Sàng lọc một số chủng Trichoderma SP. đối kháng với Colletotrichum SP. gây bệnh thán thư trên cây ớt trồng ở Bình Dương

Journal of Thu Dau Mot University, No 1 (14) – 2014  
SAØNG LOÏC MOÄT SOÁ CHUÛNG TRICHODERMA SP.  
ÑOÁI KHAÙNG VÔÙI COLLETOTRICHUM SP. GAÂY BEÄNH  
THAÙN THÖ TREÂN CAÂY ÔÙT TROÀNG ÔÛ BÌNH DÖÔNG  
Traàn Ngoïc Huøng, Phan Troïng Nhaân, Ngoâ Thò Laønh,  
Nguyeãn Thò Minh Thanh, Hoaøng Thò Xuaân  
Trường Đại học Thủ Dầu Một  
TÓM TẮT  
Bệnh thán thư là nguyên nhân gây thiệt hại lớn trên ớt cay (Capsicum frutescens).  
Trong xu hướng nông nghiệp hữu cơ, kiểm soát bệnh thán thư bằng Trichoderma là giải  
pháp đang nhận được nhiều sự quan tâm. Kết quả phân lập từ 5 mẫu ớt trồng ở tỉnh Bình  
Dương bị bệnh thán thư cho thấy Colletotrichum truncatum và Colletotrichum acatatum là  
các tác nhân gây bệnh phổ biến. Trong số 16 chủng Trichoderma sp. phân lập được từ các  
khu vực trồng rau màu tại Bình Dương, các chủng Trichoderma koningii T2.2, T4 và T5.1  
có khả năng đối kháng đạt hiệu quả 100% với 5 chủng Colletotrichum sp. phân lập được  
sau 5 ngày nuôi cấy trên môi trường PGA. Kết quả này cũng cho thấy Trichoderma  
koningii hiện diện phổ biến và phù hợp với các điều kiện tự nhiên của Bình Dương.  
Từ khóa: Colletotrichum truncatum, Colletotrichum acutatum,  
đối kháng, nấm bệnh thán thư  
*
1. Đặt vấn đề  
hiểm nhất trong số đó phải kể đến bệnh  
thán thư hay còn gọi là bệnh nổ trái. Bệnh  
do nấm Colletotrichum gây ra. Chủng nấm  
này rất đa dạng và gây hại trên hầu hết các  
loại cây trồng[3,4,6]. Trên ớt, bệnh xuất hiện  
trên cả thân, lá, và đặc biệt là trên trái, gây  
thiệt hại rất lớn cho các hộ trồng ớt, sản  
lượng có thể giảm từ 70-80%. Việc sử dụng  
các loại thuốc hóa học tràn lan không chỉ  
gây ảnh hưởng xấu tới môi trường sống,  
sức khỏe của người tiêu dùng mà còn là  
nguyên nhân tạo ra các chủng nấm bệnh  
kháng thuốc. Sử dụng các chủng nấm  
Trichoderma để kiểm soát các loại nấm  
bệnh thực vật là một biện pháp an toàn và  
hiệu quả. Từ thực tế trên, chúng tôi đã  
nghiên cứu đề tài: Sàng lọc một số chủng  
Ớt cay không chỉ là loại cây gia vị rất  
phổ biến trong cuộc sống hằng ngày, gần  
đây, chúng còn được sử dụng trong công  
nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu.  
Chính vì thế, nhu cầu và diện tích trồng ớt  
ở nhiều nước có chiều hướng gia tăng. Diện  
tích trồng ớt tại Việt Nam khoảng 5.000 ha,  
được trồng chủ yếu tại 18 tỉnh thành trải dài  
từ bắc vào nam. Ở Bình Dương, ớt được  
trồng chủ yếu tại hai huyện Tân Uyên và  
Bến Cát với diện tích vào khoảng 15 ha[7].  
Cũng như nhiều loại cây trồng khác, chất  
lượng và sản lượng ớt bị đe dọa nghiêm  
trọng bởi các loại dịch bệnh như bệnh thán  
thư, bệnh đốm trắng lá, bệnh héo xanh,  
bệnh héo rủ, bệnh thối đọt non... Nguy  
10  
Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 1 (14) – 2014  
Trichoderma đối kháng với Colletotrichum  
gây bệnh thán thư trên cây ớt (Capsicum  
frutescens) tại Bình Dương.  
nhọn cấy một ít tơ nấm Colletotrichum vào  
vết thương. Mẫu đối chứng cũng được gây  
vết thương nhưng không chủng nấm bệnh.  
So sánh triệu chứng bệnh trên mẫu ớt được  
chủng nấm với mẫu đối chứng và triệu  
chứng thực tế thu nhận từ các chợ hoặc trên  
đồng ruộng.  
Trong đề tài này, một mặt chúng tôi  
phân lập các chủng Trichoderma từ các khu  
vực trồng rau màu trên bàn tỉnh Bình  
Dương. Mặt khác, chúng tôi phân lập các  
chủng Colletotrichum gây bệnh thán thư từ  
các mẫu ớt, thu thập từ các chợ và nhà  
vườn trồng ớt trên địa bàn tỉnh Bình  
Dương. Mục tiêu của đề tài nhằm xác định  
các chủng Trichoderma có khả năng đối  
kháng tốt với các chủng Colletotrichum  
phân lập được bằng phương pháp nuôi cấy  
trên đĩa petri có chứa môi trường PGA.  
2.2.3. Phương pháp phân lập Tricho-  
derma[1]  
Mẫu đất được thu thập tại các khu vực  
nông nghiệp và pha loãng bằng nước cất vô  
trùng trong dãy nồng độ 10-1; 10-2; 10-3.  
Hút 0,1ml ở mỗi nồng độ trải đều lên các  
đĩa petri có chứa môi trường TSM. Ủ ở  
nhiệt độ phòng (30-32oC). Sau 3-4 ngày,  
chọn những khuẩn lạc rời, đặc trưng cho  
nấm Trichoderma cấy qua môi trường  
TSA. Các chủng nấm Trichoderma sau khi  
làm thuần được cấy vào các ống thạch  
nghiêng chứa môi trường PGA.  
2. Vật liệu và phương pháp  
2.1. Vật liệu  
– Môi trường TSM: glucose (3g/l);  
MgSO4.7H2O (0,2g/l); KH2PO4 (0,9g/l);  
KCl (0,15 g/l); NH4NO3 (1g/l); chloram-  
phenicol (0,25g/l); rose Bengal (0,15g/l);  
agar (20g/l)  
2.2.4. Phương pháp xác định hiệu quả  
đối kháng của Trichoderma với nấm bệnh  
trên môi trường PGA[5,6]  
– Môi trường PGA: khoai tây (200g/l);  
D-glucose (30g/l); agar (20g/l)  
Cắt những miếng thạch có diện tích  
bằng nhau (0,5x0,5cm) có chứa nấm bệnh  
và Trichoderma trên các đĩa giống trung  
gian. Đặt các khối thạch lên đĩa petri có  
chứa môi trường PGA để tiến hành đối  
kháng. Hằng ngày, xác định hiệu quả đối  
kháng Colletotrichum của các chủng  
Trichoderma. Hiệu quả đối kháng được  
tính theo công thức: H = (Dđc – Dtt)/Dđc  
x 100 (%). Với Dđc là bán kính khuẩn lạc  
nấm bệnh trên đĩa đối chứng; Dtt là bán  
kính khuẩn lạc nấm bệnh trên đĩa thử thật.  
– Môi trường WA: agar (20g/l)  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phương pháp phân lập nấm  
bệnh[2,6]  
Thu nhận mẫu ớt bệnh tại các chợ và  
các nhà vườn. Nhẹ nhàng rửa đất khỏi mẫu  
bệnh. Kiểm tra và ghi lại các triệu chứng.  
Khử trùng bề mặt mẫu bệnh. Cắt mẫu bệnh  
thành những lát nhỏ và đặt lên môi trường  
thạch nước cất. Ủ ở nhiệt độ phòng (30-  
32oC) cho tới khi các khuẩn lạc xuất hiện.  
Làm thuần các mẫu nấm bệnh trên môi  
trường PGA.  
2.2.5. Phương pháp định danh Tricho-  
derma sp. và Colletotrichum sp.  
Giải trình tự rRNA 28S các chủng bằng  
kỹ thuật PCR. So sánh trình tự rRNA 28S  
trên cơ sở dữ liệu BLAST SEARCH.  
2.2.2. Phương pháp lây bệnh nhân  
tạo[2]  
Gây vết thương trên trái ớt đang phát  
triển hoặc trái ớt đã thu hoạch. Dùng kim  
11  
Journal of Thu Dau Mot University, No 1 (14) – 2014  
3. Kết quả  
mặt thạch, có màu đen (chủng C1) hoặc màu  
trắng đục (chủng CH2). Các chấm này là các  
đĩa cành tập trung một số lượng lớn bào tử  
của nấm. Quan sát dưới kinh hiển vi, bào tử  
các chủng C1 và CH2 có dạng hình cong lưỡi  
liềm, không có vách ngăn, bên trong chứa  
nhiều giọt dầu (hình 2). Khuẩn ty màu trắng,  
lớn, không có vách ngăn.  
3.1. Phân lập và làm thuần nấm bệnh  
Colletotrichum  
Phân lập và làm thuần  
Từ 5 mẫu ớt bệnh thu nhận được từ các  
chợ bán lẻ và nhà vườn (bảng 1), chúng tôi  
ghi nhận triệu chứng của các mẫu bệnh và  
tiến hành phân lập nấm bệnh trên môi  
trường PGA và môi trường thạch nước cất.  
Kết quả phân lập được 5 chủng nấm có đặc  
điểm tương tự Colletotrichum.  
Khuẩn lạc chủng C2 có màu cam nhạt,  
trong khi các chủng C4 và C5 có màu trắng  
sau 3 ngày nuôi cấy. Khuẩn lạc mọc tròn  
đều, trong một số trường hợp, chủng C5  
mọc không đều, mép khuẩn lạc lượn sóng  
(hình 1). Từ ngày thứ 8 trở đi, bề mặt  
khuẩn lạc chủng C2 xuất hiện những chấm  
tròn màu đen, càng để lâu, khuẩn lạc  
chuyển dần sang màu hồng xám. Bào tử  
các chủng C2, C4 và C5 có dạng hình que  
dài, thuôn hai đầu, không có vách ngăn,  
bên trong chứa nhiều giọt dầu. Khuẩn ty  
màu trắng và không có vách ngăn (hình 2).  
Nhìn chung, các chủng Colletotrichum  
sp. phân lập được có đặc điểm khá đa dạng,  
bán kính vòng tăng trưởng trên môi trường  
PGA đạt 1,2 – 4,1 cm sau 5 ngày nuôi cấy.  
Chủng C1 và CH2 có hình thái tương tự  
nhau, khuẩn lạc màu xám đậm, tơ dạng bông  
xốp, phát triển đều từ tâm sau 3 ngày nuôi  
cấy. Từ ngày thứ 5 trở đi, bề mặt khuẩn xuất  
hiện những chấm nhỏ mọc nhô cao lên khỏi  
Bảng 1: Địa điểm thu mẫu ớt bệnh và kí hiệu các chủng Colletotrichum sp. phân lập  
Mẫu bệnh  
Địa điểm thu mẫu  
Kí hiệu chủng phân lập  
Trái ớt chỉ thiên chín  
Trái ớt chỉ thiên chín  
Trái ớt chỉ thiên chín  
Trái ớt sừng trâu chín  
Trái ớt chỉ thiên xanh  
Chợ Vinh Sơn, đường Trần Văn Ơn, Thủ Dầu Một  
Chợ Hàng Bông, đường Phú Lợi, Thủ Dầu Một  
Chợ Khiết Tâm, đường Lê Thị Hoa, Dĩ An  
Chợ Đồng An 2, Thuận An  
C1  
CH2  
C2  
C4  
Nhà vườn tại Khánh Bình, Tân Uyên  
C5  
Hình 1. Khuẩn lạc và bào tử  
các chủng Colletotrichum sp.  
trên môi trường PGA sau 5  
ngày nuôi cấy. A) khuẩn lạc  
Colletotrichum C1; B) khuẩn  
lạc Colletotrichum C4; C)  
khuẩn lạc Colletotrichum C5;  
D) bào tử chủng C1 hình cong  
lưỡi liềm, không có vách ngăn;  
E) bào tử chủng C2 có hình que  
ngắn, thuôn hai đầu, không có  
vách ngăn; F) bào tử chủng  
CH2 có hình cong lưỡi liềm,  
không có vách ngăn, các đĩa  
cành với tơ cứng màu đen.  
12  
Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 1 (14) – 2014  
Colletotrichum sp. So với triệu chứng của các  
Gây bệnh nhân tạo  
mẫu bệnh trước khi phân lập, vết bệnh gây  
nhiễm không có sự khác biệt.  
Tất cả các chủng Colletotrichum sp.  
phân lập được đều có khả năng gây bệnh cho  
trái ớt sau thu hoạch và trái ớt đang phát triển  
với 100% số ớt gây nhiễm đều bị bệnh. Thời  
gian xuất hiện triệu chứng bệnh đồng tiền sau  
1 – 4 ngày. Hầu hết vết bệnh có màu đậm ở  
chính giữa, xung quanh lõm xuống (hình 2).  
Càng về sau, vết bệnh thối nhũn, bề mặt vết  
bệnh xuất hiện những hạt nhỏ li ti màu đen  
hoặc màu cam, đó là các đĩa cành của nấm  
Kết quả phân tích trình tự rRNA 28S  
và tra cứu trên BLAST SEARCH một số  
chủng Colletotrichum phân lập được cho  
thấy chủng C1 và CH2 thuộc loài  
Colletotrichum truncatum với mức độ  
tương đồng 99%. Chủng C4 thuộc loài  
Colletotrichum acutatum với mức độ tương  
đồng 99%.  
Hình 2. Gây bệnh nhân  
tạo các chủng Colleto-  
richum sp. trên cây thực  
tế. A) chủng C1 gây bệnh  
trên trái ớt xanh; B) chủng  
C2 gây bệnh trên trái ớt  
xanh; C) chủng C5 gây  
bệnh trên trái ớt chín.  
3.2. Phân lập và làm thuần nấm  
Trichoderma  
Hầu hết các chủng Trichoderma sp. có  
tốc độ phát triển nhanh, đường kính vòng  
tăng trưởng đạt 8 – 10 cm sau 3 ngày nuôi  
cấy trên môi trường PGA. Bào tử hình thành  
sau 3 – 4 ngày nuôi cấy, một số chủng hình  
thành bào tử sau 2 ngày nuôi cấy (chủng  
T5.1, T6.2 và T7.1). Màu sắc bào tử thay đổi  
từ xanh nhạt (chủng T6.1 và T12) cho đến  
xanh oliu đậm (hình 3). Cấu trúc cuống sinh  
bào tử của các chủng không có sự khác biệt  
đáng kể, có thể quan sát thấy rõ các thể bình  
đặc trưng của chi Trichoderma (hình 4).  
Từ 11 mẫu đất thu nhận tại các khu vực  
trồng rau màu trên địa bàn tỉnh Bình  
Dương, chúng tôi phân lập được 16 chủng  
Trichoderma sp.. Trong mỗi mẫu đất có từ  
1- 2 chủng. Nhìn chung, Trichoderma có  
mặt trong nhiều loại đất khác nhau với pH  
trong khoảng 6,8 – 7,5, độ ẩm 18 – 25%.  
Mật độ Trichoderma khoảng 102 – 103  
CFU/g, chiếm khoảng 10 – 20% so với  
tổng số nấm sợi có trong đất.  
Hình 3. Khuẩn lạc các chủng Tricho-erma sp. trên môi trường PGA.  
A) chủng T2.2; B) chủng T4; C) chủng T5.1  
13  
Journal of Thu Dau Mot University, No 1 (14) – 2014  
Hình 4. Bào tử các chủng Trichoderma sp. trên môi trường PGA.  
A) chủng T2.1; B) chủng T3.2; C) chủng T 5.1  
tăng trưởng khoảng 2 cm. Sau đó cấy các  
chủng Trichoderma sp. và ghi nhận khả  
năng đối kháng sau 5 ngày nuôi cấy.  
3.3. Chọn lọc các chủng Tricho-erma  
có khả năng đối kháng tốt với các chủng  
Colletotrichum trên môi trường PGA  
Các chủng nấm bệnh trước từ 2 – 3  
ngày, tương ứng với đường kính vòng  
Bảng 2. Hiệu quả đối kháng (%) của các chủng Trichoderma sp. với  
Colletotrichum sp. sau 5 ngày trên môi trường PGA  
Hiệu quả đối kháng với các chủng Colletotrichum sp. (%)  
Chủng  
Trichoderma sp.  
Chủng C1  
63,0 ± 8,0  
Chủng C2  
75,9 ± 3,5  
Chủng CH2  
61,1 ± 3,9  
93,5 ± 6,6  
50,9 ± 1,3  
84,3 ± 2,6  
78,7 ± 3,5  
53,7 ± 2,6  
77,8 ± 0,0  
75,0 ± 6,0  
58,3 ± 4,5  
74,1 ± 3,5  
100,0 ± 0,0  
95,4 ± 6,5  
100,0 ± 0,0  
55,6 ± 0,0  
62,0 ± 9,2  
58,3 ± 2,3  
Chủng C4  
89,8 ± 2,6  
Chủng C5  
84,3 ± 3,5  
T2.1  
T2.2  
T3.2  
T4  
60,2 ± 4,7  
52,8 ± 2,3  
91,7 ± 6,0  
95,4 ± 6,5  
68,5 ± 4,7  
100,0 ± 0,0  
83,3 ± 6,8  
53,7 ± 3,5  
46,3 ± 2,6  
50,0 ± 2,3  
46,3 ± 2,6  
82,4 ± 3,5  
57,4 ± 1,3  
57,4 ± 1,3  
34,5 ± 4,5  
100,0 ± 0,0  
87,0 ± 5,7  
100,0 ± 0,0  
100,0 ± 0,0  
98,1 ± 2,6  
75,9 ± 2,6  
100,0 ± 0,0  
66,7 ± 0,0  
63,9 ± 2,3  
70,4 ± 2,6  
100,0 ± 0,0  
76,9 ± 3,5  
74,1 ± 3,5  
75,9 ± 3,5  
65,7 ± 1,3  
100,0 ± 0,0  
96,3 ± 5,2  
100,0 ± 0,0  
96,3 ± 5,2  
79,6 ± 8,6  
100,0 ± 0,0  
75,0 ± 3,9  
90,7 ± 6,9  
65,7 ± 5,7  
62,0 ± 5,2  
77,8 ± 3,9  
88,9 ± 8,2  
64,8 ± 2,6  
64,8 ± 1,3  
65,7 ± 1,3  
85,2 ± 4,7  
100,0 ± 0,0  
100,0 ± 0,0  
97,2 ± 3,9  
100,0 ± 0,0  
81,5 ± 2,6  
78,7 ± 1,3  
97,2 ± 3,9  
76,9 ± 1,3  
74,1 ± 1,3  
100,0 ± 0,0  
100,0 ± 0,0  
75,9 ± 1,3  
75,9 ± 3,5  
68,5 ± 1,3  
T5.1  
T5.2  
T6.1  
T6.2  
T7.1  
T7.2  
T8.1  
T8.2  
T9  
T10  
T11  
T12  
Tất cả các chủng Trichoderma phân lập  
được đều có khả năng đối kháng với các  
chủng Colletotrichum ở các mức độ khác  
nhau (hình 5). Các chủng Trichoderma  
T7.1, T8.1, T10 và T11 có khả năng đối  
kháng Colletotrichum theo cơ chế cạnh  
tranh dinh dưỡng và không gian sống, nhờ  
vào tốc độ phát triển nhanh. Bên cạnh tốc  
độ phát triển nhanh, các chủng  
Trichoderma còn lại còn có khả năng kí  
sinh trên khuẩn ty nấm bệnh. Khuẩn ty  
Trichoderma áp sát và quấn chặt lấy khuẩn  
14  
Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 1 (14) – 2014  
ty Colletotrichum, hoặc tiết enzyme và ăn  
Trichoderma T2.2 đối kháng đạt hiệu quả  
100% với 3 chủng Colletotrichum C2, CH2  
và C4. Các chủng còn lại có khả năng đối  
sâu vào bên trong khuẩn ty nấm bệnh (hình  
6). Trong một số trường hợp, rất có thể  
Trichoderma hút các chất dinh dưỡng từ  
khuẩn ty nấm bệnh và phát triển rất mạnh,  
tạo nhiều bào tử hơn so với khi phát triển  
trên môi trường PGA (T2.2 và T8.2).  
kháng tốt với  
Colletotrichum.  
1
hoặc  
2
chủng  
Kết quả phân tích trình tự rRNA 28S  
và tra cứu trên BLAST SEARCH cho thấy  
cả 3 chủng Trichoderma T2.2, T4 và T5.1  
đều thuộc loài Trichoderma kiningii  
(Hypocera koningii) với mức độ tương  
đồng 98%.  
Trong số 16 chủng Trichoderma sp.  
khảo sát, chủng T4 và T5.1 có khả năng đối  
kháng đạt hiệu quả tối đa với 4 chủng  
Colletotrichum (C1, C2, C4 và C5), chủng  
Hình 5. Đối kháng giữa các chủng Trichoderma koningii và Colletotrichum sp. trên môi trường PGA.  
A) Trichoderma T5.1 và Colletotrichum C1; B) Trichoderma T2.2 và Colletotrichum C2;  
C) Trichoderma T4 và Colletotrichum C4  
Hình 6. Khuẩn ty của nấm Trichoderma sp. quấn chặt lấy khuẩn ty của Colletotrichum sp.  
A) khuẩn ty Trichoderma T5.1 và Colletotrichum C1; B, C) khuẩn ty Trichoderma T4  
và khuẩn ty Colletotrichum C4  
4. Kết luận  
khuẩn lạc hình thuyền cong, không có vách  
ngăn. Colletotrichum acutatum có màu sắc  
khuẩn lạc từ hồng đến cam, bào tử hình  
que, hai đầu tròn và không có vách ngăn.  
Các chủng Colletotrichum phân lập được  
có khả năng gây bệnh thán thư rất nhanh  
Chúng tôi đã phân lập được 5 chủng  
Colletrotrichum sp. từ các mẫu ớt bị bệnh  
thán thư tại Bình Dương. Colletotrichum  
truncatum có khuẩn lạc màu trắng đến  
xám, có các cấu trúc đĩa cành và tơ cứng,  
15  
Journal of Thu Dau Mot University, No 1 (14) – 2014  
trên cả trái đã thu hoạch và trái đang phát  
triển. Thời gian trái biểu hiện bệnh thán thư  
trong khoảng 2 - 5 ngày. Kết quả này cũng  
cho thấy C. truncatum và C. acatatum là  
tác nhân gây bệnh thán thư phổ biến trên  
cây ớt trồng tại Bình Dương.  
Trong số 16 chủng Trichoderma sp.  
phân lập được từ các khu vực trồng rau  
màu tại Bình Dương, chúng tôi nhận thấy  
chủng Trichoderma T2.2, T4 và T5.1 có  
khả năng đối kháng đạt hiệu quả 100% với  
5 chủng Colletotrichum sp. phân lập được  
sau 5 ngày nuôi cấy. Phân tích trình tự  
rRNA 28S và tra cứu trên BLAST  
SEARCH  
4
chủng điển hình là  
Trichoderma T2.2, T4, T5.1 và T6.1 đều  
cho kết quả thuộc loài Trichoderma  
koningii (Hypocera koningii). Kết quả này  
cũng cho thấy Trichoderma koningii hiện  
diện phổ biến và phù hợp với các điều kiện  
tự nhiên của Bình Dương.  
SCREENING SOME STRAINS OF TRICHODERMA SP. ANTAGONISTIC  
TO COLLETOTRICHUM SP. CAUSING ANTHRACNOSE IN CHILI PEPPER  
IN BINH DUONG  
Tran Ngoc Hung, Phan Trong Nhan, Ngo Thi Lanh,  
Nguyen Thi Minh Thanh, Hoang Thi Xuan  
Thu Dau Mot University  
ABSTRACT  
Anthracnose causes great damage on chili pepper (Capsicum frutescens). In the trend  
of organic agriculture, anthracnose control by Trichoderma is the solution receiving much  
attention. Isolated results of 5 chili pepper samples grown in Binh Duong Province with  
anthracnose showed that Colletotrichum truncatum and Colletotrichum acatatum are  
common pathogens. Among 16 strains of Trichoderma sp. isolated from vegetable growing  
areas in Binh Duong, the strains of Trichoderma koningii T2.2, T4 and T5.1 are able to  
countervail with 100% efficiency to the 5 strains of isolated Colletotrichum sp. after 5 days  
of culturing on a PGA environment. The results also showed that Trichoderma koningii are  
commonly present and consistent with the natural conditions of Binh Duong.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Nguyễn Lân Dũng chủ biên (2012), Vi sinh vật học, phần 1: thế giới vi sinh vật, NXB Khoa  
học và Kỹ thuật.  
[2] Lester W. Buger, Timothy E. Knight, Len Tesoriero, Phan Thuy Hien (2009), Cẩm nang chuẩn  
đoán cây bệnh ở Việt Nam, Australian Centre for International Agricultural Research.  
[3] Damm, U., Woudenberg, J.H.C., Cannon, P.F. and Crous, P.W. (2009), Colletotrichum species  
with curved conidia from herbaceous hosts. Fungal Diversity 39: 45-87.  
[4] Hyde, K.D., Cai. (2009). Colletotrichum – names in current use, Fungal Diversity 39, page 147-182.  
[5] Prihastuti, H., Cai, L., Chen, H., McKenzie, E.H.C. and Hyde, K.D. (2009), Characterization of  
Colletotrichum species associated with coffee berries in northern Thailand, Fungal Diversity  
39, page 89-109.  
[6] Vinod Tasiwal (2008), Study on anthranose –a posthavest disease papaya, Derparment plant  
pathology, College of Agriculture, Dharwad, University of Agricultural Science.  
[7] Lê Hoàng Vũ, Trồng ớt chỉ thiên lai F1 Capri 45 lãi cao, truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2012,  
cao.aspx>  
16  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 17960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sàng lọc một số chủng Trichoderma SP. đối kháng với Colletotrichum SP. gây bệnh thán thư trên cây ớt trồng ở Bình Dương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsang_loc_mot_so_chung_trichoderma_sp_doi_khang_voi_colletotr.pdf