Luận văn Nâng cao chất lượng nguồn lao động Việt Nam đi làm việc ở Đài Loan đến năm 2020

1
LỜI MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Di cư lao động quốc tế là một xu thế khách quan diễn ra ngày càng rộng lớn  
trên thế giới. Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp  
đồng là một hình thức di cư lao động hợp pháp và đã trở thành nhân tố quan  
trọng của sự phát triển ở Việt Nam từ những năm 80. Hoạt động này đã góp phần  
giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, mang nguồn thu ngoại tệ  
về cho đất nước và cải thiện đời sống cho người lao động và gia đình họ. Một bộ  
phận lao động đã tiếp thu kinh nghiệm, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong sản  
xuất ở nước bạn, do đó, sau khi họ trở về Việt Nam có được nguồn lao động chất  
lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Hiện có  
trên 500.000 lao động Việt Nam đang làm việc có thời hạn ở hơn 40 quốc gia và  
vùng lãnh thổ, bình quân mỗi năm chuyển về nước gần 2 tỷ USD. Trong đó,  
riêng thị trường Đài Loan có trên 109.000 lao động Việt Nam đang làm việc, với  
số lượng lao động bình quân tiếp nhận mới mỗi năm khoảng 30.000 người,  
chiếm trên 30% tổng số lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài. Tổng  
mức thu nhập của lao động dao động từ 15 - 25 triệu đồng/tháng.  
Chất lượng lao động là nội dung quan trọng tạo nên sức cạnh tranh của lao  
động Việt Nam và nâng cao hiệu quả hoạt động đưa LĐ đi làm việc tại thị  
trường lao động Đài Loan. Tuy nhiên so với các quốc gia phái cử lao động khác  
tại Đài Loan, chất lượng lao động Việt Nam còn nhiều hạn chế, phần lớn là lao  
động phổ thông, xuất thân từ nông thôn, chưa có tác phong công nghiệp, trình độ  
văn hóa thấp, năng lực ngoại ngữ chưa đủ để giao tiếp và làm việc. Do đó, chất  
lượng việc làm và thu nhập của lao động Việt Nam thấp, có nhiều vi phạm kỷ  
2
luật lao động, vi phạm pháp luật, phá vỡ hợp đồng, bỏ trốn dẫn đến nguy cơ mất  
thị trường.  
Trong những năm tới, nền kinh tế Đài Loan sẽ phát triển mạnh, dự báo nhu  
cầu tiếp nhận lao động vẫn rất cao, đặc biệt đối với lao động có tay nghề và trình  
độ ngoại ngữ nhất định. Nâng cao chất lượng lao động sẽ tạo việc làm và thu  
nhập tốt hơn, hạn chế số lượng lao động bỏ trốn, giảm thiểu nguy cơ mất thị  
trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và thương hiệu, tăng hiệu quả hoạt động  
đưa người lao động đi làm việc tại Đài Loan. Như vậy, vấn đề nâng cao chất  
lượng lao động trở thành thách thức lớn nhất trong thời gian tới.  
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động đưa lao động đi làm việc ở  
Đài Loan, việc cải thiện chất lượng lao động là một yêu cầu cần thiết. Vì vậy,  
việc lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng nguồn lao động Việt Nam đi làm  
việc ở Đài Loan đến năm 2020 ” làm đề tài luận văn thạc sỹ vừa có ý nghĩa lý  
luận vừa có ý nghĩa thực tiễn.  
2. Tình hình nghiên cứu  
v Tình hình nghiên cứu trong nước  
Trước đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động đưa LĐ Việt Nam đi  
làm việc ở nước ngoài, thể hiện qua một số công trình tiêu biểu sau:  
- Nghiên cứu chung về hoạt động đưa LĐ đi làm việc ở nước ngoài:  
Ø Đề tài cấp Bộ của Nguyễn Ngọc Quỳnh (2007): “Những luận cứ để xây  
dựng chiến lược Xuất khẩu LĐ”. Đề tài nêu lên những căn cứ để xây dựng chiến  
lược xuất khẩu LĐ và đề xuất khung chiến lược Xuất khẩu LĐ đến năm 2020.  
Ø Đề tài cấp Bộ của Tiến sĩ Hoàng Kim Ngọc (2007): “Xây dựng cơ chế  
phát triển nguồn và sử dụng hiệu quả quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước”. Đề tài  
nêu lên cơ sở khoa học xây dựng cơ chế phát triển nguồn và sử dụng hiệu quả  
3
quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước; thực trạng hoạt động Xuất khẩu LĐ và hỗ trợ  
xuất khẩu LĐ; hoàn thiện cơ chế chính sách và các giải pháp để phát triển nguồn  
và sử dụng nguồn hiệu quả quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước.  
Ø Luận văn Thạc sỹ Kinh doanh và quản lý cúa tác giả Dương Tuyết  
Nhung (2008): “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu tại các DN Xuất  
khẩu LĐ ở Hà Nội”. Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chất  
lượng nguồn LĐ xuất khẩu; thực trạng chất lượng nguồn LĐ xuất khẩu và hoạt  
động nâng cao chất lượng nguồn LĐ của các DN dịch vụ trên đị bàn thành phố  
Hà Nội từ năm 2002 – 2007; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng  
nguồn LĐ xuất khẩu tại các DN dịch vụ đóng trên địa bàn.  
Ø Đề tài cấp Bộ của PGS.TS. Nguyễn Tiệp (2009): “Định hướng và giải  
pháp phát triển thị trường LĐ chuyên môn, kỹ thuật cao đảm bảo yêu cầu hội  
nhập kinh tế quốc tế đến 2020”. Đề tài đã nêu lên cơ sở lý luận và thực tiễn phát  
triển thị trường LĐ chuyên môn, kỹ thuật cao; phân tích thực trạng và dự báo xu  
hướng phát triển thị trường LĐ này ở Việt Nam.  
Ø Nghiên cứu khảo sát của Tiến sỹ Nguyễn Thị Lan Hương và Thạc sỹ  
Trịnh Thu Nga (2010): “Đánh giá thực trạng LĐ đi làm việc ở nước ngoài đã trở  
về Việt Nam”. Nghiên cứu phân tích thực trạng Xuất khẩu LĐ tại các địa bàn  
khảo sát; tác động của Xuất khẩu LĐ đến đời sống việc làm và các vấn đề xã hội  
của người LĐ; khuyến nghị chính sách nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của  
Xuất khẩu LĐ và nâng cao hiệu quả các chương trình di cư ra nước ngoài trong  
giai đoạn tới.  
- Nghiên cứu chuyên sâu về từng thị trường tiếp nhận LĐ Việt Nam:  
Ø Luận văn Thạc sỹ Kinh tế đối ngoại của Trần Thị Thanh Trà (2006):  
“Xuất khẩu LĐ của Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á”. Luận văn này  
4
nghiên cứu đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động Xuất khẩu LĐ của Việt Nam ở  
thị trường này.  
Ø Luận văn Thạc sỹ Kinh tế đối ngoại của Trần Xuân Thọ (2009): “Xuất  
khẩu LĐ của Việt Nam sang thị trường EU”. Luận văn này nghiên cứu tình hình  
LĐ Việt nam tại EU hiện nay và giải pháp để thúc đẩy hoạt động Xuất khẩu LĐ  
của Việt Nam sang EU.  
- Nghiên cứu đi sâu vào nội dung cơ bản trong hoạt động đưa LĐ đi làm  
việc ở nước ngoài như đào tạo, quản lý LĐ đi làm việc ở nước ngoài:  
Ø Công trình của PGS. TS Trần Thị Thu (2006): “Nâng cao hiệu quả quản  
lý Xuất khẩu LĐ của các DN trong điều kiện hiện nay (Lấy ví dụ DN SONA)”.  
Công trình nghiên cứu với mục đích làm rõ khái niệm và sự cần thiết nâng cao  
hiệu quả quản lý Xuất khẩu LĐ tại các DN đưa người LĐ đi làm việc ở nước  
ngoài của Việt Nam, đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý hoạt động  
Xuất khẩu LĐ của các DN dịch vụ và quan điểm nâng cao, tăng cường hiệu quả  
quản lý hoạt động này đến 2010 ở cả tầm vĩ mô và vi mô.  
Ø Công trình của PGS. TS. Phan Huy Đường (2008): “Quản lý nhà nước  
về Xuất khẩu LĐ ở Việt Nam”. Công trình nghiên cứu làm rõ đặc điểm và xu  
hướng vận động của thị trường LĐ thế giới, nêu nội dung và các tiêu chí định  
hướng đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động Xuất khẩu LĐ ở  
Việt Nam. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động Xuất khẩu LĐ  
trong giai đoạn 1986 – 2008, đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý  
nhà nước về hoạt động dịch vụ này trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam.  
Ø Đề tài cấp Bộ của Tiến sĩ Vũ Đình Toàn (2006): Vấn đề bảo vệ quyền  
lợi chính đáng của LĐ Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài - Thực trạng và  
giải pháp”. Đề tài này nêu lên cơ sở khoa học để bảo vệ chính đáng quyền lợi  
5
của người LĐ Việt Nam làm việc tại nước ngoài; thực trạng công tác bảo vệ  
quyền lợi chính đáng của người LĐ Việt Nam làm việc ở nước ngoài.  
v Tình hình nghiên cứu ngoài nước: một số công trình tiêu biểu:  
- Nghiên cứu “Tình hình và xu hướng Xuất khẩu LĐ Việt Nam – Situation  
and Trends of  
Vietnamese Labor Export” của tác giả Kannika  
Angsuthanasombat (2007) đã phân tích thực trạng Xuất khẩu LĐ ở Việt Nam  
trong đó nêu rõ LĐ Việt Nam ở nước ngoài tương đối thông minh, năng động,  
chăm chỉ làm thêm, tuy nhiên tác phong công nghiệp kém, những người đi chủ  
yêu từ nông thôn, trình độ văn hóa thấp, ngoại ngữ không đủ để giao tiếp và làm  
việc ở nước ngoài. Tác giả nêu khuyến nghị là Việt Nam cần nâng cao chất  
lượng LĐ đi làm việc ở nước ngoài, tăng số lượng LĐ có nghề, chuyên môn kỹ  
thuật nhằm khả năng cạnh tranh XKLĐ của Việt Nam.  
- Báo cáo “Di cư LĐ từ Việt Nam sang các nước Châu Á, 2000 – 2009:  
Quy trình, kinh nghiệm và tác động – International Labour Migration from  
Vietnam to Asian Countries, 2000 – 2009: Process, Experiences and Impact” của  
Belanger, Daniele, Lê Bạch Dương, Trần Giang Linh và Khuất Thu Hồng  
(2010), báo cáo trình bày tại Hội thảo quốc tế “Di cư LĐ từ Việt Nam đến các  
nước Châu Á: chia sẻ Kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm của các tổ chức phi  
chính phủ - Labour Migration from Vietnam to Asian Countries: Sharing  
Research Findings and NGOs’ Experiences”.  
- Nghiên cứu: “Di cư LĐ quốc tế ở Việt Nam và tác động của các chính  
sách của những nước tiếp nhận LĐ-International Labor Migration in Vietnam  
and the Impact of Receiving Countries’ Policies” của hai tác giả Futaba, Ishizuka  
(03/2013) xem xét tác động của các chính sách tiếp nhận LĐ nước ngoài của  
6
Hàn Quốc và Nhật Bản áp dụng, thực hiện tại Việt Nam, cũng như tác động của  
hệ thống phái cử LĐ Việt Nam, về vấn đề LĐ bỏ trốn.  
Các nghiên cứu nêu trên đã tập hợp một cách có hệ thống các vấn đề lý luận  
và thực tiễn của chất lượng nguồn LĐ, hoạt động đưa LĐ đi làm việc ở nước  
ngoài và quản lý nhà nước về hoạt động này. Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu  
quả từ hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế quản lý, tổ chức hoạt động,  
đặc biệt đối với chủ thể DN dịch vụ; có các chính sách nâng cao chất lượng  
nguồn LĐ đi làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, chất lượng LĐ mới là yếu tố  
chính tạo nên sức cạnh tranh của LĐ và nâng cao hiệu quả hoạt động đưa LĐ đi  
làm việc ở nước ngoài. Nâng cao chất lượng LĐ theo yêu cầu và đặc điểm của  
thị trường tiếp nhận LĐ Việt nam là hướng đi hợp lý, phát huy thế mạnh của  
hoạt động đưa LĐ đi làm việc ở nước ngoài một cách có hiệu quả. Vấn đề này  
chưa được nhiều tác giả phân tích nghiên cứu, cụ thể về thị trường Đài Loan là  
vấn đề mới.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về chất lượng nguồn  
LĐ đi làm việc ở Đài Loan, đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao  
chất lượng nguồn LĐ đi làm việc tại thị trường này.  
Nhiệm vụ: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề nguồn LĐ đi làm việc ở  
nước ngoài.  
- Phân tích thực trạng chất lượng LĐ Việt Nam đi làm việc ở Đài Loan  
trong thời gian qua, phát hiện những hạn chế và làm rõ nguyên nhân của những  
hạn chế đó.  
- Đề xuất các định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn LĐ Việt  
Nam đi làm việc ở Đài Loan đến năm 2020.  
7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng: + Chất lượng LĐ Việt Nam đi làm việc tại Đài Loan.  
+ Hoạt động nâng cao chất lượng LĐ trước khi sang Đài Loan làm việc.  
- Phạm vi: + LĐ Việt Nam làm việc ở Đài Loan  
+ Thời gian: Từ 2001 - 2012.  
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp luận: Duy vật biện chứng, xem xét mối quan hệ giữa chất  
lượng nguồn LĐ đưa đi làm việc ở nước ngoài, xu thế vận động di cư LĐ quốc tế  
và nhu cầu của thị trường tiếp nhận LĐ.  
- Phương pháp nghiên cứu:  
+ Phương pháp phân tích tổng hợp từ các tài liệu thứ cấp: Bảng khảo sát  
chất lượng LĐ đi làm việc ở Đài Loan đã trở về Việt Nam, Bảng tổng hợp trình  
độ LĐ trước khi đi làm việc ở nước ngoài (LĐ đã qua đào tạo, LĐ chưa qua đào  
tạo), bảng tổng hợp ngành nghề…  
+ Phương pháp thu thập thông tin khi trao đổi trực tiếp với một số chuyên  
gia. Đặc biệt khai thác có hệ thống các kênh truyền thông đại chúng, Internet.  
6. Đóng góp mới của Luận văn  
- Phân tích tình hình thực trạng của chất lượng nguồn LĐ Việt Nam đi làm  
việc ở Đài Loan.  
- Phân tích những hạn chế về chất lượng nguồn LĐ Việt Nam đi làm việc  
ở Đài Loan và những nguyên nhân của hạn chế đó.  
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng nguồn LĐ Việt  
Nam đi làm việc ở Đài Loan.  
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn.  
8
Đóng góp khuyến nghị đến Doanh nghiệp thực hiện công tác tuyển chọn,  
đào tạo và đưa LĐ đi làm việc ở Đài Loan; đến các cơ quan quản lý nhà nước có  
trách nhiệm quan tâm hơn đến hoạt động nâng cao chất lượng. Cụ thể:  
- Về lý luận: + Hệ thống hóa cơ sở khoa học về chất lượng nguồn LĐ đi  
làm việc ở nước ngoài.  
+ Nêu lên các yếu tố cấu thành và nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn  
LĐ đi làm việc ở nước ngoài. Xây dựng tiêu chí và phân tích đánh giá.  
+ Nêu các bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng nguồn LĐ đi làm  
việc ở nước ngoài của một số nước trong khu vực.  
- Về thực tiễn: + Khái quát về LĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.  
+ Phân tích thực trạng chất lượng LĐ Việt Nam đi làm việc ở Đài Loan  
trong những năm qua, phát hiện những hạn chế và làm rõ nguyên nhân của từng  
hạn chế đó.  
+ Đề xuất các định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn LĐ Việt  
Nam đi làm việc ở Đài Loan đến năm 2020.  
8. Cấu trúc của Luận văn  
Ngoài các phần Lời nói đầu, Danh mục các tài liệu tham khảo và Phụ lục,  
nội dung của đề tài luận văn thạc sỹ được chia thành 3 chương sau:  
Chương 1: Cơ sở khoa học về chất lượng nguồn LĐ đi làm việc ở nước  
ngoài.  
Chương 2: Thực trạng chất lượng LĐ Việt Nam đi làm việc ở Đài Loan giai  
đoạn 2001 - 2012.  
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn LĐ Việt  
Nam đi làm việc ở Đài Loan đến năm 2020.  
9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN LAO  
ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI  
1.1. Một số khái niệm cơ bản  
1.1.1. Khái niệm về nguồn lao động  
Nguồn nhân lực, theo nghĩa rộng, được hiểu như nguồn lực con người, yếu  
tố quan trọng và năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội, có  
thể xác định cho một quốc gia vùng lãnh thổ, địa phương (tỉnh, thành phố…); nó  
khác với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ…) ở chỗ cùng với  
hoạt động LĐ sáng tạo, tác động và biến đổi thế giới tự nhiên và trong quá trình  
LĐ nảy sinh các quan hệ LĐ và quan hệ xã hội.  
Có thể nói, khái niệm nguồn nhân lực hiện nay không còn xa lạ với nền  
kinh tế nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay, quan niệm về vấn đề này chưa có một  
quy chuẩn nào, mỗi quốc gia, mỗi tổ chức có thể đưa ra những khái niệm riêng  
của mình. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành  
nghề, kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế  
hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng, coi tiềm năng  
của con người cũng là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp  
trong quản lý và sử dụng. Theo Tổ chức LĐ quốc tế ILO, nguồn nhân lực của  
một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia LĐ.  
Theo David Begg, Giáo sư Kinh tế học người Anh, nguồn nhân lực, chỉ giới hạn  
trong trình độ chuyên môn của con người, là toàn bộ quá trình chuyên môn mà  
con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập  
trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả  
đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai. Theo GS.  
10  
TS Phạm Minh Hạc, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng LĐ của một nước  
hay một địa phương, được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia  
một công việc LĐ nào đó, là những người LĐ có kỹ năng bằng con đường đáp  
ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu LĐ, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo  
hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa. Mặc dù có những biểu hiện khác nhau  
nhưng nguồn nhân lực một quốc gia phản ánh các đặc điểm quan trọng nhất là  
nguồn lực con người, là bộ phận dân số, gắn với cung LĐ và phản ánh khả năng  
LĐ của một xã hội. Do đó, theo quan điểm của tôi, có thể hiểu, nguồn nhân lực  
là tổng thể những tiềm năng của con người gồm thể lực, trí lực và phẩm chất  
đạo đức – tinh thần được huy động vào quá trình LĐ nhằm phát triển cá nhân và  
đất nước, là khái niệm tổng hợp bao gồm cả yếu tố số lượng, chất lượng và cơ  
cấu nguồn nhân lực.  
Với cách tiếp cận dựa vào khả năng LĐ của con người và giới hạn tuổi LĐ,  
nguồn nhân lực còn là sức LĐ của toàn bộ những người có thể phát triển bình  
thường, có khả năng LĐ, trong độ tuổi LĐ. Nguồn nhân lực trong trường hợp  
này chính là nguồn LĐ.  
Nguồn lao động được hiểu với tư cách là khả năng đảm đương LĐ chính  
của xã hội, là toàn bộ những người có khả năng tham gia LĐ bao gồm những  
người trong độ tuổi quy định có khả năng LĐ và những người ngoài độ tuổi LĐ  
nhưng thực tế còn khả năng và đang tham gia LĐ. Như vậy, nguồn LĐ của xã  
hội hay của mỗi địa phương, ngành, đơn vị sản xuất… là tổng thể những người  
LĐ ở địa phương, ngành, đơn vị sản xuất… và được xem xét trong những  
khoảng thời gian nhất định. Nguồn LĐ có thể phân chia theo các tiêu chí khác  
nhau như: giới tính, độ tuổi, khu vực, vùng/miền, trình độ học vấn hoặc trình độ  
chuyên môn kỹ thuật.  
11  
Nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài là một bộ phận của nguồn LĐ  
nói chung cần có một số yêu cầu nhất định như có đủ năng lực hành vi dân sự,  
tự nguyện, có ý thức và tư cách đạo đức tốt, đủ sức khỏe, có ngoại ngữ và  
chuyên môn… và quan trọng nhất là được luật pháp Việt Nam cho phép xuất  
cảnh, đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Phân nhóm người LĐ đi làm việc ở  
nước ngoài theo các tiêu chí như: độ tuổi, giới tính, quê quán, nước tiếp nhận  
LĐ, ngành nghề, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật…  
Khi so sánh giữa nguồn LĐ nói chung và nguồn LĐ đi làm việc ở nước  
ngoài, điểm khác nhau cơ bản là điều kiện xuất cảnh ra nước ngoài làm việc. Đó  
là các điều kiện được quy định tại Điều 42 của Luật Người LĐ Việt Nam đi làm  
việc ở nước ngoài theo hợp đồng, bao gồm: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;  
tự nguyện đi làm việc ở nước ngoài; có ý thức chấp hành pháp luật, tư cách đạo  
đức tốt; đủ sức khỏe theo quy định của Pháp luật Việt nam và yêu cầu của nước  
tiếp nhận người LĐ; được cấp chứng chỉ về bồi dưỡng kiến thức cần thiết; không  
thuộc trường hợp cấm xuất cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nguồn  
là tiềm năng, vì vậy nguồn LĐ đi làm việc ở nước ngoài chỉ cần đáp ứng điều  
kiện cần là những người thuộc nguồn LĐ và có khả năng xuất cảnh đi làm việc ở  
nước ngoài.  
Tuy nhiên, một số đặc điểm riêng của nguồn LĐ đi làm việc của nước ngoài  
thường là: đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn của nước tiếp nhận; LĐ trẻ,  
tuổi thường từ 18 đến dưới 45 tuổi; sức khỏe tốt, không mắc các bệnh xã hội,  
bệnh truyền nhiễm… và có nhân thân tốt.  
Xuất phát từ các đặc điểm riêng của nguồn LĐ đi làm việc ở nước ngoài, để  
nắm bắt và thuận lợi trong quá trình tạo nguồn, ngoài cách thức phân loại nguồn  
LĐ như trên, ta cần phải phân loại nguồn LĐ đi làm việc ở nước ngoài thành  
12  
nguồn LĐ tiềm năng và nguồn LĐ hiện hữu. Nguồn LĐ có thể đã được tuyển và  
đã/đang được đào tạo giáo dục định hướng, đào tạo nghề… nhưng chưa được ký  
hợp đồng, chưa được xuất cảnh, đó là nguồn LĐ hiện hữu. Nguồn LĐ tiềm năng  
bao gồm những người thuộc nguồn LĐ có khả năng xuất cảnh đi làm việc ở  
nước ngoài.  
1.1.2. Khái niệm về chất lượng nguồn lao động  
Chất lượng nguồn lao động là khái niệm thể hiện mức độ đáp ứng về khả  
năng làm việc của những người LĐ thuộc nguồn LĐ với yêu cầu công việc của  
một tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện được mục tiêu cũng như thỏa mãn  
cao nhất nhu cầu của người sử dụng LĐ. Trong điền kiện kinh tế thị trường cạnh  
tranh cao và hội nhập sâu rộng thì chất lượng nguồn LĐ được coi là chỉ tiêu quan  
trọng phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống của con người trong một  
xã hội nhất định.  
Chất lượng nguồn LĐ1 là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn  
LĐ được thể hiện ở các thuộc tính sau đây:  
- Sức khỏe: là sự phát triển hài hòa của con người về thể chất và tinh thần.  
Người LĐ vừa có thể chất cường tráng, năng lực LĐ chân tay, vừa có tinh thần  
dẻo dai, có khả năng LĐ bằng trí tuệ, biến tư duy thành thực tiễn và ứng phó với  
các biến động của môi trường xung quanh.  
- Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn – kỹ thuật: Trình độ văn hóa là  
khả năng về tri thức và kỹ năng để tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện  
những việc đơn giản để duy trì cuộc sống. Trình độ chuyên môn kỹ thuật là kiến  
thức và kỹ năng cần thiết để đảm đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh  
1 PGS. TS. Nguyễn Tiệp (2005), Giáo trình Nguồn Nhân lực, NXB LĐ – Xã hội, trang 9,10.  
13  
và các hoạt động nghề nghiệp. Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn kỹ thuật  
là những kiến thức hiểu biết do người LĐ tìm hiểu, học tập mà hình thành.  
- Năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp: là khả năng thực tế  
người LĐ đạt được, thường là thao tác chân tay, để thực hiện thành công một  
công việc hoặc nghề nghiệp nhất định.  
- Tính năng động xã hội: là khả năng và sự sẵn sàng sử dụng các kiến thức  
và kỹ năng, kỹ xảo cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ nghề nghiệp cụ thể, có  
thể làm, thu thập thông tin và xử lý linh hoạt, sáng tạo các tình huống diễn ra  
trong thực hiện. Đồng thời có khả năng làm chủ thực tiễn để giải quyết các  
nhiệm vụ mới xuất hiện trong công việc và xã hội.  
- Phẩm chất đạo đức: Người LĐ cần có tính kỷ luật, có ý thức tuân thủ  
pháp luật, tinh thần hợp tác và tác phong LĐ công nghiệp, có tinh thần trách  
nhiệm cao…  
Tổng hợp các năng lực cá nhân một cách có tổ chức, hệ thống và định  
hướng mục đích cụ thể tạo thành chất lượng nguồn LĐ. Vì vậy, từ các khái niệm  
nguồn LĐ, nguồn LĐ đi làm việc ở nước ngoài và chất lượng nguồn LĐ ta có thể  
khái quát khái niệm chất lượng nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đó là  
trạng thái nhất định của nguồn LĐ thể hiện quan hệ giữa các yếu tố cấu thành  
nên bản chất bên trong nguồn LĐ, bao gồm: yếu tố thuộc về thể lực; trí lực và  
phẩm chất đạo đức; đồng thời phải thỏa mãn các điều kiện của nước phái cử LĐ  
và nước tiếp nhận LĐ.  
Điều kiện nước phái cử, ví dụ điều kiện của Việt Nam chính là những điều  
kiện đối với người LĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Điều kiện của  
nước tiếp nhận bao gồm: người LĐ được chủ sử dụng LĐ nước tiếp nhận tuyển  
dụng, người LĐ dđáp ứng các yêu cầu đi được cấp visa.  
14  
Chất lượng LĐ đi làm việc ở nước ngoài có một số yêu cầu khác biệt so với  
chất lượng LĐ trong nước như: đòi hỏi thể lực (chiều cao, cân nặng) tốt đảm bảo  
được theo yêu cầu của chủ sử dụng LĐ nước ngoài, đáp ứng yêu cầu về ngành  
nghề (có một trình độ tay nghề đối với những hợp đồng yêu cầu phải có tay  
nghề), sử dụng ngoại ngữ ở mức độ nhất định phục vụ công việc và đời sống  
sinh hoạt hành ngày, có ý thức tuân thủ pháp luật, ý thức chấp hành kỷ luật LĐ,  
làm việc hòa đồng với tập thể, hiểu biết phong tục tập quán của nước tiếp nhận  
LĐ.  
1.1.3. Khái niệm Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động  
đi làm việc ở nước ngoài  
DN hoạt động dịch vụ đưa người LĐ đi làm việc ở nước ngoài là DN hoạt  
động dịch vụ thành lập và hoạt động theo Luật DN, có 100% vốn điều lệ của các  
tổ chức, cá nhân Việt Nam, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép trực  
tiếp tổ chức hoạt động đưa LĐ đi làm việc ở nước ngoài.  
Hoạt động dịch vụ đưa LĐ đi làm việc ở nước ngoài là ngành, nghề kinh  
doanh có điều kiện. Do đó, DN hoạt động dịch vụ đưa LĐ đi làm việc ở nước  
ngoài phải đáp ứng các điều kiện sau theo Luật định:  
- Có 100% vốn điều lệ của các tổ chức, cá nhân Việt Nam: mức vốn cụ thể  
theo quy định của Chính phủ đối với DN hoạt động dịch vụ đưa LĐ đi làm việc  
ở nước ngoài là 5 tỷ đồng.  
- DN phải có đề án hoạt động đưa LĐ đi làm việc ở nước ngoài. Đề án  
phải thể hiện năng lực tài chính, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ có đủ trình độ và  
kinh nghiệm đáp ứng được yêu cầu của hoạt động dịch vụ này.  
- DN phải có bộ máy hoặc phương án tổ chức bộ máy (đối với DN lần đầu  
tham) chuyên trách bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho LĐ trước khi đi làm việc ở  
15  
nước ngoài và hoạt động đưa LĐ đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Bộ  
LĐ-TB&XH.  
- Người lãnh đạo điều hành hoạt động dịch vụ phải có trình độ từ đại học  
trở lên, có ít nhất ba năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đưa LĐ đi làm việc ở nước  
ngoài hoặc hoạt động trong lĩnh vực hợp tác và quan hệ quốc tế.  
- DN dịch vụ phải ký quỹ 1 tỷ đồng, khoản tiền được cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền sử dụng để giải quyết các vấn đề phát sinh trong trường hợp DN  
hoạt động dịch vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong  
hoạt động đưa LĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.  
1.1.4. Khái niệm thị trường lao động  
Thị trường lao động là nơi mà người có nhu cầu tìm việc làm và người có  
nhu cầu sử dụng LĐ trao đổi với nhau, mua bán dịch vụ LĐ thông qua các hình  
thức xác định giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện thỏa thuận khác  
(thời gian làm việc, điều kiện LĐ, bảo hiểm xã hội…) trên cơ sở một hợp đồng  
LĐ bằng văn bản hoặc bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa  
thuận khác.  
Thị trường LĐ được cấu thành bởi các yếu tố cung - cầu LĐ, giá cả sức LĐ,  
cân bằng và cạnh tranh trên thị trường LĐ. Trong đó, giá cả sức LĐ là biểu hiện  
bằng tiền (tiền lương, tiền công, phúc lợi…) của giá trị sức LĐ. Nó liên quan  
chặt chẽ và có ảnh hưởng chủ yếu đến cung – cầu LĐ, nó được xác định không  
chỉ bởi giá trị sức LĐ mà còn phụ thuộc bởi trạng thái cân bằng giữa cung và cầu  
LĐ trên thị trường.  
Khi cung và cầu LĐ gặp nhau và hoạt động mua bán, trao đổi hay thuê  
mướn sức LĐ diễn ra trong phạm vi biên giới một quốc gia thì ta có thị trường  
LĐ nội địa, khi diễn ra ngoài biên giới quốc gia một nước thì ta có thị trường LĐ  
16  
quốc tế. Như vậy, Thị trường tiếp nhận lao động của một quốc gia là một hay  
nhiều quốc gia (hoặc vùng lãnh thổ) khác mà quốc gia đó có thể đưa LĐ của  
mình sang làm việc một cách hợp pháp.  
1.2. Các yếu tố cấu thành ch3ất lượng lao động đi làm việc ở nước  
ngoài và các chỉ tiêu đánh giá của các yếu tố đó  
1.2.1. Thể lực  
Sức khỏe được hiểu không chỉ là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự  
hoàn thiện về mặt thể chất và tinh thần. Sức khoẻ làm tăng chất lượng của nguồn  
nhân lực cả hiện tại và tương lai, người LĐ có sức khoẻ tốt có thể mang lại  
những lợi nhuận trực tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập  
trung trong khi đang làm việc. Với thể lực tốt LĐ có thể tiếp thu nhanh chóng  
những kiến thức, kỹ năng kỹ xảo trong quá trình giáo dục - đào tạo và thực hiện  
công việc. Thể lực của LĐ trong nước hay LĐ đi làm việc ở nước ngoài đều  
được biểu hiện qua các yếu tố đánh giá: chiều cao, cân nặng, giới tính, độ tuổi…  
Chiều cao: là lợi thế và cũng là yếu tố đánh giá chất lượng nguồn LĐ. So  
với thế giới, tầm vóc và thể lực của người LĐ Việt Nam thuộc loại trung bình  
thấp, tỷ lệ thấp còi cao hơn nhiều nước trong khu vực và thế giới. Theo công bố  
mới nhất của Viện dinh dưỡng Việt Nam vào tháng 6/2013, chiều cao trung bình  
của nam (tuổi từ 15 – 29) là 163,7 cm, nữ là 153 cm; thấp hơn so với tiêu chuẩn  
quốc tế là 13,1 cm đối với nam, 10,7 cm đối với nữ; thấp hơn thanh niên Nhật  
Bản là 8cm đối với nam, 4 cm đối với nữ; thấp hơn thanh niên Thái Lan,  
Singapore từ 2-6 cm. Hạn chế về chiều cao ảnh hưởng đến việc sử dụng, vận  
hành máy móc hiện đại, hạn chế năng suất LĐ, bắt buộc người LĐ phải gắng sức  
nhiều và làm tăng nguy cơ mất an toàn LĐ.  
17  
Cân nặng: Thể trạng béo, gầy… ảnh hưởng đến sự linh hoạt, cường độ và  
năng suất LĐ của người LĐ. Cân nặng cũng là một trong những tiêu chí phản  
ánh sức khỏe, khả năng làm việc của người LĐ trong tương quan với chiều cao  
và độ tuổi. Cân nặng có thể ảnh hưởng tới sức khỏe và khả năng chịu sức ép của  
người LĐ và giảm hiệu suất LĐ.  
Giới tính: Nhìn chung, sự mất cân đối về giới tính khi sinh ở nhiều vùng  
miền, nhiều quốc gia làm cho chất lượng nguồn LĐ trong tương lai bị ảnh  
hưởng. Do đặc thù công việc, nhiều ngành nghề yêu cầu phù hợp với nam giới  
(cơ khí, xây dựng, hầm mỏ, đánh bắt cá…) hoặc ngược lại phù hợp với nữ giới  
(dệt may, chế biến thủy sản, điện tử…).  
Độ tuổi: Nguồn LĐ nhiều quốc gia đang bị già hóa và tỷ lệ phụ thuộc rất  
cao. Trong khi đó, Việt Nam nổi trội về nguồn LĐ trẻ dồi dào, tỷ lệ dân số phụ  
thuộc thấp. Tuy nhiên, xét về yếu tố độ tuổi, LĐ chất lượng cao không chỉ đánh  
giá qua số lượng LĐ trẻ mà chủ yếu qua tỷ trọng LĐ có trình độ văn hóa và  
chuyên môn kỹ thuật.  
1.2.2. Trí lực  
Trí lực là yếu tố chủ yếu hình thành nên năng lực làm việc của người LĐ,  
được đúc kết qua quá trình giáo dục – đào tạo. Nguồn LĐ có chất lượng khi trình  
độ văn hóa và trình độ ngoại ngữ tốt, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, ngành  
nghề đa dạng. Thái độ LĐ tốt, cần mẫn, chăm chỉ, chịu khó học hỏi.. và có tác  
phong công nghiệp, tuân thủ kỷ luật LĐ và công nghệ, phối hợp công việc, tổ  
chức sản xuất… Cụ thể:  
- Trình độ ngoại ngữ: người LĐ đi làm việc ở nước ngoài cần có trình độ  
ngoại ngữ nhất định để phục vụ công việc và đời sống sinh hoạt hằng ngày. Chỉ  
tiêu đánh giá: LĐ biết ngoại ngữ đạt trình độ chương trình ngoại ngữ tối thiểu.  
18  
- Trình độ văn hóa: là những tri thức của nhân loại mà người LĐ tiếp thu  
được theo những cấp độ khác nhau, đạt được thông qua học tại trường lớp, tự  
học, học qua thực tế… nhưng phần lớn được tiếp thu qua trường lớp. Vì vậy,  
đánh giá trình độ văn hóa thông qua bằng cấp của người LĐ đạt được ở các  
trường phổ thông, cao đẳng, đại học như:  
+ Tỷ lệ biết chữ của dân số từ 10 tuổi trở lên: (%) số LĐ có thể đọc, viết,  
hiểu được những câu đơn giản của tiếng Việt so với tổng dân số 10 tuổi trở lên.  
Chỉ tiêu này đánh giá trình độ văn hóa ở mức tối thiểu của một quốc gia.  
+ Chỉ tiêu học vấn chung (số năm đi học bình quân): tống số năm đi học  
của những người thuộc nguồn LĐ so với tổng số người trong nguồn LĐ. Chỉ  
tiêu này phản ánh chất lượng của nguồn LĐ ở góc độ học vấn xét cho một địa  
phương, vùng, thành thị, nông thôn và toàn quốc.  
+ Tỷ lệ LĐ tốt nghiệp tiểu học: (%) Tổng số LĐ tốt nghiệp tiểu học thuộc  
nguồn LĐ so với tổng số LĐ của nguồn LĐ.  
+ Tỷ lệ LĐ tốt nghiệp trung học cơ sở: (%) Tổng số LĐ tốt nghiệp trung  
học cơ sở trong nguồn LĐ so với tổng số LĐ của nguồn LĐ.  
+ Tỷ lệ LĐ tốt nghiệp trung học phổ thông: (%) Tổng số LĐ tốt nghiệp  
trung học phổ thông trong nguồn LĐ so với tổng số LĐ của nguồn LĐ.  
Đối với người LĐ, trình độ văn hóa là cơ sở quan trọng để họ tiếp thu các  
kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, giác ngộ giai cấp và nâng cao ý thức tổ  
chức kỷ luật trong LĐ… Vì vậy đâu là tiêu thức quan trọng để đánh giá chất  
lượng nguồn LĐ.  
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật là những kiến thức về chuyên môn, nghề  
nghiệp của người LĐ theo những cấp độ khác nhau. Đánh giá thông qua bằng  
cấp chuyên môn của người LĐ đã đạt được qua học tập và thi cử như: thạc sĩ, đại  
19  
học, trung cấp, sơ cấp, công nhân kỹ thuật… Trình độ chuyên môn thể hiện khả  
năng ứng dụng lý thuyết với thực hành để tạo ra sản phẩm, đó chính là trình độ  
tay nghề của người LĐ. Các chỉ tiêu cụ thể:  
+ Tỷ lệ LĐ đã qua đào tạo: (%) số LĐ đã qua đào tạo so với tổng số LĐ  
thuộc nguồn LĐ. Chỉ tiêu này đánh giá khái quát về trình độ chuyên môn của  
nguồn LĐ mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ.  
+ Tỷ lệ LĐ theo cấp bậc đào tạo (công nhân kỹ thuật, trung cấp chuyên  
nghiệp, đại học và sau đại học): (%) số LĐ theo cấp bậc đào tạo tương ứng so  
với tổng số LĐ thuộc nguồn LĐ. Chỉ tiêu này dùng để đánh giá có sự mất cân  
đối và quyết định nhu cầu đào tạo tổng thể của cả nước.  
1.2.3. Phẩm chất  
Ngoài yếu tố thể lực và trí lực, quá trình LĐ đòi hỏi người LĐ phải có  
những phẩm chất như tính kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong LĐ  
công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao… Những phẩm chất này gắn liền với  
truyền thống văn hóa dân tộc. Người LĐ Việt Nam cần cù, sáng tạo và thông  
minh nhưng về kỷ luật LĐ và tinh thần hợp tác LĐ còn nhiều nhược điểm, đang  
gây trở ngại lớn cho tiến trình hội nhập của nước ta.  
Chỉ tiêu đánh giá định hướng: tỷ lệ LĐ vi phạm kỷ luật về thời gian LĐ (đi  
muộn, về sớm, không chấp hành quy định giờ giấc trong thời gian làm việc, nghỉ  
việc không báo trước), tỷ lệ LĐ vi phạm pháp luật.  
1.3. Yêu cầu đối với chất lượng LĐ đi làm việc ở nước ngoài  
Người LĐ đi làm việc ở nước ngoài phải có nhân thân tốt, không có tiền án,  
đồng thời đáp ứng các tiêu thức theo nhu cầu cụ thể của chủ sử dụng LĐ nước  
ngoài, thể hiện qua đặc thù sản xuất của ngành nghề và yêu cầu riêng của chính  
người sử dụng LĐ. Ví dụ như: nghề điện tử, dệt may và chế biến thủy sản thực  
20  
hiện theo dây chuyền sản xuất, trong đó nghề điện tử cần người kiên trì, nhanh  
tay và tinh mắt nên chọn LĐ trẻ, nghề chế biến thủy sản và dệt may cần người  
kiên nhẫn, chịu khó, do đó, những ngành nghề này phù hợp với LĐ nữ. Nghề  
giúp việc gia đình, chăm sóc sức khỏe người bệnh cần người có vốn sống trải  
nghiệm, kiên nhẫn và cẩn thận, do đó, sẽ lựa chọn LĐ nữa ở độ tuổi trung niên.  
Nghề xây dựng, cơ khí, hầm mỏ, thuyền viên tàu cá, vận tải biển yêu cầu LĐ có  
sức khỏe tốt, đạt tiêu chuẩn về chiều cao và cân nặng, có sức chịu đựng để có thể  
làm việc liên tục ngoài trời, trong hầm hay trên biển, do đó, cần lựa chọn LĐ  
nam có kinh nghiệm và thể lực tốt. Nhìn chung, LĐ đi làm việc ở nước ngoài  
đều có những yêu cầu cơ bản về các yếu tố thể lực, trí lực và phẩm chất.  
LĐ trong nước không đòi hỏi quá khắt khe về chiều cao, cân nặng, sức chịu  
đựng nhưng LĐ đi làm việc ở nước ngoài chỉ lựa chọn những người đạt tiêu  
chuẩn chiều cao, cân nặng theo yêu cầu sản xuất, tính chất công việc. Người  
khuyết tật vẫn được tạo cơ hội việc làm trong nước nhưng không được tham gia  
hoạt động đi làm việc ở nước ngoài. Tỷ lệ số LĐ nam/nữ đi làm việc ở nước  
ngoài xuất phát từ nhu cầu tuyển dụng của chủ sử dụng LĐ nước ngoài và khả  
năng đáp ứng của nước phái cử LĐ.  
Ở Việt Nam, độ tuổi LĐ trong nước không quá 55 tuổi với nữ, 60 tuổi với  
nam nhưng độ tuổi LĐ đi làm việc ở nước ngoài thường được giới hạn thấp hơn  
như Đài Loan không quá 40 tuổi, ở Hàn Quốc không quá 38 tuổi. Đa số người  
LĐ đi làm việc ở nước ngoài có độ tuổi từ 18-30 tuổi. Bên cạnh đó, tùy theo tính  
chất đặc thù một số ngành nghề như xây dựng ở Trung Đông có thể lấy đến độ  
tuổi 45-50, nghề giúp việc gia đình ở Đài Loan, Malaysia có thể lấy đến độ tuổi  
40-45 hay chăm sóc người bệnh có thể lấy độ tuổi 25-30.Chuyên gia có thể lấy  
đến 50-60 tuổi.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 95 trang baolam 22321 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nâng cao chất lượng nguồn lao động Việt Nam đi làm việc ở Đài Loan đến năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nang_cao_chat_luong_nguon_lao_dong_viet_nam_di_lam.pdf