Luận văn Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI  
---------------  
NGUYỄN THỊ KHOA  
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI  
TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH  
TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI  
HÀ NỘI – 2018  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI  
---------------  
NGUYỄN THỊ KHOA  
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI  
TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH  
TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN  
Chuyên ngành: Công tác xã hội  
Mã số: CT 02013  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI THỊ MAI ĐÔNG  
HÀ NỘI - 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ  
Công tác xã hội đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong phòng  
chống bạo lực gia đình tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” là hoàn toàn  
trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.  
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./.  
Tác giả luận văn  
Nguyễn Thị Khoa  
LỜI CẢM ƠN  
Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể  
thầy cô giáo trường Đại học Lao động- Xã Hội đã tận tình và truyền đạt cho  
tôi những kiến thức, kinh nghiệm, tâm huyết với nghề nghiệp.  
Xin trân trọng cảm ơn TS. Bùi Thị Mai Đông người đã hướng dẫn và  
chỉ bảo cho tôi rất tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Nhờ có sự chỉ  
bảo giúp đỡ của cô, tôi đã có được nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc triển  
khai và thực hiện đề tài nghiên cứu.  
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Đảng ủy – HĐND –  
UBND – UBMTTQ thị trấn Hương Sơn và xã Nga My đã giúp đỡ, tạo điều  
kiện thuận lợi cho tôi thực hiện nghiên cứu.  
Dù đã rất cố gắng và tâm huyết với đề tài nhưng do kiến thức của bản  
thân về lĩnh vực nghiên cứu chưa thực sự chuyên sâu, thời gian nghiên cứu  
còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận  
được các đánh giá, góp ý của các thầy cô giáo để luận văn của tôi được hoàn  
chỉnh và có chất lượng hơn.  
Phú Bình, ngày 30 tháng 7 năm 2018  
Học viên  
Nguyễn Thị Khoa  
I
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT............................................................IV  
DANH MỤC BẢNG, BIỂU......................................................................... V  
MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1  
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................... 1  
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .............................................. 4  
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu............................................................. 13  
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.............................................................. 14  
5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 15  
6. Những đóng góp mới của Luận văn ...................................................... 17  
7. Kết cấu của luận văn.............................................................................. 18  
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG  
TÁC XÃ HỘI TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ......... 19  
1.1. Một số khái niệm ................................................................................. 19  
1.1.1. Bạo lực gia đình ................................................................................. 19  
1.1.2. Công tác xã hội trong phòng chống BLGĐ......................................... 28  
1.1.3. Nhân viên công tác xã hội................................................................... 29  
1.1.4. Vai trò của nhân viên công tác xã hội ................................................. 30  
1.2. Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong phòng chống BLGĐ. ... 33  
1.2.1. Vai trò người cung cấp thông tin, truyền thông................................... 34  
1.2.2. Với vai trò là người kết nối................................................................. 34  
1.2.3. Vai trò người chăm sóc....................................................................... 34  
1.2.4. Vai trò người hỗ trợ tâm lý ................................................................. 34  
1.2.5. Vai trò người trợ giúp pháp lý ............................................................ 34  
1.2.6. Vai trò người vận động nguồn lực ...................................................... 35  
1.3. Một số lý thuyết ứng dụng trong CTXH trong phòng, chống BLGĐ35  
1.3.1. Lý thuyết nhu cầu của Maslow ........................................................... 35  
II  
1.3.2. Lý thuyết hệ thống sinh thái ............................................................... 37  
1.3.3. Lý thuyết về vai trò............................................................................. 37  
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1............................................................................. 39  
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA NHÂN  
VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA  
ĐÌNH TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN............................ 40  
2.1. Khái quát chung về địa bàn và khách thể nghiên cứu....................... 40  
2.1.1. Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu .............................................. 40  
2.1.2. Khái quát chung về khách thể nghiên cứu........................................... 52  
2.2. Thưc trạng việc thực hiện một số vai trò của nhân viên công tác xã  
hội trong phòng, chống bạo lực gia đình................................................... 55  
2.2.1. Vai trò người cung cấp thông tin, truyền thông..................................... 56  
2.2.2. Vai trò người kết nối........................................................................... 60  
2.2.3. Vai trò người chăm sóc....................................................................... 62  
2.2.4. Vai trò người trợ giúp pháp lý ............................................................ 67  
2.2.5. Vai trò người vận động nguồn lực ...................................................... 70  
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các vai trò của nhân viên  
công tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình. .............................. 74  
2.3.1. Trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của đội ngũ làm công tác xã  
hội................................................................................................................ 74  
2.3.2. Nhận thức của người dân trong cộng đồng về BLGĐ và CTXH trong  
phòng, chống BLGĐ.................................................................................... 76  
2.3.3. Chính sách, pháp luật của Nhà nước về CTXH trong phòng chống  
BLGĐ .......................................................................................................... 77  
2.3.4. Điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước và những chủ  
trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với phát triển nghề công tác xã hội  
..................................................................................................................... 79  
III  
2.3.5. Sự tham gia của Gia đình có bạo lực ................................................. 80  
2.3.6. Nhận thức của cán bộ chính quyền địa phương và các ban ngành, đoàn  
thể về vai trò của công tác xã hội trong phòng chống BLGĐ. ..................... 80  
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 .............................................................................. 83  
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ...................................... 85  
3.1. Một số giải pháp góp phần thực hiện tốt vai trò của nhân viên CTXH  
trong phòng chống BLGĐ trên địa bàn huyện Phú Bình......................... 85  
3.1.1. Nâng cao nhận thức của cán bộ và người dân về BLGĐ và vai trò  
CTXH trong phòng chống BLGĐ. ............................................................... 85  
3.1.2. Xây dựng đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp và phát triển đội  
ngũ cộng tác viên CTXH tại địa phương ...................................................... 87  
3.1.3. Tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng CTXH trong  
lĩnh vực phòng, chống BLGĐ cho đội ngũ NVXH chuyên nghiệp và bán  
chuyên nghiệp .............................................................................................. 88  
3.1.4. Xây dựng mạng lưới, phát huy vai trò của cộng đồng trong phòng,  
chống bạo lực gia đình ................................................................................. 89  
3.1.5. Hoàn thiện cơ sở pháp lý để xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của nhân  
viên công tác xã hội nói chung, trong phòng chống BLGĐ nói riêng................. 90  
3.2. Kiến nghị.............................................................................................. 90  
3.2.1. Đối với nhà nước................................................................................ 90  
3.2.2. Đối với UBND huyện và các cơ quan chức năng ............................... 91  
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3............................................................................. 93  
PHẦN KẾT LUẬN..................................................................................... 94  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
PHỤ LỤC  
IV  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
CTXH: Công tác xã hội  
BLGĐ: Bạo lực gia đình  
TGPL:Trợ giúp pháp lý  
PCBLGĐ:Phòng, chống bạo lực gia đình  
V
DANH MỤC BẢNG, BIỂU  
Biểu 2.1. Tình hình BLGĐ tại địa phương.................................................... 42  
Biểu 2.2. Tần suất bị bạo lực gia đình .......................................................... 45  
Biểu 2.3. Nguyên nhân của bạo lực gia đình................................................. 46  
Biểu 2.4 : Kênh các văn bản pháp luật về phòng chống BLGĐ. ................... 59  
Biểu 2.5. Nhân viên CTXH .......................................................................... 77  
Bảng 2.1. Đặc điểm khách thể nghiên cứu.................................................... 52  
Bảng 2.2. Mức độ hiểu biết các văn bản pháp luật về bạo lực gia đình......... 69  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Hiện trạng bạo lực gia đình (BLGĐ) trên thế giới nói chung và ở Việt  
Nam nói riêng đã và đang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Theo thống kê  
của tổ chức Y tế thế giới, cứ ba phụ nữ thì có một phụ nữ đang phải chịu sự  
đánh đập, cưỡng bức hoặc bị ngược đãi ít nhất một lần trong đời bởi chính  
người chồng của họ. Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ  
tại Việt Nam do Tổng cục thống kê và Liên hợp quốc tại Việt Nam công bố  
vào năm 2010 cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Có tới 58% phụ nữ  
từng kết hôn cho biết đã trải qua ít nhất một hình thức bạo lực về thể xác, tình  
dục hay tinh thần. Bạo lực gia đình là một vấn nạn xã hội để lại hậu quả  
nghiêm trọng về thể chất, tâm lý; gây tổn thất về kinh tế không chỉ cho bản  
thân người bị bạo lực mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình và toàn xã hội.  
Nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của BLGĐ, trong những năm  
qua Đảng và Nhà nước ta đã giành nhiều sự quan tâm tới việc phòng chống  
bạo lực gia đình và đã ban hành nhiều đạo luật trực tiếp và gián tiếp như:  
Hiến pháp; Bộ luật dân sự; Luật bình đẳng giới; Luật hôn nhân và gia đình;  
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em… đặc biệt Luật phòng chống bạo  
lực gia đình năm 2007 đã tạo hành lang pháp lý cũng như môi trường thuận  
lợi để phòng chống bạo lực gia đình. Tiếp sau việc thông qua đạo luật này,  
nhiều nghị định, thông tư chiến lược và kế hoạch hành động đã được xây  
dựng để hướng dẫn thực hiện luật. Nhưng đánh giá một cách khách quan thì  
các văn bản pháp luật này chưa thực sự đi vào cuộc sống, sự quan tâm và hiểu  
biết về bạo lực gia đình chưa đi vào chiều sâu, tình trạng bạo lực gia đình  
chưa có nhiều thay đổi và chuyển biến tích cực.  
2
Theo kết quả điều tra bạo lực gia đình ở Việt Nam năm 2012 của Bộ  
Văn hóa thể thao và du lịch cho thấy bạo lực gia đình xảy ra ở khắp các quốc  
gia trên thế giới với những mức độ và đối tượng khác nhau, nạn nhân chủ yếu  
là nữ giới. Các kết quả nghiên cứu đều thống nhất chỉ ra nguyên nhân gốc rễ  
của bạo lực gia đình là sự bất bình đẳng về quyền lực, về tiếng nói, và sự  
kiểm soát nguồn lực giữa nam giới và nữ giới. Và các yếu tố khác như: kinh  
tế khó khăn, lạm dụng rượu bia, ma túy, thiếu các kỹ năng ứng xử, giải quyết  
trong gia đình… cũng là những yếu tố làm gia tăng bạo lực gia đình.  
Bạo lực gia đình đã gây ra những đau khổ và thiệt hại cả về vật chất và  
tinh thần.  
Phú Bình là một huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên, nằm ở phía nam  
của tỉnh, trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 26 km, cách thị xã  
Bắc Ninh 50km. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 243.4 km2. Toàn  
huyện có 20 đơn vị hành chính gồm 19 xã và 01 thị trấn. Dân số năm 2017 là  
142.314 người. (trong đó đồng bào dân tộc thiểu số trên 12.500 người, chiếm  
trên 8%). Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo trên 20%.  
Trong những năm qua mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức,  
song với việc triển khai đồng bộ, sáng tạo sự chỉ đạo của tỉnh Thái Nguyên;  
sự lãnh đạo, điều hành linh hoạt, kịp thời của Huyện ủy, HĐND, UBND  
huyện; sự nỗ lực cố gắng của các cấp, các ngành và sự đồng thuận, quyết tâm  
cao của nhân dân trong huyện, tình hình kinh tế -xã hội huyện Phú Bình tiếp  
tục được giữ ổn định và có sự tăng trưởng; đời sống vật chất cũng như tinh  
thần của nhân dân ngày một cải thiện.  
Cũng giống như nhiều địa phương khác trong tỉnh vấn đề bạo lực gia  
đình ở huyện Phú Bình là vấn đề đang nhức nhối, nhiều vụ việc bạo lực gia  
đình không được trình báo, không được phát hiện, nạn nhân vẫn âm thầm chịu  
đựng bị bạo lực gia đình và chưa nhận được sự hỗ trợ. Theo báo cáo của  
3
phòng Văn hóa - Thông tin huyện tình trạng bạo lực gia đình trên địa bàn  
huyện xảy ra ít, tuy nhiên còn có nhiều vụ việc người dân không trình báo nên  
các cơ quan chức năng ko biết. Người gây bạo lực chưa được xử lý nghiêm  
minh, các hình thức xử phạt chỉ mang tính răn đe chứ chưa mang lại hiệu quả  
thực sự.  
Phòng, chống BLGĐ không phải là “Chuyện riêng của gia đình” mà là  
trách nhiệm của mỗi người dân và toàn xã hội; Do vậy, các hoạt động ngăn  
ngừa, giảm thiểu và xử lý các hành vi BLGĐ nhất thiết phải có sự vào cuộc  
của cả hệ thống chính trị và người dân. Tuy nhiên, do Công tác xã hội ở Việt  
Nam là một nghề mới, còn tồn tại nhiều khó khăn bất cập. Trong lĩnh vực  
phòng chống bạo lực gia đình vai trò của công tác xã hội còn mờ nhạt. Theo  
đề án 32 “ Phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công  
tác xã hội trong cả nước, phấn đấu đến năm 2015 tăng khoảng 10%. Trong  
đó, mỗi xã, phường, thị trấn có ít nhất từ 01 đến 02 cán bộ, viên chức, nhân  
viên công tác xã hội thuộc chức danh không chuyên trách hoặc cộng tác viên  
công tác xã hội với mức phụ cấp hàng tháng bằng mức lương tối thiểu chung  
do Chính phủ quy định....” nhưng trên thực tế hiện nay trên địa bàn huyện  
chưa có những nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp. Họ là những cán bộ  
bán chuyên trách, kiêm nhiệm nên khi xảy ra tình trạng bạo lực gia đình các  
nạn nhân chưa được giúp đỡ toàn diện, chưa phát huy được nội lực của mình.  
Nhận thức rõ vấn đề trên tác giả đã chọn đề tài: “Vai trò của nhân viên  
công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình tại huyện Phú Bình,  
tỉnh Thái Nguyên” để nghiên cứu và từ đó tìm ra giải pháp để nâng cao hiệu  
quả hoạt động, phát huy vai trò của nhân viên công tác xã hội trong phòng,  
chống bạo lực gia đình.  
4
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả lựa chọn và phân tích  
một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu biểu trong nước và quốc tế  
liên quan đến bạo lực đối với phụ nữ. Cụ thể như sau:  
2.1. Những nghiên cứu trên thế giới:  
Tạp chí quốc tế về phúc lợi xã hội (International Journal of Social  
Welfare) số 18/2009 đã đăng tải bài viết của tác giả Weinehall, K. và Jonsson,  
M về “Sự bảo vệ phụ nữ khỏi bạo hành của nam giới – Women under  
protection – in hiding from violent men” (2009: 419-430). Các tác giả cho  
biết, năm 2007, dân số Thụy Điển vào khoảng 11.047 người, trong đó có  
khoảng 9 triệu người đang phải sống trong những điều kiện có nguy cơ cao  
cần sự bảo vệ cho sự an toàn của họ. 60% là phụ nữ, hầu hết họ đang phải  
trốn chạy khỏi những người đàn ông đã đánh đập họ, thậm trí vẫn tiếp tục đe  
dọa và tìm kiếm họ. Với nhóm phụ nữ này, các dịch vụ xã hội đem đến cho  
họ nhiều sự trợ giúp hữu ích như cung cấp thức ăn, chỗ ở, chăm sóc y tế, hỗ  
trợ tài chính và các hình thức bảo vệ xã hội. Điều đáng quan ngại là các dịch  
vụ xã hội cũng gặp nhiều khó khăn trong việc trợ giúp các nạn nhân do sự hạn  
chế về nguồn lực tài chính. Bởi vậy, sự trợ giúp của họ mới chỉ mang tính tạm  
thời và ngắn hạn.  
Tạp chí Tư vấn và Phát triển (Journal of Counselling and Development) số  
88 đã đăng bài viết của McLeod, A.L và các cộng sự về “Kinh nghiệm tiếp  
cận các nguồn lực hỗ trợ của những phụ nữ là nạn nhân của bạo lực –  
Female Intimate partner violence survivors experence with necessary  
resources” (2010: 303-310) cho thấy gia đình và những người thân thường  
giúp đỡ nạn nhân có được chỗ ở an toàn sau khi bạo lực gia đình xảy ra. Tuy  
nhiên, tâm lý sợ hãi, xấu hổ của bản thân các nạn nhân hoặc suy nghĩ không  
dám rời bỏ người chồng của mình bởi điều đó có thể khiến họ phải từ bỏ ngôi  
5
nhà, con cái và các mối quan hệ thân thuộc cũng là rào cản đối với phụ nữ  
trong việc tìm kiếm sự trợ giúp từ phía mạng lưới các mối quan hệ xã hội của  
mình. Đánh giá về các nguồn lực hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực, tác giả cho biết,  
các nguồn lực không phải lúc nào cũng sẵn có ở cộng đồng, nhất là ở vùng  
nông thôn. Ở nhiều nơi, các nạn nhân còn thiếu phương tiện đi lại để đến  
được với các dịch vụ trợ giúp. Đối với các nhà công tác xã hội và cán bộ tư  
vấn, McLeod và các cộng sự cho rằng các nhà tư vấn cần hiểu và đánh giá  
một cách đầy đủ về các nguồn lực cá nhân của nạn nhân và khả năng tiếp cận  
các nguồn lực của họ, từ đó cung cấp cho họ sự bảo vệ và trợ giúp một cách  
phù hợp nhất.  
Tài liệu thảo luận của Liên hợp quốc “Từ bạo lực gia đình đến bạo lực  
giới tại Việt Nam: mối liên hệ giữa các hình thức bạo lực” xuất bản năm  
2014 cho biết: Bạo lực giới là một hiện tượng phổ biến và phức tạp, thể hiện  
dưới nhiều hình thức, từ bạo lực gia đình đến quấy rối tình dục. Bạo lực giới  
duy trì sự bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ và là động lực duy trì, tăng  
cường các vai trò giới truyền thống. Trong mọi hình thức của bạo lực giới,  
phần lớn nạn nhân là phụ nữ và trẻ em gái nhưng họ lại ít được tiếp cận và  
nhận được dịch vụ hỗ trợ pháp lý. Và sự thiếu hụt quyền lực của phụ nữ trong  
gia đình và ngoài xã hội dẫn đến tình trạng các nhà chức trách/cơ quan chức  
năng làm ngơ và không hành động khi phụ nữ bị bạo lực tìm kiếm sự hỗ trợ,  
can thiệp.  
Chuyên gia quản lý truyền thông của Hiệp hội công tác xã hội toàn cầu  
Nicole Brown đã có bài viết “Nhân viên dịch vụ xã hội có thể giúp chấm dứt  
bạo lực đối với phụ nữ- Social Service Workers can help end violence against  
women” đăng trên tạp chí năm 2015 cho biết, Hiệp hội công tác xã hội toàn  
cầu sẽ huấn luyện các nhân viên dịch vụ xã hội để phân tích và hiểu các lý do  
phức tạp và khác nhau mà bạo lực xảy ra đối với phụ nữ và có thể hỗ trợ cộng  
6
đồng thay đổi hành vi xã hội và ngăn ngừa bạo lực. Nhân viên dịch vụ xã hội  
cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ tư vấn, giới  
thiệu để chăm sóc và điều trị sức khoẻ thể chất, tâm thần và tâm lý xã hội cho  
phụ nữ bị bạo lực. Nhân viên dịch vụ xã hội cũng có thể là người vận động  
chính sách cho các nạn nhân, và đôi khi có vai trò dẫn đầu trong việc hỗ trợ  
pháp lý cho nạn nhân bằng cách làm việc chặt chẽ với cơ quan thực thi pháp  
luật.  
2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam  
Cũng như các nước trên thế giới, hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt  
với nhiều thách thức, trong đó có bạo lực gia đình. Bạo lực gia đình có nguồn  
gốc từ lâu đời trong xã hội phong kiến Việt Nam và diễn ra ở tất cả các tầng  
lớp xã hội, cả nông thôn và thành thị. Trong văn hóa Việt Nam, nguyên nhân  
của bạo lực gia đình chủ yếu là do bất bình đẳng giới, trong đó, phụ nữ luôn  
được đòi hỏi phải tuân thủ những chuẩn mực, giá trị nhất định để đáp ứng với  
đòi hỏi, mong đợi của gia đình cũng như của cộng đồng xã hội. Bạo lực gia  
đình có sự khác nhau về mức độ, tính chất và cách thức biểu hiện. Các số liệu  
thống kê của Việt Nam trong thời gian qua cho thấy tình trạng bạo lực gia đình  
có xu hướng gia tăng cả về mức độ và tính chất nghiêm trọng, được biểu hiện  
tinh vi hơn, phức tạp hơn. Theo một nghiên cứu gần đây, có khoảng 20-25%  
gia đình Việt Nam có bạo lực trên cơ sở giới; 66% vụ ly hôn ở Việt Nam có  
liên quan đến bạo lực1.  
Nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của bạo lực gia đình, trong  
những năm gần đây, Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội đã có  
những hành động tích cực phòng chống tệ nạn này. Điều này được thể hiện rõ  
trong các chủ trương, chính sách như: năm 1980, Chính phủ Việt Nam đã ký  
kết gia nhập công ước về loại bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ  
7
nữ (CEDAW); Luật phòng chống bạo lực gia đình đã được Quốc hội thông  
qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 21/11/2007 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2008.  
Với sự quan tâm sát sao và băn khoăn trước câu hỏi làm gì và làm như  
thế nào để chống lại bạo lực gia đình, cuốn sách: “Bạo lực giới trong gia đình  
Việt Nam và vai trò của truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển  
phụ nữ” do tác giả Hoàng Bá Thịnh làm chủ biên được xây dựng từ một tập  
hợp các bài nghiên cứu, tham luận đã được trình bày trong Hội thảo: “Bạo lực  
đối với phụ nữ trong gia đình và vai trò của truyền thông đại chúng trong sự  
nghiệp phát triển phụ nữ”. Cuốn sách phần lớn đề cập đến vấn đề bạo lực đối  
với phụ nữ trong gia đình với các quan điểm, góc độ khác nhau như: thực  
trạng bạo lực phụ nữ trong gia đình; hình thức, nguyên nhân và hậu quả của  
bạo lực gia đình; sự hạn chế của nhận thức và hành vi của cá nhân, cộng đồng  
trong việc chống lại bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình và sự cần thiết phải  
hình thành áp lực cộng đồng đối với vấn đề này; thái độ, hành vi của cộng  
đồng đối với bạo lực giới; xã hội hóa tại cộng đồng, vấn đề chống bạo lực đối  
với phụ nữ... Ngoài ra, cuốn sách còn đề cập đến sự tác động của bạo lực gia  
đình đối với trẻ em; hậu quả của nó liên quan đến tự sát. Với thực trạng bạo  
lực gia đình, cuốn sách nêu ra các quan điểm, các giải pháp quan trọng trong  
phòng chống bạo lực gia đình. Trong các giải pháp được đưa ra, cuốn sách  
đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò, tầm quan trọng của truyền thông đại chúng  
trong sự nghiệp phát triển phụ nữ, trong đó đặc biệt đề cập đến: việc nhận  
thức về quyền của phụ nữ; tuyên truyền phổ biến pháp luật cho phụ nữ trên  
các kênh thông tin truyền thông; công tác tư vấn… Nhìn chung, đây là một  
cuốn sách với đa dạng các góc nhìn giúp người đọc có cái nhìn khá toàn diện  
về bạo lực gia đình ở Việt Nam.  
Những khía cạnh của bạo lực gia đình cũng được thể hiện rõ nét trên  
các kết quả nghiên khác như: “Bạo lực trong gia đình” của Bùi Thu Hằng,  
8
đăng trên Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 2/2001; “Nghiên cứu bạo lực gia  
đình trên cơ sở giới ở Việt Nam” do tác giả Nguyễn Hữu Minh và các cộng  
sự, năm 2005; “Bạo lực của chồng đối với vợ ở Việt Nam trong những năm  
gần đây” của nhóm tác giả thuộc Viện Gia đình và Giới, đăng trên Tạp chí  
Khoa học về Phụ nữ, số 3/2006; “Bạo lực giới: cái giá phải trả quá cao”  
(UNFPA, 2005); “Bạo lực gia đình - nghiên cứu và đề xuất” của tác giả Đinh  
Văn Quảng, đăng trên Tạp chí Gia đình và Trẻ em, số 6/2007. Các công trình  
nghiên cứu này tóm lược, so sánh kết quả nghiên cứu trước đó và đưa ra bức  
tranh chung, đa màu sắc về bạo lực gia đình, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến  
vấn đề nhận thức. Kết luận chung của các nghiên cứu này cho thấy nhận thức  
của nhân dân, nhất là phụ nữ về bạo lực, bình đẳng giới còn nhiều hạn chế.  
Những nguyên nhân được tổng hợp từ các nghiên cứu này giống với các  
nguyên nhân của nghiên cứu thực địa. Cụ thể, sự hạn chế về trình độ học vấn,  
khó khăn về kinh tế, nghề nghiệp, sự gia tăng của tệ nạn xã hội… làm cho  
việc giảm thiểu tình trạng bạo lực thêm khó khăn và phức tạp. Các nghiên cứu  
cũng đồng nhất rằng, việc phòng chống bạo lực gia đình đòi hỏi phải tiến  
hành đồng bộ với nhiều biện pháp, kể cả những biện pháp mang tính giáo dục,  
phòng ngừa lẫn các biện pháp xử lý bằng luật pháp. Một mặt, nó thể hiện thái  
độ không khoan nhượng của Nhà nước đối với hành vi vi phạm, mặt khác có  
tác dụng răn đe, giáo dục đối với chính người vi phạm và có ý nghĩa phòng  
ngừa đối với những người khác.  
Góp phần phản ánh thêm thực tế bạo lực gia đình tại Việt Nam, nghiên  
cứu: “Khảo sát thực trạng bạo lực trong gia đình tại Miền Đông nam bộ” của  
Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, tháng 12/2004 đưa ra những con số xác  
đáng về tình hình bạo lực trong gia đình tại địa bàn khảo sát; thực trạng hiểu  
biết về bình đẳng giới, nhận thức của dân về bạo lực gia đình; mâu thuẫn gia  
đình với vấn đề bạo lực. Nghiên cứu cho rằng, nguyên nhân cơ bản của bạo  
9
lực gia đình bắt nguồn từ nhận thức chưa đầy đủ về bình đẳng giới, tư tưởng  
trọng nam, khinh nữ. Nguyên nhân thứ hai là do sự khó khăn của đời sống  
kinh tế, không có việc làm, hạn chế về trình độ học vấn. Một nguyên nhân  
phổ biến ở các vùng nông thôn là tình trạng lạm dụng rượu, bia hoặc mắc vào  
các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy. Nguyên nhân cuối cùng mà nghiên cứu  
đề cập đến đó là do ghen tuông và ngoại tình. Nghiên cứu cũng đồng thời  
khẳng định rằng, bạo lực ảnh hưởng sâu sắc đến mối quan hệ vợ chồng bền  
vững, đến nhân cách của trẻ em và đến cơ hội phát triển của phụ nữ. Phần  
cuối của nghiên cứu là những dự báo về tình hình bạo lực gia đình và những  
kiến nghị - giải pháp.  
Tác giả Vũ Mạnh Lợi, cuốn sách “Bạo lực gia đình: sự thay đổi ở Việt  
Nam”, năm 2006 cung cấp một số kết luận và khuyến nghị góp phần phòng  
chống bạo lực gia đình ở Việt Nam, đặc biệt trong những chương trình dân số -  
sức khỏe sinh sản. Tài liệu giới thiệu phương pháp tiếp cận theo vòng đời đối  
với bạo lực trên cơ sở giới, trong đó tập trung vào hình thức bạo lực gia đình  
phổ biến nhất, đó là bạo hành do chồng gây ra đối với vợ hay giữa những người  
bạn tình. Cuối cùng là những khuyến nghị nhằm giảm thiểu tình trạng bạo lực  
gia đình.  
Nhóm tác giả Phạm Kiều Oanh và Nguyễn Thị Khoa với bài viết: “Bạo  
lực trong gia đình từ góc nhìn của người nghèo”, đăng trên tạp chí Khoa học  
về Phụ nữ, số 2/2003 được trích ra từ một nghiên cứu về tình trạng bạo lực  
trong gia đình của Tổ chức ActionAid Việt Nam, được thực hiện tại tỉnh Lai  
Châu và Ninh Thuận. Mục đích chính của nghiên cứu này là tìm hiểu nhận  
thức của nhân dân và chính quyền địa phương về bạo lực trong gia đình và  
các phương án can thiệp khả thi để giảm thiểu tình trạng này tại cộng đồng.  
Cách hiểu về bạo lực của người dân cũng như cán bộ chính quyền địa phương  
trong nghiên cứu này cũng nghiêng về vũ lực, đánh đập. Về nguyên nhân dẫn  
10  
đến tình trạng bạo lực, nghiên cứu nhấn mạnh đến nguyên nhân kinh tế với  
nhận định khó khăn về kinh tế dễ gây ra xích mích giữa hai vợ chồng. Mặc dù  
không phân tích rõ sự khác nhau giữa nhận thức của người dân và các cán bộ  
cấp tỉnh, huyện, xã nhưng người đọc vẫn thấy được cán bộ có cách nhìn nhận  
vấn đề về bạo lực gia đình đầy đủ và chính xác hơn so với những người dân.  
Năm 2011, UNODC tại Việt Nam đã công bố Báo cáo nghiên cứu về  
chất lượng dịch vụ tư pháp hình sự hiện nay dành cho nạn nhân bạo lực gia  
đình ở Việt Nam (tài liệu thảo luận của dự án “Tăng cường năng lực cho cơ  
quan hành pháp và tư pháp phòng chống bạo lực gia đình tại Việt Nam”).  
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, 95% các vụ bạo hành phụ nữ là do người chồng  
gây ra. Tuy nhiên, chỉ có 43% vụ việc nhận được sự chú ý của cảnh sát. Hầu  
hết các vụ việc được trình báo bởi nạn nhân (67%) hoặc ở một mức độ thấp  
hơn là bởi các thành viên trong gia đình hoặc hàng xóm. Kết quả khảo sát  
cũng cho thấy, 77% các vụ việc không được cơ quan trợ giúp pháp lý chú ý.  
Thách thức mà cơ quan cung cấp dịch vụ TGPL phải đối mặt là thiếu chuyên  
gia và các khóa đào tạo về bạo lực gia đình, ngoài ra, nhiều người dân không  
biết về dịch vụ này hoặc khi nạn nhân bạo lực gia đình tiếp cận tới nhưng họ  
lại không được hưởng dịch vụ này bởi không thuộc diện hộ nghèo. Hầu hết  
các nạn nhân không nhận được sự chăm sóc y tế (68%). Một trở ngại nghiêm  
trọng cản trở việc xử lý hiệu quả các vụ bạo lực gia đình đó là thiếu sự hợp  
tác giữa các cấp chính quyền khác nhau, đặc biệt là giữa cơ sở y tế, công an,  
các tổ chức đoàn thể và đơn vị cung cấp dịch vụ TGPL.  
Năm 2013, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã phối hợp với  
UNFPA tại Việt Nam thực hiện Báo cáo nghiên cứu rà soát bạo lực trên cơ  
sở giới ở Việt Nam, trong đó đề cập tới thực trạng các mô hình, hoạt động can  
thiệp về bạo lực trên cơ sở giới được triển khai từ năm 2007 đến 2013 như:  
các CLB/ nhóm tự lực về phòng, chống bạo lực gia đình; Tổ hòa giải; đường  
11  
dây nóng (hotline); sàng lọc tại các cơ sở y tế; Đội can thiệp/nhóm phòng,  
chống bạo lực gia đình; hỗ trợ pháp lý; nhà tạm lánh; địa chỉ tin cậy tại cộng  
đồng; đào tạo nghề, hỗ trợ vốn cho nạn nhân bạo lực gia đình. Về mô hình  
nhà tạm lánh, Báo cáo thống kê cả nước có 10 nhà tạm lánh, nơi giúp phụ nữ  
và trẻ em gái là nạn nhân của bạo lực và bị buôn bán trở về có thể tiếp cận các  
dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tư vấn, giáo dục, dạy nghề và một số kỹ năng  
sống cần thiết. Mô hình ĐCTC tại cộng đồng đã được triển khai rộng khắp tại  
các địa phương và thường được đặt tại nhà cán bộ chủ chốt của Hội Phụ nữ,  
Hội nông dân, Hội cựu chiến binh. Trong bối cảnh thiếu nguồn kinh phí để  
vận hành các nhà tạm lánh thì địa chỉ tin cậy được xem là một giải pháp lựa  
chọn tiềm năng. Tuy nhiên, mô hình này còn nhiều thách thức do chưa có một  
tiêu chuẩn thống nhất về cơ sở vật chất cũng như dịch vụ để đảm bảo sự an  
toàn cho những người phụ nữ và gia đình chủ nhà của địa chỉ tin cậy.  
Năm 2013, khoa Công tác xã hội, Học viện Phụ nữ Việt Nam có Báo  
cáo kết quả nghiên cứu hiệu quả hoạt động các mô hình can thiệp, hỗ trợ phụ  
nữ bị bạo lực gia đình tại cơ sở của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam nghiên  
cứu trường hợp tại 04 xã/ phường thuộc huyện Tiên Du và thị xã Từ Sơn, tỉnh  
Bắc Ninh do Tiến sĩ Bùi Thị Mai Đông làm chủ nhiệm đề tài đã cho thấy, từ  
khi Luật Phòng chống bạo lực gia đình có hiệu lực, công tác phòng chống  
BLGĐ không còn là vấn đề của cá nhân hay gia đình có hành vi bạo lực mà  
cả hệ thống chính trị ở cơ sở đã bắt tay vào cuộc. Và nghiên cứu cũng đã chỉ  
ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các mô hình can thiệp,  
trợ giúp nạn nhân bị BLGĐ, đó là: Điều kiện tự nhiên và sự phát triển kinh tế  
- xã hội của địa phương; làtrình độ dân trí và các đặc điểm văn hóa - xã hội  
của địa phương; là vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa  
phương; sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trong  
việc thực hiện PCBLGĐ; đặc biệt, quan điểm của người gây bạo lực và phản  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 120 trang baolam 15160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_vai_tro_cua_nhan_vien_cong_tac_xa_hoi_trong_phong_c.pdf