Luận văn Công tác xã hội với người3 lao động nhập cư tại phường Phúc Xá - quận Ba Đình - thành phố Hà Nội

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI  
HOÀNG THIÊN TRANG  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NHẬP CƯ TẠI  
PHƯỜNG PHÚC XÁ – QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI  
HÀ NỘI - 2017  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI  
HOÀNG THIÊN TRANG  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NHẬP CƯ TẠI  
PHƯỜNG PHÚC XÁ – QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI  
Chuyên ngành: Công tác xã hội  
Mã số : 60900101  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG  
HÀ NỘI - 2017  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá  
nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào. Các  
số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và  
đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.  
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.  
Tác giả  
Hoàng Thiên Trang  
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, em đã nhận  
được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, anh chị, bạn bè. Với  
lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:  
Khoa Công tác xã hội và Khoa sau đại học trường Đại học Lao động –  
Xã hội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập  
và hoàn thành luận văn. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS  
Nguyễn Thị Lan Hương người đã hết lòng hướng dẫn, động viên và giúp đỡ  
em trong suốt thời gian làm và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.  
Xin chân thành cảm ơn UBND phường Phúc Xá, hội Liên hiệp phụ nữ  
phường, cán bộ tổ dân phố cụm 2 và 3 An Xá đã hỗ trợ trong việc sắp xếp, bố  
trí, hẹn gặp với người dân đang sinh sống lao động trên địa bàn phường đã  
đồng ý tham gia khảo sát.  
Do kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế, thời gian có hạn nên trong  
quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, mặc dù đã cố gắng nhưng không  
tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của  
các thầy cô giáo và bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
i
MỤC LỤC  
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................... 1  
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1  
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài..................... 3  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................... 13  
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.................................................... 14  
5. Phạm vi nghiên cứu: ............................................................................ 14  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn................................................................. 15  
7. Phương pháp nghiên cứu..................................................................... 16  
8. Kết cấu luận văn................................................................................... 18  
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI  
LAO ĐỘNG NHẬP CƯ............................................................................. 19  
1.1. Một số khái niệm cơ bản về người lao động nhập cư ........................ 19  
1.1.1. Khái niệm về di cư và nhập cư ........................................................... 19  
1.1.2. Khái niệm lao động nhập cư ............................................................... 19  
1.1.3. Đặc điểm và nhu cầu của người lao động nhập cư.............................. 20  
1.2. Lý luận về công tác xã hội với người lao động nhập cư..................... 27  
1.2.1. Khái niệm công tác xã hội .................................................................. 27  
1.2.2. Khái niệm công tác xã hội với người lao động nhập cư và vai trò của  
nhân viên CTXH với người lao động nhập cư .............................................. 29  
1.2.3. Nội dung hoạt động công tác xã hội với người lao động nhập cư........ 32  
1.3. Một số yếu tố tác động tới công tác xã hội với người lao động nhập  
cư ............................................................................................................ 37  
1.3.1. Hệ thống chính sách pháp luật............................................................ 37  
1.3.2. Sự quan tâm của chính quyền địa phương đến hoạt động công tác xã hội  
với người lao động nhập cư.......................................................................... 39  
1.3.3. Yếu tố cộng đồng, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ tại địa  
ii  
phương ...................................................................................................... 40  
1.3.4. Yếu tố từ bản thân người lao động nhập cư ........................................ 41  
1.3.5. Yếu tố năng lực của nhân viên công tác xã hội ................................... 41  
1.4. Luật pháp, chính sách đối với người lao động nhập cư .................. 42  
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI LAO  
ĐỘNG NHẬP CƯ TẠI PHƯỜNG PHÚC XÁ – QUẬN BA ĐÌNH – HÀ  
NỘI.............................................................................................................. 47  
2.1. Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu ..................................... 47  
2.1.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu ....................................................... 47  
2.1.2. Tổng quan về người lao động nhập cư tại địa bàn nghiên cứu ............ 48  
2.2. Hoạt động công tác xã hội với người lao động nhập cư tại phường  
Phúc Xá – Quận Ba Đình – thành phố Hà Nội. ........................................ 56  
2.2.1. Thực trạng triển khai các hoạt động công tác xã hội với người lao động  
nhập cư ...................................................................................................... 56  
2.2.2. Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ lao động nhập cư  
nâng cao nhận thức....................................................................................... 58  
2.2.3. Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ lao động nhập cư tiếp  
cận các dịch vụ xã hội cơ bản....................................................................... 61  
2.2.4. Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ lao động nhập cư hòa  
nhập cộng đồng ............................................................................................ 67  
2.2.5. Thực trạng một số dự án hỗ trợ lao động nhập cư tại phường Phúc Xá .. 71  
2.3. Thực trạng một số yếu tố ảnh hưởng tới công tác xã hội với người  
lao động nhập cư tại phường Phúc Xá – Quận Ba Đình – thành phố Hà  
Nội ............................................................................................................ 75  
2.3.1. Yếu tố hệ thống luật pháp chính sách ................................................. 75  
2.3.2. Yếu tố sự quan tâm của chính quyền địa phương đến hoạt động CTXH  
với người lao động nhập cư.......................................................................... 76  
iii  
2.3.3. Yếu tố sự hỗ trợ từ các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ............. 77  
2.3.4. Yếu tố bản thân người lao động nhập cư............................................. 79  
2.3.5. Yếu tố từ cán bộ thực hiện hoạt động CTXH...................................... 81  
2.4. Đánh giá việc thực hiện hoạt động công tác xã hội với người lao  
động nhập cư tại phường Phúc Xá – quận Ba Đình – thành phố Hà Nội82  
2.4.1. Ưu điểm.............................................................................................. 82  
2.4.2. Hạn chế và thách thức......................................................................... 83  
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG  
CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG  
NHẬP CƯ TẠI TẠI PHƯỜNG PHÚC XÁ – QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH  
PHỐ HÀ NỘI ............................................................................................. 85  
3.1. Bối cảnh tình hình lao động nhập cư trong thời gian tới .................. 85  
3.1.1. Cơ hội................................................................................................. 85  
3.1.2. Thách thức.......................................................................................... 86  
3.2. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội với  
người lao động nhập cư.............................................................................. 88  
3.3. Khuyến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội với người  
lao động nhập cư ........................................................................................ 96  
KẾT LUẬN............................................................................................... 100  
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 102  
PHỤ LỤC.................................................................................................. 105  
iv  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
TỪ VIẾT TẮT  
AAV  
NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ  
Action Aid Viet Nam  
An sinh xã hội  
Bảo hiểm y tế  
ASXH  
BHYT  
BHXH  
CLB  
Bảo hiểm xã hội  
Câu lạc bộ  
CTXH  
LHPN  
Công tác xã hội  
Liên hiệp phụ nữ  
Người lao động  
Sức khỏe sinh sản  
Ủy ban nhân dân  
NLĐ  
SKSS  
UBND  
v
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU VÀ BIỂU ĐỒ  
Trang  
Bảng 2.1. Trình độ văn hóa chuyên môn của lao động nhập cư  
phường Phúc Xá  
50  
Bảng 2.2: Tình trạng cư trú của người lao động nhập cư phường  
Phúc Xá  
51  
55  
56  
59  
63  
69  
Bảng 2.3: Thu nhập trung bình hàng tháng của người lao động nhập  
cư phường Phúc Xá  
Bảng 2.4: Mức độ triển khai các hoạt động CTXH với người lao  
động nhập cư  
Bảng 2.5: Mức độ hiểu quả các hoạt động hỗ trợ nâng cao nhận thức  
cho lao động nhập cư  
Bảng 2.6: Mức độ hiểu quả các hoạt động hỗ trợ lao động nhập cư  
tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản  
Bảng 2.7: Mức độ hiểu quả các hoạt động hỗ trợ lao động nhập cư  
hòa nhập cộng đồng  
DANH MỤC BIỂU ĐỒ  
Trang  
49  
Biểu đồ 2.1. Độ tuổi của lao động nhập cư phường Phúc Xá  
Biểu đồ 2.2. Đánh giá của lao động nhập cư về điều kiện nhà trọ  
Biểu đồ 2.3. Công việc hiện nay của lao động nhập cư  
53  
54  
Biểu đồ 2.4: Người được lao động nhập cư tìm gặp để được hỗ trợ  
80  
1
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Di cư từ nông thôn lên thành phố được coi là xu thế tất yếu, một khía  
cạnh tự nhiên của quá trình phát triển. Luật Cư trú từ 2006 đã cho phép công  
dân Việt Nam được sinh sống ở những nơi họ muốn, do vậy số người đến và  
sinh sống ở Hà Nội gia tăng nhanh chóng, gây nhiều áp lực cho thủ đô về  
kinh tế - xã hội, nhất là vấn đề bảo đảm an sinh xã hội, chất lượng cuộc sống,  
dân số và lực lượng lao động. Số người lao động phổ thông ở các tỉnh đổ về  
Hà Nội chiếm tỉ lệ rất lớn. Theo Niên giám Thống kê 2013, có khoảng  
500.000 người di cư ra Hà Nội kiếm sống. Sau thu hoạch là lúc nông nhàn, họ  
ra thành phố tìm việc làm hoặc ở Hà Nội một thời gian ngắn rồi lại trở về quê.  
Họ thường tìm việc quanh các khu chợ lớn, bến xe, hoặc làm những công việc  
theo thời vụ với thu nhập thấp và không ổn định. Họ nhận làm tất cả mọi việc  
từ giúp việc gia đình, dọn vệ sinh, bán hàng rong, thu gom phế liệu đến phụ  
hồ, xe ôm… Đây là những công việc đang thu hút nhu cầu lao động trên  
thành phố, không cần đến trình độ tay nghề, kinh nghiệm.  
Trong đời sống, họ phải đối mặt với mức sống thấp và họ khó tiếp cận  
hoặc bị hạn chế tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế, nhà ở... Chính vì vậy,  
theo quan điểm của các nhà xã hội học lao động nhập cư ở đô thị là đối tượng  
thuộc nhóm yếu thế. Điều đó được thể hiện qua những đặc điểm sau: Hầu hết  
làm nhiều nghề hoặc việc làm nặng nhọc, độc hại, trong điều kiện tồi tệ, bằng  
sức lao động giản đơn, bán hàng rong, giúp việc gia đình… Đa phần là các cơ  
sở sản xuất, kinh doanh thuộc khu vực kinh tế phi chính thức. Hầu như họ  
không được ký hợp đồng lao động, hoặc nếu có hợp đồng lao động thì thường  
không được tham gia BHXH, BHYT. Thu nhập thấp và không ổn định, đi đôi  
với tay nghề thấp. Đa số phải sống trong những khu nhà trọ rẻ tiền, với điều  
kiện ở tạm bợ và tồi tệ. Họ cũng rất ít tham gia vào các tổ chức đoàn thể và  
2
các tổ chức xã hội tự nguyện tại nơi đến.  
Địa vị pháp lý của người di cư tại nơi đến là yếu tố quan trọng quyết  
định đến khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Địa vị này gắn liền việc  
họ có được đăng ký hộ khẩu thuộc loại nào. Ở Hà Nội, người lao động nhập  
cư từ nông thôn thường không đủ điều kiện để có hộ khẩu thường trú (KT1,  
KT2, KT3). Trong trường hợp tốt nhất, họ có thể đăng ký tạm trú ngắn hạn  
(KT4) với các điều kiện rất hạn chế. Vì vậy, khả năng hòa nhập vào cộng  
đồng dân cư nơi đến cũng thường rất hạn chế. Mặt khác, bản thân cơ sở hạ  
tầng cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân đô thị như y tế, giáo dục,  
nhà ở, vệ sinh môi trường…cũng đang bị quá tải. Các chính sách quản lý lĩnh  
vực này cũng còn nhiều bất cập. Trong bối cảnh đó, người lao động nhập cư  
và gia đình họ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, cụ thể là việc làm và các  
nhu cầu về dịch vụ xã hội cơ bản.  
Qua tìm hiểu thực tế cho thấy, những nghiên cứu chuyên đề làm thông  
tin nền tảng, dữ liệu cho những hoạt động của các mô hình CTXH can  
thiệp/hỗ trợ trực tiếp đối với lao động nhập cư xuất phát từ chính nhu cầu, vấn  
đề thực tế họ đang gặp phải hiện còn ít và thiếu. Một số mô hình can thiệp  
trong CTXH đối với lao động nhập cư đã áp dụng chưa thực sự hiệu quả và  
không mang tính bền vững. Nguyên nhân chính là do không nắm bắt được  
nhu cầu thực tế cũng như những rào cản hiện tại mà họ đang gặp phải.  
Phường Phúc Xá của quận Ba Đình là cửa ngõ chợ Đồng Xuân, Long  
Biên và 36 phố phường – là nơi buôn bán truyền thống sầm uất nhất Hà Nội.  
Số liệu về lao động nhập cư trên địa bàn rất khó để có số liệu cụ thể vì hầu hết  
họ không đăng ký tạm trú và số lao động nhập cư trong phường không ổn  
định vì họ đến rồi lại đi. Phường Phúc Xá được coi là một điểm nóng về  
người nhập cư của quận.  
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Công tác xã hội với người  
3
lao động nhập cư tại phường Phúc Xá – quận Ba Đình – thành phố Hà Nội”  
nhằm tìm hiểu thực trạng đời sống của người lao động nhập cư cũng như đánh  
giá việc thực hiện hoạt động công tác xã hội đã và đang thực hiện tại phường  
Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội.  
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
Sự di cư diễn ra ngày càng phức tạp cộng với tính dễ bị tổn thương  
đang kéo theo nhiều vấn đề như môi trường, việc làm, thất nghiệp cũng như  
vấn đề an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, vấn đề trợ giúp pháp  
lý…Gần đây đã có nhiều nghiên cứu về di cư nhằm tìm hiểu thực trạng cũng  
như ảnh hưởng của quá trình di cư đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản  
của người di cư/nhập cư tự do tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí  
Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…Có thể kể ra một số nghiên cứu, chương trình  
tiêu biểu dưới đây:  
a. Trên thế giới:  
Các kết quả các nghiên cứu về di dân trên thế giới đáng chú ý công  
trình của E.G Ravenstein (1885) về các lý thuyết xã hội học với di dân, ở đây  
tác giả xem xét quy luật di dân có liên quan đến quy mô dân số, mật độ  
khoảng cách di dân. Theo ông, động lực thúc đẩy di cư giữa các vùng là sự  
khác biệt về trình độ phát triển kinh tế , bởi tiến trình công nghiệp hoá và phát  
triển thương mại giữa các khu vực của một quốc gia. [26]  
Những năm sau đó, trên cơ sở này các lý thuyết di dân mới như lý  
thuyết lực hấp dẫn hoặc lý thuyết cơ hội sống…ra đới. Đáng chú ý là lý  
thuyết của Lewis (1954) cho rằng khác biệt cơ hội việc làm và mức lương  
giữa nông thôn và thành thị trong quá trình phát triển kinh tế đã khuyến khích  
di dân từ nông thôn ra thành thị.[25]  
Giai đoạn những năm 1960 và 1970 nhiều nghiên cứu về di dân được  
công bố với những nguyên nhân gắn với quá trình đô thị hoá trong phát triển.  
4
Lee (1966) khẳng định rằng nghèo đói, thiếu phương tiện mưu sinh như đất  
đai, chất lượng cuộc sống thấp so với thành thị phồn vinh là những nguyên  
nhân thúc đẩy di cư từ nông thôn ra thành thị.[24]  
Đóng góp lớn nhất trong nghiên cứu di dân từ nông thôn ra thành thị  
thuộc về Harris- Todaro (1970). Nghiên cứu này tập trung vào các nước đang  
phát triển, nơi diễn ra quá trình đô thị hoá nhanh và dòng di dân từ nông thôn  
ra thành thị rất mạnh. do chênh lệch tiền lương và cơ hội việc làm ngày càng  
lớn. Những vùng đô thị thiếu lao động có mức lương cao sẽ thu hút dòng di  
dân từ các vùng nông thôn có thu nhập thấp. Harris và Todaro cho rằng quyết  
định di chuyển kết hợp những kỳ vọng của những người di cư tiềm năng về  
khả năng thu nhập cho phép họ có thu nhập cao hơn và cuộc sống khá hơn.  
Hai tác giả cũng cho rằng những người di cư mong chờ có thể nhận được việc  
làm tốt và có thu nhập cao nên họ chấp nhận thất nghiệp hay thiếu việc để chờ  
đợi cơ hội việc làm tốt trong tương lai.[23]  
Trong một nghiên cứu trường hợp Andean, Bebbington (1999) đã mô tả  
tác động của di cư đối với sinh kế phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau như: tài  
sản sẵn có, cơ cấu xã hội, thể chế, thời gian xa nhà, mùa di cư và thu nhập  
tiền mặt. Di cư là một quá trình gắn liền với các cơ cấu thể chế (Guilmoto  
1998) và vì đó không phải là một lựa chọn mở cho tất cả mọi người vì di cư đi  
nơi khác thường xuất hiện cùng với các phương thức di cư trước đó và các  
mạng lưới thúc đẩy và luân chuyển các dòng tiếp sau (Masey 1990). Vì vậy,  
sinh kế sẽ được quyết định rất nhiều bởi cơ cấu gia đình, tình trạng kinh tế và  
giới của người di cư (Chant 1998). Đặc tính của người di cư khá chọn lọc và  
có thể hoặc dẫn tới việc xem di cư như là một lựa chọn cho sinh kế hoặc di cư  
ra khỏi lựa chọn phát triển (Deshingkar và Start 2003, Kothari 2002). [18]  
b. Tại Việt Nam  
Báo cáo Điều tra di cư nội địa Quốc gia, Tổng Cục Thống kê – Quỹ  
5
dân số Liên hiệp Quốc (tháng 12.2016) cho thấy: Có tới 42,6% di cư cho biết  
họ gặp khó khăn về chỗ ở và hơn 60% số người di cư gặp khó khăn cho biết  
họ tìm sự giúp đỡ của người thân thích (Tỷ lệ tìm sự giúp đỡ từ họ hàng là  
32,6% và từ bạn bè là 40,5%) nhưng sự giúp đỡ chủ yếu nhất là sự “động viên  
tinh thần”. Vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ những người  
di cư gặp khó khăn tương đối mờ nhạt. “Tình hình an ninh trật tự kém”, “mất  
cắp/trộm cắp/trấn lột”, “cơ sở hạ tầng kém”, “môi trường ô nhiễm/kém vệ  
sinh” là những lý do chủ yếu khiến người di cư cảm thấy không an  
toàn/không hài lòng/không thoải mái ở nơi cư trú mới. Trong số những người  
cảm thấy không an toàn nơi cư trú mới, khoảng trên 50% cho rằng “an ninh  
trật tự kém” hoặc bị “mất cắp/trộm cắp/trấn lột”; 25,2% người di cư không  
hài lòng vì cơ sở hạ tầng ở nơi cư trú mới kém và 24,5% là con số của người  
di cư không hài lòng vì “môi trường ô nhiễm/kém vệ sinh”. Đối với người di  
cư ở khu vực thành thị, những người đề cập đến khó khăn về chỗ ở chiếm tỷ  
lệ cao nhất (40,9%); tỷ lệ cao thứ hai thuộc về những người gặp khó khăn về  
nguồn thu nhập (31,6%) và thứ ba là vấn đề việc làm (28,6%). những người  
mới di cư đến sống trong những căn nhà trọ xây tạm, hoặc trong những nhà  
trọ chất lượng thấp và trả tiền trọ hàng ngày hoặc sống tại nơi làm việc mà  
thường là các công trường xây dựng. Họ cố gắng dành dụm tiền cho tương lai  
hoặc gửi về cho gia đình và chấp nhận giảm thiểu chi phí cho các nhu cầu  
khác của mình. Họ chỉ sử dụng rất ít tiền cho việc ăn uống và chăm sóc sức  
khỏe. Thực tế này dẫn đến điều kiện sống tạm và không an toàn cho các cư  
dân và làm tăng các nguy cơ về các bệnh lây nhiễm và sức khỏe kém. Khi ốm  
đau, đa số (trên 70%) người di cư và không di cư tìm đến cơ sở y tế công là  
bệnh viện/phòng khám nhà nước. Chỉ có gần 20% tới điều trị tại các bệnh  
viện/phòng khám tư nhân. Kết quả điều tra đã phản ánh được thực trạng  
chung và những khó khăn của những người lao động di cư lên thành phố kiếm  
6
sống so với những người không di cư. Đây là cơ sở để nhìn lại những dịch vụ  
xã hội cung cấp cho những đối tượng này. [16]  
Lê Văn Toàn – Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia, nghiên cứu  
“Dịch vụ xã hội cho người nhập cư ở Hà Nội” đăng trên Tạp chí Dân số Việt  
Nam/số 3 (108)/2010 chỉ ra: cùng với khó khăn do thu nhập thấp, người nhập  
cư ở đô thị có rất ít khả năng và cơ hội đến được với hệ thống các dịch vụ xã  
hội cơ bản. Họ thường phải trả tiền cho các dịch vụ xã hội cơ bản (tiền điện,  
dịch vụ y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường…) với mức chi phí khá cao. Những  
chương trình y tế, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thường ít khi đến được với  
người nhập cư, thậm chí bị bỏ qua vị thế không chính thức của họ về mặt  
pháp lý (không có hộ khẩu) ở nơi nhập cư. Bài viết đã chỉ ra thực trạng đời  
sống cũng như những khó khăn mà người nhập cư tự do hiện nay đang gặp  
phải. Tuy nhiên, bài viết chưa đi vào đánh giá từng dịch vụ xã hội cơ bản,và  
chưa chỉ ra những rào cản khiến người nhập cư không tiếp cận được các dịch  
vụ xã hội cơ bản như những người dân bản địa. [19]  
Nghiên cứu “Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người - Báo cáo  
phát triển con người năm 2011 – UNDP” (Chương trình phát triển Liên Hợp  
Quốc hợp tác với Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), đã đề cập đến  
vấn đề chênh lệch về tiếp cận y tế, giáo dục trong nhóm dân nhập cư tại các  
thành phố lớn và cũng chỉ ra rằng rào cản lớn nhất đối với người di cư từ  
nông thôn ra thành thị trong tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục là sự phụ thuộc  
vào hệ thống đăng ký hộ khẩu. Người di cư vẫn còn tên trong hộ khẩu gia  
đình ở các xã, phường gốc, nhưng trên thực tế lại sống tạm thời hoặc lâu dài  
tại đô thị nơi đến mà chưa đăng ký. Những người di cư không đăng ký hộ  
khẩu tại nơi đến có hai lựa chọn: hoặc xin vào các trường bán công hoặc tư  
thục với học phí cao hơn, hoặc trả thêm tiền để con của họ được nhận vào các  
trường công. Nhiều người di cư để con cái của họ ở lại quê với gia đình hoặc  
7
hàng xóm và chuyển tiền kiếm được về để hỗ trợ học hành và chăm sóc cho  
con cái. Cách thức này gây căng thẳng lớn về tình cảm giữa người di cư và  
con cái họ. Tương tự như vậy, người di cư không có hộ khẩu tại nơi ở mới và  
những người không phải cư dân chính gốc thường không đủ điều kiện để  
được hưởng các dịch vụ xã hội trong các chương trình xoá đói giảm nghèo  
quốc gia, bao gồm cả các khoản vay lãi suất thấp, khám chữa bệnh miễn phí  
và miễn học phí. Nhiều người lao động di cư nghèo sống trong điều kiện nhà  
ở tồi tàn và các khu định cư thu nhập thấp, phải đối mặt với rào cản trong tiếp  
cận và bảo đảm về quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở, cũng như các dịch vụ  
điện, nước và vệ sinh. Người di cư ở các khu vực đô thị thường có sức khỏe  
kém hơn và tình trạng sức khỏe của họ xấu đi nhanh hơn những cư dân  
thường trú. Các vấn đề về sức khỏe đặt một gánh nặng lớn lên người di cư,  
đặc biệt là những người làm việc trong khu vực không chính thức với tiền  
công thấp. Người di cư thường phải chi trả cho các dịch vụ y tế nhiều hơn  
đáng kể, do họ không có bảo hiểm y tế hoặc để tránh chậm trễ trong tiếp cận  
dịch vụ y tế. Những người không đăng ký hộ khẩu thường không có thẻ  
BHYT cho con cái và không nhận được các thông tin hoặc chương trình uống  
vitamin, tiêm vắc xin. Các phát hiện trong báo cáo chỉ đã chỉ ra rất rõ những  
vấn đề mà hiện nay người di cư/nhập cư đang gặp phải mà nguyên nhân chính  
liên quan đến vấn đề đăng ký hộ khẩu. Tuy nhiên những phát hiện này cũng  
chỉ dừng lại ở tính chất mô tả, chỉ ra những vấn đề tồn tại chung chung, chưa  
chỉ ra được đâu là vấn đề thực sự họ quan tâm, đâu mới là nhu cầu, mong  
muốn khi sử dụng dịch vụ xã hội cơ bản của người nhập cư tự do, cách thức  
cải thiện việc cung cấp dịch vụ và cách tăng khả năng tiếp cận dịch vụ cho  
người nhập cư tự do. [7]  
Báo cáo khảo sát: “Nhu cầu trợ giúp pháp lý của người lao động di cư  
tự do tại khu Phúc Xá, Long Biên, Hà Nội” do Viện Nghiên cứu chính sách,  
8
pháp luật và phát triển tiến hành, cho thấy, nhu cầu trợ giúp pháp lý của người  
lao động di cư làm việc ở các khu công nghiệp hoặc lao động tự do là khá  
cao. Chỉ có 2 loại cơ quan mà người lao động di cư nói là họ thường tìm gặp  
khi có “rắc rối” trong quan hệ lao động, đó là cơ quan công an và chính quyền  
địa phương. Về dịch vụ y tế, độ bảo phủ của BHYT còn yếu: Có tới 66,92%  
người lao động được phỏng vấn không thuộc đối tượng đóng bảo hiểm y tế.  
Người lao động làm trong các khu công nghiệp, xí nghiệm, công ty thường  
thắc mắc về việc đóng BHXH và BHYT. Người lao động tự do như xe ôm,  
bán hàng thì hầu như không quan tâm tới vấn đề này. Dịch vụ giáo dục: chỉ ra  
rằng đối với lao động làm công ăn lương, họ thường thắc mắc về việc xin cho  
con đi học mẫu giáo hoặc tiểu học trường công lập. Đối với lao động tự do thì  
không quan tâm vì con cái thường học ở quê. Các vấn đề về kinh doanh nhỏ;  
thành lập doanh nghiệp, thuế...: do điều kiện công việc hiện tại của người lao  
động chưa có nhu cầu nên đa số người lao động được hỏi đều trả lời là họ  
không có nhu cầu tư vấn vì bản thân họ và gia đình không buôn bán, kinh  
doanh. Chỉ có 9,23% lao động có nhu cầu tư vấn pháp luật đối với hoạt động  
kinh doanh, buôn bán không có địa điểm cố định và chỉ có 3,85% muốn được  
tư vấn về pháp luật kinh doanh có cửa hàng cố định. Về Hộ tịch- Hộ khẩu:  
Hầu hết người lao động cho rằng việc không có hộ khẩu, họ đã gặp nhiều khó  
khăn trong các lĩnh vực như: Tìm việc làm, tham gia bảo hiểm và các chế độ  
xã hội; hưởng các dịch vụ y tế; trong giáo dục học nghề và xin học cho con;  
khó khăn trong an ninh trật tự. Có tới 47,69% người lao động được hỏi trả lời  
không biết gì về các quy định hộ khẩu/đăng ký tạm trú/tạm vắng. Trong số  
người được hỏi thì chỉ có 52,31% số người có biết đến những quy định này  
nhưng đều ở mức độ rất sơ sài. Những hiểu biết này có được là do người cho  
thuê nhà hướng dẫn họ làm thủ tục đăng ký tạm trú/tạm vắng hoặc do cán bộ  
phường phổ biến, công an khu vực yêu cầu. Một số người lao động chỉ biết  
9
đến những quy định này khi buộc phải lên làm thủ tục với chính quyền địa  
phương. Báo cáo cũng chỉ ra rằng Xu hướng ngoài các hoạt động tố tụng, tư  
vấn tại trụ sở của Trung tâm, một trong những hoạt động đạt được kết quả cao  
đó là Trợ giúp pháp lý lưu động. Hoạt động này ngày càng trở nên phổ biến  
bởi tính hiệu quả cao, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho những người khó  
tiếp cận dịch vụ pháp lý, cần nhân rộng mô hình. Đồng thời cũng đề xuất: để  
hoạt động trợ giúp pháp lý cho lao động di cư có hiệu quả, các Trung tâm trợ  
giúp pháp lý hiện đang chú trọng mở rộng các loại hình tư vấn pháp luật phổ  
thông, đáp ứng nhu cầu rộng rãi, đa dạng của người dân... đồng thời nghiên  
cứu lập hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân  
dân sống và làm việc theo pháp luật. Báo cáo đã chỉ ra rất chi tiết một trong  
những lĩnh vực cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản là dịch vụ trợ giúp pháp lý,  
các số liệu đưa ra rõ ràng, chi tiết về thực trạng, những khó khăn rào cản và  
những nhu cầu cần trợ giúp pháp lý của người di cư. [22]  
Nghiên cứu “Tiếp cận An sinh xã hội (ASXH) của người lao động nhập  
cư tại một số khu vực đô thị” do ActionAid Việt Nam (AAV) thực hiện năm  
(2012) đã chỉ ra nhu cầu cần thiết phải đổi mới các chính sách hiện nay về  
ASXH nhằm đảm bảo các quyền lợi cơ bản của người nhập cư tại các khu đô  
thị. Có tới 90% người lao động nhập cư ở các khu đô thị Việt Nam không tiếp  
cận được các chương trình an sinh xã hội (ASXH) ở nơi cư trú và gần 80%  
người nhập cư lao động trong khu vực không chính thức gặp phải rất nhiều  
khó khăn trong việc tiếp cận các bệnh viện công, theo kết quả nghiên cứu gần  
đây của tổ chức ActionAid tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên  
cứu cũng chỉ ra rằng, từ 80% đến 90% người lao động nhập cư mang theo con  
nhỏ tới nơi cư trú mới. Tuy nhiên, vẫn chưa có chính sách cụ thể nào bảo đảm  
các quyền về giáo dục của con em họ tại các đô thị, như bảo đảm sự phù hợp  
với thời gian làm việc linh hoạt của các bà mẹ hoặc giáo dục chất lượng và  
10  
miễn phí cho con em của người lao động nhập cư. Bên cạnh đó, tỷ lệ người  
nhập cư lao động trong khu vực không chính thức được tiếp cận bảo hiểm y tế  
thấp hơn rất nhiều so với người lao động nhập cư chính thức. Số người nhập  
cư lao động trong khu vực không chính thức được khám sức khỏe định kỳ  
hàng năm chỉ đạt dưới 10%. Các chính sách ASXH của Việt Nam cần phải  
chuyển từ cách tiếp cận khoanh vùng các nhóm mục tiêu sang cách tiếp cận  
bảo đảm ASXH phổ quát, đặc biệt trong lĩnh vực y tế và giáo dục. Khuynh  
hướng nữ hóa lực lượng lao động cũng cần được xem xét khi xây dựng các  
can thiệp chính sách nhằm bảo đảm những hỗ trợ cần thiết về y tế và giáo dục  
cho các gia đình nhập cư. Mặc dù nhiều hợp phần của các chương trình  
ASXH ưu tiên nhóm đối tượng nghèo, những bằng chứng thu thập được lại  
không cho thấy các chương trình này mang lại tác động có lợi lớn đến đời  
sống của người lao động nhập cư và con em họ. [1]  
Bùi Sỹ Tuấn, báo cáo chuyên đề “Bảo hiểm xã hội cho lao động di cư:  
Vấn đề cần được quan tâm”, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, 2012, đã  
chỉ ra rằng Lao động di cư/nhập cư tự do là đối tượng thuộc nhóm yếu thế, do  
tính bất trắc, thường dễ bị tổn thương và gặp rủi ro, nên nhu cầu được tham  
gia bảo hiểm xã hội của nhóm đối tượng này là chính đáng. Đa số lao động di  
cư/nhập cư tự do không tham gia và không được hưởng các chế độ BHXH;  
Hầu hết không có và không được hưởng các chế độ bảo hiểm dành cho người  
lao động; Phần lớn không có cũng như không được hưởng các phúc lợi xã hội  
từ phía các cơ sở kinh tế (doanh nghiệp) mà họ đang làm việc. Nhìn chung, họ  
không tiếp cận được với các chương trình, dự án hỗ trợ hoặc trợ giúp chính  
thức của Nhà nước thông qua chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội và các  
cơ sở kinh tế chính thức. Chính phủ Việt Nam cũng đã có nhiều chính sách hỗ  
trợ cho người di cư, tuy nhiên các chính sách hiện hành mới tập trung cho  
những lao động di cư có tổ chức còn hình thức di cư tự do – là hình thức chủ  
11  
yếu hiện nay, còn ít và mỏng cho đối tượng này. Phần lớn người lao động di  
cư chưa tiếp cận hoặc tham gia và không được hưởng lợi từ hệ thống bảo  
hiểm xã hội chính thức. Báo cáo cũng đưa ra một số đề xuất như: cần tạo điều  
kiện để người lao động được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; lồng ghép  
chương trình BHXH tự nguyện với các chương trình mục tiêu khác như  
chương trình việc làm, chương trình giảm nghèo…Có chính sách để lao động  
di cư được tiếp cận với hệ thống bảo trợ và cứu trợ xã chính thức khi gặp rủi  
ro, từ phía chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội tự  
nguyện và nhất là từ các doanh nghiệp, các chủ sử dụng lao động. Chính  
quyền nơi đến cần có sự quan tâm về chế độ nhà ở như khu nhà cho thuê, bán  
nhà thu nhập thấp, với các điều kiện sống an toàn, ổn định, và đảm bảo vệ  
sinh môi trường. Báo cáo đã chỉ ra được thực trạng, những khó khăn trong  
của việc tiếp cận và sử dụng hệ thống dịch vụ Bảo hiểm xã hội của người di  
cư/nhập cư tự do đưa ra những khuyến nghị khá rõ ràng trong việc cung cấp  
và giúp đỡ người di cư/nhập cư tự do tiếp cận được dịch vụ Bảo hiểm xã hội.  
Tuy nhiên, báo cáo mới chỉ dừng lại từ phía đánh giá các yếu tố khách quan  
của hệ thống bên ngoài mà chưa đánh giá được những yếu tố xuất phát từ  
chính hệ thống bản thân của người di cư/nhập cư tự do, những rào cản về mặt  
nhận thức, những nhu cầu, mong muốn về sử dụng dịch vụ Bảo hiểm xã hội  
xuất phát từ chính bản thân họ. [20]  
Phương Hương - Tổng cục Dân số Kế hoạch hóa Gia đình, báo cáo  
“Các can thiệp về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người di cư tại Việt Nam,  
2000 – 2008” đăng trên tạp trí Tạp chí Dân số Việt Nam/số 1 (106)/2010 chỉ  
ra rằng, các chương trình quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản chưa đáp  
ứng được nhu vầu về thông tin và dịch vụ ngày càng gia tăng của người di  
cư/nhập cư tự do tại các thành phố lớn. Nội dung chính của báo cáo tập trung  
vào việc rà soát lại những can thiệp sức sức khỏe sinh sản hỗ trợ cho người di  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 122 trang baolam 20980 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Công tác xã hội với người3 lao động nhập cư tại phường Phúc Xá - quận Ba Đình - thành phố Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_cong_tac_xa_hoi_voi_nguoi3_lao_dong_nhap_cu_tai_phu.pdf