Tìm hiểu một số lý thuyết liên quan đến mô hình chấp nhận công nghệ

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
TÌM HIỂU MỘT SỐ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN  
MÔ HÌNH CHẤP NHẬN CÔNG NGHỆ  
y Trịnh Thị Hợp(*)  
Tóm tắt  
Bài nghiên cứu này tác giả tiến hành tóm tắt ngắn gọn các lý thuyết liên quan đến mô hình chấp  
nhận công nghệ, trong đó chủ yếu là làm rõ các mô hình nghiên cứu. Các lý thuyết được xem xét bao  
gồm: Lý thuyết Lan truyền sự đổi mới (IDT-Rogers, 1983), Lý thuyết Chấp nhận công nghệ (TAM- Davis,  
1989; TAM 2 - Venkatesh & Davis, 2000; TAM 3 - Venkatesh và Bala, 2008) và Lý thuyết Hợp nhất và  
chấp nhận sử dụng công nghệ (UTAUT - Venkatesh, Morris và Davis, 2003). Ngoài ra tác giả còn đưa  
ra sự so sánh những khác biệt cơ bản giữa các mô hình, đặc biệt là tìm ra sự khác biệt trong phạm vi  
áp dụng chúng vào nghiên cứu thực nghiệm.  
Từ khóa: Lý thuyết, mô hình, chấp nhận công nghệ.  
1. Đặt vấn đề  
nghệ mới vào thực tế hay không. Tuy nhiên, để việc  
Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự kiểm nghiệm thực tế có độ chính xác cao thì việc  
chấp nhận một mô hình công nghệ mới và dự đoán lựa chọn mô hình khuôn mẫu lý thuyết phù hợp là  
được sự chấp nhận hay từ chối của thị trường là việc rất quan trọng. Từ những lý do trên việc tìm hiểu  
về các mô hình lý thuyết chấp nhận công nghệ là  
việc làm cần thiết.  
2. Tóm tắt nội dung các lý thuyết  
2.1. Lý thuyết lan truyền sự đổi mới (IDT)  
của Everett Rogers  
Everett Rogers, một giáo sư xã hội học nông  
thôn, xuất bản tác phẩm “Diffusion of Innovations”  
lần đầu năm 1962 và tiếp tục tái bản có bổ sung lần  
2 vào năm 1971 và lần 3 năm 1983. Rogers (1983)  
đã tổng hợp hơn 3000 nghiên cứu trước đây về sự  
lan truyền và chấp nhận đổi mới [2]. Sử dụng tổng  
hợp của mình, ông đã xây dựng nên lý thuyết về  
sự lan truyền đổi mới, cuốn sách này của Rogers là  
một trong những cuốn sách thường được trích dẫn  
mỗi khi sử dụng nghiên cứu lan truyền sự đổi mới.  
2.1.1. Quá trình quyết định đổi mới  
vô cùng cần thiết đối với sự thành công hay thất bại  
của một hệ thống thông tin. Nhu cầu thực tế đó dẫn  
đến việc nhiều chuyên gia ở nhiều nước trên thế  
giới đã dày công nghiên cứu và xây dựng các mô  
hình lý thuyết chấp nhận công nghệ. Có rất nhiều  
mô hình chấp nhận công nghệ đã được thiết lập  
và được đưa vào thực tế kiểm nghiệm. Tuy nhiên,  
nghiên cứu này tập trung làm rõ các mô hình chấp  
nhận công nghệ được cho là phổ biến nhất thời kỳ  
đương đại: Mô hình “Lý thuyết lan truyền đổi mới”  
(IDT - Rogers, 1983), Mô hình “Chấp nhận công  
nghệ” (TAM - Davis, 1989; TAM 2 - Venkatesh &  
Davis, 2000; TAM 3 - Venkatesh và Bala, 2008) và  
cuối cùng là Mô hình “Lý thuyết hợp nhất và chấp  
nhận sử dụng công nghệ” (UTAUT - Venkatesh,  
Morris,và Davis, 2003) [3].  
Rogers định nghĩa “quá trình lan truyền đổi  
mới” là “là quá trình mà theo đó một sự đổi mới  
được truyền đạt thông qua các kênh nhất định theo  
thời gian giữa các thành viên của một hệ thống xã  
hội” [6, tr. 5].  
Các học giả nghiên cứu sự lan truyền từ lâu  
đã nhận ra rằng quyết định của một cá nhân về một  
sự đổi mới không phải là một hành động tức thời  
mà là một quá trình xảy ra theo thời gian và bao  
gồm một loạt các hành động. Roger (1983) đưa ra  
quy trình quyết định đổi mới là một quá trình bao  
gồm 5 giai đoạn đó là: một cá nhân (hoặc đơn vị  
ra quyết định) (1) đi từ kiến thức đầu tiên về một  
sự đổi mới, (2) để hình thành một thái độ đối với  
Nhìn chung các mô hình chấp nhận công nghệ  
đều hướng đến mục tiêu chính là cung cấp một  
khung mẫu lý thuyết cho người dùng sử dụng để  
kiểm chứng cho một mô hình công nghệ mới trước  
khi đưa vào áp dụng thực tế. Nhờ đó có thể thấy  
được các yếu tố tác động hay không tác động, tác  
động nhiều hay ít đến sự thành công hay thất bại  
của mô hình, từ đó có các giải pháp gây ảnh hưởng  
giúp nâng cao khả năng thành công của mô hình  
công nghệ thực tế. Cũng nhờ đó người dùng có thể  
đánh giá về tính khả thi của nó và đưa ra quyết định  
phù hợp trong việc có nên triển khai mô hình công  
(*) Trường Đại học An Giang.  
114  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
sự đổi mới, (3) từ đó đưa ra quyết định chấp nhận  
hoặc từ chối thực hiện ý tưởng mới, (4) nếu chấp  
nhận sẽ đi đến việc triển khai áp dụng và (5) cuối  
cùng là xác nhận quyết định này.  
2.1.2. Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ  
lệ chấp nhận của sự đổi mới  
Khả năng quan sát: mức độ mà kết quả của  
một sự đổi mới được mô tả hoặc truyền đạt cho  
người khác được biết. Kết quả của một số ý tưởng  
được dễ dàng quan sát và truyền đạt cho người  
khác, trong khi một số lại rất khó mô tả cho người  
khác [6, tr. 240].  
Trong năm thuộc tính trên, Roger đề xuất “Độ  
phức tạp” có ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ chấp nhận  
sự đổi mới, các thuộc tính còn lại có ảnh hưởng  
tích cực đến tỷ lệ chấp nhận sự đổi mới.  
Biến thứ 2 - Loại quyết định đổi mới: Loại  
quyết định đổi mới có liên quan đến tỷ lệ chấp  
nhận sự đổi mới. Tác giả hy vọng rằng các loại  
đổi mới áp dụng cho cá nhân sẽ được chấp nhận  
nhanh hơn đối với các loại đổi mới áp dụng cho tổ  
chức. Càng nhiều người tham gia vào việc đưa ra  
quyết định đổi mới, tỷ lệ chấp nhận đạt được càng  
chậm [6, tr. 233].  
Biến thứ 3 - Kênh truyền thông: Truyền  
thông là quá trình mà những người tham gia tạo ra  
và chia sẻ thông tin với nhau để đạt được một sự  
hiểu biết lẫn nhau. Kênh truyền thông là cách thức  
hiệu quả hơn cả trong việc tạo ra kiến thức về đổi  
mới, kênh truyền thông sẽ tác động đến việc hình  
thành và thay đổi thái độ đối với một ý tưởng mới.  
Nếu việc áp dụng kênh truyền thông phù hợp với  
các thuộc tính của sự đổi mới thì sẽ cho tỷ lệ chấp  
nhận nhanh hơn và ngược lại [6, tr. 233].  
“Tỷ lệ chấp nhận sự đổi mới là tốc độ tương  
đối mà một sự đổi mới được thông qua bởi các thành  
viên của một hệ thống xã hội. Nó thường được đo  
bằng số lượng cá nhân chấp nhận sự đổi mới trong  
một khoảng thời gian nhất định” [6, tr. 232].  
Tỷ lệ chấp nhận sự đổi mới của người dùng  
bị ảnh hưởng bởi các yếu tố mà Roger đã đề xuất  
được mô tả như hình 1. Tác giả cho rằng một loại  
biến quan trọng trong việc giải thích tỷ lệ chấp  
nhận một sự đổi mới là các thuộc tính cảm nhận  
bao gồm 5 thuộc tính: lợi thế tương đối, tính tương  
thích, tính phức tạp, khả năng thử nghiệm và khả  
năng quan sát. Ngoài các thuộc tính cảm nhận của  
một sự đổi mới còn có các biến như (1) loại quyết  
định đổi mới, (2) bản chất của kênh giao tiếp,  
(3) bản chất của hệ thống xã hội, và (4) mức độ nỗ  
lực xúc tiến của các tác nhân thay đổi, ảnh hưởng  
đến tỷ lệ chấp nhận của sự đổi mới.  
Caùc thuoäc tính caûm  
Keânh truyeàn thoâng  
nhaän söï ñoåi môùi  
(Lôïi ích lieân quan, khaû naêng  
töông thích, ñoä phöùc taïp, tính  
khaû thi, khaû naêng quan saùt)  
Tyû leä  
chaáp nhaän söï  
ñoåi môùi  
Baûn chaát cuûa heä thoáng  
xaõ hoäi  
Biến thứ 4 - Bản chất của hệ thống xã hội:  
Hiệu ứng lan truyền là mức độ ảnh hưởng tích lũy  
tăng lên khi một cá nhân chấp nhận hoặc từ chối  
một sự đổi mới, kết quả từ việc kích hoạt các mạng  
truyền thông về một sự đổi mới trong một hệ thống  
xã hội. Hiệu ứng lan truyền lớn hơn trong một hệ  
thống xã hội với mức độ liên kết cao hơn (mức  
độ mà các đơn vị trong một hệ thống xã hội được  
liên kết bởi các mạng lưới giữa các cá nhân). Mức  
Noã löïc xuùc tieán caùc  
taùc nhaân thay ñoåi  
Loaïi quyeát ñònh ñoåi môùi  
Hình 1. Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ  
chấp nhận sự đổi mới (Rogers, 1983)  
Mô tả các biến trong mô hình:  
Biếnthứnhất-Cácthuộctínhcủasựđổimới:  
Lợi ích liên quan: mức độ mà một sự đổi mới  
được coi là tốt hơn so với các ý tưởng trước đó [6,  
tr. 238].  
Khả năng tương thích: mức độ mà một sự đổi độ liên kết trong một hệ thống xã hội có liên quan  
tích cực đến tỷ lệ chấp nhận sự đổi mới [6, tr. 234].  
Biến thứ 5 - Mức độ nỗ lực xúc tiến các tác  
nhân thay đổi: Cuối cùng, như được đề xuất trong  
hình, tỷ lệ chấp nhận của sự đổi mới bị ảnh hưởng  
bởi mức độ nỗ lực xúc tiến của các tác nhân thay  
đổi. Tuy nhiên, các mối quan hệ giữa tỷ lệ chấp  
nhận và mức độ nỗ lực xúc tiến các tác nhân thay  
đổi thường không trực tiếp và tuyến tính [6, tr. 234].  
Tóm lại, lý thuyết lan truyền sự đổi mới cung  
mới được coi là phù hợp với các giá trị hiện tại,  
kinh nghiệm trong quá khứ và nhu cầu của những  
người chấp nhận tiềm năng [6, tr. 238].  
Độ phức tạp: mức độ mà một sự đổi mới được  
coi là tương đối khó khăn để hiểu và sử dụng [6,  
tr. 238].  
Tính khả thi: mức độ mà một sự đổi mới có  
thể được thử nghiệm trong một điều kiện/ cơ sở  
nhất định [6, tr. 239].  
115  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
cấp các khái niệm phát triển tốt và một lượng lớn để hình thành các nhận thức về tính hữu ích của hệ  
các kết quả thực nghiệm áp dụng cho nghiên cứu  
đánh giá, chấp nhận và áp dụng sự đổi mới. Lý  
thuyết lan truyền đổi mới cung cấp các công cụ,  
cả định lượng và định tính, để đánh giá khả năng  
lan truyền sự đổi mới, và bổ sung, xác định nhiều  
yếu tố tạo điều kiện hoặc cản trở việc áp dụng và  
thực hiện sự đổi mới [2].  
thống [5]. Vì vậy Venkatesh và Davis (2000) phát  
triển TAM2 bằng cách thêm các yếu tố bên ngoài  
mô hình chưa chỉ ra ở nghiên cứu trước gồm các  
quy trình xã hội (tiêu chuẩn chủ quan, sự tự nguyện,  
hình ảnh); quy trình công cụ nhận thức (mức độ  
liên quan đến công việc, chất lượng đầu ra, kết quả  
thể hiện, cảm nhận dễ sử dụng). Nghiên cứu được  
thực hiện trên 4 tổ chức (Công ty sản xuất, công ty  
tài chính, công ty dịch vụ, ngân hàng) tại 3 điểm  
thời gian trước triển khai, sau một tháng triển khai  
và sau ba tháng triển khai, trong đó 2 tổ chức tự  
nguyện sử dụng hệ thống công nghệ mới, 2 tổ chức  
bắt buộc sử dụng hệ thống mới. Kết quả cũng cho  
thấy PU là một yếu tố quyết định mạnh mẽ của ý  
định sử dụng, và PEU là một yếu tố quyết định quan  
trọng thứ yếu. Ngoài ra các biến phụ thuộc quy trình  
xã hội và quy trình nhận thức đều có tác động trực  
tiếp và tích cực đến PU và ý định sử dụng. Mức độ  
tác động đối với trường hợp bắt buộc sử dụng hệ  
thống cao hơn so với trường hợp tự nguyện, riêng  
tiêu chuẩn chủ quan chỉ có tác động trong trường  
hợp bắt buộc sử dụng mà không ảnh hưởng trong  
trường hợp tự nguyện sử dụng.  
2.2. Lý thuyết chấp nhận công nghệ  
Năm 1989, một sự kế thừa của lý thuyết hành  
động hợp lý Davis, Bogozzi and Warshaw thiết lập  
mô hình TAM (hình 2). Mục đích của mô hình là để  
giải thích các yếu tố quyết định chung của việc chấp  
nhận máy tính dẫn đến giải thích hành vi của người  
dùng công nghệ máy tính cuối cùng trên một phạm  
vi rộng lớn [5]. Mô hình TAM cơ bản thử nghiệm  
hai niềm tin cá nhân quan trọng nhất về việc chấp  
nhận sử dụng công nghệ thông tin (CNTT): “nhận  
thức tính hữu ích” (PU) và “nhận thức tính dễ sử  
dụng” (PEU). PU được định nghĩa là "mức độ mà  
một người tin rằng sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ  
nâng cao hiệu quả công việc của mình” [1, tr. 985].  
PEU được định nghĩa là “mức độ mà một người tin  
rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không cần  
nỗ lực” [1, tr. 985]. Hai niềm tin hành vi này được  
cảm nhận, sau đó dẫn đến ý định hành vi cá nhân  
và hành vi thực tế. Mô hình đã được thử nghiệm  
trên 107 người dùng máy tính sau 2 khoảng thời  
gian sau khi giới thiệu 1 giờ và sau 14 tuần. Kết  
quả cho thấy PU và PEU có tác động cùng chiều  
lên ý định sử dụng của người dùng máy tính, trong  
đó PU là một yếu tố quyết định chủ yếu và PEU là  
yếu tố quyết định thứ yếu, thái độ chỉ có một phần  
trung gian tác động vào ý định sử dụng.  
Kinh nghiệm  
Tự nguyện  
Tiêu chuẩn  
chủ quan  
Hình ảnh  
Cảm nhận  
tính hữu ích  
Chất lượng  
đầu ra  
Hành vi  
sử dụng  
Ý định  
sử dụng  
Mức độ liên quan  
công việc  
Cảm nhận  
dễ sử dụng  
Kết quả thể hiện  
Hình 3. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM2)  
Cảm nhận tính  
hữu ích  
(Venkatesh and Davis, 2000)  
Venkatesh và Bala (2008) kết hợp TAM2 và  
các yếu tố quyết định nhận thức dễ sử dụng để  
phát triển một mô hình tích hợp chấp nhận công  
nghệ được gọi là TAM3 [9]. Các tác giả đã phát  
triển TAM3 bằng việc bổ sung thêm các yếu tố ảnh  
hưởng đến PEU (tính công hiệu của máy tính, cảm  
nhận sự kiểm soát bên ngoài, sự lo ngại về máy  
tính, sự hứng thú về máy tính, cảm nhận sự thoải  
mái, khả năng sử dụng khách quan). TAM3 đặt ra  
ba mối quan hệ mới được kiểm duyệt bởi biến kinh  
nghiệm: (i) PEU và PU; (ii) sự lo ngại về máy tính  
và PEU; và (iii) PEU và ý định sử dụng. Nghiên cứu  
Biến bên ngoài  
Thái độ đối với  
việc sử dụng  
Ý định  
sử dụng  
Sử dụng hệ thống  
thực tế  
Cảm nhận  
dễ sử dụng  
Hình 2. Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Davis,  
Bogozzi and Warshaw, 1989)  
Năm 2000, Venkatesh và Davis đã phát triển  
TAM và được gọi rộng rãi là TAM2 như hình 3.  
TAM2 nhận định rằng đánh giá tinh thần của người  
dùng kết hợp giữa việc thực hiện mục tiêu trong  
công việc và kết quả của việc thực hiện các nhiệm  
vụ công việc bằng cách sử dụng hệ thống là cơ sở  
116  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
cũng được thực hiện bằng cách triển khai áp dụng  
hệ thống CNTT mới trên 4 tổ chức tương tự TAM2,  
dữ liệu được thu thập trong 5 tháng. Kết quả cho  
thấy các mối quan hệ giữa các biến phụ tác động  
lên PU là phù hợp với TAM2. Bên cạnh đó, nghiên  
cứu cho thấy (i) ảnh hưởng của PEU lên PU bị kiểm  
duyệt bởi biến kinh nghiệm, với kinh nghiệm ngày  
càng tăng thì hiệu ứng ảnh hưởng cành mạnh; (ii)  
ảnh hưởng của sự lo ngại về máy tính lên PEU bị  
kiểm duyệt bởi kinh nghiệm, khi kinh nghiệm càng  
tăng thì mức độ ảnh hưởng càng giảm; (iii) sự ảnh  
hưởng của PEU lên ý định sử dụng bị kiểm duyệt  
bởi kinh nghiệm, kinh nghiệm càng tăng thì mức độ  
ảnh hưởng càng giảm. Mô hình nghiên cứu TAM3  
đã được đưa vào thử nghiệm trong thực tế trong  
việc triển khai sử dụng CNTT [5].  
Tóm lại, các TAM thường bắt nguồn để áp  
dụng cho bất kỳ sự nghiên cứu nào về sự tương tác  
của con người với máy tính nói riêng và CNTT nói  
chung. Các TAM khẳng định rằng hai cấu trúc nổi  
bật là PU và PEU là tiền đề quan trọng của khuynh  
hướng hành vi sử dụng CNTT (Davis, Bogozzi and  
Warshaw, 1989). Nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành  
nghiên cứu thực nghiệm để kiểm tra khả năng giải  
thích của các TAM, mà những kết quả là tương  
đối nhất quán về hành vi chấp nhận CNTT của  
người dùng, ví dụ như: Igbaria, Zinatelli, Cragg &  
Cavaye, 1997; Venkatesh & Davis, 2000; Horton,  
Buck, Waterson & Clegg, 2001 [4].  
Hiệu quả mong đợi  
Nỗ lực mong đợi  
Ý định  
Hành vi sử dụng  
hành vi  
Ảnh hưởng của xã hội  
Các điều kiện thuận tiện  
Giới tính  
Tự nguyện sử dụng  
Độ tuổi  
Kinh nghiệm  
Hình 4. Mô hình Lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và  
sử dụng công nghệ UTAUT (Venkatesh, Morris and  
Davis, 2003)  
Mô hình đã được đưa vào kiểm nghiệm trên  
cả dữ liệu gốc và dữ liệu mới và đều cho kết quả  
khả năng giải thích cao hơn 8 mô hình đơn lẻ. Các  
tác giả đã kỳ vọng rằng có 3 yếu tố có tác động  
trực tiếp lên ý định hành vi (hiệu quả mong đợi,  
nổ lực mong đợi, ảnh hưởng của xã hội) và 2 yếu  
tố tác động trực tiếp lên hành vi sử dụng thực tế  
(các điều kiện thuận tiện và ý định hành vi). Bên  
cạnh đó, các yếu tố trung gian: Giới tính, độ tuổi,  
kinh nghiệm và tự nguyện sử dụng tác động gián  
tiếp đến ý định hành vi và hành vi sử dụng thông  
qua các nhân tố chính.  
Mô tả các biến chính trong mô hình:  
Hiệu quả mong đợi: được định nghĩa là mức  
độ mà một cá nhân tin rằng bằng cách sử dụng hệ  
thống sẽ giúp người dùng đạt được hiệu quả công  
việc cao hơn [10, tr. 447].  
Nỗ lực mong đợi: được định nghĩa là mức  
độ dễ dàng kết hợp với việc sử dụng hệ thống  
[10, tr. 450].  
2.3. Lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử  
dụng công nghệ (UTAUT)  
Ảnh hưởng xã hội: Ảnh hưởng xã hội được  
Mô hình Lý thuyết UTAUT được xây dựng định nghĩa là mức độ mà cá nhân nhận thấy rằng  
bởi Viswanath Venkatesh (2003) và các cộng sự:  
Michael G. Moris, Gordon B.Davis, và Fred D.  
Davis dựa trên tám mô hình/lý thuyết thành phần,  
đó là: Thuyết hành động hợp lý (TRA), Thuyết hành  
vi dự định (TPB), Mô hình chấp nhận công nghệ  
(TAM, TAM2), Mô hình động cơ thúc đẩy (MM),  
Mô hình kết hợp (TAM&TPB), Mô hình sử dụng  
máy tính cá nhân (MPCU), Thuyết lan truyền sự  
đổi mới (IDT) và Thuyết nhận thức xã hội (SCT).  
Các tác giả tiến hành thử nghiệm trên 4 tổ  
chức trong thời gian 6 tháng, sau khi xem xét và  
thực nghiệm so sánh tám mô hình cạnh tranh với  
32 yếu tố, UTAUT đã được thiết lập bằng việc lựa  
chọn và tích hợp các yếu tố trên 8 mô hình thành  
phần trên (hình 4).  
những người quan trọng khác tin rằng họ nên sử  
dụng hệ thống mới [10, tr. 451].  
Các điều kiện thuận tiện: được định nghĩa là  
mức độ mà một cá nhân tin rằng một cơ sở hạ tầng  
kỹ thuật và tổ chức tồn tại để hỗ trợ sử dụng của  
hệ thống [10, tr. 453].  
Kết quả nghiên cứu cho thấy: (i)“Hiệu suất  
mong đợi” dường như là yếu tố ảnh hưởng lên ý  
định hành vi trong hầu hết các tình huống. Mức  
độ ảnh hưởng thay đổi theo giới tính và độ tuổi,  
nó mạnh hơn đối với nam giới và công nhân trẻ;  
(ii) Ảnh hưởng của “Nỗ lực mong đợi” lên ý định  
hành vi cũng được kiểm duyệt theo giới tính và độ  
tuổi, nó mạnh hơn đối với phụ nữ và công nhân lớn  
tuổi, và những tác động đó giảm theo kinh nghiệm;  
117  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
(iii) Mối quan hệ giữa “Ảnh hưởng xã hội” lên ý thử nghiệm cho thấy khả năng giải thích của mô  
định hành vi chịu sự kiểm duyệt của cả bốn biến hình này cao hơn các mô hình thành phần trong  
(giới tính, độ tuổi, kinh nghiệm và tự nguyện), mối đó có các TAM.  
quan hệ sẽ không có ý nghĩa nếu không có biến  
TAM2 là mở rộng của TAM, TAM3 và  
kiểm duyệt đưa vào; (iv) Cuối cùng, “điều kiện UTAUT là mở rộng của TAM2, tuy nhiên như  
thuận lợi” ảnh hưởng lên hành vi sử dụng chỉ có vậy không có nghĩa là TAM bị bác bỏ và TAM2,  
ý nghĩa khi được kiểm tra kết hợp với những tác TAM3, UTAUT là hoàn hảo. TAM là mô hình  
động điều tiết của tuổi tác và kinh nghiệm, chúng đơn giản nên sẽ dễ áp dụng hơn vào thực nghiệm,  
chỉ quan trọng đối với những công nhân lớn tuổi TAM2, TAM3, UTAUT mô hình chứa nhiều yếu  
trong các giai đoạn sau của trải nghiệm.  
tố tác động hơn nên sẽ phải mất thời gian, chi phí  
Tóm lại, UTAUT cung cấp một công cụ hữu để xem xét xác định lại mô hình cho phù hợp với  
ích cho các nhà quản lý để đánh giá khả năng thành điều kiện thực tế mỗi nghiên cứu thực nghiệm.  
công của việc giới thiệu công nghệ mới và giúp Kriponant, đã chỉ ra TAM là dễ áp dụng và phân  
họ hiểu được những yếu tố tác động đến việc chấp tích trên các mô hình nghiên cứu khác nhau [7].  
nhận hoặc từ chối sử dụng một cộng nghệ mới. Trên Venkatesh & cộng sự, cũng đã chỉ ra hạn chế của  
cơ sở đó họ chủ động thiết kế các can thiệp (bao UTAUT là việc lựa chọn biến trong mô hình bằng  
gồm đào tạo, tiếp thị,…) nhằm vào người sử dụng, cách chọn lọc từ các mô hình thành phần, do vậy  
đặc biệt là những đối tượng ngại thay đổi [10].  
sẽ có những biến từ một số mô hình không được  
3. So sánh về mô hình lý thuyết chấp nhận đại diện trong một số cấu trúc cốt lõi. Do vậy các  
công nghệ  
So sánh TAM, TAM2, TAM3 và UTAUT  
tác giả khuyên các nghiên cứu trong tương lai khi  
sử dụng UTAUT nên xác định rõ mục tiêu, quy  
Mô hình TAM đưa ra 2 yếu tố PU và PEU mô nghiên cứu, sau đó xác lập lại mô hình cho  
quyết định ảnh hưởng thái độ người dùng mà chưa phù hợp với từng nghiên cứu cụ thể.  
xét đến các yếu tố bên ngoài nên bị hạn chế về khả  
năng giải thích. TAM 2 khắc phục bằng cách giữ  
So sánh TAM, IDT và UTAUT  
Xét về nguồn gốc hình thành thì TAM hình  
nguyên TAM và "bổ sung các yếu tố quyết định thành từ lĩnh vực hệ thống thông tin và ứng dụng  
đến PU và ý định sử dụng của TAM, và để hiểu tác công nghệ (Davis, 1986). Các lĩnh vực thuộc nguồn  
dụng của các yếu tố quyết định này thay đổi theo gốc của IDT là nhân chủng học, giáo dục, xã hội  
kinh nghiệm của người dùng theo thời gian với hệ học, truyền thông và tiếp thị (Katz & cộng sự,  
thống đích" [9, tr. 187]. Hạn chế của TAM 2 chỉ 1963; Dingfelder & Mandell, 2011; Shumway, &  
tập trung vào các yếu tố quyết định đến PU và ý Wandschneider, 2010; Katz & cộng sự, 1963). Đối  
định sử dụng của TAM, nên TAM 3 của Venkatesh với UTAUT thì được phát triển trong lĩnh vực công  
và Bala (2008) đã thêm các yếu tố quyết định đến nghệ thông tin [3].  
PEU và ý định sử dụng của TAM. Do đó, TAM3  
Xét về ứng dụng, mô hình TAM và UTAUT  
đã trình bày một mạng lưới danh nghĩa hoàn chỉnh hầu hết được ứng dụng cho các nghiên cứu liên  
hơn TAM và TAM 2 về các yếu tố quyết định việc quan đến máy tính, CNTT. Riêng IDT áp dụng  
áp dụng hệ thống CNTT của người dùng.  
không chỉ CNTT mà nhiều lĩnh vực khác như:  
UTAUT là một mô hình tích hợp các yếu nghiên cứu sức khỏe tâm thần và hệ thống giáo dục  
tố của 8 mô hình thành phần trong đó có các (Dingfelder & Mandell, 2011); trong vấn đề môi  
TAM. Nó ưu điểm hơn các TAM là mô hình hình trường quản lý chất thải (Bishop & cộng sự, 2010);  
thành từ một quy trình thử nghiệm bài bản bằng trong xã hội học, nhân loại học (Katz & cộng sự,  
việc đưa 8 mô hình thành phần vào thực tế kiểm 1963). Bên cạnh đó các nhà nghiên cứu như Katz  
nghiệm trên nhiều tổ chức, chọn ra các yếu tố có & cộng sự, 1963; Roger, 1995 đã chỉ ra IDT phù  
ảnh hưởng mạnh nhất đến hành vi sử dụng của hợp với nghiên cứu ứng dụng dùng cho cả tổ chức  
người dùng. Sau khi hình thành mô hình lại tiếp cũng như cá nhân trong khi TAM và UTAUT phù  
tục đưa vào thử nghiệm trên dữ liệu cũ và mới, hợp hơn với cấp độ cá nhân [3].  
quá trình này các TAM không có. Và kết quả  
Và câu hỏi đặt ra: Liệu có mô hình nào là tối  
118  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
ưu đo lường được sự chấp nhận chính xác nhất đặc hiệu và khả năng giải thích [4]. Nghiên cứu của  
không? Tuy nhiên, không có dụng cụ toàn diện Lee, Hsieh &Hsu, 2011 cũng đã đưa ra dẫn chứng  
trong mọi hoàn cảnh để đo lường sự đa dạng của nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy TAM và  
những nhận thức. Việc vận dụng một mô hình IDT cũng có một số cấu trúc và bổ sung cho nhau  
nghiên cứu chấp nhận công nghệ vào thực tế còn để kiểm tra việc áp dụng công nghệ, sự kết hợp  
cần tùy thuộc vào nhiều yếu tố: không gian, thời của hai lý thuyết này có thể cung cấp một mô hình  
gian, đối tượng… mà người nghiên cứu lựa chọn thậm chí còn mạnh hơn cả từng mô hình riêng lẻ.  
mô hình nào cho phù hợp. Do vậy, các nghiên cứu Các nghiên cứu trước tích hợp hai lý thuyết này,  
có thể lựa chọn một mô hình đầy đủ hoặc thêm bớt cung cấp kết quả tốt như Sigala, Airey, Jones, &  
các yếu tố trong mô hình gốc, hay có thể kết hợp Lockwood, 2000; Chen et al, 2002 [4]. Trong một  
nhiều mô hình cùng một lúc để phù hợp với điều nghiên cứu khác về việc áp dụng CNTT vào lĩnh  
kiện thực tế.  
vực y tế Khan và Woosley, 2011 đã đưa ra nhiều  
Đơn cử như nhiều nghiên cứu thực nghiệm bằng chứng chứng minh ứng dụng mô hình UTAUT  
(Carter & Be'langer, 2005; LEGRIS, Ingham, & mới là phù hợp nhất mà lại không cần phải tích hợp  
Colerette, 2003) khuyên rằng nên tích hợp TAM với với mô hình nào khác.  
các lý thuyết khác (IDT, hoặc DeLone & McLean  
Để việc so sánh trở nên dễ dàng và hữu ích  
là mô hình thành công) để đối phó với những thay hơn với người dùng, nội dung so sánh các mô hình  
đổi nhanh chóng trong công nghệ, và cải thiện độ trên được tác giả khái quát lại như bảng sau:  
Bảng 1. So sánh các mô hình lý thuyết chấp nhận công nghệ  
TAM  
(Davis, Bagozzi  
and Warshaw,  
1989)  
UTAUT  
TAM2  
TAM3  
Mô hình  
IDT  
(Rogers, 1983)  
(Venkatesh,  
Morris and  
Davis, 2003)  
(Venkatesh and Venkatesh và  
Davis, 2000)  
Chỉ tiêu  
Bala (2008)  
Mô hình không  
kiểm nghiệm  
thực tế ở nghiên  
cứu này  
Mức độ giải thích  
mô hình  
40%-50%  
34%-60%  
31%-53%  
40%-77%  
Nhân chủng học,  
Nguồn gốc lĩnh vực giáo dục, xã hội  
Hệ thống thông  
tin và ứng dụng  
công nghệ  
CNTT  
CNTT  
CNTT  
hình thành  
học, truyền thông  
và tiếp thị  
Lĩnh vực ứng dụng  
phù hợp  
Máy tính và  
CNTT  
Máy tính và  
CNTT  
Máy tính và  
CNTT  
Máy tính và  
CNTT  
Đa lĩnh vực  
Nhân chủng học,  
xã hội học, nông  
thôn học, giáo  
dục học, xã hội  
học công nghiệp  
và y tế học  
TAM, TAM2,  
TRA, TPB,  
TAM, TAM 2 MM, TAM  
&TPB, MPCU,  
SCT, IDT  
Tiền đề  
lý thuyết chính  
TRA  
TAM  
Số lượt trích dẫn  
đến nay  
98.856  
21.857  
15.331  
3.589  
22.104  
(Nguồn: internet)  
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ các lý thuyết này)  
4. Kết luận  
Mục đích của nghiên cứu này là làm rõ các mối quan hệ trong các mô hình này. Từ đó, tác  
mô hình chấp nhận công nghệ khá phổ biến là giả cũng đưa ra các so sánh khác biệt giữa các  
IDT, các TAM và UTAUT. Trong đó, tác giả làm mô hình dựa trên những tổng kết các nghiên cứu  
rõ các khái niệm về các biến quan trọng và các thực nghiệm trước đây. Tất cả những điều này là  
119  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
quan trọng và cần thiết cho các nghiên cứu tiếp phát triển lý thuyết mới hoặc lựa chọn các mô  
theo trong tương lai trong việc tìm hiểu cơ sở lý hình vào ứng dụng nghiên cứu thực nghiệm cho  
thuyết về các mô hình chấp nhận công nghệ, để phù hợp nhất./.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. F. D. Davis, R. P.Bagozzi, & P. R.Warshaw (1989). “User acceptance of computer technology:  
A comparison of two theoretical models, Management Science, (35), 982-1003.  
[2]. Robert G. Fichman (1992), “Information Technology Diffusion: “A Review of Empirical  
Research”, Proceedings of International Conference on Information Systems, 195-206.  
[3].Arshia Khan & John M. Woosley (2011), “Comparison of Contemporary TechnologyAcceptance  
Models and Evaluation of the Best Fit for Health Industry Organizations”, Internatinonal journal of  
computer Science & Enginerring Technology, (11),709-717.  
[4]. Yi-Hsuan Lee, Yi-Chuan Hsieh & Chia-Ning Hsu (2011). “Adding Innovation Diffusion Theory  
to the Technology Acceptance Model: Supporting Employees' Intentions to use E-Learning Systems”,  
Educational Technology & Society, (4), 124–137.  
[5]. P. C. Lai (2017), “The literature review of technology adoption models and theories for the  
novelty technology”, Journal of Information Systems and Technology Management, (1), 21-38.  
[6]. Everett M. Rogers (1983), Diffusion of Innovations, The Free Press, New York.  
[7]. G. D. M. N. Samaradiwakara & C G Gunawardena (2014), “Comparison of existing technology  
acceptance theories and models to suggest a well improved theory/model”, International Technical  
Sciences Journal, (1), 21-36.  
[8]. V. Venkatesh & H. Bala (2008). “Technology Acceptance Model 3 and a Research Agenda on  
Interventions”, Decision Science, (2), 273-312.  
[9]. V. Venkatesh & F.D Davis (2000). “A Theoretical Extension of the Technology Acceptance  
Model: Four Longitudinal Field Studies”, Management Science, (2), 186-204.  
[10]. V. Venkatesh, M.G Morris, F.D Davis & G.B Davis (2003). “User Acceptance of Information  
Technology: Toward a Unified View”, MIS Quarterly, (27), 425-478.  
STUDYING THEORIES OF TECHNOLOGY-ADOPTION MODELS  
Summary  
This paper gives a brief summary of theories of technology adoption models, focusing on clarifying  
models in consideration. It includes Innovation Diffusion Theory (IDT-Rogers, 1983), Technology  
Acceptance Model (TAM - Davis, 1989; TAM 2 - Venkatesh & Davis, 2000; TAM 3 - Venkatesh &  
Bala, 2008), and Unified Theory ofAcceptance and Use of Technology (UTAUT - Venkatesh, Morris, &  
Davis, 2003). In addition, the paper points out fundamental differences between these models, especially  
those differences in their empirical research applications.  
Keywords: Theory, model, technology acceptance.  
Ngày nhận bài: 11/7/2018; Ngày nhận lại: 05/12/2018; Ngày duyệt đăng: 25/02/2019.  
120  
pdf 7 trang baolam 20580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tìm hiểu một số lý thuyết liên quan đến mô hình chấp nhận công nghệ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftim_hieu_mot_so_ly_thuyet_lien_quan_den_mo_hinh_chap_nhan_co.pdf