Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần 199

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI  
NGUYỄN THỊ NGA  
KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ  
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN 199  
LUẬN VĂN THẠC SỸ KẾ TOÁN  
Hà Nội - 2019  
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI  
NGUYỄN THỊ NGA  
KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ  
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN 199  
Chuyên ngành: Kế toán  
Mã ngành: 8340301  
LUẬN VĂN THẠC SỸ KẾ TOÁN  
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Trần Thị Dự  
Hà Nội - 2019  
2
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số  
liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn  
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.  
Tác giả luận văn  
Nguyễn Thị Nga  
3
LỜI CẢM ƠN  
Tác giả xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo trường Đại học Lao  
động - Xã hội, tập thể lãnh đạo và các thầy cô giáo của Khoa Sau đại học và  
Khoa Kế toán của trường.  
Tác giả đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo TS. Trần Thị  
Dự đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo và động viên tác giả trong quá trình nghiên  
cứu và hoàn thành luận văn.  
Tác giả xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân  
viên của Công ty cổ phần 199 đã cung cấp các thông tin hữu ích giúp tác giả  
hoàn thành luận văn.  
Tác giả xin cảm ơn bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã động viên, chia  
sẻ với tác giả trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.  
Tác giả luận văn  
Nguyễn Thị Nga  
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
BHTN  
BHXH  
BHYT  
CPNCTT  
CCDC  
CPNVLTT  
CPSX  
Bảo hiểm thất nghiệp  
Bảo hiểm xã hội  
Bảo hiểm y tế  
Chi phí nhân công trực tiếp  
Công cụ dụng cụ  
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp  
Chi phí sản xuất  
CPSXC  
CPSXDDDK  
CPSXDDCK  
DN  
Chi phí sản xuất chung  
Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ  
Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ  
Doanh nghiệp  
KH  
Khấu hao  
KHTSCĐ  
KKTX  
KPCĐ  
NL  
Khấu hao tài sản cố định  
Kê khai thường xuyên  
Kinh phí công đoàn  
Nhiên liệu  
NVLC  
NVL  
Nguyên vật liệu chính  
Nguyên vật liệu  
PTTT  
Phụ tùng thay thế  
QTCP  
Quản trị chi phí  
VLP  
Vật liệu phụ  
SX  
Sản xuất  
5
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH  
3.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty cổ phần 199  
3.2. Quy trình sản xuất sản phẩm tại công ty cổ phần 199  
3.3. Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại công ty  
4.1. Sơ đồ trình tự hạch toán chi phí trả trước  
3.1. Bảng đinh mức sử dụng NVL cho quần âu cỡ L  
3.2. Đơn giá tiền lương cho từng việc sản phẩm gia công  
3.3. Báo cáo giá thành sản phẩm tổ may số 1  
4.1. Bảng phân loại theo cách ứng xử của chi phí  
4.2. Báo cáo phân tích chi phí nguyên vật liệu trực tiếp  
4.3. Báo cáo chi phí sản xuất sản phẩm  
6
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài  
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, các công ty cổ phần tại Việt Nam  
đang có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng có không ít thách thức đang chờ  
đón. Để vượt qua các thách thức và phát triển bền vững các nhà quản trị  
doanh nghiệp cần có các quyết sách sáng suốt để định hướng phát triển cho  
công ty. Bộ phận kế toán của mỗi doanh nghiệp chính là nơi cung cấp thông  
tin một cách chính xác nhất cho nhà quản trị. Trong đó, kế toán chi phí sản  
xuất và tính giá thành sản phẩm được coi là một trong các khâu trọng yếu của  
mỗi doanh nghiệp sản xuất. Thông qua kế toán chi phí giá thành, nhà quản trị  
sẽ có những quyết định đúng đắn trong việc sản xuất kinh doanh nhằm nâng  
cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Hiện nay tại Việt Nam, kế toán  
đang được quy định theo hệ thống từ luật, chế độ kế toán, các chuẩn mực kế  
toán. Kế toán chi phí giá thành cũng không nằm ngoài hệ thống đó, đang được  
xem xét trên các góc độ kế toán tài chính và các năm gần đây là góc độ kế  
toán quản trị. Qua các góc độ này nhà quản trị sẽ đầy đủ thông tin  
để điều hành, kiểm soát, định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.  
Qua đó góp phần tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, và đạt được mục  
đích cuối cùng là nâng cao lợi nhuận, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.  
Số liệu do báo chí công bố cho thấy, trong năm 2011, ngành dệt may đặt  
mục tiêu xuất khẩu đạt tới 13 tỷ đô la, chiếm khoảng 2,5 % thị phần toàn cầu.  
Hàng dệt may, thêu đan, may mặc của Việt Nam hiện đứng thứ 5 của thế  
giới và phấn đấu tiến lên hàng top 3 trong những năm tới. Trong năm 2011,  
hàngdệt may xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ thu về gần 7 tỷ đô la, bán  
sang EUthu hơn 2 tỷ đô la và xuất qua Nhật Bản chiếm 1.5 tỷ đô la, kim  
ngạch trên một tỷ đô la còn lại là tại các thi trường khác khắp các châu lục.  
Trong khi đó sự cạnh tranh không chỉ đơn thuần là sự cạnh tranh về chất  
lượng của sản phẩm mà còn là sự cạnh tranh về giá cả, thì vấn đề giảm chi  
phí, hạ giá thành sản phẩm luôn luôn được đặt lên mục tiêu hàng đầu đối với  
mỗi doanh nghiệp.Vấn đề này tuy không còn mới mẻ, nhưng nó luôn là vấn  
đề mà mọi doanh nghiệp quan tâm hàng đầu. Vậy các doanh nghiệp cần có  
7
biện pháp gì để có thể đạt được mục tiêu: Giảm chi phí, hạ giá thành nhưng  
vẫn đảm bảo chất lượng của sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường.  
Việc hạch toán chi phí và tính đúng giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp  
có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, tính giá thành, mặt khác tạo  
điều kiện cho các doanh nghiệp có biện pháp phấn đấu hạ thấp giá thành và  
nâng cao chất lượng sản phẩm. Đó là một trong những điều kiện quan trọng  
để sản phẩm của doanh nghiệp có thể đứng vững được trên thị trường và có  
sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường của các  
doanh nghiệp khác. Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là  
một trong những phần hành quan trọng cuả kế toán, nó có vai trò đặc biệt  
quan trọng trong công tác quản lý của doanh nghiệp nói riêng cũng như quản  
lý vĩ mô của nhà nước nói chung.  
Ngành may mặc ngành truyền thống của Việt Nam phục vụ cho tiêu  
dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Những năm gần đây, hàng dệt may xuất  
khẩu luôn tăng dần, với các thị trường chính gồm Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và  
Hàn Quốc... Yêu cầu của các thị trường tiêu thụ sản phẩm ngày càng cao về  
chất lượng cũng như giá cả cần có tính cạnh tranh với sản phẩm các quốc gia  
khác như Trung Quốc.. Ngoài ra, các doanh nghiệp trong ngành dệt may cũng  
phải đối mặt với những khó khăn trong huy động vốn, tổ chức sản xuất. Bản  
thân Công ty CP 199 với nhà máy, các xí nghiệp, thực hiện nhiều dây chuyển  
sản xuất phức tạp, việc tính chính xác và quản lý chi phí sản xuất luôn là vấn  
đề cấp thiết và cần hoàn thiện ngày một tốt hơn.  
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và  
tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần 199” làm đề tài luận văn thạc sỹ  
của mình.  
Đề tài nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và phương pháp tính giá  
thành sản phẩm may mặc tại Công ty cổ phần 199 nhằm đánh giá thực trạng  
kế toán và đề ra những giải pháp nhằm phục vụ việc kiểm soát chi phí, xác  
định giá thành tại công ty.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
8
Hệ thống hóa lý luận nhằm làm sang tỏ cơ sở lý luận phương pháp  
nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong  
doanh nghiệp sản xuất.  
Nghiên cứu các vấn đề thực tế về kế toán chi phí sản xuất và tính giá  
thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất sản phẩm may mặc tại công ty  
cổ phần 199 từ đó, đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá  
thành sản phẩm trong hoạt động may tại công ty cổ phần 199 và Đưa ra giải  
pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm may  
trong công ty cổ phần 199.  
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung vào nghiên cứu kế toán chi phí,  
tính giá thành sản phẩm may mặc tại Công ty cổ phần 199.  
Phạm vi nghiên cứu:  
Về không gian: Tại Công ty cổ phần 199  
Về thời gian: Phạm vi số liệu năm 2017-2019  
Về nội dung: Việc nghiên cứu thực hiện trên phương diện kế toán tài  
chính và kế toán quản trị trong công ty. Về chi phí sản xuất và tính giá thành  
sản phẩm tập trung vào sản phẩm may gia công xuất khẩu tại công ty.  
1.4. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:  
+ Phương pháp phỏng vấn: Tác giả sử dụng phương pháp này để thu  
thập thông tin về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở Công ty Cổ  
phần 199.  
+ Phương pháp nghiên cứu hiện trường  
Tác giả trực tiếp tiến hành quan sát tại phòng kế toán, bộ phận kế toán  
CP sản xuất và giá thành sản phẩm của Công ty. Tác giả nghiên cứu hành vi  
của người quản trị và các kế toán viên thực hành công tác kế toán chi phí sản  
9
xuất và giá thành sản phẩm, nghiên cứu các chứng từ kế toán, trình tự luân  
chuyển chứng từ, sổ kế toán, quy trình ghi sổ, các báo cáo kế toán,...  
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp là dữ liệu có  
sẵn đã được thu thập từ trước. Thông qua các phiếu điều tra, các cuộc phỏng  
vấn trước đó hay những thông tin thu được qua nghiên cứu các tài liệu của  
Công ty Cổ Phần 199, sách báo, tạp chí, internet...được sử dụng để làm cơ sở  
phân tích tình hình hiện tại của doanh nghiệp về tài sản, nguồn vốn, kết quả  
SXKD và thu thập số liệu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản  
phẩm của doanh nghiệp.  
1.5. Tổng quan các công trình nghiên cứu  
- Ngô Thành Nam (2009), “Hoàn thiện hệ thống kế toán tại các doanh  
nghiệp ngành may mặc trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, bàn về những giải  
pháp hoàn thiện cho các doanh nghiệp ngành may trên địa bàn tỉnh này. Trên  
cơ sở khảo sát số liệu thực tế, giải pháp mà tác giả đưa ra gồm: Hoàn thiện  
việc phân loại chi phí: tác giả đã đề xuất hướng phân loại theo mức độ ứng xử  
trong doanh nghiệp may mặc. Với chi phí sản xuất chung phát sinh như khảo  
sát hầu hết là chi phí hỗn hợp thì các doanh nghiệp có thể sử dụng phương  
pháp cực đại – cực tiểu hoặc bình phương bé nhất để tách thành biến phí và  
định phí. Tác giả đề xuất hoàn thiện hạch toán thiệt hại trong doanh nghiệp  
may mặc thông qua việc quy định rõ tỷ lệ sản phẩm hỏng trong và ngoài định  
mức tại doanh nghiệp để loại trừ chi phí ngoài định mức khỏi giá thành. Với  
đặc điểm các doanh nghiệp gia công theo các đơn đặt hàng, tác giả đề xuất lựa  
chọn kỳ tính giá thành theo thời gian gia công đơn đặt hàng sẽ giúp tiết kiệm  
thời gian và công sức va tính toán chính xác. Để quản lý chi phí sản xuất, các  
doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống định mức chi phí sản xuất. Xây dựng và  
vận hành hệ thống kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.  
Tác giả đã trình bày phương hướng hoàn thiện cho kế toán chi phí sản  
xuất và tính giá thành sản phẩm doanh nghiệp may mặc trên địa bàn tỉnh Hải  
Dương theo cả hướng kế toán tài chính và kế toán quản trị. Tuy nhiên, giải  
pháp đưa ra chưa có số liệu tính toán, các bước thực hiện giải pháp và kết quả  
10  
cụ thể của các giải pháp hoàn thiện.  
- Nguyễn Bích Hương Thảo (2013), “Kế toán chi phí và tính giá thành  
sản phẩm cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản” đã đi vào khảo sát ngành  
chế biến thủy sản. Tác giả đã tìm hiểu công tác kế toán chi phí và tính giá  
thành sản phẩm tại doanh nghiệp. Với kết quả thu được, tác giả đưa ra những  
đề xuất:  
Về phương pháp tính giá thành sản phẩm: Tác giả đã đưa ra đặc điểm  
quy trình công nghệ sản xuất, đối với ngành chế biến thủy sản có cùng quy  
trình nhưng tạo ra một nhóm sản phẩm cùng loại có quy cách khác nhau, kế  
toán phải xác định tỷ lệ giá thành giữa tổng giá thành thực tế và giá thành theo  
định mức. Ngoài ra, tác giả còn có đề xuất ứng dung kế toán quản trị nâng cao  
quản lý và kiểm soát chi phí gồm xây dựng định mức chi phí cho CPNVLTT,  
CPNCTT, CPSXC.  
Đề tài đã đi sâu vào phân tích ảnh hưởng của đặc điểm quy trình công  
nghệ, đặc điểm sản phẩm để đánh giá công tác kế toán và đưa ra những hoàn  
thiện cho công tác kế toán chi phí cũng như tính giá thành sản phẩm nằm  
trong lĩnh vực chế biến thủy sản.  
- Ngoài ra, còn có các đề tài là luận văn thạc sỹ như: Tạ Thị Hải Hà  
(2013), “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại  
Công ty Cổ phần Sơn Hải Phòng”; Kiều Thị Phương Nhung (2014), “Hoàn  
thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty CP xây  
dựng và thương mại Sơn Tây”; Bùi Quang Hoàng (2016), “Hoàn thiện kế  
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phần mềm tại công ty cổ  
phần ứng dụng và công nghệ Tháng Tám”…  
Qua việc tổng hợp lại những nghiên cứu trước, tác giả thấy rằng việc  
nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đã có tác giả  
nghiên cứu. Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào nghiên cứu kế toán chi  
phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các công ty cụ thể. Trong nền kinh tế  
Việt Nam ngành may mặc đang dần chiếm vị thế quan trọng và được người  
tiêu dùng đón nhận. Ngành Dệt May là ngành có năng lực cạnh tranh cao  
11  
trong quá trình hội nhập thương mại quốc tế, là ngành xuất khẩu chủ lực của  
ngành công nghiệp Việt Nam trong những năm qua. Kim ngạch xuất khẩu dệt  
may tăng lên qua hàng năm. Bên cạnh đó, khả năng cạnh tranh và hội nhập  
của ngành dệt may Việt Nam đã phát triển mạnh, hoàn toàn đáp ứng được nhu  
cầu của các thị trường lớn. Đây cũng là ngành có nhu cầu lao động cao, do đó  
ngành dễ dàng giải quyết và thu hút việc làm cho người lao động kể cả lao  
động xuất phát từ nông thôn, từ đó góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã  
hội, cải thiện quan hệ sản xuất, bảo đảm và tiến tới phân phối công bằng hơn  
về thu nhập, đồng thời bảo đảm ngày càng nhiều công ăn việc làm cho xã hội,  
giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tăng thời gian lao động được sử dụng ở  
nông thôn. Công ty cổ phần 199 tiền thân là xí nghiệp may thương binh 27/7  
Hà Nam Ninh. Công ty là một trong những công ty hàng đầu Việt Nam về sản  
xuất đồng phục quân đội và quần áo lao động. Tuy nhiên vẫn chưa có nhiều  
nghiên cứu nào về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty  
cổ phần 199 về cả hai mặt kế toán tài chính và kế toán quản trị. Do vậy, tác giả  
đã lựa chọn đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công  
ty cổ phần 199”.  
1.6. Kết cấu của luận văn  
Ngoài lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh  
mục sơ đồ và bảng biểu, tài liệu tham khảo, các phụ lục, nội dung chính của  
luận văn được chia thành bốn chương như sau:  
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu  
Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành  
sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.  
Chương 3: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm  
may mặc tại Công ty cổ phần 199  
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá  
thành sản phẩm may mặc tại Công ty cổ phần 199.  
12  
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ  
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT  
2.1. Khái quát chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong  
doanh nghiệp sản xuất  
2.1.1. Chi phí sản xuất  
2.1.1.1. Khái niệm  
Quá trình SXKD là quá trình mà doanh nghiệp phải thường xuyên đầu  
tư các loại chi phí khác nhau để cùng đạt được mục đích là tạo ra khối lượng  
sản phẩm, lao vụ hoặc khối lượng công việc phù hợp với nhiệm vụ sản xuất  
đã xác định và thực hiện. Thực chất hoạt động SXKD của DN là sự vận động,  
kết hợp, tiêu dùng và chuyển đổi các yếu tố tư liệu lao động, đối tượng lao  
động và sức lao động để tạo ra kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất. Quá  
trình vận động của chu kỳ SXKD có thể khái quát thành ba giai đoạn.  
Quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp được thực hiện liên tục,  
lặp lại không ngừng và điểm khởi đầu của mỗi quá trình SXKD là tiền, các  
khoản phải thu, các tài sản khác. Như vậy, chi phí hoạt động của doanh  
nghiệp phát sinh trong tất cả các giai đoạn sản xuất, tuy nhiên chỉ các chi phí  
phát sinh trong giai đoạn biến đổi các yếu tố đầu vào để trở thành các sản  
phẩm, lao vụ, dịch vụ mới được gọi là chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất có  
thể được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau.  
Theo VAS 01 và IAS 01“Chuẩn mực chung” thì: “Chi phí là các yếu tố  
làm giảm các lợi ích kinh tế của doanh nghiệp trong kỳ, dưới hình thức các  
khoản tiền chi ra hoặc giảm tài sản hoặc làm phát sinh các khoản nợ dẫn đến  
làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu nhưng không bao gồm khoản phân phối cho  
các cổ đông hoặc chủ sỡ hữu”. Theo định nghĩa này, chi phí được xem xét  
theo từng kỳ kế toán và là các khoản mục trong báo cáo tài chính. Theo cách  
đó thì chi phí được ghi nhận, phản ánh theo những nguyên tắc nhất định. Định  
nghĩa chi phí như vậy phù hợp khi đứng trên góc độ của đối tượng sử dụng  
thông tin kế toán tài chính, chủ yếu là đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.  
13  
Vậy để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình các doanh  
nghiệp phải huy động, sử dụng các nguồn lực như lao động, vật tư, tiền vốn...  
để tạo ra sản phẩm hay hoàn thành công việc, lao vụ của mình. Những chi phí  
mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất sản phẩm, hoàn thành công  
việc, lao vụ đó được gọi là chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất kinh doanh của  
các doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình tồn tại và hoạt  
động của doanh nghiệp. Nhưng để phục vụ cho nhu cầu quản lý chi phí sản  
xuất kinh doanh phải được tập hợp theo từng thời kỳ: tháng, quý, năm.  
Trên góc độ KTTC: Chi phí sản xuất hay chi phí chế tạo sản phẩm là  
toàn bộ các khoản chi phí liên quan tới việc sản xuất, chế tạo sản phẩm phát  
sinh trong quá trình sản xuất. Toàn bộ các chi phí này được tính vào giá thành  
sản phẩm. Chỉ những chi phí dùng để tiến hành các hoạt động sản xuất mới  
được coi là chi phí sản xuất và là bộ phận quan trọng trong chi phí SXKD của  
DN. Chi phí sản xuất gồm nhiều khoản mục khác nhau, thông thường gồm:  
CP nguyên vật liệu trực tiếp, CP nhân công trực tiếp, CP sản xuất chung.  
Trên góc độ KTQT: Chi phí có thể là dòng phí tổn thực tế gắn liền với  
hoạt động hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định, chi phí  
cũng có thể là dòng phí tổn ước tính để thực hiện dự án, những phí tổn mất đi  
do chọn lựa phương án, hy sinh cơ hội kinh doanh. Như vậy, chi phí có thể đã  
thực tế phát sinh, cũng có thể chưa phát sinh mà mới chỉ ước tính; có thể là  
những cơ hội bị mất đi do chúng ta đã lựa chọn một cơ hội khác. Chi phí  
không phải gắn liền với một kỳ cụ thể nào mà nó được xem xét gắn liền với  
các phương án, cơ hội kinh doanh gắn liền với một quyết định cụ thể mà nhà  
quản trị phải đưa ra. Chi phí là các hy sinh về các lợi ích kinh tế, phản ánh các  
nguồn lực mà đơn vị sử dụng để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ.  
Xét về mặt bản chất thì chi phí sản xuất là sự chuyển dịch vốn vào đối  
tượng tính giá nhất định, vốn này được DN bỏ ra trong quá trình sản xuất.  
Xuất phát từ mục đích và nguyên tắc KD thì mọi sản phẩm tạo ra luôn được  
DN quan tâm đến hiệu quả mang lại.  
14  
2.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất  
a) Phân loại CP theo nội dung tính chất kinh tế của chi phí  
Đặc điểm của cách phân loại này là căn cứ vào nội dung, tính chất kinh  
tế của chi phí, các chi phí giống nhau được xếp vào một yếu tố, không phân  
biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh vực hoạt động nào, bao gồm:  
Chi phí nguyên vật liệu: Là trị giá nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ,  
nhiên liệu, phụ tùng thay thế đã sử dụng phục vụ trực tiếp sản xuất.  
Chi phí tiền lương, tiền công: Là chi phí về tiền lương, tiền công phải  
trả cho người lao động tham gia vào quá trình sản xuất.  
Chi phí các khoản trích theo lương: Là các khoản trích theo lương phải  
trả người lao động như BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ.  
Chi phí về công cụ, dụng cụ: Là giá trị công cụ dụng cụ xuất sử dụng và  
tính phân bổ cho chi phí sản xuất trong kỳ.  
Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là chi phí về trị giá hao mòn của  
TSCĐ sử dụng phục vụ trực tiếp cho sản xuất.  
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các khoản chi phí về dịch vụ phục vụ  
trực tiếp cho quá trình sản xuất như: Vận chuyển, điện thoại, nước,...  
Các chi phí khác bằng tiền: Là những khoản chi phí trực tiếp khác  
ngoài những chi phí trên như: tiếp khách, hội nghị, thuế tài nguyên (nếu có).  
Cách phân loại này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí sản  
xuất mà doanh nghiệp đã chi ra để lập bản thuyết minh báo cáo tài chính,  
phân tích tình hình, thực hiện dự toán chi phí và lập dự toán chi phí kỳ sau.  
b)Phân loại CP theo mục đích, công dụng chi phí và quản lý giá thành  
Theo cách phân loại này thì những chi phí có công dụng như nhau sẽ  
được xếp vào một yếu tố, bao gồm:  
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ giá trị nguyên vật liệu  
chính, vật liệu phụ, vật liệu khác... được sử dụng trực tiếp sản xuất sản phẩm.  
15  
Chi phí nhân công trực tiếp là toàn bộ chi phí trả cho công nhân trực  
tiếp sản xuất sản phẩm như tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản BHXH,  
BHYT, BHTN, KPCĐ trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất.  
Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí sản xuất liên quan đến  
việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, tổ đội sản  
xuất bao gồm chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí  
vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài... phục vụ cho sản xuất.  
Tùy theo đặc điểm, yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp mà chi phí  
sản xuất cũng có thể được theo dõi chi tiết thành các khoản mục nhỏ hơn. Đối  
với các doanh nghiệp sản xuất ra nhiều loại sản phẩm thì chi phí sản xuất còn  
có thể được hạch toán theo từng khoản mục chi phí cho từng sản phẩm.  
Cách phân loại này là cơ sở để doanh nghiệp quản lý chi phí theo định  
mức, tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản  
mục. Ngoài ra, đây căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch và xây  
dựng định mức chi phí sản xuất cho kỳ sau.  
c) Phân loại CP theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm hoàn thành  
Đây là phương pháp phân loại chi phí được sử dụng nhiều trong kế toán  
quản trị chi phí sản xuất. Mỗi yếu tố chi phí tham gia vào quá trình sản xuất  
với mức độ khác nhau, có yếu tố chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản  
xuất sản phẩm, có yếu tố không chủ yếu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí  
sản xuất đó. Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành:  
Chi phí biến đổi là những chi phí có sự thay đổi về lượng tương quan tỷ  
lệ thuận với sự thay đổi của khối lượng SP sản xuất trong kỳ. CP biến đổi cho  
một đơn vị sản phẩm lại không đổi như CP nhân công, CP nguyên vật liệu,...).  
Chi phí cố định là những chi phí không biến đổi khi mức độ hoạt động  
thay đổi, nhưng khi tính cho một đơn vị hoạt động thì chi phí này lại thay đổi  
như chi phí thuê nhà xưởng, lương của ban quản lý.  
16  
Chi phí hỗn hợp là những chi phí gồm các yếu tố của chi phí cố định và  
chi phí biến đổi. Trong một giới hạn nhất định nó là chi phí cố định nhưng  
vượt qua giới hạn đó nó trở thành chi phí biến đổi (như CP điện thoại, fax,..).  
Việc phân loại chi phí theo tiêu thức này có ý nghĩa quan trọng trong  
quá trình quản lý chi phí sản xuất tại doanh nghiệp, là cơ sở thiết kế và xây  
dựng mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận,  
dùng để phân tích điểm hòa vốn và đưa ra các quyết định quan trọng trong  
kinh doanh. Ngoài ra, cách phân loại này còn giúp các nhà quản trị xác định  
đúng đắn phương hướng sử dụng và nâng cao hiệu quả của các loại chi phí.  
d) Phân loại CP nhằm phục vụ cho việc ra quyết định  
Theo quan điểm này, chi phí bao gồm:  
Chi phí chênh lệch là những khoản chi phí có ở phương án này nhưng  
chỉ có một phần hoặc không có ở phương án khác.  
Chi phí chìm là những chi phí đã phát sinh, nó có trong tất cả các  
phương án SXKD được đưa ra xem xét lựa chọn. Đây là những chi phí mà  
nhà quản trị phải chấp nhận không có sự lựa chọn. Bởi vậy, chi phí chìm luôn  
có thông tin không thích hợp cho việc xem xét, lựa chọn phương án tối ưu.  
Chi phí cơ hội là chi phí bị mất đi vì lựa chọn phương án, hành động  
này thay vì lựa chọn phương án, hành động khác. Vì vậy, ngoài những chi phí  
đã được tập hợp trong sổ sách kế toán, trước khi ra quyết định, nhà quản trị  
còn phải xem xét chi phí cơ hội phát sinh do những yếu tố kinh doanh có thể  
sử dụng theo cách khác mà những cách này cũng mang lại lợi nhuận.  
e) Phân loại chi phí theo mối quan hệ với quy trình sản xuất  
Chi phí sản xuất  
Giai đoạn sản xuất là giai đoạn chế biến nguyên vật liệu thành thành  
phẩm bằng sức lao động của công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc  
thiết bị. Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên liệu vật liệu  
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.  
Chi phí ngoài sản xuất  
17  
Đây là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm liên  
quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung  
toàn doanh nghiệp. Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: Chi  
phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.  
f). Phân loại chi phí theo mối quan hệ với báo cáo tài chính  
Chi phí sản phẩm: bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản  
xuất sản phẩm, do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm  
hình thành qua giai đoạn sản xuất.  
Chi phí sản phẩm gồm các khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,  
chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Xét theo mối quan hệ  
với việc xác định lợi tức trong từng kỳ hạch toán, chi phí sản phẩm chỉ được  
tính toán, kết chuyển để xác định lợi nhuận trong kỳ tương ứng với khối  
lượng sản phẩm đã được tiêu thụ trong kỳ đó. Chi phí của khối lượng sản  
phẩm tồn kho chưa được tiêu thụ vào cuối kỳ sẽ được lưu giữ như là giá trị  
tồn kho và được kết chuyển để xác định lợi nhuận ở kỳ sau khi chúng được  
tiêu thụ.  
Chúng được ghi nhận là một bộ phận tài sản và được phản ánh trong  
chỉ tiêu hàng tồn kho (“Sản phẩm dở dang”, “Thành phẩm tồn kho”, “Hàng  
hoá tồn kho”) trong Bảng cân đối kế toán. Trong trường hợp các sản phẩm,  
hàng hoá đã được tiêu thụ thì chi phí sản phẩm là vốn hàng đã bán và được  
ghi vào chỉ tiêu "Giá vốn hàng bán" trong báo cáo kết quả hoạt động kinh  
doanh và được bù đắp bằng doanh thu của số sản phẩm hàng hoá đã tiêu thụ.  
Chi phí thời kỳ: gồm các khoản mục chi phí còn lại ngoài các khoản  
mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm. Đó là chi phí bán hàng và chi phí quản lý  
doanh nghiệp. Các chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ hạch toán nào được xem là  
có tác dụng phục vụ cho quá trình kinh doanh của kỳ đó, do vậy chúng được  
tính toán kết chuyển hết để xác định lợi tức ngay trong kỳ hạch toán mà  
chúng phát sinh. Các chi phí này được ghi nhận với 2 chỉ tiêu: “Chi phí bán  
hàng” và “Chi phí quản lý doanh nghiệp” trong báo cáo kết quả hoạt động  
kinh doanh của kế toán tài chính.  
18  
g) Phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra và ra quyết định  
Để phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định trong quản lý, chi phí  
của DN còn được xem xét ở nhiều khía cạnh khác phục vụ cho việc phân tích,  
so sánh để ra quyết định lựa chọn phương án tối ưu trong các tình huống.  
Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được: Khoản chi phí  
mà ở một cấp quản lý nào đó có quyền ra quyết định để chi phối nó thì được  
gọi là chi phí kiểm soát được (ở cấp quản lý đó), nếu ngược lại thì là chi phí  
không kiểm soát được. Xem xét chi phí ở khía cạnh kiểm soát có ý nghĩa lớn  
trong phân tích chi phí và ra các quyết định xử lý, góp phần thực hiện tốt kế  
toán trách nhiệm trong doanh nghiệp.  
Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp: Trong các doanh nghiệp sản xuất,  
các khoản chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất sản  
phẩm hoặc thực hiện các đơn đặt hàng nên có thhể tính trực tiếp cho từng loại  
sản phẩm hay từng đơn đặt hàng thì được gọi là chi phí trực tiếp. Ngược lại,  
các khoản chi phí phát sinh cho mục đích phục vụ và quản lý chung, liên quan  
đến việc sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm, nhiều đơn đặt hàng cần tiến  
hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng chi phí theo các tiêu thức phân bổ  
được gọi là chi phí gián tiếp. Thông thường, khoản mục chi phí NVLTT và  
chi phí NCTT là các khoản mục chi phí trực tiếp, còn các khoản mục chi phí  
SXC, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí gián tiếp.  
Chi phí chìm: được hiểu là khoản chi phí đã bỏ ra trong quá khứ và sẽ  
hiển hiện ở tất cả mọi phương án với giá trị như nhau. Hiểu một cách khác,  
chi phí chìm được xem như là khoản chi phí không thể tránh được cho dù  
người quản lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào. Chính vì  
vậy, chi phí chìm là loại chi phí không thích hợp cho việc xem xét, ra quyết  
định của người quản lý. Tuy nhiên, trong thực tế, việc nhận diện được chi phí  
chìm cũng như sự nhận thức rằng chi phí chìm cần được loại bỏ trong tiến  
trình ra quyết định không phải lúc nào cũng dễ dàng.  
Chi phí chênh lệch: cũng chỉ xuất hiện khi so sánh chi phí gắn liền với  
các phương án trong quyết định lựa chọn phương án tối ưu. Chi phí chênh  
19  
lệch được hiểu là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí của một phương  
án so với một phương án khác. Có hai dạng chi phí chênh lệch: giá trị của  
những chi phí chỉ phát sinh ở phương án này mà không có ở phương án khác,  
hoặc là phần chênh lệch về giá trị của cùng một loại chi phí ở các phương án  
khác nhau. Người quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn các phương án trên  
cơ sở phân tích bộ phận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là dạng  
thông tin thích hợp cho việc ra quyết định.  
Chi phí cơ hội: là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thực  
hiện phương án này thay cho phương án khác. Chi phí cơ hội là một yếu tố  
đòi hỏi luôn phải được tính đến trong mọi quyết định của quản lý. Để đảm  
bảo chất lượng của các quyết định, việc hình dung và dự đoán tất cả các  
phương án hành động có thể liên quan đến tình huống cần ra quyết định là  
quan trọng hàng đầu. Có như vậy, phương án hành động được lựa chọn mới  
thực sự là tốt nhất khi so sánh với các khoản lợi ích mất đi của tất cả các  
phương án bị loại bỏ khác.  
2.1.1.3. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất  
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi  
phí nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm. Thực  
chất của việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là việc xác định giới  
hạn tập hợp chi phí hay xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí.  
Còn xác định đối tượng tính giá thành là việc xác định sản phẩm, bán thành  
phẩm, công việc, lao vụ hoàn thành đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị.  
Đối tượng đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quy trình sản xuất hay đang  
trên dây chuyền sản xuất tùy theo yêu cầu của chế độ hạch toán kinh tế mà  
doanh nghiệp đang áp dụng và quá trình tiêu thụ sản phẩm.  
Để xác định đúng đắn đối tượng của kế toán chi phí sản xuất với đối  
tượng tính giá thành sản phẩm, ta cần căn cứ vào các yếu tố sau đây:  
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất  
- Loại hình sản xuất  
- Yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 121 trang baolam 21020 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần 199", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_ke_toan_chi_phi_san_xuat_va_tinh_gia_thanh_san_pham.pdf