Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố khí hậu tới việc bố trí hệ thống cây trồng tại huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội

J. Sci. & Devel. 2014, Vol. 12, No. 5: 734-743  
Tạp chí Khoa học và Phát triển 2014, tập 12, số 5: 734-743  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ KHÍ HẬU TỚI VIỆC BỐ TRÍ  
HỆ THỐNG CÂY TRỒNG TẠI HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI  
An Thị Huệ1, Lê Văn Hưng2*, Phạm Tiến Dũng3*  
1Học viên cao học K19, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
2Cục Bảo tồn đa dạng sinh học  
3Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Ngày gửi bài: 13.06.2014  
Ngày chấp nhận: 26.08.2014  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được tiến hành ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội từ năm 2010-2011 với mục đích tìm hiểu ảnh  
hưởng của điều kiện thời tiết khí hậu đến cơ cấu sản xuất trồng trọt của huyện thông qua việc điều tra, thu thập các số  
liệu thống kê về tình hình sản xuất và các số liệu khí tượng thủy văn. Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm:  
Phương pháp thu thập thông tin thông qua tập hợp tài liệu, điều tra; phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng; phương  
pháp tính hệ số đa dạng cây trồng theo công thức Shannon. Kết quả cho thấy, trong điều kiện khí hậu thời tiết của mười  
năm 2000-2010 có nhiều diễn biến bất thường (Năm 2008 nhiệt độ bình quân/năm thấp chỉ đạt 23,80C, tháng 1 nhiệt độ  
thấp nhất trong các năm 15,30C, tháng 10 có trận mưa cao nhất đạt trên 537mm so với lượng mưa trung bình là 576,7  
mm/tháng; tháng 7 năm 2010 giữa mùa mưa nhưng không có mưa) đã tác động đến diện tích, loại cây trồng, do đó cơ  
cấu cây trồng thay đổi dẫn đến hệ số đa dạng sinh học (HSĐD) cây trồng của huyện cũng thay đổi. Năm 2008, HSĐD  
đạt thấp nhất trong vòng 10 năm qua (0,34). Trong điều kiện tác động bất thường của thời tiết cần phải đa dạng chủng  
loại cũng như cơ cấu cây trồng với HSĐD cao để đạt được năng suất ổn định, mang lại hiệu quả cao và đáp ứng được  
mục tiêu phát triển của huyện.  
Từ khóa: Cơ cấu cây trồng, lượng mưa, năng suất, nhiệt độ.  
Effects of Climatic Factors on Cropping Structure in Thach That, Hanoi  
ABSTRACT  
The study was conducted with the purpose of understanding the effects of climate on cropping system of the  
district of Thach That, Hanoin during 2000 - 2010 period. Hydro-meteorological data and statistical information related  
natural and social-economic conditions as well as cropping patterns were gathered and analyzed. In addition, multiple  
cropping model was implemented to compare with the traditional monocropping system. Crop diversity coefficient  
was calculated using Shannon’s formula. It was found that the climate and weather conditions during 2000-2010  
period in Thach That district showed unusual occurrences as evidenced by lower mean temperature (23.8oC) and  
unusual high rainfall in October (537mm) in 2008 or no rain in July 2010.. Abnormal changes in temperature and  
rainfall had affected cropping area and the kinds of crops grown leading to changing cropping structure and  
loweringbiodiversity coefficient. As a result, the coefficient of biodiversity in 2008 was lowest (0.34) during 10 years  
period. In response to abnormal weather conditions, diversifying crops and cropping structure are suggested as  
solutions to achieve stable yield and economic efficiency.  
Keywords: Cropping structure, precipitation, productivity, temperature.  
yếu tố khí hậu như nhiệt độ, số ngày nắng,  
lượng mưa,… Vì vậy, thời tiết khí hậu tác động  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Nông nghiệp nói chung và hệ thống cây  
trồng nói riêng là lĩnh vực nhạy cảm đối với các  
rất lớn đến ngành trồng trọt. Các ảnh hưởng  
này trực tiếp tác động đến sinh trưởng, phát  
734  
An Thị Huệ, Lê Văn Hưng, Phạm Tiến Dũng  
ni  
triển, năng suất cây trồng, đến thời vụ, có thể  
làm tăng nguy cơ phát triển sâu bệnh trên đồng  
ruộng (Trần Đức Hạnh và cs., 1997).  
P   
i
N
Trong đó, H: hệ số đa dạng cây trồng; N:  
diện tích của các loại cây trồng; ni: diện tích của  
cây trồng thứ i  
Đa dạng sinh học trong hệ sinh thái nông  
nghiệp không những làm hệ sinh thái trở nên  
“mềm dẻo” hơn trước những biến động của môi  
trường (thời tiết, khí hậu, đất đai và sâu bệnh)  
mà còn làm cho sản xuất nông nghiệp trở nên có  
hiệu quả, bền vững hơn về kinh tế và xã hội.  
Như vậy, đa dạng sinh học trong hệ sinh thái  
nông nghiệp có thể được coi là yếu tố trung tâm  
đảm bảo tính bền vững của các hệ thống nông  
nghiệp trên phương diện hệ sinh thái cũng như  
kinh tế và xã hội (Lê Quý An, 1999, Ninh Khắc  
Bản, 2002). Nội dung bài báo này phân tích tác  
động của yếu tố thời tiết khí hậu 10 năm qua,  
với sự biến động của hai yếu tố chiń h (nhiệt độ  
và lượng mưa) tới cơ cấu cây trồng nông nghiệp  
ngắn ngày tại huyện Thạch Thất, Hà Nội thông  
qua hệ số đa dạng sinh học (HSĐD), diện tích và  
năng suất cây trồng; từ đó đề xuất cơ cấu cây  
trồng cho huyện đến năm 2020 nhằm thích ứng  
với sự thay đổi của điều kiện khí hậu.  
- Tính hiệu quả kinh tế (phương pháp của  
Phạm Chí Thành và cs., 1996).  
+ Tổng thu (GP) = Y × P  
Trong đó, P là giá sản phẩm tại thời điểm  
thu hoạch; Y là tổng sản phẩm thu hoạch trên 1  
đơn vị diện tích  
+ Tổng chi phí biến động (TVC) = Chi phí  
vật chất + Chi phí lao động  
+ Lợi nhuận = Tổng thu nhập - Tổng chi phí  
vật chất  
+ Lãi thuần = Tổng thu nhập - Tổng chi phí  
biến động  
+ Hiệu quả đầu tư (lần) = Tổng giá trị sản  
phẩm/Tổng chi phí vật chất  
+ Giá trị ngày công lao động = Lợi nhuận/Số  
ngày công lao động  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
- Phương pháp điều tra thu thập tài liệu  
thứ cấp về khí tượng, điều kiện tự nhiên, điều  
kiện kinh tế - xã hội và hệ thống canh tác của  
huyện Thạch Thất, Hà Nội.  
3.1. Nhiệt độ không khí giai đoạn 2000 đến  
2010  
Huyện Thạch Thất, Hà Nội nằm ở vùng  
đồng bằng sông Hồng nên khí hậu mang những  
đặc điểm chung của vùng và cũng đã ghi nhận  
có những biến đổi bất thường như: tháng V năm  
1926, nhiệt độ tại thành phố Hà Nội được ghi lại  
ở mức kỷ lục 42,80C; tháng I năm 1955, nhiệt độ  
xuống mức thấp nhất 2,70C. Theo công bố của  
Nguyễn Văn Thắng và Phạm Đức Thi (2011),  
mức tăng nhiệt độ trung bình trong 50 năm qua  
là 0,6 - 1,80C trong mùa đông; 0,2 - 0,80C trong  
mùa xuân; 0,5 - 0,90C trong mùa hè và 0,4 -  
0,80C trong mùa thu. Tính trung bình cả năm là  
0,6 - 0,90C (nhiệt độ trung bình 50 năm 1958-  
2007 là 24,10C). Nhiệt độ trung bình trong thập  
niên gần đây (2000-2010) được thể hiện ở bảng  
1, hình 1.  
- Phương pháp thử nghiệm mô hình đa  
canh trên cơ sở bố trí so sánh mô hình cũ (độc  
canh) với mô hình mới và đề xuất khả năng tăng  
hệ số đa dạng sinh học, hiệu quả của hệ thống  
cây trồng đa canh.  
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê  
sinh học và phân nhóm cơ sở dữ liệu thu được  
(điều kiện khí hậu: nhiệt độ, lượng mưa và diện  
tích, năng suất các giống cây trồng) làm cơ sở  
cho phân tích, tổng hợp, đánh giá mức độ đa  
dạng cây trồng.  
- Tính hệ số đa dạng cây trồng theo công  
thức Shannon (ODUM, 1978).  
H│= ∑Pi × lgPi  
735  
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố khí hậu tới việc bố trí hệ thống cây trồng tại huyện Thạch Thất, thành phố  
Hà Nội  
Bảng 1. Nhiệt độ không khí trung bình các năm, tháng (0C)  
Tháng  
Năm  
TB năm  
I
II  
III  
IV  
V
VI  
VII  
VIII  
IX  
X
XI  
XII  
2000  
2001  
2002  
2003  
2004  
2005  
2006  
2007  
2008  
2009  
2010  
TB tháng  
CV%  
18,8  
19,0  
17,7  
17,0  
17,3  
16,6  
18,3  
16,8  
15,3  
17,0  
18,2  
17,4  
5.93  
16,5  
17,0  
19,2  
21,3  
18,3  
18,2  
16,7  
21,4  
13,8  
22,8  
21,5  
18,8  
13.9  
20,5  
21,6  
22,8  
24,8  
20,9  
19,6  
20,4  
23,4  
21,6  
21,2  
22,5  
21,8  
6.61  
25,7  
24,6  
25,7  
26,7  
24,6  
24,5  
24,9  
23,0  
24,8  
25,0  
32,2  
25,6  
8.83  
27,5  
27,2  
27,6  
29,8  
27,1  
29,1  
27,3  
27,2  
27,7  
27,4  
29,0  
27,9  
3.20  
28,6  
29,2  
29,6  
30,3  
29,6  
30,2  
29,2  
29,2  
28,8  
30,0  
30,8  
29,6  
2.18  
29,8  
29,5  
29,8  
30,3  
29,2  
29,8  
30,1  
30,8  
29,5  
29,6  
30,6  
29,9  
1.57  
29,2  
29,0  
28,6  
29,4  
29,4  
29,1  
28,4  
29,4  
29,2  
30,2  
28,8  
29,1  
1.57  
27,6  
28,5  
28,0  
28,1  
28,4  
28,7  
27,4  
26,5  
28,2  
29,1  
29,0  
28,1  
2.56  
25,5  
26,2  
25,2  
26,5  
25,5  
26,1  
27,5  
25,7  
26,5  
26,6  
25,4  
26,1  
2.51  
21,7  
21,2  
21,4  
24,0  
23,1  
22,9  
23,9  
20,6  
21,5  
21,6  
21,9  
22,2  
4.87  
20,6  
18,0  
19,3  
17,9  
19,2  
17,4  
18,2  
20,6  
18,2  
20,2  
19,4  
19,0  
5.70  
24,3  
24,2  
24,6  
25,5  
24,4  
24,3  
24,4  
24,5  
23,8  
25,1  
25,8  
24,6  
5.93  
Nguồn: Trạm khí tượng Hoài Đức  
Hình 1. Diễn biến nhiệt qua các năm (thời kỳ 2000-2010)  
Số liệu trong bảng 1 cho thấy trong vòng 10  
năm (2000-2010) nhiệt độ trung bình/tháng/năm  
dao động xung quanh 24,60C. Ngưỡng nhiệt độ cao  
năm 2003 là 25,50C, năm 2009 là 25,10C và năm  
2010 là 25,80C. Năm 2008 có sự bất thường, nhiệt  
độ xuống thấp nhất trong vòng 10 năm ở mức  
23,80C, nhiệt độ tháng I là 15,30C.  
biến động nhiệt trung bình của năm (5,93).  
Tháng I năm 2001 là 190C, nhưng năm 2008 chỉ  
là 15,30C (chênh lệch 3,70C). Nhiệt độ mùa đông  
tăng nhanh hơn so với nhiệt độ mùa hè, trong 3  
năm từ 2008 - 2010, tháng I nhiệt độ tăng 2,90C  
nhưng ở tháng VII nhiệt độ chỉ tăng 1,10C.  
Kết quả trên cho thấy tổng tích ôn tại điểm  
nghiên cứu qua 10 năm trên là 8.8560C là cao  
hơn so với tổng tích ôn bình quân trên địa bàn  
thành phố Hà Nội là 8.6000C (Phạm Đức Thi,  
2011).  
Sự thay đổi nhiệt độ giai đoạn 2000 - 2010  
còn được thể hiện trên cả giá trị nhiệt độ tối  
thấp và nhiệt độ tối cao. Nhiệt độ cao nhất qua  
các năm dao động trong khoảng từ 30,0 - 32,20C  
(chênh lệch 20C) và nhiệt độ thấp nhất dao động  
trong khoảng 15,3 - 16,60C (chênh lệch 1,30C).  
Như vậy, với các kết quả so sánh và phân  
tích về hệ số biến động CV% đã cho thấy xu thế  
nhiệt độ của giai đoạn 10 năm qua ở vùng  
nghiên cứu có những thay đổi bất thường so với  
giai đoạn trước đây.  
Chuỗi số liệu nhiệt độ 10 năm tại bảng 1  
cho thấy với hệ số biến động CV% của các tháng  
II, III, IV là cao hơn (13,9-6,61- 8,83) so với hệ số  
736  
An Thị Huệ, Lê Văn Hưng, Phạm Tiến Dũng  
đều tập trung vào các tháng từ tháng V đến  
tháng IX trong năm. Các đợt mưa vừa đến mưa  
to tập trung từ tháng VI (> 200mm) đến tháng  
VII, VIII cao (> 300mm) và giảm dần tháng IX,  
X. Lượng mưa thấp nhất thường xảy ra vào  
tháng XII đến tháng I năm sau (xấp xỉ 20mm).  
Số ngày mưa bình quân khoảng 114 ngày/năm,  
lượng mưa trong thời kỳ này chiếm từ 90 - 95%  
lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình được  
thể hiện qua bảng 2, hình 2.  
3.2. Lượng mưa giai đoạn 2000 - 2010  
Lượng mưa có ảnh hưởng rất lớn đến sinh  
trưởng, năng suất cây trồng nông nghiệp, ảnh  
hưởng của lượng mưa liên quan tới bố trí cơ cấu  
cây trồng của vùng (Trâǹ Đức Hạnh và cs. 1997).  
Tính trung bình cả nước, lượng mưa/năm  
trong 50 năm qua (1958-2007) đã giảm khoảng  
2% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).  
Ở miền Bắc, tổng lượng mưa trung bình  
năm 10 năm (2000 - 2010) là 1515,5mm, nhưng  
Bảng 2. Lượng mưa các năm, tháng (mm)  
Tháng  
Tổng  
lượng  
mưa TB  
năm  
Năm  
I
II  
III  
IV  
V
VI  
VII  
VIII  
IX  
X
XI  
XII  
2000  
2001  
2002  
2003  
2004  
2005  
2006  
2007  
2008  
2009  
2010  
0,1  
19,5  
20,8  
50,0  
9,7  
21,0  
28,6  
22,6  
51,1  
23,2  
20,0  
13,0  
36,4  
20,0  
7,4  
23,9  
102,0  
6,3  
132,4  
71,5  
38,9  
31,6  
147,6  
67,4  
23,0  
89,4  
52,5  
91,6  
59,6  
73,2  
184,9  
182,6  
207,9  
226,5  
132,7  
137,0  
217,7  
100,8  
225,9  
408,0  
97,4  
131,3  
336,1  
169,3  
117,9  
192,6  
274,5  
119,6  
181,3  
270,8  
174,9  
246,3  
201,3  
346,6  
467,7  
229,0  
198,3  
345,1  
584,6  
235,5  
162,9  
340,1  
370,4  
0,0  
134,7  
591,3  
155,0  
353,7  
200,5  
394,9  
427,7  
228,7  
336,5  
184,1  
308,9  
301,5  
61,4  
74,9  
149,0  
158,0  
127,6  
20,8  
9,6  
29,6  
57,3  
4,1  
0,0  
25,8  
68,3  
3,6  
1194,9  
2087,6  
1260,2  
1244,8  
1331,2  
2042,3  
1360,8  
1224,5  
2305,8  
1497,4  
1120,7  
1515,5  
157,2  
181,3  
115,6  
387,6  
128,4  
242,6  
210,4  
190,6  
255,6  
182,3  
5,9  
38,1  
38,3  
21,2  
28,6  
17,5  
29,6  
3,3  
94,5  
17,5  
92,3  
90,8  
6,3  
14,1  
22,0  
17,2  
11,9  
8,9  
13,3  
0,7  
10,4  
66,0  
1,2  
134,4  
576,7  
33,2  
30,9  
4,2  
215,6  
0,5  
2,9  
82,6  
21,2  
7,9  
45,0  
2,7  
11,4  
16,9  
TB  
22,8  
28,6  
192,9  
298,2  
128,7  
47,8  
tháng  
CV%  
119,86  
55,28  
95,25  
54,14  
44,56  
35,51  
52,83  
45,87  
50,91  
122,59 136,56 111,10  
119,86  
Nguồn: Trạm khí tượng Hoài Đức  
Hình 2. Diễn biến tổng lượng mưa năm (thời kỳ 2000-2010)  
737  
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố khí hậu tới việc bố trí hệ thống cây trồng tại huyện Thạch Thất, thành phố  
Hà Nội  
Kết quả trên cho thấy hiện tượng “mưa  
nắng thất thường” thể hiện tần suất mưa và chu  
kỳ mưa đã có sự thay đổi đáng kể. Năm 2000  
lượng mưa chỉ có 1.194mm, năm sau 2001 đạt  
cao là 2.087,6mm, năm 2005 (sau 4 năm) đạt  
mức 2.042,2mm và năm 2008 (sau 3 năm) ở mức  
cao 2.035,8mm. Lượng mưa hàng năm không  
đều qua các năm, năm 2000 và 2010 lượng mưa  
thấp hơn 1.200mm. Có hiện tượng bất thường  
vào tháng VII năm 2010 giữa mùa mưa nhưng  
không có mưa, cuối tháng X năm 2008, một trận  
mưa lớn đổ xuống các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với  
lượng mưa khoảng 537mm.  
tương còn 252ha, năng suất chỉ đạt 15 tạ/ha;  
lạc còn 368ha, năng suất chỉ đạt 20,8 tạ/ha  
(Phòng kinh tế huyện Thạch thất, 2008).  
Bảng 3 cho thấy:  
Diễn biến diện tích lúa qua các năm từ  
1996, 2000, 2008, 2010 có xu hướng giảm dần  
(9.612, 9.600, 9.416, 9.349ha) nhưng năng suất  
và sản lượng lúa qua các năm đã tăng lên. Năm  
1996, năng suất 42,5 tạ/ha, sản lượng 40.814  
tấn; năm 2000, 2008, 2010 tương ứng với các giá  
trị sau: 50 tạ/ha, 48.000 tấn; 58 tạ/ha, 54.739  
tấn và 54,5 tạ/ha, 51.029 tấn). Năm 2008, năng  
suất và sản lượng đều tăng cáo vì trong năm  
này nhiệt độ thấp hơn (23,80C so với trung bình  
10 năm là 24,60C) và lượng mưa năm  
2.305,8mm, cao hơn nhiều so với trung bình giai  
đoạn 10 năm là 1.515,8mm.  
Kết quả Bảng 2 với hệ số biến động CV%  
lượng mưa qua các tháng trong thời gian 10  
năm từ năm 2000-2010 cho thấy qua các tháng  
I, X, XI, XII là các tháng có độ biến động lượng  
mưa lớn (119,86-122,59-136,56-111,10).  
Với các cây trồng khác như ngô, khoai lang,  
khoai tây, sắn, lạc đậu tương và rau, xu hướng  
chung là giảm dần diện tích, đặc biệt là khoai  
tây. Tuy nhiên, năng suất của các cây trông này  
lại tăng lên mặc dù không đều qua các năm. Đối  
với cây rau, so với năm 1996, diện tích năm  
2000 có tăng (389ha so với 714ha). Sang giai  
đoạn 10 năm 2000-2010, diện tích cây rau lại  
giảm nhưng không nhiều (năm 2010 đạt  
656,2ha) và năng suất qua các năm đều tăng lên  
(năm 2010 đạt 168,1 tạ/ha, sản lượng đạt cao  
nhất đạt 11.030,7 tấn). Năm 2008, do lượng  
mưa tháng X cao (576,7mm) đã ảnh hưởng tới  
diện tích cũng như sản lượng rau, chỉ đạt thấp  
2.517,3 tấn.  
3.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ và lượng mưa  
đến diện tích và năng suất cây trồng  
Theo Báo cáo của Phòng kinh tế huyện  
Thạch Thất, 2005-2006 cho thấy: yếu tố khí  
hậu thời tiết bất thường đã ảnh hưởng rõ rệt  
đến diện tích, năng suất và sản lượng các nhóm  
cây trồng khác nhau trong hệ thống canh tác  
của huyện Thạch Thất. Như năm 2005, 2006  
do ảnh hưởng khô hạn diện tích, năng suất ngô  
đều rất thấp. Vụ mùa năm 2006 diễn ra trong  
điều kiện thời tiết không thuận lợi: đầu vụ hạn  
nặng, sâu bệnh hại lúa, ốc bươu vàng phát  
triển, đặc biệt đợt mưa lớn gần 300mm vào giai  
đoạn lúa làm đòng từ ngày 15-20/8/2006 đã  
làm trên 1.220ha lúa bị ngập, trong đó ngập  
nặng 596ha, làm mất trắng 362,0ha lúa (Phòng  
kinh tế huyện Thạch Thất, 2006). Năm 2008,  
tháng I do nhiệt độ hạ thấp nhất (15,30C) và  
tháng X có mưa lớn đã ảnh hưởng nghiêm  
trọng đến diện tích gieo trồng (chỉ đạt  
11.462ha). Diện tích cây trồng vụ đông và cây  
ngắn ngày; năng suất và sản lượng của lạc, đậu  
tương, rau đều rất thấp. Riêng đối với cây vụ  
đông trong toàn huyện, mất trắng do ngập úng  
1.254,5ha (74,85% diện tích). Diện tích rau các  
loại còn 258,7ha với năng suất 97,3 tạ/ha; đậu  
Như vậy, với các cây trồng ngắn ngày, do  
tác động của thời tiết (nhiệt độ và lượng mưa)  
đã có ảnh hưởng đến hệ thống canh tác, năng  
suất và sản lượng, HSĐD cây trồng bình quân  
năm đạt khoảng từ 0,41-0,48. Như đã nêu ở  
trên, năm 2008 HSĐD chỉ đạt là 0,34, thấp nhất  
trong giai đoạn 1996-2010.  
Với huyện Thạch Thất, cây lúa vẫn là cây  
trồng chủ đạo để đảm bảo an ninh lương thực  
cho chính người dân trong huyện. Cơ cấu giống  
lúa qua các năm được thể hiện trong bảng 4.  
738  
An Thị Huệ, Lê Văn Hưng, Phạm Tiến Dũng  
Bảng 3. Diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng chính  
Chỉ tiêu  
Lúa cả năm  
Diện tích  
Năng suất  
Sản lượng  
Ngô cả năm  
Diện tích  
Năng suất  
Sản lượng  
Khoai lang  
Diện tích  
Năng suất  
Sản lượng  
Khoai tây  
Diện tích  
Năng suất  
Sản lượng  
Sắn  
ĐVT  
1996  
2000  
2004  
2008  
2010  
*
ha  
tạ/ha  
tấn  
9.612  
9.600  
9.217  
9.416  
9.349  
54,5  
42,5  
50  
55,8  
58  
-0,17  
0,59  
40.814  
48.000  
51.461  
54.739  
51.029  
ha  
tạ/ha  
tấn  
570  
35  
300  
40  
186  
39,1  
728  
437  
566,8  
44,1  
42,4  
1.939  
1,84  
1.995  
1.200  
2.063  
49,58  
ha  
tạ/ha  
tấn  
912  
55  
815  
89  
721  
391  
280  
79,2  
5.710  
62,7  
2.452  
101,62  
2.845  
6,26  
4.990  
7.285  
-10,27  
ha  
tạ/ha  
tấn  
263  
87  
50  
10  
72  
72  
20,7  
54,6  
113,0  
29,5  
122  
360  
110  
550  
3,60  
307  
31,99  
Diện tích  
Năng suất  
Sản lượng  
Đậu tương  
Diện tích  
Năng suất  
Sản lượng  
Lạc  
ha  
tạ/ha  
tấn  
334  
60  
365  
503  
319  
332  
110  
150  
145  
160  
3,92  
2.005  
4.015  
7.635  
4.495  
5.312  
-3,17  
ha  
tạ/ha  
tấn  
120  
6
1.000  
15  
587  
14,5  
857  
252  
15  
492,1  
15,8  
-3,32  
-4,80  
73  
1.500  
227  
780,0  
Diện tích  
Năng suất  
Sản lượng  
Rau các loại  
Diện tích  
Năng suất  
Sản lượng  
ha  
tạ/ha  
tấn  
609  
9,6  
651  
570  
16,8  
958  
368  
395  
15,7  
1.027  
20,9  
769,1  
17,3  
679,4  
584  
ha  
tạ/ha  
tấn  
389  
82  
714  
552  
258,7  
97,3  
656,2  
110  
158  
168,1  
2,41  
1,60  
3.489  
7.882  
8.726  
0,44  
2.517,3  
11.030,7  
HSĐD  
0,44  
0,48  
0,34  
0,41  
Chú thích: * Tốc độ tăng BQ/năm (%) tính từ 2005  
Nguồn: Niên giám Thống kê của huyện 2011  
Kết quả điều tra cho thấy, diện tích gieo  
trồng lúa vụ mùa ít biến động hơn vụ xuân. Vụ  
xuân 2005 diện tích lúa đạt 4.379ha trong khi  
năm 2007 đạt tới 5.396ha, tuy nhiên, HSĐD cây  
lúa có xu hướng giảm dần (0,750 năm 2005  
giảm còn 0,663 năm 2010); vụ mùa 2005 diện  
tích lúa là 4.632ha và năm 2010 cũng vẫn duy  
trì với diện tích 4.625ha, nhưng HSĐD lại có xu  
hướng tăng dần qua các năm (0,505 năm 2005  
so với 0,723 năm 2010). Xét theo giai đoạn, vụ  
xuân 2005-2007 có hệ số đa dạng sinh học cao  
hơn vụ mùa (0,750- 0,748 so với 0,505-0,588);  
đến năm 2009-2010 HSĐD ở vụ xuân giảm dần  
và vụ mùa tăng lên (0,662- 0,663 so với 0,756-  
0,723) do vụ mùa cơ cấu giống lúa đa dạng hơn  
(Phòng Nông nghiệp huyện Thạch Thất, 2011).  
739  
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố khí hậu tới việc bố trí hệ thống cây trồng tại huyện Thạch Thất, thành phố  
Hà Nội  
Bảng 4. Cơ cấu diện tích và hệ số đa dạng các giống lúa  
TT  
Tên giống  
ĐVT  
2005  
2007  
2009  
2010  
Vụ xuân  
1
2
Giống Xi23  
Giống 84-1  
Giống Q5  
ha  
ha  
ha  
ha  
ha  
ha  
ha  
ha  
ha  
ha  
ha  
656,9  
1.094,8  
219  
611  
1.317  
260  
704  
143  
509  
196  
3
4
Giống Khang Dân 18  
Các giống lúa thơm  
Nếp các loại  
Lúa lai  
1.532,7  
80,6  
1.968  
261,8  
239,9  
120  
2.257,5  
645,7  
314,5  
128  
2.499  
379  
5
6
219  
323  
7
219  
180  
8
ĐB5, ĐB6  
357,3  
234,5  
9
SH2, SH4  
590  
48  
10  
Các giống khác  
Tổng  
618.7  
5.396,4  
0,748  
60.4  
4.487,6  
0,662  
4.379,3  
0,750  
4.724  
0,663  
HSĐD  
Vụ mùa  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Khang dân  
Q5, BM9820 (năm 2005)  
BC15, ĐB5, ĐB6  
Lúa lai  
ha  
ha  
ha  
ha  
ha  
ha  
ha  
ha  
ha  
ha  
2.918,6  
832,9  
2.487  
610  
2.032  
131  
2.279  
103  
327  
297  
24.7  
450.3  
215.6  
206  
91  
130  
Lúa thơm các loại  
Lúa nếp  
370,6  
231,6  
139  
342  
579  
401  
350  
Lúa Xi23  
446  
499  
SH2  
140  
601  
212  
Giống lúa khác  
Tổng  
339  
126  
176  
4.632,7  
0,505  
4.332,6  
0.588  
4.497,0  
0,756  
4.625  
0,723  
HSĐD  
Nguồn: Phòng Kinh tế nông nghiệp huyện Thạch Thất và số liệu điều tra  
Bảng 5. Hệ số đa dạng của các cây trồng chính ở tiểu vùng 1 và 2  
Năm 2009  
Năm 2010  
Tiểu vùng 1  
Tiểu vùng 2  
Tiểu vùng 1  
Tiểu vùng 2  
Cây trồng  
Diện tích  
Diện tích  
Tỷ lệ  
(%)  
Diện tích Tỷ lệ  
Diện tích  
Tỷ lệ  
(%)  
Tỷ lệ(%)  
(ha)  
5.106,2  
56,5  
(ha)  
3.128,0  
49,5  
(ha)  
5.220,0  
48,6  
(%)  
89,5  
0,8  
0,5  
0,3  
0,2  
4,6  
0,2  
4,0  
100  
(ha)  
3.211,0  
87,0  
1. Lúa cả năm  
90,3  
1,0  
0,8  
0,5  
0,2  
2,0  
0,6  
4,6  
100  
72,8  
1,2  
3,9  
0,2  
5,2  
2,4  
7,4  
6,9  
100  
72,1  
2,0  
3,8  
0,1  
4,5  
3,2  
7,5  
6,9  
100  
2. Ngô cả năm  
3. Khoai lang  
4. Khoai tây  
5. Sắn  
47,5  
167,5  
8,0  
26,7  
167,3  
6,3  
29,0  
15,6  
11,9  
222,8  
104,9  
316,3  
298,4  
4.295,4  
0,45  
10,6  
198,5  
144,1  
332,7  
308,7  
4.455,6  
0,47  
6. Đậu tương  
7. Lạc  
113,3  
32,4  
268,0  
9,3  
8. Rau các loại  
Tổng diện tích  
HSĐD  
260,0  
5.656,8  
0,20  
234,6  
5.833,5  
0,21  
Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Thạch Thất, 2011 và số liệu điều tra  
Chú thích: tiểu vùng 1 là vùng đồng bằng gồm 12 xã địa hình thấp trũng, tiểu vùng 2 là vùng gò đồi gồm 8 xã của huyện.  
740  
An Thị Huệ, Lê Văn Hưng, Phạm Tiến Dũng  
Qua bảng trên bước đầu chúng tôi có một số  
nhận xét: HSĐD ở cả tiểu vùng 1 và 2 đều tăng  
hàng năm. Mặc dù diện tích trồng cây hàng  
năm của tiểu vùng 2 (năm 2010 là 4.455,6ha)  
luôn ít hơn tiểu vùng 1 (5.833,5ha) nhưng tiểu  
vùng 2 lại có HSĐD (năm 2009 là 0,45; năm  
2010 là 0,47) cao hơn ở tiểu vùng 1 (năm 2009 là  
0,20 và năm 2010 là 0,21). Do đặc điểm đất đai,  
địa hình khác nhau dẫn đến cơ cấu cây trồng  
cũng khác nhau.  
mô hình tại thôn Khoang Mè, xã Hạ Bằng với  
diện tích 27,5ha. Những năm trước đây diện tích  
này hầu như chỉ chuyên trồng lúa và lạc (22,5ha  
lúa, 5ha lạc). Diện tích đất này có thể chủ động  
tưới tiêu nên diện tích 27,5ha lúa có thể trồng các  
cây trồng khác có hiệu quả hơn. Vụ xuân năm  
2010 đã đưa 4ha dưa chuột vào trồng trên diện  
tích này, diện tích lúa còn lại là 18,5ha. Trong  
5ha đất trồng lạc, theo phương thức mới trồng  
ngô xen lạc. Kết quả mô hình được trình bày  
trong bảng 6.  
Ở tiểu vùng 1, cây trồng chiếm tỷ trọng tuyệt  
đối năm 2009 là cây lúa (90,3%), đến năm 2010 tỷ  
lệ này giảm do vụ xuân xảy ra hạn hán trên toàn  
huyện, một số xã phải chuyển đổi lúa sang các cây  
trồng cạn như ngô, đậu tương… cụ thể, xã Hương  
Ngải 12,1ha; Dị Nậu 4ha và Tân Xã 5ha (Phòng  
Kinh tế huyện Thạch Thất, 2009 - 2010).  
Kết quả trên cho thấy cùng trên diện tích  
canh tác nhưng năng suất, lợi nhuận, hiệu quả  
đầu tư đều cao hơn rõ rệt giữa 2 mô hình cũ và  
mới. HSĐD cũng tăng tương ứng từ 0,21 lên  
0,51. Hiệu quả đầu tư từ 2,7 tăng lên 5,0; lợi  
nhuận tăng từ 136,7 triệu đồng tăng lên 161,5  
triệu đồng. Như vậy, mô hình đa canh đã mang  
lại hiệu quả so với mô hình cũ độc canh đồng  
thời nâng cao HSĐD một cách rõ rệt.  
Ở tiểu vùng 2, diện tích trồng lúa chỉ chiếm  
gần khoảng 72%, còn lại là các loại cây trồng  
khác như lạc 7,2%, rau các loại 6,9%.  
3.5. Đề xuất cơ cấu cây trồng nông nghiệp  
của huyện  
3.4. Mô hình đa canh  
Thạch Thất giữ một vai trò quan trọng  
trong sự phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô vì  
huyện cung cấp nhiều nông sản thực phẩm cho  
nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trên địa bàn và  
khu vực. Tuy nhiên, theo quy hoạch thủ đô Hà  
Nội, Thạch Thất có khu đô thị vệ tinh, khu công  
nghệ cao Hòa Lạc, Đại học Quốc gia Hà Nội và  
một số dự án lớn của Trung ương và thành phố,  
việc duy trì, phát triển một môi trường sinh thái  
và nền kinh tế xanh mới là việc làm cần thiết.  
Đa canh là nền tảng của nông nghiệp bền  
vững, là một hình thức đa dạng cây trồng trên  
một đơn vị diện tích đất trồng trọt (Bùi Huy Đáp,  
1972, Phạm Chí Thành và cs., 1996, Nguyễn Tất  
Cảnh và cs., 2008). Trong điều kiện thời tiết khí  
hậu biến đổi, đa canh có tác dụng tăng lợi nhuận,  
tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên nhưng giảm  
tác hại của sâu bệnh, cỏ dại, giảm nguy cơ rủi ro  
và giảm áp lực lao động. Để phát triển đa canh ở  
huyện Thạch Thất, chúng tôi tiến hành xây dựng  
Bảng 6. Hiệu quả mô hình đa canh  
Hệ số đa  
dạng  
(HSĐD)  
Diện tích  
(ha)  
Năng suất  
(tạ/ha)  
Lợi nhuận  
(1.000đ)  
Thu hút lao  
động (công)  
Hiệu quả  
đầu tư  
Mô hình  
Cây trồng  
Cũ  
Lúa  
22,5  
5
60  
18  
97.775  
39.000  
136.775  
82.313  
38.200  
8.250  
5.175  
1.300  
6.475  
4.255  
1.300  
875  
1,2  
1,5  
2,7  
1,2  
1,1  
1,2  
1,5  
5,0  
Lạc  
Tổng  
Lúa  
27,5  
18,5  
0,21  
0,51  
Mới  
60  
18  
35  
30  
Lạc  
5
Ngô  
Dưa chuột  
Tổng  
4
32.813  
161.575  
1.600  
8.030  
27,5  
741  
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố khí hậu tới việc bố trí hệ thống cây trồng tại huyện Thạch Thất, thành phố  
Hà Nội  
Bảng 7. Đề xuất cơ cấu cây trồng hàng năm tại huyện Thạch Thất đến năm 2020  
Diện tích (ha)  
Cây trồng  
+,- diện tích (ha)  
2010  
9.349  
566,8  
280  
2020  
6.509  
165  
1. Lúa  
2. Ngô  
-2.840,0  
-401,8  
10,0  
3. Khoai lang  
4. Khoai tây  
5. Sắn  
290  
29,5  
105  
75,5  
332  
220  
-112,0  
209,9  
-13,0  
6. Đậu tương  
7. Lạc  
492,1  
395  
702  
382  
8. Rau  
656,2  
12.100,6  
0,41  
688  
31,8  
Tổng diện tích  
HSĐD  
9.061  
0,47  
-3.039,6  
+ 0,06  
Trong điều kiện diện tích đất sản xuất nông  
nghiệp ngày càng bị thu hẹp, để đảm bảo an ninh  
lương thực, phát triển bền vững, cần sử dụng các  
giống có năng suất cao. Bên cạnh đó, cần áp dụng  
các biện pháp thâm canh, đa canh đâỷ mạnh các  
giống có khả năng thích ứng tốt phù hợp với điều  
kiện canh tác vào sản xuất đại trà. Trên cơ sở  
phân tích hiện trạng và định hướng phát triển  
sản xuất nông nghiệp của huyện Thạch Thất, kết  
hợp đề án quy hoạch của UBND huyện, chúng tôi  
đề xuất cơ cấu cây trồng hàng năm đến năm  
2020 của huyện như bảng 7.  
+ Giống lạc: tập trung giống có năng suất  
cao, kháng vi khuẩn héo xanh như giống MĐ7,  
L14...  
+ Giống đậu tương: trong vụ hè thu nên sử  
dụng các giống DT96, ĐVN6, ĐVN10 (chủ lực là  
giống DT96). Các xã, thị trấn có nhiều diện tích  
đất vàn cao có thể gieo trồng đỗ tương trong vụ hè  
thu để cung cấp giống cho vụ đông tới như giống  
VX2000, ĐVN10, ĐT22, ĐT26, ĐT2011, ĐVN9.  
+ Cây màu: bí xanh, dưa chuột số 1 của  
Viện Cây lương thực, thực phẩm.  
+ Cây sắn: sử dụng giống KM60, KM94,  
KM98.  
Theo dự kiến, tổng diện tích gieo trồng tới  
năm 2020 sẽ giảm 3.039ha, trong đó lúa giảm  
2.840ha, ngô giảm 401,8ha, sắn giảm 112ha  
nhưng diện tích đậu tương tăng 29,9ha, khoai  
tây và rau màu diện tích tăng lên; HSĐD cũng  
tăng lên từ 0,41 lên 0,47.  
4. KẾT LUẬN  
Điều kiện thời tiết giai đoạn 10 năm từ năm  
2000 - 2010 có diễn biến phức tạp, nhiệt độ và  
lượng mưa đã ảnh hưởng của đến diện tích,  
năng suất của các loại cây trồng trên địa bàn  
huyện Thạch Thất, dẫn đến hệ số đa dạng cây  
trồng cũng thay đổi theo. Đặc biệt năm 2008, do  
thời tiết có những bất thường nên HSĐD cây  
trồng giảm thấp nhất (0,34).  
Bằng thực nghiệm và đánh giá tại địa  
phương, chúng tôi khuyến cáo cho huyện cơ cấu  
giống cây trồng như sau:  
+ Giống lúa: Do điều kiện thời tiết vụ xuân  
thường rét đậm, rét hại và khô hạn nên chọn  
giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn ngày để  
gieo cấy, rút ngắn thời gian chăm sóc. Ví dụ:  
Khang dân 18, ĐB5, ĐB6, SH14, N46, Hương  
thơm số 1, Bắc thơm 7, SH4, XT27, VS1 và các  
giống lúa lai,…  
Diện tích và cơ cấu giống lúa cũng có sự  
thay đổi, các giống ngắn ngày, có chất lượng cao  
đã thay thế các giống dài ngày cho phù hợp với  
điều kiện thời tiết, ví dụ: vụ xuân giảm giống  
lúa 84-1 (từ 1.094,8ha năm 2005 giảm còn  
196,0ha năm 2010), tăng giống Khang dân 18  
+ Giống ngô: chủ lực là các giống ngô lai và  
ngô nếp  
742  
An Thị Huệ, Lê Văn Hưng, Phạm Tiến Dũng  
Nguyễn Tất Cảnh, Trần Thị Hiền, Nguyễn Xuân Mai  
(2008). Giáo trình hệ thống canh tác, Nhà xuất bản  
Nông nghiệp, Hà Nội.  
(từ 1.532,7ha năm 2005 lên 2.499ha năm 2010).  
Vụ mùa giống lúa Khang dân vẫn duy trì cơ cấu  
ở mức cao nhất.  
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008). Báo cáo Chương  
trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí  
hậu.  
Kết quả của mô hình đa dạng cây trồng đã  
khẳng định tính hơn hẳn so với mô hình cũ của  
địa phương; hiệu quả đầu tư ở mô hình cũ chỉ  
đạt 2,7 nhưng mô hình đa canh đạt 5,1; lợi  
nhuận đầu tư tăng được 24,8 triệu đồng so với  
mô hình cũ và sự sai khác về HSĐD của mô  
hình đa canh đạt 0,51 so với mô hình cũ chỉ đạt  
0,21. Từ nhưng cơ sở trên, chúng tôi đã đề xuất  
cơ cấu giống cây trồng mới theo hướng giảm  
diện tích lúa, ngô, sắn; tăng diện tích cây đậu  
tương và rau màu.  
Bùi Huy Đáp (1972). Xác định cơ cấu các vụ sản xuất,  
thực hiện cuộc biến đổi cách mạng trong cơ cấu  
trồng trọt, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp,  
Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, tr. 464-  
467.  
Trần Đức Hạnh, Văn Tất Tuyên, Đoàn Văn Điếm, Trần  
Quang Tộ (1997). Giáo trình khí tượng nông  
nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.  
Niên giám thống kê huyện Thạch Thất 2011.  
Phạm Chí Thành, Phạm Tiến Dũng, Đào Châu Thu,  
Trần Đức Viên (1996). Hệ thống nông nghiệp, Nhà  
xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Lê Quý An (1999). Chính sách môi trường và phát triển  
lâu bền của Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học kỹ  
thuật, tr. 14-21.  
Trần Thục, Nguyễn Văn Thắng, Ngô sỹ Giai (2011).  
Phương pháp ứng dụng thông tin khí hậu trong  
đánh giá những tác động tiềm tàng đến ĐDSH ở  
Việt Nam. Viện khoa học khí tượng thủy văn và  
môi trường.  
Ninh Khắc Bản (2002). “Bảo tồn đa dạng sinh học qua  
hệ thống canh tác trang trại”, Hội thảo quốc gia:  
Nâng cao nhận thức về sử dụng bền vững đa dạng  
sinh học ở Việt Nam, Phòng Giáo dục đào tạo và  
Thông tin tư liệu - Vụ Môi trường.  
Phạm Đức Thi (2011). Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu  
đối với các vùng khí hậu theo kịch bản biến đổi khí  
hậu Việt Nam. TTKHCN khí tượng thủy văn và  
môi trường.  
Báo cáo của Phòng Nông nghiệp huyện Thạch Thất  
Pimbert, M. (1999). Agricultural Biodiversity  
Conference Background Paper No.1 to Netherlands  
Conference on the Multifunctional Character of  
Agriculture and Land. FAO, Maastrich.  
năm 2011.  
Báo cáo của Phòng kinh tế huyện Thạch Thất năm  
2005, 2006, 2008, 2009, 2010.  
743  
pdf 10 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 21720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố khí hậu tới việc bố trí hệ thống cây trồng tại huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_anh_huong_cua_mot_so_yeu_to_khi_hau_toi_viec_bo_t.pdf