Bảo vệ quyền của lao động nữ theo pháp luật lao động Việt Nam - và thực tiễn tại trường Đại học Công nghiệp TPHCM

Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Số 48, 2020  
BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG  
VIỆT NAM – VÀ THỰC TIỄN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM  
ĐÀO THỊ NGUYỆT  
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
Tóm tắt: Cùng với người lao động nam, người lao động nữ ngày càng tham gia và có những đóng góp  
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, do những khác biệt về giới tính, sức khoẻ, thể  
lực mà việc tham gia lao động của người lao động nữ còn một số hạn chế nhất định. Trong phạm vi bài  
viết, tác giả chỉ đi vào phân tích và làm rõ một số các quyền của người lao động nữ theo quy định của  
pháp luật lao động hiện nay và liên hệ thực tiễn tại Trường Đại học Công nghiệp TPHCM, từ đó đưa ra  
một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi của người lao động nữ tại Trường Đại học  
Công nghiệp TPHCM.  
Trong bài viết tác giả sử dụng các phương pháp như: Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin như:  
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác giả cũng sử dụng các phương pháp  
nghiên cứu khoa học truyền thống như: Phương pháp so sánh giữa quy định của pháp luật lao động Việt  
Nam và thế giới, Phương phân tích các quy định của pháp luật và thực tiễn tại Trường Đại học Công  
nghiệp TPHCM, Phương pháp tổng hợp.  
Từ khóa: Quyền của người lao động nữ  
PROTECTION OF WOMEN'S RIGHTS UNDER VIETNAMESE LABOR LAW - AND  
PRACTICE AT HCMC INDUSTRIAL UNIVERSITY  
Abstract: Together with male workers, female workers increasingly participate and make important  
contributions to the socio-economic development. However, due to differences in gender, health and  
fitness, labor participation of female workers still has certain limitations. Within the scope of this article,  
the author only analyzes and clarifies some of the rights of female workers in accordance with the current  
labor law and practical contact at Ho Chi Minh City University of Industry, since then. propose some  
solutions to improve the mechanism to protect the rights of female workers at Ho Chi Minh City  
University of Industry.  
Keywords: Rights of female workers  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa người lao động được bình đẳng, được tự do lựa chọn việc làm, tự do làm  
việc. Tuy nhiên, xuất phát từ những đặc điểm về giới như sức khoẻ, thiên chức của người phụ nữ mà so  
với người lao động nam, người lao động nữ bao giờ cũng có thể lực thấp hơn và khả năng thích ứng với  
môi trường cũng bị hạn chế, do đó thường gặp trở ngại về sức khoẻ, sự dẻo dai do những ảnh hưởng của  
giới tính. Nhưng bù lại, so với lao động nam thì lao động nữ lại có sự khéo léo, bền bỉ và kiên trì hơn  
trong công việc. Về mặt tâm lý, hiện nay vẫn còn nhiều bộ phận người lao động còn chịu ảnh hưởng quan  
niệm truyền thống, mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ. Một số doanh nghiệp và các cơ quan Nhà  
nước không muốn tiếp nhận người lao động nữ vào làm việc, thậm chí trên các trang thông tin đăng tuyển  
các doanh nghiệp, cơ quan còn chú thích rõ: “Chỉ tuyển lao động nam”. Hiện nay, pháp luật lao động  
quốc tế nói chung và pháp luật lao động Việt Nam nói riêng đều có những cơ chế, chính sách phù hợp để  
đảm bảo đầy đủ nhất quyền lợi cho nhóm người lao động đặc thù này.  
2 NỘI DUNG  
2.1 Quy định của pháp luật lao động Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của người lao động nữ và liên hệ  
tại Trường Đại Học Công nghiệp TPHCM.  
Lê nin đã nói: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là Người lao động”.  
Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam xác định lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân, đồng thời  
Hiến pháp cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc tạo việc làm cũng như bảo vệ  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
44 BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM – VÀ THỰC TIỄN  
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM  
người lao động. Vì người lao động là người trực tiếp bỏ sức lao động của mình để tạo ra của cải vật chất  
cho xã hội, nên họ là người có khả năng chịu nhiều tác động xấu của quá trình làm việc đến sức khoẻ, tính  
mạng. Như đã phân tích, so với người lao động nam thì người lao động nữ thường gặp nhiều trở ngại hơn  
như: có thể lực yếu hơn, khả năng thích ứng với môi trường cũng hạn chế hơn nhưng bù lại họ lại có sự  
khéo léo và kiên nhẫn hơn so với người lao động nam. Do đó, việc bảo về quyền lợi của lao động nữ luôn  
được Nhà nước và xã hội đặt lên hàng đầu. Người lao động nữ ngoài việc có đầy đủ các quyền con người,  
quyền công dân trong đó có quyền tự do lao động, quyền được bảo vệ, quyền được bảm đảm cuộc sống  
khi tham gia quan hệ lao động thì còn được Bộ Luật Lao động năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2019 (Gọi  
tắt là: BLLĐ năm 2019) ghi nhận những quyền đặc trưng riêng như:  
Thứ nhất: Trong lĩnh vực việc làm, đào tạo lao động.  
Người lao động nữ được quyền bình đẳng về cơ hội việc làm, thu nhập, không bị phân biệt đối xử. Tại  
Điều 23 của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền ghi nhận rằng “Mọi người đều có quyền làm việc và tự do  
lựa chọn việc làm”. Tại Việt Nam, Điều 35 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định: “Nghiêm cấm phân biệt  
đối xử, cưỡng bức lao động…”. và Điều 5 BLLĐ năm 2019 quy định quyền: “Làm việc, tự do lựa chọn  
nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ”. Như vậy, việc bình đẳng trong việc tạo công ăn việc làm cho  
cả người lao động nam và lao động nữ đang là mục tiêu hướng đến của toàn thế giới và pháp luật Việt  
Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Pháp luật yêu cầu người sử dụng lao động phải tạo cơ hội về  
việc làm dành cho cả lao động nam và lao động nữ. Theo đó, trên các thông tin đăng tuyển, người sử  
dụng lao động phải áp dụng các tiêu chí tuyển dụng ngang bằng nhau cho cả lao động nam và lao động  
nữ. Bên cạnh đó, Điều 13 Luật bình đẳng giới năm 2006 còn quy định: “Trong lĩnh vực lao động cả hai  
giới phải được bình đẳng về yêu cầu khi tuyển dụng, hay đối xử như nhau tại nơi làm việc, các điều kiện  
đời sống lao động là như nhau, có quyền được bổ nhiệm chức danh như nhau”. Ngoài ra, pháp luật cũng  
quy định người sử dụng lao động còn phải bảo đảm quyền bình đẳng không phân biệt đối xử trong các cơ  
hội về việc làm như: Quyền được học tập, đào tạo, thăng chức hay bị tước bỏ công việc một cách không  
công bằng.  
Theo pháp luật nước ta, quan hệ lao động do pháp Luật lao động điều chỉnh khác với quan hệ lao động  
giữa cán bộ, công chức, viên chức với thủ trưởng cơ quan Nhà nước được điều chỉnh bởi pháp Luật công  
chức, Luật viên chức. Sự khác biệt trong quy định pháp luật xuất phát từ bản chất của hai loại quan hệ  
này. Nếu nhóm quan hệ do Luật lao động điều chỉnh dựa trên cơ sở bình đẳng, thoả thuận giữa các chủ  
thể trong quan hệ lao động, thì quan hệ lao động do Luật cán bộ, viên chức mang tính mệnh lệnh hành  
chính, nhất là trong quá trình quản lý lao động của thủ trưởng cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên, cho dù quan  
hệ lao động của các chủ thể mang tính chất khác nhau đi chăng nữa, thì tất cả người lao động đều sử dụng  
sức lao động của mình để làm việc và trong quá trình làm việc đó, họ cũng cần được đảm bảo về việc  
làm, được đảm bảo xử lý kỷ luật, được đảm bảo về vật chất trong những trường hợp làm mất đi nguồn thu  
nhập của họ. Chính vì vậy, một số quy định của pháp luật lao động cũng được áp dụng cho cán bộ, công  
chức, viên chức. Trường Đại học Công nghiệp TPHCM là một đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm 2 đối  
tượng là viên chức và người lao động, chịu sự điều chỉnh của Luật viên chức, nhưng vẫn đảm bảo các quy  
định của pháp luật lao động về việc đảm bảo quyền lợi của viên chức và người lao động, đặc biệt là quyền  
lợi của viên chức và người lao động nữ.  
Tại Trường Đại học Công nghiệp TPHCM. Trong khâu tuyển dụng viên chức và người lao động, việc  
đăng tuyển các thông tin tuyển dụng trên website nhà trường đã thực hiện rất tốt quy định của pháp luật  
lao động. Cụ thể: Trong các thông báo tuyển dụng trên website hàng năm của Trường Đại học Công  
nghiệp TPHCM không có sự phân biệt tuyển dụng giữa viên chức, người lao động nam và nữ, tất cả đều  
có cơ hội tuyển dụng ngang nhau nếu đáp ứng được các điều kiện tuyển dụng. Tuy nhiên, xét về mặt cơ  
hội thăng chức, hiện nay đội ngũ nhân sự chủ chốt của nhà Trường từ phó Hiệu trưởng, đến Trưởng các  
đơn vị đa số đều là nam giới, việc sử dụng viên chức và người lao động nữ giữ các chức danh quan trọng  
trong các đơn vị còn hạn chế. Mặc dù, cơ hội thăng chức chỉ dành cho các viên chức, người lao động đáp  
ứng đủ điều kiện cho mỗi chức danh như về học hàm học vị, sự tín nhiệm, trình độ, chuyên môn. Nhưng  
nếu tạo điều kiện hơn nữa giúp viên chức nữ giữ các chức danh quan trọng thì sẽ đảm bảo tốt hơn quyền  
bình đẳng giữa viên chức nam và nữ. Cụ thể, hiện nay Trường Đại học Công nghiệp TPHCM bao gồm 8  
phòng ban, 17 khoa, 3 viện, 6 trung tâm nhưng chỉ có Phòng quản lý khoa học và hợp tác quốc tế, Khoa  
ngoại ngữ, Trung tâm thông tin truyền thông là những đơn vị có trưởng nhân sự là nữ giới.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM – VÀ THỰC TIỄN 45  
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM  
Thứ hai: Trong lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi.  
Khách thể trong quan hệ lao động chính là sức lao động của người lao động. Do đó, để bảo vệ sức lao  
động của người lao động pháp luật lao động Việt Nam đã quy định theo hướng khống chế về mức thời  
gian làm việc tối đa của người lao động, cũng như quy định về thời gian nghỉ ngơi để người lao động có  
khả năng phục hồi sức khoẻ đặc biệt đối với lao động nữ với thể lực yếu hơn. Và cũng là để giúp họ thực  
hiện tốt thiên chức của mình là một người mẹ, một người vợ, đồng thời chăm sóc tốt sức khoẻ sinh sản  
của người lao động nữ, giúp họ phát triển toàn diện về cả thể chất lẫn tinh thần để có thể quay lại với công  
việc. Cụ thể, BLLĐ năm 2019 quy định: “Không được sử dụng lao động nữ làm việc vào ban đêm, làm  
thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp đặc biệt như mang thai ở tháng thứ 7 hoặc đang nuôi con  
dưới 12 tháng tuổi”. Hay quy định: “Trong thời gian hành kinh lao động nữ được nghỉ mỗi ngày 30 phút,  
hoặc trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi sẽ được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc  
và vẫn được hưởng đủ lương”.  
Tại Trường Đại học Công nghiệp TPHCM. Đối với quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của  
pháp luật lao động chỉ áp dụng đối với đối tượng là người lao động làm việc theo hợp đồng lao động tại  
Trường Đại học Công nghiệp TPHCM, vì đối với viên chức với công việc đặc thù nên thời gian làm việc,  
thời gian nghỉ ngơi tuân theo quy định của luật viên chức. Về mặt này, Trường Đại học Công nghiệp  
TPHCM đã tuân thủ tốt quy định của pháp Luật lao động, không sử dụng người lao động nữ làm việc vào  
ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp đặc biệt như mang thai ở tháng thứ 7 hoặc  
đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Tuy nhiên, việc đảm bảo quyền lợi của người lao động nữ trong thời  
gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút, hoặc trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi sẽ được  
nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc và vẫn được hưởng đủ lương chưa thực sự được quan tâm  
và áp dụng trên thực tế.  
Thứ ba: Bảo đảm quyền của lao động nữ mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ.  
Việc lấy chồng, sinh con là một trong những quy luật tự nhiên và là thiên chức đặc biệt của người lao  
động nữ, để đảm bảo cho người lao động nữ vừa đảm bảo được việc làm, tạo thu nhập phát triển kinh tế  
gia đình, vừa thực hiện tốt thiên chức người vợ, người mẹ pháp Luật lao động luôn tạo các điều kiện tốt  
nhất cho họ. Cụ thể, khoản 3 Điều 137 BLLĐ năm 2019 đã quy định “Người sử dụng lao động không  
được đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động hoặc sa thải đối với người lao động vì những lý do như  
kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi…”. Quy định này của pháp luật  
lao động vừa có ý nghĩa trong việc bảo vệ thiên chức của người mẹ, vừa có ý nghĩa bảo đảm sự bình đẳng  
giữa lao động nam và lao động nữ, tránh trường hợp vì thực hiện thiên chức của người phụ nữ mà bị mất  
việc.  
Về bảo hiểm xã hội: Hiện nay, việc bảo đảm vật chất cho người lao động trong những trường hợp ốm  
đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp…được pháp Luật lao động điều chỉnh. Bảo  
hiểm xã hội đã tạo điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần giúp người lao động nữ thực hiện tốt nhất thiên  
chức của mình trong trường hợp thai sản mà không thể trực tiếp tham gia lao động tạo thu nhập. Theo quy  
định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì đối với lao động nữ mang thai; sinh con; mang thai hộ, người  
mẹ nhờ mang thai hộ, nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, đặt vòng tránh thai, thực hiện biện pháp  
triệt sản có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh  
con hoặc nhận nuôi con nuôi thì được hưởng trợ cấp thai sản. Tuy nhiên, trong trường hợp người lao động  
nữ mà khi mang thai phải nghỉ dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì điều kiện đặt  
ra là phải đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên, trong đó có đủ 03 tháng đóng bảo hiểm xã hội  
trong vòng 12 tháng trước sinh thay vì trước đây phải có đủ 06 tháng đóng bảo hiểm xã hội trong vòng 12  
tháng trước sinh. Quy định này đã thật sự tạo điều kiện cho những người lao động nữ vì những lý do sức  
khoẻ phải nghỉ việc để dưỡng thai vẫn có đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con và hạn chế  
được tình trạng trục lợi chế độ thai sản.  
Chế độ nghỉ thai sản: Việc mang thai và sinh con là một trong những khoảng thời gian khó khăn đối với  
người lao động nữ, đây là khoảng thời gian người phụ nữ dễ bị tự kỷ hay người ta thường gọi là bệnh hậu  
sản vì họ phải nghỉ việc chăm sóc con, không có nguồn thu nhập đồng thời các chi phí sinh hoạt gia đình  
sẽ tăng lên rất nhiều để chăm sóc cho thành viên mới, có thể ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ và tinh thần  
của người lao động nữ. Vì vậy, Nhà nước và pháp luật luôn tạo ra các điều kiện thuận lợi nhất để bảo vệ  
người phụ nữ trong giai đoạn này đó chính là quy định về chế độ trợ cấp thai sản cho người lao động nữ.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
46 BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM – VÀ THỰC TIỄN  
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM  
Theo đó, pháp luật lao động cho phép người lao động nữ được nghỉ thai sản khi mang thai và chăm sóc  
con lúc đau ốm trong một khoảng thời gian nhất định. Cụ thể, trong thời gian mang thai, lao động nữ  
được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày, trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh  
hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám  
thai. Khi người lao động nữ sinh con thì thời gian được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng và nếu  
sinh con đôi trở lên thì người lao động được nghỉ thêm 01 tháng và được hưởng chế độ thai sản theo quy  
định. Bên cạnh đó, BLLĐ năm 2019 còn quy định khi hết thời gian nghỉ thai sản, người lao động nữ có  
quyền được nghỉ thêm một thời gian và không hưởng lương theo thoả thuận nếu được sự đồng ý của  
người sử dụng lao động để giúp quyền làm mẹ của người lao động nữ được trọn vẹn. Hoặc pháp luật cũng  
cho phép, nếu chưa hết thời gian nghỉ thai sản mà người lao động nữ có nhu cầu đi làm trở lại nếu đã nghỉ  
tối thiểu được 04 tháng thì vẫn được phép quay trở lại làm việc và vẫn được hưởng chế độ thai sản đến  
hết 06 tháng hoặc trong trường hợp sinh đôi thì cộng thêm 01 tháng và được trả lương cho những ngày  
làm việc đó.  
Về chế độ thai sản hiện nay tại Trường Đại học Công nghiệp TPHCM: Có thể thấy Trường Đại học Công  
nghiệp TPHCM cũng đã có những sự giúp đỡ tích cực đối với viên chức và nguời lao động nữ khi sinh  
con, ngoài đảm bảo thời gian nghỉ và chế độ trợ cấp thai sản theo đúng quy định của Luật bảo hiểm xã hội  
thì Trường Đại học Công Nghiệp TPHCM luôn có một quỹ riêng để thăm hỏi động viên khi viên chức và  
người lao động sinh con được quy định cụ thể trong quy chế chi tiêu nội bộ của Trường giúp những người  
mẹ, người vợ yên tâm thực hiện tốt chức năng của mình. Cụ thể: Tại Điều 18 Trong quy chế chi tiêu nội  
bộ năm 2020 của Trường Đại học Công nghiệp TPHCM quy định: Trích Quỹ công đoàn để chi cho các  
hoạt động thăm hỏi, hiếu hỉ, ốm đau, hoàn cảnh khó khăn đối với CB-VC;  
Về xử lý kỷ luật người lao động nữ: Xử lý kỷ luật lao động là quyền của người sử dụng lao động và là  
phương tiện để người sử dụng lao động quản lý lao động khoa học và có hiệu quả. Kỷ luật lao động cũng  
có ý nghĩa quan trọng đối với người lao động vì nhờ có kỷ luật lao động, người lao động biết rõ các nghĩa  
vụ của mình và các chế tài dự liệu cho việc vi phạm những nghĩa vụ đó. Và tuỳ vào mức độ vi phạm kỷ  
luật của người lao động mà người sử dụng lao động có thể áp dụng một trong các hình thức kỷ luật như:  
khiển trách, cách chức, kéo dài thời hạn nâng lương hay sa thải…Tuy nhiên, đối với lao động nữ như đã  
nói khác với lao động nam ở thiên chức làm mẹ, làm vợ. Nên nếu trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản,  
chăm sóc con mà bị xử lý kỷ luật lao động sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần và thu nhập của người  
lao động nữ. Theo đó, BLLĐ năm 2019 tại khoản 4 Điều 122 quy định “Không được xử lý kỷ luật lao  
động với những người lao động nữ đang mang thai, nghỉ thai sản và nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.  
Về kỷ luật lao động tại Trường Đại học Công nghiệp TPHCM: Trường Đại học Công nghiệp TPHCM  
đến nay chưa xử lý kỷ luật bất kỳ viên chức hay người lao động nào khi mang thai, nghỉ thai sản hay đang  
nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Trường đã thực hiện rất tốt các quy định và bảo vệ tốt nhất quyền lợi của  
viên chức và người lao động nữ.  
Thứ tư: Bảo đảm về điều kiện làm việc phù hợp với lao động nữ.  
Điều kiện vật chất tại nơi làm việc được xem là một trong những nhu cầu quan trọng cần quan tâm đặc  
biệt vì nó ảnh hưởng đến chất lượng công việc của doanh nghiệp, cơ quan, đoàn thể. Nếu tại nơi làm việc  
điều kiện vật chất được đảm bảo an toàn, có các trang thiết bị phù hợp giúp người lao động yên tâm làm  
việc, và đảm bảo hiệu suất của công việc. Ngược lại, nếu tại nơi làm việc điều kiện vật chất không được  
đảm bảo, thiếu thốn cơ sở vật chất có thể gây thiệt hại cả về tính mạng lẫn sức khoẻ và năng suất lao  
động. Đặc biệt với người lao động nữ, có một số đặc điểm về sinh lý khác với lao động nam, theo đó, các  
điều kiện dành cho người lao động nữ cũng được ưu tiên hơn so với người lao động nam. Cụ thể, pháp  
Luật lao động đòi hỏi các doanh nghiệp phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ buồng tắm, buồng vệ sinh  
phù hợp tại nơi làm việc sẽ đảm bảo môi trường thuận lợi cho người lao động. Hoặc quy định, trong  
trường hợp sử dụng nhiều lao động nữ thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm hỗ trợ xây dựng  
nhà trẻ mẫu giáo, hoặc đóng góp một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho người lao động.  
Tại Trường Đại học Công nghiệp TPHCM - Việc bảo đảm điều kiện làm việc theo quy định của pháp  
Luật lao động cho người lao động cũng rất được chú trọng. Cụ thể, Trường đã xây dựng các phòng vệ  
sinh sạch, thoáng mát, luôn được vệ sinh hàng ngày để phụ vụ nhu cầu của người lao động. Tuy nhiên,  
bên cạnh những ưu điểm nổi bật như đã phân tích thì việc xây nhà tắm hay xây dựng các phòng nghỉ cho  
người lao động để nghỉ trưa, phục hồi sức lao động thì hiện nay chưa được nhà trường thực hiện. Còn  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM – VÀ THỰC TIỄN 47  
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM  
việc hỗ trợ, xây dựng nhà trẻ mẫu giáo, hoặc đóng góp một chút kinh phí cho lao động nữ để gửi trẻ cũng  
chưa được nhà trường quan tâm.  
Thứ năm: Bảo đảm quyền lợi của người lao động nữ về tuổi nghỉ hưu.  
Tuổi nghỉ hưu và chính sách hưu trí của người lao động được pháp luật lao động quy định rất cụ thể, thể  
hiện sự ưu đãi nhất định của Nhà nước đối với những người lao động đã có thời gian dài cống hiến sức  
lao động của mình cho doanh nghiệp, cho xã hội. Theo đó, Điều 187 BLLĐ năm 2012 quy định theo  
hướng mở về độ tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ. Cụ thể, khi lao động nữ đủ các điều kiện về thời gian  
đóng bảo hiểm xã hội và đủ 55 tuổi sẽ được hưởng lương hưu. Tuy nhiên tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh  
làm việc mà người lao động nữ có thể nghỉ hưu ở tuổi sớm hơn hay cao hơn so với quy định và mức tối  
đa là không quá 5 năm. Người lao động nữ làm việc trong điều kiện bình thường thì tuổi nghỉ hưu là 55  
tuổi, còn đối với người lao động nữ bị suy giảm lao động, làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;  
làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thuộc danh mục thuộc Chính phủ quy định có  
thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn 55 tuổi. Và hiện nay, BLLĐ năm 2019 đã được thông qua và có hiệu lực từ  
ngày 1/1/2021 đã sửa đổi, bổ sung nâng độ tuổi nghỉ hưu đối với người lao động nữ và lao động nam theo  
lộ trình từ ngày 1/1/2021. Cụ thể: Tăng tuổi nghỉ hưu lên 62 tuổi với nam, 60 tuổi với nữ theo quy định tại  
Điều 169 BLLĐ năm 2019: “Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường  
được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối  
với lao động nữ vào năm 2035. Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao  
động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam; đủ 55 tuổi 04 tháng đối với nữ. Sau đó, cứ mỗi năm  
tăng thêm 03 tháng với lao động nam; 04 tháng với lao động nữ”.  
Tại Trường Đại học Công nghiệp TPHCM: Trường Đại học Công nghiệp TPHCM luôn tuân thủ đúng  
quy định của pháp luật về việc đảm bảo tuổi nghỉ hưu đối với viên chức và người lao động nữ. Bên cạnh  
đó Trường còn tạo điều kiện cho viên chức và người lao động nữ sau khi hết tuổi nghỉ hưu mà vẫn còn  
sức khoẻ, còn muốn tiếp tục công việc thì Trường luôn tạo mọi điều kiện cho viên chức và người lao động  
làm việc theo các loại hợp đồng theo mùa vụ, hợp đồng thỉnh giảng…để giúp người lao động nữ được  
tiếp tục theo nghề mà mình yêu thích cũng như tạo thu nhập cho cuộc sống gia đình.  
2.2 Một số kiến nghị nhằm bảo vệ quyền lợi của cán bộ, viên chức, người lao động làm việc tại  
Trường Đại học Công nghiệp TPHCM.  
Như đã phân tích, nhìn chung Trường Đại học Công nghiệp TPHCM đã thực hiện tốt, và có hiệu quả các  
quy định của pháp Luật lao động. Tuy nhiên, vẫn còn một số các chi tiết nhỏ mà Trường chưa có sự quan  
tâm sâu sắc để bảo đảm quyền lợi của người lao động đặc biệt là viên chức và người lao động nữ. Qua bài  
viết tác giả xin đưa ra một số kiến nghị mong đợi nhà Trường có thêm sự quan tâm hơn nữa đến việc bảo  
vệ quyền lợi của viên chức và người lao động nói chung và viên chức và người lao động nữ nói riêng một  
số kiến nghị như sau:  
Thứ 1, Về việc làm, đào tạo lao động. Như đã phân tích, hiện nay về cơ hội thăng chức tại Trường Đại  
học Công nghiệp TPHCM chưa thật sự bình đẳng trong việc tạo điều kiện cho người lao động nữ. Do đó,  
để đảm bảo tốt hơn quyền bình đẳng giữa viên chức và người lao động nam và nữ trong các cơ hội thăng  
tiến trong công việc thì nhà Trường nên có sự cân bằng trong việc tạo điều kiện cho viên chức và người  
lao động là nữ có thể giữ các chức vụ chủ chốt trong mỗi đơn vị. Việc tạo điều kiện như vậy sẽ làm cho  
viên chức và người lao động nữ sẽ càng có nhiều động lực, phấn đấu để cống hiến trong công tác. Qua đó  
cũng góp phần làm cho các quy định của pháp luật lao động được thực thi một cách hiệu quả.  
Thứ 2, Về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi. Để bảo vệ quyền lợi của người lao động nữ, pháp luật  
lao động đã có những quy định rất chặt chẽ và cụ thể. Tuy nhiên, việc đảm bảo quyền lợi cho viên chức  
và người lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút; trong thời gian nuôi con  
dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc và vẫn được hưởng đủ tiền  
lương theo hợp đồng lao động hiện nay vẫn chưa được chú trọng và thực thi hiệu quả trong các doanh  
nghiệp nói chung và tại Trường Đại học Công Nghiệp TPHCM nói riêng. Do đó, tác giả kiến nghị nhà  
Trường nên có những quy định riêng biệt về thời gian nghỉ ngơi hợp lý cho những đối tượng đặc thù này.  
Cụ thể, việc đảm bảo thời gian nghỉ như thế nào nên quy định cụ thể trong quy chế nội bộ của Nhà trường  
để có thể được áp dụng một cách thống nhất.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
48 BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM – VÀ THỰC TIỄN  
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM  
Thứ 3, Về điều kiện tại nơi làm việc. Hiện nay, việc quan tâm đến sức khoẻ của người lao động luôn được  
đặt lên hàng đầu, chỉ khi nào họ có sức khoẻ tốt, có thời gian nghỉ ngơi tái tạo sức lao động để có thể cống  
hiến hết mình trong công việc. Để tạo các điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động tại nơi làm việc tại  
Trường Đại học Công nghiệp TPHCM tác giả kiến nghị nhà trường cho xây dựng một số các phòng tắm,  
phòng vệ sinh có đủ trang thiết bị dành cho người lao động nữ để có thể đảm bảo sức khoẻ, tinh thần và  
hiệu suất trong công việc. Đặc biệt là xây dựng phòng nghỉ trưa cho người lao động - xuất phát từ đặc thù  
của ngành giáo dục, thời gian làm việc của viên chức và người lao động trong các đơn vị sự nghiệp có  
những đặc thù nhất định, việc xây dựng các phòng nghỉ trưa là một trong những yêu cầu cấp thiết để bảo  
vệ tốt nhất sức khoẻ của viên chức và người lao động nữ. Bên cạnh đó, tác giả cũng mong Nhà trường có  
những quan tâm đến việc hỗ trợ, xây dựng nhà trẻ mẫu giáo, hoặc đóng góp một phần kinh phí cho viên  
chức, người lao động nữ có con nhỏ để gửi trẻ giúp họ yên tâm trong công tác, và làm việc có hiệu quả và  
năng suất hơn.  
Thứ 4, Đối với người lao động nữ sinh con. Hiện nay, theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội, khi người  
lao động nữ sinh con thì thời gian được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng và nếu sinh con đôi trở  
lên thì người lao động được nghỉ thêm 01 tháng và được hưởng chế độ thai sản. Như vậy, sau khi hết thời  
gian nghỉ thai sản, viên chức và lao động nữ đã quay trở lại công việc. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho  
nhóm đối tượng này, vừa có thể chăm sóc con nhỏ, vừa đảm bảo hoàn thành công việc, tác giả cho rằng  
các doanh nghiệp nói chung và Trường Đại học Công nghiệp nói riêng nên lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ  
phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc, nhu cầu của viên chức và lao động nữ và khả năng của  
doanh nghiệp, nhà Trường; tạo điều kiện để viên chức và người lao động nữ nuôi con từ 06 tháng tuổi trở  
lên vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc.  
3. KẾT LUẬN  
Việc bảo vệ quyền lợi của người lao động nữ là một trong những chính sách quan trọng của Nhà nước  
Việt Nam cũng như thế giới. Hiện nay, quyền của người lao động nữ nói chung, quyền của các viên chức  
và người lao động nữ nói riêng tại Trường Đại học Công nghiệp TPHCM ngày càng hoàn thiện về mọi  
mặt đem lại những hiệu quả tích cực, tiến bộ, toàn diện – Từ đó, làm cho năng suất công việc ngày càng  
tăng lên, đem lại sự phát triển cho nhà trường. Qua bài viết tác giả đã nêu một số các quy định của pháp  
Luật lao động Việt Nam về bảo vệ quyền của người lao động nữ và liên hệ tại Trường Đại học Công  
Nghiệp TPHCM thông qua việc đưa ra một số kiến nghị để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của nhóm người lao  
động đặc thù này như kiến nghị về việc đảm bảo quyền được học tập, thăng chức ngang bằng với nam  
giới; kiến nghị về đảm bảo thời gian nghỉ ngơi trong thời gian hành kinh hoặc nuôi con dưới 12 tháng  
tuổi; kiến nghị về điều kiện cơ sở vật chất tại nơi làm việc và cơ sở đối với viên chức và người lao động  
nữ đang nuôi con nhỏ. Như đã nói, mặc dù Trường Đại học Công nghiệp TPHCM là một đơn vị sự  
nghiệp và quan hệ lao động chịu sự điều chỉnh của Luật viên chức nhưng một số quy định của pháp luật  
lao động cũng được áp dụng cho cán bộ, viên chức. Do đó, việc tuân theo pháp luật lao động cũng là trách  
nhiệm của nhà trường, viên chức và người lao động. Bài viết mới dừng lại ở khía cạnh bảo vệ quyền lợi  
của viên chức và người lao động nữ, sẽ là tài liệu tham khảo cho các tác giả sau tiếp tục nghiên cứu và tìm  
ra các giải pháp khác bảo vệ quyền lợi của viên chức và người lao động nói chung và viên chức, người lao  
động nữ nói riêng  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Hiến pháp 2013 của nước Cộng hoà CHCN Việt Nam  
[2] Bộ luật lao động năm 2012, được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 18/6/2012, tại kỳ họp thứ 3 theo Luật  
10/2012/QH13.  
[3] Bộ luật lao động năm 2019, được Quốc hội khoá XIV thông qua ngày 20/11/2019, tại kỳ họp thứ 8 theo Luật  
45/2019/QH14  
[4] Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948)  
[5] Luật bình đẳng giới năm 2006  
[6] Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM – VÀ THỰC TIỄN 49  
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM  
[7] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo Trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2010  
[8] Trường Đại học Luật TP.HCM, Giáo Trình Luật Lao động, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, 2015  
[9] TS. Bùi Thị Kim Ngân (2013), “Một số ý kiến về lao động nữ theo BLLĐ năm 2012”, Tạp chꢀ Nhꢁ nưꢂc vꢁ  
phꢃp luật  
[10] TS. Nguyễn Hiền Phương (2014), “Bảo vệ quyền làm mẹ trong pháp luật lao động và bảo hiểm xã hội”, Tạp chꢀ  
luật học.  
[11] Quy chế chi tiêu nội Trường ĐH Công nghiệp TPHCM năm 2020.  
[12] V.I Lê –nin, Toàn tập, tr.38  
Ngày nhận bài: 15/12/2019  
Ngày chấp nhận đăng: 24/07/2020  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
pdf 7 trang baolam 13200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo vệ quyền của lao động nữ theo pháp luật lao động Việt Nam - và thực tiễn tại trường Đại học Công nghiệp TPHCM", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_ve_quyen_cua_lao_dong_nu_theo_phap_luat_lao_dong_viet_na.pdf