Nhãn thức thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam

88  
CHUYÊN MỤC  
VĂN HỌC - NGÔN NGỮ HỌC  
NHÃN THỨC THẨM MỸ TRONG CA DAO VIỆT NAM  
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN*  
Ca dao cho thấy có một cái nhìn thẩm mỹ của người bình dân trong quan hệ  
giữa thiên nhiên và con người. Ở đây nhãn thức thẩm mỹ thường gắn với cái  
nhìn mang tính thực dụng hoặc mang tính đạo đức. Nghiên cứu nhãn thức thẩm  
mỹ trong ca dao Việt Nam giúp chúng ta hiểu thêm vai trò của chủ thể thẩm mỹ  
trong cảm nhận thế giới, cho thấy nhãn thức thẩm mỹ không chỉ bộc lộ qua nghệ  
thuật mà còn tồn tại bên ngoài nghệ thuật như nhận xét của Bakhtin.  
Từ khóa: nhãn thức thẩm mỹ, nghệ thuật, ca dao, thực dụng, đạo đức  
Nhận bài ngày: 5/12/2019; đưa vào biên tập: 6/12/2019; phản biện: 23/12/2019;  
duyệt đăng: 10/2/2020  
1. DẪN NHẬP  
thức thẩm mỹ và xem đây là một vấn  
đề quan trọng của mỹ học liên quan  
đến vai trò của chủ thể thẩm mỹ trong  
quan hệ với hiện thực (Mon Monroe C.  
Beardsley, 1982: 384-395). Những  
người bảo vệ khái niệm nhãn thức  
thẩm mỹ lập luận rằng thừa nhận sự  
tồn tại của nhãn thức thẩm mỹ sẽ giúp  
giải thích vì sao không chỉ cái đẹp mà  
ngay cả những sự vật bình thường  
nhiều khi cũng gợi lên cảm xúc thẩm  
mỹ. Ví dụ một cành cây khô thì không  
ai có thể nói là đẹp, nhưng với một số  
người hay trong một thời điểm nào đó,  
nó tỏ ra có vẻ đẹp riêng, thậm chí  
mang dáng dấp của tác phẩm nghệ  
thuật. Đó là nhờ có nhãn thức thẩm mỹ  
của người nhìn. Thêm nữa, nhãn thức  
Nhãn thức thẩm mỹ là cái nhìn thẩm  
mỹ đối với sự vật, hiện tượng xung  
quanh con người, hướng sự chú ý  
vào khía cạnh đẹp xấu, vào những  
đặc tính thẩm mỹ của sự vật, hiện  
tượng. Có hay không một nhãn thức  
thẩm mỹ độc lập? Trong giới mỹ học  
vấn đề này chưa có ý kiến thống nhất.  
Một số người cho rằng không hề có  
cái gọi là nhãn thức thẩm mỹ như một  
cách ứng xử riêng, độc lập (George  
Dickie, 1993: 373-383). Một số khác  
đông hơn vẫn bảo vệ khái niệm nhãn  
*
Viện Nghiên cứu Giáo dục và Giao lưu  
Quốc tế.  
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN – NHÃN THỨC THẨM MỸ TRONG…  
89  
thẩm mỹ còn cho phép nhìn sự vật chãi và lai tạp, nên “Mỹ học chất liệu  
không chỉ dưới góc độ của cái đẹp mà  
còn cả góc độ của cái bi, cái hài, cái  
cao cả... Lối tiếp cận thẩm mỹ cũng sẽ  
xuất hiện những cảm giác vui thích  
hay lãng mạn, u buồn, phản ánh tâm  
trạng phong phú của con người trong  
khi tiếp xúc với thế giới xung quanh  
mình.  
không giải thích được cái nhãn thức  
thẩm mỹ bên ngoài nghệ thuật”  
(Bakhtin M.M, 2007: 395).  
Vấn đề còn lại là: nếu có một cái gọi là  
nhãn thức thẩm mỹ thì đặc điểm của  
nó là gì? Không đi sâu vào vấn đề mỹ  
học rắc rối và còn nhiều tranh cãi này,  
có thể nêu lên ở đây một vài điểm  
Bởi vậy nhãn thức thẩm mỹ là một chung nhất. Trước hết, đó là tính vô  
tư (Disinterestedness) của cái nhìn  
thẩm mỹ. Đây là thuật ngữ Kant đưa  
ra và dùng để chỉ đặc tính quan trọng  
hàng đầu của cái Đẹp. Tính vô tư ở  
đây được hiểu như là sự không quan  
tâm đến giá trị thực dụng, để sang  
một bên ý nghĩa ích lợi của sự vật  
cũng như giá trị đạo đức của nó. Thứ  
hai, nhãn thức thẩm mỹ bao giờ cũng  
gắn liền với một rung cảm thẩm mỹ,  
tức là đi kèm với cảm giác vui thích,  
dễ chịu. Nhãn thức thẩm mỹ bởi vậy  
không chỉ đơn thuần là cái nhìn mà  
còn là cảm xúc, khoái cảm. Thứ ba,  
những cảm xúc, khoái cảm này  
thường bắt nguồn từ sự hấp dẫn của  
những yếu tố hình thức của đối tượng  
chứ không phải từ ý nghĩa giá trị của  
nó. Đó là những nét chung nhất về  
tính chất của nhãn thức thẩm mỹ.  
Những đặc điểm này thể hiện rất rõ  
trong ca dao Việt Nam.  
khái niệm quan trọng đối với việc  
nghiên cứu đặc điểm của chủ thể  
thẩm mỹ cũng như quan hệ của nó  
với thế giới bên ngoài. Một trăm năm  
trước, khi phê phán mỹ học chất liệu  
là khuynh hướng muốn xây dựng một  
lý thuyết khái quát về nghệ thuật, một  
lý thuyết mỹ học chung chỉ trên cơ sở  
của mặt kỹ thuật của sáng tạo nghệ  
thuật, M. Bakhtin đã nói đến khái niệm  
này và sự tồn tại của nó trong nghệ  
thuật cũng như bên ngoài nghệ thuật;  
tức trong sự thưởng ngoạn thẩm mỹ  
thiên nhiên, trong thần thoại, trong thế  
giới quan, trong sự triển khai những  
hình thức thẩm mỹ vào lĩnh vực của  
hành vi đạo đức, của nhận thức. Ông  
cho rằng: “Đặc điểm tiêu biểu của tất  
cả những hiện tượng của cái nhãn  
thức thẩm mỹ bên ngoài nghệ thuật ấy  
là sự thiếu vắng một chất liệu xác định  
và được tổ chức, và do đó thiếu vắng  
cả yếu tố kỹ thuật: hình thức ở đây  
trong đa số trường hợp không được  
khách thể hóa và không được cố định”  
(M. Bakhtin, 2007: 395). Chính vì  
những hiện tượng của nhãn thức  
thẩm mỹ bên ngoài nghệ thuật không  
mang tính thuần khiết, không vững  
2. NỘI DUNG  
2.1. Đọc ca dao về quê hương đất  
nước, chúng ta thấy nổi lên trước hết  
là những câu ca ngợi sự giàu có của  
vùng đất, của làng quê:  
Đất ta bể bạc non vàng  
Bể bạc Nam Hải, non vàng Bồng Miêu.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1+2 (257+258)2020  
90  
Ai về Hà Tĩnh thì về  
Có sông tắm mát có nghề làm gai.  
Mặc lụa chợ Hạ, uống nước chè Hương  
Cũng có khi dòng sông hiện ra trong  
cái nhìn hồi ức mang đậm chất lý trí  
như một chứng tích lịch sử, gắn với  
chiến công của các anh hùng liệt nữ  
ngày xưa:  
Sơn.  
Cái nhìn làng quê chủ yếu vẫn là cái  
nhìn mang tính thực dụng:  
Ai ơi về miệt Tháp Mười  
Có tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn.  
Sông Tô một dải lượn vòng  
Ấy nơi liệt nữ anh hùng giáng sinh.  
Điều này không có gì là lạ, bởi vì nó  
bắt nguồn từ nhu cầu bức thiết của sự  
sống, sự tồn tại. Đồng ruộng, vườn  
chè, nương dâu, dòng sông, giếng  
nước vốn là những thứ thiết thân, gắn  
chặt với đời sống hàng ngay, với  
miếng cơm manh áo của con người,  
bởi vậy nghĩ đến nó, nhìn đến nó thì  
cái vụt đến nhiều nhất và trước tiên  
chính là giá trị thực tế của chúng.  
Người nông dân không chỉ nhìn cảnh  
vật quê hương dưới con mắt thực tế  
mà qua ca dao cái nhìn thẩm mỹ của  
người dân quê bộc lộ khi quan sát,  
ứng xử với tự nhiên, sự vật và con  
người.  
Nhưng cũng có khi nó chỉ được nhìn  
ngắm như bức tranh phong cảnh:  
Ai đi qua phố Khoa Trường  
Dừng chân ngắm cảnh núi rừng xanh  
xanh.  
Dòng sông uốn khúc chảy quanh  
Trên đường cái lớn bộ hành ngược  
xuôi.  
Ví dụ trên cho thấy có một nhãn thức  
thẩm mỹ trong cách nhìn sự vật trong  
ca dao. Nhãn thức này thường tập  
trung vào đường nét, màu sắc, tức  
hình thức bề ngoài của đối tượng.  
Trong câu “Dòng sông uốn khúc chảy  
quanh” ở trên hình ảnh con sông uốn  
khúc mềm mại chứ không phải giá trị  
kinh tế và giá trị sử dụng đã tạo nên  
vẻ hấp dẫn của nó. Có thể nói trong  
ca dao hầu hết những câu thể hiện  
nhãn thức thẩm mỹ của người nhìn,  
ca ngợi vẻ đẹp của quê hương đều  
mang tính chất này.  
Thử lấy ví dụ hình ảnh dòng sông.  
Cùng là con sông nó hiện ra dưới  
những góc nhìn khác nhau trong ca  
dao. Khi thì như phương tiện đi lại ích  
dụng:  
Trên trời có đám mây mưa  
Dưới sông nước chảy đò đưa đi về.  
Đường vô xứ Huế quanh quanh  
Nơi có nhiều tôm cá hay nơi để nghỉ  
ngơi tắm mát trưa hè:  
Non xanh nước biếc như tranh họa  
đồ.  
Làng tôi có lũy tre xanh  
Có sông Tô lịch uốn quanh xóm làng  
Bên bờ vải nhãn hai hàng  
Sông Tô nước chảy trong ngần  
Con thuyền buồm trắng chạy gần  
chạy xa  
Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.  
Làng Vĩnh có cây bồ đề  
Thon thon hai mũi chèo hoa  
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN – NHÃN THỨC THẨM MỸ TRONG…  
91  
Lướt đi lướt lại như là bướm bay.  
không đẹp theo nghĩa thông thường  
nhưng vẫn có khả năng gợi lên cảm  
xúc tương tự như cảm xúc khi đứng  
trước cái đẹp có đường nét hài hòa,  
sắc màu rực rỡ. Cũng có khi cái nhìn  
không phảng phất nỗi buồn như trong  
câu ca dao trên mà lại có cái gì đó  
tràn ngập, choáng ngợp, bao la,  
tương tự như một cảm xúc về cái cao  
cả.  
Non xanh nước biếc hữu tình  
Lúa đồng bát ngát rung rinh bốn mùa  
Vờn thêm một dải uốn cong  
Kìa con Thiên Mã đang lồng về Nam  
Một dòng nước nhỏ xanh lam  
Một ngôi chùa nhỏ nằm ngang lưng  
đồi.  
Rõ ràng việc ngắm nhìn những màu  
sắc, đường nét tạo nên vẻ đẹp của  
phong cảnh đã mang lại cho người  
nhìn một khoái cảm thẩm mỹ, cảm  
giác thích thú, vui sướng. Ca dao có  
rất nhiều câu thể hiện một nhãn thức  
thẩm mỹ như vậy. Ở đây cái nhìn  
thẩm mỹ bao trùm lên phong cảnh, tất  
cả những khía cạnh khác của đối  
tượng bị bỏ qua hay mờ đi, chỉ còn  
hiện lên vẻ đẹp của cảnh vật.  
Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng  
mênh mông bát ngát  
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng  
cũng bát ngát mênh mông.  
Nhãn thức thẩm mỹ đôi khi làm cho  
cảnh vật trong ca dao mang dáng dấp  
cảnh vật trong thơ ca hiện đại.  
Thường thì hoa hay các con vật trong  
ca dao chỉ được sử dụng như những  
ẩn dụ chứ không phải như đối tượng  
miêu tả trực tiếp, đối tượng thưởng  
ngoạn, ví dụ:  
Đáng chú ý là bên cạnh những câu  
kiểu trên đây, tức những câu thể hiện  
sự gắn bó của nhãn thức thẩm mỹ với  
cái đẹp, chúng ta còn bắt gặp những  
câu diễn tả cảm xúc thẩm mỹ của con  
người khi đứng trước những cảnh vật  
bình thường, không có gì đặc biệt.  
Lọng vàng che nải chuối xanh  
Tiếc con chim phụng đậu nhành trúc  
khô  
hay  
Muốn chơi hoa lý cho cao  
Chơi hoa chiêng chiếng bờ ao thiếu gì.  
Chiều chiều ra đứng gốc cây  
Trông trời trời quạnh, trông mây mây  
buồn  
Nhưng trong câu ca dao dưới đây  
chúng ta băt gặp một cảnh tượng  
khác, không phải một hình ảnh ẩn dụ  
mà là một cảnh tượng dưới cái nhìn  
thẩm mỹ:  
Trông xa xa tít xa vời  
Những non cùng núi những đồi cùng  
cây.  
Cảm xúc thẩm mỹ không bắt nguồn từ  
cái đẹp của cảnh vật. Hình ảnh thiên  
nhiên ở đây nhuốm đầy màu sắc của  
nhãn thức, tâm trạng người nhìn.  
Nhãn thức thẩm mỹ đã phát hiện một  
nét nào đó trong cảnh vật, một nét  
Chim bay chi lắm hỡi chim  
Núi cao vời vợi cũng tìm mà bay  
Dù không nhiều nhưng những câu  
như trên nói lên sự đa dạng của cái  
nhìn thẩm mỹ trong ca dao.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1+2 (257+258)2020  
92  
Những phân tích trên đây cho thấy có nước nông nghiệp lạc hậu, thiên nhiên  
một nhãn thức thẩm mỹ trong cái nhìn khắc nghiệt, phải vật lộn vất vả để  
của người bình dân đối với cảnh vật, mưu sinh, con người sẽ dễ dàng gạt  
phong cảnh thiên nhiên. Đa phần cái cái đẹp sang một bên, luôn chỉ nhìn  
nhìn ấy gắn với cái đẹp của đối tượng, sự vật một cách thực tế. Vậy mà qua  
nhưng cũng có những trường hợp nó ca dao chúng ta vẫn thấy có một nhãn  
mang sắc tố thẩm mỹ khác.  
thức thẩm mỹ thường đi cạnh cái nhìn  
thực dụng, thậm chí nhiều khi tách  
riêng ra, nổi lên như một phương diện  
độc lập. Đó phải chăng là một nét đặc  
tính trong khí chất của người Việt, một  
tinh thần vừa chuộng sự phù phiếm,  
hình thức, vừa mang nặng óc thực tế,  
như học giả Đào Duy Anh (1951: 22-  
23) đã nhận xét.  
Đặc biệt, có khá nhiều câu ca dao cho  
thấy nhãn thức thẩm mỹ kết hợp chặt  
chẽ với các nhãn thức khác, nhất là  
nhãn thức thực dụng. Chẳng hạn:  
Đại Hoàng phong cảnh hữu tình  
Của nhiều đất rộng, gái xinh trai tài  
Hay: Bắc Kạn có suối đãi vàng  
Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh.  
2.2. Trên đây là những phân tích về  
nhãn thức thẩm mỹ thể hiện trong  
quan hệ của con người với thiên  
nhiên. Nhưng bên cạnh đó chúng ta  
thấy ca dao còn in đậm dấu vết của  
nhãn quan thẩm mỹ bộc lộ trong đời  
sống xã hội, trong lao động, hoạt động  
chế tác, trong lối sống, cách ứng xử,  
cách đánh giá con người. Không đi  
sâu vào tất cả các khía cạnh ấy, chỉ  
nói riêng về cái nhìn thẩm mỹ trong sự  
yêu ghét của con người, ca dao cũng  
thể hiện rất rõ.  
Trong những câu ca dao trên, cái đẹp  
của phong cảnh, của con người hiện  
lên đồng thời với sự trù phú của đất  
đai tạo thành một hình ảnh chung về  
một địa danh, một làng quê giàu đẹp.  
Dường như trong con mắt của người  
dân quê giàu và đẹp là hai cái không  
thể thiếu, luôn đi với nhau, tạo nên giá  
trị, sự hấp dẫn của một vùng đất, của  
xứ sở.  
Thanh Trì cảnh đẹp người đông  
Có cây sáo trúc bên đồng lúa xanh.  
Giàu - Đẹp trở thành thế giới quan  
của người nông dân thể hiện trong ca  
dao. Người dân quê luôn nhìn mọi  
việc dưới con mắt thực tế, thực dụng,  
nhưng đồng thời họ cũng nhìn sự vật  
với nhãn thức thẩm mỹ, phát hiện  
những nét đẹp hay những cái có thể  
gợi lên cảm xúc thẩm mỹ. Giàu và  
Đẹp là hai giá trị mà người nông dân  
luôn muốn nhìn thấy, ước ao muốn có  
Con người trong ca dao thường được  
nhìn từ nhiều góc độ khác nhau. Phổ  
biến nhất là từ phương diện đạo đức.  
Nhất đẹp là gái làng Cầu  
Khéo ăn khéo mặc, khéo hầu mẹ cha.  
Bây giờ anh nắm được tay  
Anh yêu vì nết, anh say vì tình.  
Tiếp đến là các phẩm chất khác như  
làm lụng chăm chỉ, chung thủy, nghĩa  
được. Lẽ ra trong hoàn cảnh của một tình, ăn nói giỏi giang.  
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN – NHÃN THỨC THẨM MỸ TRONG…  
93  
Thương chàng quân tử tài ba  
Lo cày, lo cấy, lo cà, lo tương  
Nước xanh leo lẻo trong chình  
Thấy anh có nghĩa có tình em thương.  
đẹp thuộc về hình thức bên ngoài của  
con người:  
Chồng em vừa xấu vừa đen  
Vừa kém nhan sắc, vừa hèn chân đi.  
Cô kia đen thủi đen thui  
Em là con gái nhà ai  
Phấn đánh vô hồi đen vẫn hoàn đen.  
Lời ăn tiếng nói khoan thai nhẹ nhàng.  
Điều này hoàn toàn phù hợp với bản  
chất của nhãn thức thẩm mỹ vốn là  
cái nhìn đa dạng, nhiều chiều, nhiều  
sắc độ.  
Nhưng bên cạnh đó cái đẹp hình thức  
cũng là một tiêu chuẩn không bao giờ  
thiếu:  
Vào vườn trẩy quả cau non  
Anh thấy em giòn muốn kết nhân duyên  
Hai má có hai đồng tiền  
Càng nom càng đẹp, càng nhìn càng  
ưa.  
Ở trên, khi phân tích nhãn thức thẩm  
mỹ của con người trong quan hệ với  
thiên nhiên, chúng tôi có nhận xét  
rằng cái đẹp tuy có vị trí độc lập  
nhưng thường đi cùng với cái có ích,  
Giàu và Đẹp thường đứng cạnh nhau.  
Một điều tương tự cũng trong lĩnh vực  
đời sống xã hội, nhưng đây không  
phải là quan hệ giữa cái Đẹp và cái  
Lợi mà là cái Đẹp và cái Tốt. Khi nói  
về tiêu chuẩn của người mình yêu, cô  
gái hay chàng trai trong ca dao  
thường đề cao vẻ đẹp của làn da, mái  
tóc, của yếm thắm, lụa đào, nhưng  
cũng không quên nhắc đến nết ăn nết  
ở của đối phương như một điều kiện  
không thể thiếu:  
Ước gì có lưới đương đình  
Để em quây lấy anh xinh mang về.  
Tiêu chuẩn lựa chọn để kết nhân  
duyên ở đây không phải là nết na,  
hiền hậu hay đảm đang mà là “giòn”,  
“hai má có hai đồng tiền”, tức là  
những cái chỉ có giá trị về mặt thẩm  
mỹ. Cái đẹp hình thức dường như lấn  
lướt, trùm lên các góc nhìn khác, trở  
thành duy nhất, toàn bộ. Chỉ cần đẹp  
là đủ, đủ để yêu, đủ để lấy làm vợ,  
làm chồng.  
Cái đẹp cái xinh ở đây tuy có sức  
cuốn hút mạnh mẽ như vậy nhưng nó  
không bắt nguồn từ cái gì to lớn, cao  
cả thuộc phạm trù đạo đức mà  
thường chỉ là những thứ thuộc hình  
thức bên ngoài của con người.  
Thấy em đẹp nói đẹp cười  
Đẹp người đẹp nết lại tươi răng vàng…  
Một thương tóc bỏ đuôi gà  
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên  
Ba thương má lúm đồng tiền  
Bốn thương răng lánh hạt huyền kém  
thua…  
Có một điểm đáng chú ý là nhãn thức  
thẩm mỹ trong ca dao không chỉ tập  
trung vào cái đẹp và những hình thức  
đẹp. Ở đây còn bắt gặp nhiều câu nói  
về những cái xấu xí, những cái không  
Bảy thương nết ở khôn ngoan  
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh  
Trong cái cặp “đẹp người đẹp nết” ấy,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1+2 (257+258)2020  
94  
trong tương quan giữa nhãn thức nơi và không phải lúc nào cũng ở vị  
thẩm mỹ và nhãn thức đạo đức,  
dường như bao giờ ưu thế cũng thuộc  
cái sau. Nghĩa là dù em xinh em đẹp,  
em diện như thế nào nhưng nếu em  
lười biếng, không chăm làm, không  
biết ăn ở, cư xử thì cái đẹp ấy cũng  
trở thành vô nghĩa:  
trí phụ thuộc. Và cho dù hết sức coi  
trọng giá trị của cái Giàu hay cái Nết,  
trong thế giới quan và nhân sinh  
quan của người Việt luôn luôn tồn tại  
cặp đôi Giàu và Đẹp, đẹp Người và  
đẹp Nết cạnh nhau như biểu hiện của  
sự cân bằng, hài hòa. Có âm có  
dương, có lý có tình, có cương có  
nhu, có trước có sau. Cái tâm thế  
chuộng sự cân bằng, hài hòa này là  
tâm thế chung của người Việt, phổ  
biến trong đời sống cũng như trong  
nghệ thuật. Không phải ngẫu nhiên  
hoa sen có một vị trí đặc biệt trong  
văn hóa Việt:  
Tóc dài những búi mà trưa  
Ham chi người đẹp mà thưa việc làm.  
Cô kia mặt trẽn mày trơ  
Vàng đeo bạc quấn cũng dơ dáng đời.  
Cái triết lý ấy chính là cái triết lý “cái  
nết đánh chết cái đẹp”, “Tốt gỗ hơn tốt  
nước sơn/ Xấu người đẹp nết còn  
hơn đẹp người” phổ biến trong văn  
hóa Việt.  
Trong đầm gì đẹp bằng sen  
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng  
Nhị vàng bông trắng lá xanh  
3. THAY LỜI KẾT  
Tìm hiểu nhãn thức thẫm mỹ trong ca  
dao không chỉ góp phần làm sáng tỏ  
một khái niệm, một vấn đề mỹ học mà  
còn giúp chúng ta hiểu thêm một nét  
tâm lý, thị hiếu của người Việt, một  
đặc điểm của văn hóa Việt. Mặc dù  
đời sống kinh tế khó khăn, lao động  
vất vả, người nông dân vẫn dành tình  
yêu lớn cho “cái Đẹp”. Nhãn thức  
thẩm mỹ luôn luôn có mặt khắp mọi  
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn  
Sen vừa có vẻ đẹp của màu sắc vừa  
có phẩm chất tượng trưng cho sự tinh  
khiết, thanh cao. Cả hai cùng kết hợp  
trong một bông hoa, thể hiện lý tưởng  
về sự hài hòa của cái Mỹ và cái Thiện,  
sự hài hòa như một nguyên lý tồn tại  
của vũ trụ và như niềm tin, ước vọng  
của con người.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bakhtin, M.M. 2007. Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong sáng tạo nghệ thuật  
ngôn từ (Phạm Vĩnh Cư dịch), trong Lí luận - phê bình văn học thế giới thế kỷ XX (Lộc  
Phương Thủy chủ biên), tập 1. Nxb. Giáo dục, tr. 395.  
2. Beardsley, Monroe C.1982: The Aesthetic Point of View (Điểm nhìn thẩm mỹ), Michael J.  
Wreen và Donald M. Callen biên tập, Ithaca: Cornell University Press, trong Contemporary  
Philosophy of Art, Prentice-Hall, New Jersey, USA, pp. 384-395.  
3. Dickie, George. 1993. The Myth of the Aesthetic Attitude (Huyền thoại về thái độ thẩm mỹ),  
trong Contemporary Philosophy of Art, Prentice-Hall, New Jersey, USA, pp. 373-383.  
4. Đào Duy Anh. 1951. Việt Nam văn hóa sử cương. Hà Nội: Nxb. Bốn phương, tr. 22-23.  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 20840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhãn thức thẩm mỹ trong ca dao Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_thuc_tham_my_trong_ca_dao_viet_nam.pdf