chồng song toàn, con cái đề  
huề, nhanh nhẹn, hoạt bát, giỏi ứng đối, ngoại giao).  
Anh, em đại diện bên họ nội, họ ngoại, phù rể, phù  
dâu cũng như thanh niên nam nữ mà gia đình nhà  
trai đã lên danh sách để đi đón dâu. Khi đến đón  
dâu, trước hết chú rể làm lễ dâng hương trước bàn  
thờ tổ tiên nhà gái với ý nghĩa trình diện, tiếp đó ra  
mắt làm quen với họ hàng thân thích bên vợ. Chú  
rể lần lượt cúi lạy từng người thuộc thế hệ trên của  
vợ theo thứ tự từ trên xuống dưới hai tay cung kính  
dâng lên mỗi người là một chén rượu (với đàn ông),  
một miếng trầu (với đàn bà). Những người được  
nhận vinh dự này sẽ tặng cho chú rể một số tiền  
nhỏ gói trong giấy đỏ gọi là khẩu khoăn với ý nghĩa  
mở hầu bao để cấp vốn cho đôi vợ chồng trẻ làm ăn  
Trước khi bước chân qua ngưỡng cửa nhà trai,  
cô dâu được tẩy uế, thanh trần với mục đích rũ bỏ  
hết những thứ tạp uế, dơ bẩn đã đeo bám, xâm nhập  
vào người trong lúc đi đường. Nhà trai đặt bên chân  
cầu thang một cụm lúa, một ống nước và một đĩa  
trầu cau để cô dâu xách lên và cử một người trực  
sẵn ở bên cửa để nhận lại tất cả những thứ đó. Sau  
đó, cô dâu được đưa đến căn buồng riêng cho mình  
mà trước đó nhà chồng đã sửa sang lại. Một người  
phụ nữ bên nội luống tuổi là hiện thân của sự phúc  
đức được nhà trai mời đến trải chiếu tân hôn và đón  
cô dâu nhập phòng. Tại đây, cô dâu sẽ châm lửa đốt  
hai ngọn đèn dầu một ngọn đèn đặt tại góc phòng  
với quan niệm đem lại ánh sáng và sự sống cho căn  
phòng hạnh phúc còn một ngọn đèn sẽ được đặt lên  
bàn thờ trong lễ dâng hương với ý nghĩa trình diện  
trước tổ tiên dòng họ nhà trai và chính thức nhập họ  
“nhập khẩu”, trở thành một thành viên của gia đình  
nhà chồng nghi lễ trình báo tổ tiên dòng họ nhà trai  
cũng được thực hiện bởi thầy cúng hoặc là người  
trong dòng họ biết thực hiện nghi lễ. Tiếp đó, cô  
dâu đến mời rượu, mời trầu từng người thuộc các  
thế hệ trên của chồng với ý nghĩa ra mắt gia đình,  
họ hàng nhà chồng. Những người nhận được vinh  
dự này sẽ tặng cô dâu một số tiền nhỏ gói trong tờ  
giấy đỏ giống như trước đó họ hàng nhà gái đã tặng  
cho chú rể.  
Đến ngày cưới, vì lý do nào đó mà thiếu vắng  
chú rể thì có thể cho em trai ruột thay mặt anh mình  
đến nhà gái đón dâu. Trong trường hợp không có  
người đóng vai chú rể, đám cưới vẫn có thể diễn ra  
dưới hình thức “cưới áo”. Theo đó, người ta mang  
áo của cô dâu, chú rể (những chiếc áo đã sử dụng)  
đặt bên cạnh bàn thờ tổ tiên, tượng trưng cho đôi trẻ  
làm lễ bái đường, trình diện trước tổ tiên và chính  
thức trở thành vợ chồng của nhau. Nếu cưới vào  
năm tuổi của cô dâu hoặc chú rể thì không được  
phép bái đường khi nào có điều kiện họ phải tổ chức  
lần nữa để thực hiện nghi lễ này (Y, 2010, tr.267).  
Vậy, trong lễ cưới chính mối quan hệ dòng họ được  
mở rộng hơn so với nghi lễ dặm hỏi và ăn hỏi. Nếu  
như lễ dặm hỏi chỉ có gia đình hai bên, lễ ăn hỏi là  
đại diện 2 dòng họ thì lễ cưới chính là toàn bộ dòng  
họ đều được mời tham gia phạm vi mời có thể 3 đời  
hoặc 4 đến 5 đời tùy từng điều kiện gia đình, dòng  
họ. Trong nghi lễ cưới chính thức của người Tày, có  
thể thấy rằng mối quan hệ dòng họ ở đây thể hiện  
ở cả mặt vật chất và tinh thần, cả mối quan hệ giữa  
Volume 10, Issue 3  
135  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
những người đang sống với người đã chết và giữa  
người chết với nhau.  
Thứ ba, thông qua các nghi lễ cưới xin mang  
tính chất tín ngưỡng, tâm linh người Tày có niềm  
tin về sự đoàn kết gia đình, dòng họ cho dù trong  
cuộc sống vợ chồng, mối quan hệ gia đình, dòng họ  
có thể có nhiều quan điểm khác nhau nhưng cuối  
cùng họ vẫn chung một tổ tiên. Do đó, khi thực hiện  
nghi lễ cưới xin cần phải tuân theo những nguyên  
tắc, các nghi lễ của tổ tiên gia đình, dòng họ và phù  
hợp với quy định pháp luật của Nhà nước.  
Lễ lại mặt (sau lễ cưới chính 3 ngày) được tổ  
chức với ý nghĩa cho đôi vợ chồng trẻ về thăm gia  
đình nhà vợ cũng như đến chào những người họ  
hàng gần gũi, thân thiết nhất của vợ để chàng rể mới  
có cơ hội, tiếp xúc, làm quen và nhận họ hàng bên  
vợ; đồng thời đây cũng là dịp tốt để bố mẹ tìm hiểu  
cuộc sống mới của con gái trong những ngày đầu  
tiên ở nhà chồng và có thể dặn dò, chỉ bảo thêm cho  
Thứ tư, phát huy vai trò của chủ thể tham gia  
con gái trong những ngày đầu tiên ở nhà chồng. Lễ quan hệ dòng họ qua nghi lễ cưới xin của người Tày  
vật gồm 01 con gà trống thiến, 1 chai rượu và một ít ở tỉnh Tuyên Quang đặc biệt là thầy cúng, trưởng  
bánh kẹo với ý nghĩa tạ ơn cha mẹ. Vậy, trong lễ lại họ, trưởng chi dòng họ, những người có uy tín trong  
mặt chỉ có sự tham gia của anh em dòng họ bên nhà dòng họ…  
vợ. Kết thúc lễ lại mặt coi như việc cưới đã hoàn  
thành đôi vợ chồng trẻ bắt đầu cuộc sống chung  
hạnh phúc với ba mối quan hệ dòng họ là dòng họ  
bên nội, dòng họ bên ngoại và dòng họ bên vợ.  
6. Kết luận  
Quan hệ dòng họ qua nghi lễ cưới xin của người  
Tày biểu hiện rất rõ qua các nghi lễ dặm hỏi, ăn  
hỏi, lễ cưới chính thức, lễ lại mặt đều phải có sự  
tham gia giúp đỡ của dòng họ ở những mức độ khác  
5. Thảo luận  
Qua nghiên cứu, phân tích mối quan hệ dòng họ nhau. Ngoài trợ giúp về mặt tinh thần, thì sự giúp  
qua nghi lễ cưới xin của người Tày ở tỉnh Tuyên đỡ về vật chất là không thể thiếu, đặc biệt là các gia  
Quang có thể thấy, đây là lĩnh vực nghiên cứu nhận đình nhà trai có hoàn cảnh kinh tế khó khăn phải  
được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, chuẩn bị các lễ vật trong lễ dạm hỏi, ăn hỏi, lễ cưới  
các học giả ở các góc độ khác nhau. Các nghiên cứu chính thức, lễ lại mặt. Quan hệ dòng họ qua nghi lễ  
đã tập trung trình bày, phân tích các quan điểm về cưới xin của người Tày không chỉ biểu thị mối quan  
dòng họ, tổ chức, quy ước dòng họ; các bước thực hệ giữa những người đang sống với nhau mà còn  
hiện, lễ vật, nghi lễ cưới xin của người Tày. Các góc là giữa người sống với người chết và giữa những  
độ nghiên cứu trên đều có những ưu điểm và hạn người đã chết với nhau. Điều đó thể hiện ở tất cả  
chế nhất định vì vậy nghiên cứu mối quan hệ dòng các lễ vật nhà trai mang sang nhà gái đều trình báo  
họ qua nghi lễ cưới xin của người Tày ở tỉnh Tuyên tổ tiên dòng họ, khi mang đến nhà cô dâu những lễ  
Quang đang đặt ra nhiều vấn đề quan tâm như:  
vật đó cũng được mang lên bàn thờ tổ tiên để thắp  
hương trình báo tổ tiên dòng họ nhà cô gái. Nghi lễ  
“cắt khẩu”, “nhập khẩu” đều phải có sự tham gia  
của thầy “cúng”. Cưới xin của người Tày mang đậm  
bản sắc dân tộc với những quy định thống nhất về lễ  
nghi, phương thức và cách thức tổ chức. Thông qua  
những nghi lễ của đám cưới mối quan hệ gia đình,  
dòng họ; dòng họ với dòng họ; dòng họ với thôn  
bản hàng ngày càng được thắt chặt. Qua đó, tạo  
tiền đề, cơ sở khoa học cho việc xây dựng những  
quy ước văn hóa thôn bản ở địa bàn nông thôn; xây  
dựng những chính sách thiết thực đối với vấn đề  
phát triển “nông nghiệp, nông thôn, nông dân” nước  
ta trong giai đoạn hiện nay.  
Thứ nhất, cơ sở xây dựng đoàn kết gia đình,  
dòng họ người Tày qua nghi lễ cưới xin để có những  
quan điểm, đường lối, chính sách đúng đắn về văn  
hóa, tín ngưỡng, dân tộc.  
Thứ hai, sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã  
hội đã làm cho mối quan hệ dòng họ trong tương  
trợ kinh tế ngày càng ít, các bước thực hiện nghi lễ,  
các lễ vật trong cưới xin ngày càng đơn giản hơn…  
điều đó thể hiện quy luật giao lưu và tiếp biến văn  
hóa giữa các dân tộc với nhau. Điều này đặt ra vấn  
đề cần gìn giữ các mối quan hệ dòng họ, nghi lễ, lễ  
vật trong cưới xin của người Tày một cách hợp lý,  
tạo cơ sở cho xây dựng mối quan hệ dòng họ ngày  
càng bền chặt.  
Tai lieu tham khao  
Quoc hoi. (2014). Luat Hon nhan và Gia đinh.  
Chau, T. Q. (2017). Dong ho nguoi Tay o huyen  
Bach Thong, tinh Bac Kan. Luan an Tien sy  
Nhan hoc, Hoc vien Khoa học xa hoi, Ha Noi.  
Do, N. V., Khanh, N. P.& Hung, H. T., (2003).  
Van hoa truyen thong cac dan toc Tay, Dao,  
San Diu o Tuyen Quang. Ha Noi: Nxb. Van  
hoa dan toc.  
Ha Noi.  
Anh, L. M. (2014). Quan he dong ho cua người  
Nung phan slinh (nghien cuu o huyen Cao  
Loc, tinh Lang Son). Luan an Tien sy Nhan  
hoc, Hoc vien Khoa học xa hoi, Ha Noi.  
136  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
Hai, M. V. & Doan, P. D. (2000). Quan he dong  
ho o chau tho song Hong. Ha Noi: Nxb.  
Khoa hoc xa hoi.  
Hoi, H. D. (2018). Quan he dong ho trong doi  
song tin nguong cua nguoi Tay tinh Tuyen  
Quang. Đe tai Khoa hoc va Cong nghe cap co  
so, truong Dai hoc Tan Trao, Tuyen Quang.  
Hoi, H. D. (2021a). Tin nguong tho cung to tien  
cua nguoi Tay o tinh Tuyen Quang. Tap chi  
Nghien cuu ton giao. Ha Noi: ISSN 1859-  
0403, 208(4).  
Nam, H. (2014). Van hoa dan toc, Van hoa Viet  
Nam. Ha Noi: Nxb. Khoa hoc xa hoi.  
Thanh, N. N & Duong, N. T. (2020). Dong ho cua  
nguoi Tay o Viet Nam. Tap chi Khoa hoc Xa  
hoi Viet Nam. Ha Noi: ISSN 1013-4328, So 1.  
Tinh, V. X. (Chu bien, 2020). Cac dan toc o Viet  
Nam, Tap 2, Nhom ngon ngu Tay - Thai Ka  
dai. Ha Noi: Nxb. Chinh tri Quoc gia Su that.  
Vien Dan toc hoc. (1992). Cac dan toc Tay,  
Nung o Viet Nam. Ha Noi: Vien Dan toc hoc  
xuat ban.  
Hoi, H. D. (2021b). Ket qua dien da thang 04  
nam 2021 tai xa Bang Coc & xa Nhan Muc,  
huyen Ham Yen, xa Hong Quang, huyen Lam  
Binh, tinh Tuyen Quang.  
Huong, L. T. (2015). Nghi le cuoi xin cua nguoi  
Tay o thon Po Cai, xa Gia Cat, huyen Cao  
Loc, tinh Lang Son. Tap chi Dan toc hoc. Ha  
Noi: ISSN 0866-7632, So 4&5.  
Y, L. C. (2010). Den voi nguoi Tay va van hoa  
Tay. Ha Noi: Nxb. Khoa hoc xa hoi.  
Yen, N. T. (2009). Tin nguong dan gian Tay-  
Nung. Ha Noi: Nxb. Khoa hoc xa hoi.  
QUAN HỆ DÒNG HỌ QUA NGHI LỄ CƯỚI XIN  
CỦA NGƯỜI TÀY Ở TỈNH TUYÊN QUANG  
Hứa Đức Hội  
Trường Đại học Tân Trào  
Ngày nhận bài:  
21/7/2021  
Ngày phản biện: 16/8/2021  
Ngày tác giả sửa: 23/8/2021  
Ngày duyệt đăng: 20/9/2021  
Ngày phát hành: 30/9/2021  
ghi lễ cưới xin là một hiện tượng văn hóa tâm linh có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa  
N
của người Tày ở tỉnh Tuyên Quang. Ở đó ẩn chứa nhiều giá trị văn hóa của gia đình, dòng họ; biểu  
hiện niềm tin của cộng đồng ấy. Nghi lễ cưới xin thể hiện những quy tắc ứng xử giữa cá nhân trong gia  
đình, trong dòng họ, giữa dòng họ với cộng đồng. Thế ứng xử đó tạo nên mối giao ước và những quy tắc  
không chỉ liên quan đến người chết, mà rằng buộc người sống với nhau, buộc con người phải có nghĩa vụ,  
trách nhiệm với các thành viên trong gia đình, dòng họ, cộng đồng; tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng  
quy ước văn hóa thôn bản ở địa bàn nông thôn; xây dựng những chính sách thiết thực đối với vấn đề phát  
triển “nông nghiệp, nông thôn, nông dân”.  
Từ khóa: Dòng họ; Nghi lễ cưới xin; Người Tày; Tỉnh Tuyên Quang.  
Volume 10, Issue 3  
137  
pdf 7 trang baolam 15420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lineages relations through wedding ritual of the tay ethnic group in Tuyen Quang province", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflineages_relations_through_wedding_ritual_of_the_tay_ethnic.pdf