Phân loài nấm Colletotrichum gây bệnh thán thư trên xoài và sầu riêng tại đồng bằng sông Cửu Long và thử hiệu lực của sáu loại thuốc đối với các loài nấm nầy

Tạp chí Khoa học 2008:10 31-40  
Trường Đại học Cần Thơ  
PHÂN LOÀI NẤM COLLETOTRICHUM GÂY BỆNH  
THÁN THƯ TRÊN XOÀI VÀ SẦU RIÊNG TẠI  
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ THỬ  
HIỆU LỰC CỦA SÁU LOẠI THUỐC  
ĐỐI VỚI CÁC LOÀI NẤM NẦY  
Lê Hoàng Lệ Thủy và Phạm Văn Kim1  
ABSTRACT  
Anthracnose disease samples of mango and durian were collected in Tien Giang, Dong  
Thap, Vinh Long, An Giang, Soc Trang, Can Tho, Tra Vinh and Ca Mau province, then  
isolated into 105 fungal isolates (73 isolates from mango and 32 isolates from durian)  
and studied their biological characteristics. Based on the species classification criteria of  
Sutton (1980), Simmonds (1965), Mordue (1971), Swart (1999) and CABI (2003), two  
Colletotrichum species were identified as Colletotrichum acutatum and Colletotrichum  
gloeosporioides and another species was not identified, called Colletotrichum sp. C.  
acutatum caused anthracnose only on foliage, flowers and fruits of mango; C.  
gloeosporoides damaged not only on mango but also on durian.  
Among six fungicides selected for in-vitro testing, Nustar 40 EC, Carban 50 SC, Copper-  
B 75 WP, Score 250 ND and Ridomil 68 WP gave high toxicity to all three  
Colletotrichum species.  
Keywords: Colletotrichum acutatum, Colletotrichum gloeosporioides, mango, durian,  
classification, fungicides, anthracnose  
Title: Classification to Species of Colletotrichum Isolates, Causal Agent of  
Anthracnose Disease on Mango and Durian in The Mekong Delta and Test for  
Effectiveness of Six Fungicides to the fungal species  
TÓM TẮT  
Một trăm lẻ năm chủng nấm gây bệnh thán thư trên xoài (73 chủng) và sầu riêng (32  
chủng), được phân lập từ các mẫu bệnh thu thập tại các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp,  
Vĩnh Long, An Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ, Cà Mau và Trà Vinh; và được khảo sát các  
đặc tính sinh học. Dựa trên đặc tính sinh học và bảng phân loài của Sutton (1980),  
Simmonds (1965), Mordue (1971), Swart (1999) và CABI (2003), đã xác định được tên  
hai loài nấm là Colletotrichum acutatum và Colletotrichum gloeosporioides và một loài  
nấm còn lại chưa xác định được tên là Colletotrichum sp.. Loài C. acutatum chỉ gây hại  
trên lá, hoa và trái xoài. Loài C. gloeosporioides gây hại trên xoài lẫn sầu riêng.  
Kết quả khảo sát hiệu quả in – vitro của sáu loại thuốc sát khuẩn lên các nhóm nấm cho  
thấy, có năm loại thuốc có hiệu quả đối với các chủng nấm gây bệnh thán thư trên xoài  
và sầu riêng tại ĐBSCL là Nustar 40 EC, Carban 50 SC, Copper – B 75 WP, Score 250  
ND và Ridomil 68 WP.  
Từ khóa: : Colletotrichum acutatum, Colletotrichum gloeosporioides, sự phân loại,  
thuốc trừ nấm, bệnh thán thư  
1 Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ  
31  
Tạp chí Khoa học 2008:10 31-40  
Trường Đại học Cần Thơ  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum gây hại khá nghiêm trọng và phổ biến trên  
một số hoa màu như cà chua, bầu bí, dưa, ớt…và trên cây ăn trái như chuối, đu đủ,  
thanh long… Đặc biệt, bệnh cũng gây hại rất nghiêm trọng trên xoài, nhất là giai  
đoạn ra hoa, ra trái non và sau thu hoạch. Đối với sầu riêng, bệnh thán thư do nấm  
Colletotrichum gây hại làm chết cây con mới trồng và ảnh hưởng đến năng suất  
của cây trưởng thành. Theo Ann et al. (1997), bệnh thán thư trên xoài có thể gây  
thất thu năng suất lên đến 60%; Mai Văn Trị (2001) cho biết, tỉ lệ cây sầu riêng bị  
thán thư trong vườn lên đến 60% ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).  
Để góp phần phòng trị nấm Colletotrichum và làm cơ sở cho việc phòng trừ bệnh  
thán thư gây hại trên xoài và sầu riêng có hiệu quả và phục vụ cho những nghiên  
cứu sâu hơn, đề tài này được thực hiện nhằm xác định tên loài của các chủng nấm  
Colletotrichum gây hại trên xoài và sầu riêng, tần suất xuất hiện và sự phân bố của  
các loài nấm Colletotrichum tại ĐBSCL, hiệu quả in-vitro của một số loại thuốc  
sát khuẩn lên các loài Colletotrichum và đánh giá sự đa dạng về phản ứng của từng  
loài nấm đối với thuốc.  
2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP  
Phân lập được 105 chủng nấm Colletotrichum bao gồm 73 chủng nấm từ các vết  
bệnh trên lá, hoa và trái xoài và 32 chủng nấm trên lá sầu riêng tại các tỉnh Cần  
Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Tiền Giang, Trà Vinh, An Giang, Đồng Tháp và Cà  
Mau.  
2.1 Định danh đến loài các chủng nấm Colletotrichum  
Thí nghiệm 1: bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 105 chủng nấm và 5 lần lặp lại,  
trong cùng môi trường PDA (khoai tây 200g, dextrose 20g, agar 15g, 1000 ml  
nước cất), ở nhiệt độ 25oC, ẩm độ 100%, chiếu đèn cận cực tím 12 giờ tối xen kẽ  
12 giờ sáng.  
Thí nghiệm 2: bố trí giống như thí nghiệm 1 nhưng với 3 lần lặp lại trên môi  
trường PCA (khoai tây 20g, cà rốt 20g, agar 15g, 1000 ml nước cất) và áp dụng  
phương pháp nuôi cấy trên lam theo Waller et al. (1998). Chỉ tiêu theo dõi gồm  
màu sắc, hình dạng và đo đường kính của khuẩn lạc vào các thời điểm 24, 48, 72,  
96, 120 và 144 giờ sau khi nuôi cấy, đo kích thước của bào tử, đĩa áp và chụp hình.  
Việc định danh đến loài của các chủng nấm Colletotrichum dựa theo khóa phân  
loại của Sutton (1980) và bổ sung các đặc điểm khác của nấm từ các tác giả như là  
Simmonds (1965), Mordue (1971), Swart (1999) và CABI (2003) (hình 1).  
32  
Tạp chí Khoa học 2008:10 31-40  
Trường Đại học Cần Thơ  
Hình dạng  
Kích thước  
Bào tử  
Hạch nấm,  
gai  
Nhóm  
Loài  
Màu sắc  
Chủng nấm  
Khuẩn lạc  
Đĩa áp  
Tốc độ  
tăng trưởng  
Kích thước  
Hình dạng  
Hình 1: Sơ đồ về cách phân nhóm và loài các chủng nấm Colletotrichum  
2.2 Khảo sát hiệu quả của một số loại thuốc trừ bệnh lên các nhóm nấm  
Colletotrichum  
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trên môi trường PDA ở nhiệt độ  
25oC, ẩm độ 100%. Gồm 6 nghiệm thức, trong đó có 2 loài nấm là C. acutatum và  
Colletotrichum sp. (gây bệnh thán thư trên xoài) và 4 tiểu nhóm nấm của loài C.  
gloeosporioides (tiểu nhóm 1 và 2 gây bệnh thán thư trên sầu riêng, tiểu nhóm 3 và  
4 gây bệnh thán thư trên xoài); mỗi nghiệm thức được lặp lại 5 lần. Hóa chất bảo  
vệ thực vật gồm Nustar 40 EC, Carban 50 SC, Score 250 ND, Copper – B 75 WP,  
Daconil 75 WP và Ridomil 68 WP được pha theo nồng độ khuyến cáo. Khuẩn ty  
của nấm có đường kính 8 mm đặt vào tâm của đĩa petri chứa 10 ml môi trường  
PDA. Giấy thấm thanh trùng có đường kính 6 mm được nhúng vào các loại thuốc  
khác nhau trong 10 phút và sau đó đặt vào 3 điểm trong đĩa petri. Đối chứng là  
khoanh giấy thấm nhúng nước cất thanh trùng đặt vào điểm thứ tư trong đĩa. Mỗi  
dĩa petri chứa 3 điểm có 3 loại thuốc và một điểm đối chứng. Chỉ tiêu theo dõi là  
đo bán kính vòng vô khuẩn sau khi thử thuốc ở thời điểm sợi nấm mọc chạm đến  
khoanh giấy đối chứng. Phân tích thống kê theo phần mềm Irristat for Dos, so sánh  
khác biệt ở độ ý nghĩa 5% theo phép thử Duncan.  
33  
Tạp chí Khoa học 2008:10 31-40  
Trường Đại học Cần Thơ  
3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN  
3.1 Xác định tên chi của các chủng nấm gây bệnh thán thư trên xoài và sầu  
riêng được khảo sát  
Các vết bệnh dùng để phân lập các chủng nấm trong thí nghiệm nầy được chọn lựa  
dựa trên sự mô tả về hình dạng và màu sắc vết bệnh của Võ Thanh Hoàng và  
Nguyễn Thị Nghiêm (1993). Theo mô tả của Barnett et al.(1998) và của Sutton  
(1980) thì các chủng nấm phân lập được có rất nhiều đặc điểm phù hợp với chi  
nấm Colletotrichum. Như vậy, dựa theo khóa phân loại đến chi của hai tác giả trên  
thì tất cả 105 chủng nấm gây bệnh thán thư trên xoài và sầu riêng đã khảo sát,  
được xác định là thuộc chi Colletotrichum.  
3.2 Xác định loài của các chủng nấm Colletotrichum được khảo sát  
Việc xác định tên loài của 105 chủng nấm chủ yếu dựa vào kết quả khảo sát các  
đặc tính sinh học của chúng so sánh với khóa phân loài chi nấm Colletotrichum do  
Sutton (1980) và được tham khảo thêm các mô tả về loài nấm C. gloeosporioides  
và C. acutatum của Simmonds (1965), Swart (1999) và CABI (2003). Kết quả giúp  
xếp chúng thành ba nhóm với các đặc tính được mô tả trong Bảng 1.  
Bảng 1: Bảng phân tích các đặc tính của 105 chủng nấm Colletotrichum để xếp loài theo  
khóa phân loài của Sutton (1980) có bổ sung theo Simmonds(1965), Swart (1999)  
và CABI (2003)  
Màu săc  
khuẩn  
lạc  
Hình dạng và  
kích thước  
đĩa áp  
Nhóm Hình dạng và kích  
Hạch  
nấm  
Xác định tên  
Gai  
Tác giả  
Nấm  
thước của bào tử  
loài  
1
Hình thoi  
-
-
Cam có  
vệt xám,  
xám  
-
Dạng chùy, đôi Colletotrichum Theo khóa phân loại  
Kích thước:  
8,75 - 17,75 x  
3,25 - 5 μm  
khi không đều acutatum  
Kích thước:  
của Sutton (1980), bổ  
sung đặc điểm màu sắc  
10-17,5 x  
khuẩn  
lạc  
của  
5 – 7,5 μm  
Simmonds (1965) và  
CABI (2003).  
2
3
Hình trụ , một đầu cùn  
một đầu hẹp lại  
Kích thước:  
-
Trứng ngược  
và trứng ngược sp.  
có nếp nhăn  
Kích thước:  
6,25 -17,5 x  
5 – 10 μm  
Colletotrichum  
Trắng,  
hồng  
Theo khóa phân loại  
của Sutton (1980) thì  
chưa đủ tiêu chuẩn để  
xác định tên loài.  
7,5 – 17,5 x 2,5 – 5 μm  
Hình trụ một đầu hẹp Màu Trắng,  
lại, một đầu cùn; hình đen, hồng,  
trụ hai đầu cùn; dạng một cam,  
thẳng một đầu hẹp lại  
một đầu cùn, vùng giữa chủng xám,  
Dạng Dạng trứng và Colletotrichum  
thẳng, trứng ngược có gloeosporioides Theo khóa phân loại  
hơi nếp nhăn, dạng  
của Sutton (1980) và  
bổ sung đặc điểm màu  
sắc khuẩn lạc và dạng  
bào tử của Swart  
(1999), CABI (2003).  
số  
cam  
cong xẻ thùy  
có dạng “thắt eo”  
không xám  
có  
hạch  
nấm  
Màu Kích thước:  
nâu 5 – 20 x 3,75 –  
đậm, 11,25 μm  
đen  
Như vậy, với kết quả trong Bảng 1 và dựa theo khóa phân loại của Sutton (1980)  
và bổ sung các đặc điểm khác từ các tác giả Simmonds (1965), Swart (1999) và  
CABI (2003) có thể xác định tên loài của ba nhóm nấm trên như sau:  
Nhóm nấm 1: Colletotrichum acutatum, bào tử hình thoi, ổ nấm không gai,  
không tạo hạch nấm và có hình thành đĩa áp (Hình 2).  
34  
Tạp chí Khoa học 2008:10 31-40  
Trường Đại học Cần Thơ  
Nhóm nấm 2: Colletotrichum sp., bào tử hình trụ, ổ nấm không gai, không tạo  
hạch nấm và có hình thành đĩa áp (Hình 3).  
Nhóm nấm 3: Colletotrichum gloeosporioides, bào tử hình trụ và có dạng thắt  
eo, ổ nấm có gai, có tạo hạch nấm và có hình thành đĩa áp (Hình 4).  
Hình 2: Bào tử, đĩa áp và khuẩn lạc của Colletotrichum acutatum gây bệnh thán thư cho  
xoài tại các tỉnh ĐBSCL  
(a1) và (a2): đĩa áp, kích thước 10 – 17,5 x 5 – 7,5 μm,  
(b1) và (b2): bào tử, kích thước: 8,75 – 17,75 x 3,25 – 5 μm,  
(c1) và (c2): mặt trên khuẩn lạc  
(d1)và (d2): mặt dưới khuẩn lạc.  
Hình 3: Hình dạng bào tử, đĩa áp và khuẩn lạc của nấm Colletotrichum sp  
(a): Đĩa áp, kích thước: 6,25 – 17,5 x 5 – 10 μm  
(b): Bào tử, kích thước : 7,5 – 17,5 x 2,5 – 5 μm  
(c), (d): Mặt trên và mặt dưới của khuẩn lạc  
35  
Tạp chí Khoa học 2008:10 31-40  
Trường Đại học Cần Thơ  
Hình 4: Hình thái khuẩn lạc, bào tử, đĩa áp và gai của loài C. gloeosporioides gây bệnh thán  
thư trên sầu riêng  
(a): Các dạng khuẩn lạc  
(b1) và (b2): Hình dạng và kích thước đĩa áp 6,25 – 17,5 x 3,75 – 11,25 μm  
(b3) và ( b4): Hình dạng và kích thước bào tử 7,5 – 20 x 3,25 – 5 μm  
(b5) và ( b6) Gai  
Hình 5 Hình thái khuẩn lạc, bào tử, đĩa áp và gai của loài C. gloeosporioides gây bệnh thán  
thư trên xoài  
(a): Các dạng khuẩn lạc  
(b1), (b2): Hình dạng và kích thước bào tử 7,5 – 20 x 2,5 – 5 μm  
(b3), (b4): Hình dạng và kích thước đĩa áp 5 – 20 x 3,75 – 11,25 μm  
(b5), (b6): Gai  
3.3 Sự phân bố của các chủng nấm Colletotrichum trong các loài nấm được  
khảo sát  
Loài Colletotrichum acutatum chiếm 12 chủng nấm gây bệnh thán thư trên xoài  
và được phân bố tại các tỉnh Cần Thơ, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà  
Vinh và Vĩnh Long, phân bố khá rộng tại ĐBSCL. Về mặt ký chủ, loài C.  
acutatum chỉ gây hại trên xoài, không gây hại trên sầu riêng. Tốc độ tăng  
trưởng của các chủng nấm trong cùng loài không khác biệt có nghĩa thống kê ở  
mức 5% qua phép thử Duncan.  
36  
Tạp chí Khoa học 2008:10 31-40  
Trường Đại học Cần Thơ  
Loài nấm chưa xác định tên (Colletotrichum sp.) chỉ tìm thấy trên xoài gồm có  
ba chủng nấm, có sự phân bố không rộng, chủ yếu tại hai tỉnh Sóc Trăng và  
Đồng Tháp; có tốc độ tăng trưởng không khác biệt ở mức nghĩa thống kê.  
Loài C. gloeosporioides, chiếm đến 90 chủng nấm khảo sát nên phức tạp hơn.  
Loài nấm nầy gây hại cho cả xoài và sầu riêng đồng thời có mặt ở cả tám tỉnh  
ĐBSCL có trồng xoài và sầu riêng. Xét về đặc tính sinh học, chúng có cùng các  
đặc tính căn bản để xếp vào loài C. gloeosporioides nhưng đồng thời lại có  
nhiều đặc tính khác nhau. Do đó, dù được xếp vào loài C. gloeosporioides  
nhưng vẫn còn phải xếp thêm vào các tiểu nhóm. Có thể chia loài nầy vào hai  
dạng dựa vào ký chủ của chúng: C. gloeosporioides dạng 1 bao gồm 58 chủng  
nấm gây bệnh thán thư trên xoài và C. gloeosporioides dạng 2 bao gồm 32  
chủng nấm gây hại trên sầu riêng. Ngoài ra dạng 1 và dạng 2 còn khác nhau về  
hình dạng của đĩa áp.  
3.4 Các tiểu nhóm của loài C. gloeosporioides  
Dựa trên tốc độ tăng trưởng của khuẩn lạc được ghi nhận qua các thời điểm 24, 48,  
72, 96, 120, 144 GSNC và trên ký chủ của chúng, loài C. gloeosporioides được  
chia ra thành 4 tiểu nhóm (Bảng 2).  
Bảng 2. Tốc độ tăng trưởng của 4 tiểu nhóm nấm từ 90 chủng nấm thuộc loài C.  
gloeosporioides thu thập được tại tám tỉnh ĐBSCL  
Ký chủ Tiểu nhóm nấm  
Tốc độ tăng trưởng  
(mm)  
Sầu riêng  
1
4,68  
b
b
2
5,96 a  
4,50  
Xoài  
3
4
5,42 a  
CV (%)  
8,2  
Các chữ số trong cùng một cột có cùng mẫu tự theo sau thì không khác biệt nhau  
ở mức ý nghĩa 5% qua phép thử Duncan.  
Trong khi đó hai loài C. acutatum và loài Colletotrichum sp. có tốc độ tăng trưởng  
không khác biệt nhau nên không được chia thành tiểu nhóm.  
3.5 Tần suất xuất hiện và sự phân bố các loài nấm Colletotrichum gây bệnh  
thán thư trên xoài và sầu riêng tại ĐBSCL  
Tần suất xuất hiện các loài nấm gây bệnh thán thư trên xoài và sầu riêng tại tám  
tỉnh ĐBSCL được trình bày qua Hình 6, cho thấy tần suất xuất hiện của loài C.  
gloeosporioides cao nhất chiếm 85,72%, kế đến là loài C. acutatum chiếm 11,42%,  
phần còn lại là loài nấm chưa xác định được tên. Như vậy, loài C. gloeosporioides  
là loài nấm gây bệnh thán thư trên xoài và sầu riêng chiếm ưu thế tại ĐBSCL. Loài  
C. acutatum có tần suất xuất hiện thấp hơn và chỉ gây hại trên lá, hoa và trái xoài  
mà không gây hại cho sầu riêng.  
37  
Tạp chí Khoa học 2008:10 31-40  
Trường Đại học Cần Thơ  
Tỉnh Đồng Tháp và Sóc Trăng có sự xuất hiện của cả ba loài Colletotrichum gồm  
C. gloeosporioides, C. acutatum và Colletotrichum sp., và là hai tỉnh có sự đa  
dạng về loài nấm Colletotrichum cao nhất tại ĐBSCL trong thí nghiệm này. Các  
tỉnh còn lại chỉ xuất hiện hai loài là C. gloeosporioides và C. acutatum. Riêng hai  
tỉnh An Giang và Cà Mau, vùng trồng ít xoài nhất chỉ xuất hiện loài C.  
gloeosporioides mà thôi.  
Hình 6: Bản đồ phân bố các loài nấm Colletotrichum gây bệnh thán thư trên xoài và sầu  
riêng tại ĐBSCL  
3.6 Khảo sát hiệu quả in-vitro của sáu loại thuốc sát khuẩn lên các loài nấm  
Colletotrichum gây bệnh thán thư trên xoài và sầu riêng  
Hiệu quả của sáu loại thuốc trừ nấm được sử dụng ở nồng độ khuyến cáo lên các  
loài nấm Colletotrichum gây bệnh thán thư trên xoài và sầu riêng tại tám tỉnh  
ĐBSCL được trình bày qua Bảng 3. Nhìn chung, sáu loại thuốc đều có hiệu quả ít  
hoặc nhiều ức chế sự phát triển của khuẩn lạc, tuy nhiên khả năng ức chế này còn  
tùy thuộc vào từng loại thuốc đối với từng loài nấm.  
Kết quả ghi nhận ở Bảng 3 cho thấy:  
Thuốc Nustar 40 EC tỏ ra có hiệu quả cao với tất cả ba loài nấm  
Colletotrichum.  
Thuốc Copper – B 75 WP cũng là thuốc có hiệu quả ức chế sự phát triển khuẩn  
lạc của ba loài nấm Colletotrichum. Tuy nhiên, hiệu quả của thuốc ở mức trung  
bình đối với loài Colletotrichum sp. còn đối với loài C. acutatum và C.  
gloeosporioides thì thuốc có hiệu quả cao tương đương hoặc cao hơn so với  
thuốc Nustar 40 EC.  
Thuốc Daconil 75 WP có hiệu quả kém hơn các loại thuốc khác.  
38  
Tạp chí Khoa học 2008:10 31-40  
Trường Đại học Cần Thơ  
Thuốc Score 250 ND có hiệu quả khá cao đối với loài C. acutatum và một số  
chủng của loài C. gloeosporioides dạng 2 gây bệnh trên xoài. Chưa có loài  
hoặc dạng nấm Colletotrichum nào tỏ ra kháng với thuốc Score 250 ND.  
Thuốc Carban 50 SC cũng tỏ ra có hiệu quả cao trong việc ức chế sự phát triển  
sợi nấm trong điều kiện thử nghiệm in-vitro, ngoại trừ đối với loài  
Colletotrichum sp. hiệu quả ở mức thấp. Như vậy, đã có một số chủng nấm bắt  
đầu kháng với thuốc Carban 50 SC.  
Thuốc Ridomil 68 WP có hiệu quả từ kém đến khá đối với các loài nấm  
Colletotrichum. Ridomil 68 WP có hiệu quả khá với các chủng nấm thuộc loài  
C. gloeosporioides dạng 2 gây bệnh trên xoài. Với các chủng thuộc loài C.  
gloeosporioides dạng 1 gây bệnh trên sầu riêng thì tiểu nhóm 2 có hiệu quả  
khá và tiểu nhóm 1 có hiệu quả kém. Kết quả ở đây cho thấy, loài C.  
gloeosporioides trên sầu riêng đã bắt đầu kháng với thuốc Ridomil 68 WP.  
Bảng 3: Kết quả thống kê bán kính vòng vô khuẩn của các loài nấm Colletotrichum gây  
bệnh thán thư trên xoài và sầu riêng  
Nghiệm thức  
Bán kính vòng vô khuẩn của các nhóm nấm (mm)  
C.  
Colletotrichum C. gloeosporioides dạng 1 C. gloeosporioides dạng 2 Trung bình  
acutatum  
sp.  
Tiểu nhóm Tiểu nhóm Tiểu nhóm Tiểu nhóm đối với thuốc  
1
2
3
4
Đối chứng  
0 f  
0 d  
0 d  
0 f  
0 d  
0 e  
0
Nustar 40 EC  
Copper – B 75 WP 17,50 b 4,40 c  
21,25 a 16,80 a  
15,75 b  
16,75 b  
0 d  
7,00 c  
19,00 a  
8,40 c  
12,6  
16,40 c  
19,00 b  
2,60 e  
12,50 d  
21,50 a  
15,75 c  
10,6  
18,20 b  
21,40 a  
8,40 c  
18,00 b  
21,50 a  
17,00 b  
8,9  
13,50 c  
13,25 c  
0 e  
10,50 d  
18,25 a  
16,25 b  
11,6  
16,98  
15,38  
4,35  
12,73  
16,90  
12,23  
Daconil 75 WP  
Score 250 ND  
Carban 50 SC  
Ridomil 68 WP  
CV( %)  
10, 50 e 4,60 c  
17,60 b 10,80 b  
16,60 c 4,60 c  
11,60 d 4,40 c  
3,8  
13,1  
Ghi chú: Các chữ số trong cùng một cột có cùng mẫu tự theo sau thì không khác biệt nhau ở mức ý nghĩa 5%  
qua phép thử Duncan  
4 KẾT LUẬN  
1) Đã xác định được tên của hai loài nấm gây bệnh thán thư trên xoài và sầu riêng  
tại tám tỉnh ĐBSCL là loài C. acutatum (12 chủng/105) và loài C. gloeosporioides  
(90 chủng/105). Có một loài nấm chưa xác định tên loài (3 chủng/105) và còn gọi  
với tên là Colletotrichum sp. Loài C. gloeosporioides khá đa dạng về đặc điểm  
sinh học và được chia thành 4 tiểu nhóm.  
Loài C. acutatum gây hại trên xoài (lá, hoa và trái) và có mặt tại sáu tỉnh Cần Thơ,  
Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long, bao gồm 12 chủng  
nấm, chiếm 11,42% số mẫu.  
Loài C. gloeosporioides gây hại cả trên xoài lẫn sầu riêng và là loài có sự phân bố  
rộng nhất với 90 chủng nấm, chiếm 85,72% số mẫu và có mặt tại cả tám tỉnh có  
trồng xoài và sầu riêng: An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền  
Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long.  
Loài Colletotrichum sp. chỉ gây hại trên xoài và chỉ có mặt tại hai tỉnh Đồng Tháp  
và Sóc Trăng.  
39  
Tạp chí Khoa học 2008:10 31-40  
Trường Đại học Cần Thơ  
2) Kết quả thử sáu loại thuốc trừ nấm với các loài nấm Colletotrichum trong điều  
kiện in – vitro cho thấy, có năm loại thuốc có hiệu quả là Nustar 40 EC, Carban 50  
SC, Copper – B 75 WP, Score 250 BD và Ridomil 68 WP; trong đó thuốc Nustar  
40 EC, Carban 50 SC, Copper – B 75 WP có hiệu quả cao nhất. Thuốc Copper – B  
75 WP, Carban 50 SC có hiệu quả cao đối với các chủng nấm gây bệnh thán thư  
trên sầu riêng hơn trên xoài, trong khi thuốc Nustar 40 EC và Score 250 ND lại có  
hiệu quả cao đối với các chủng nấm trên xoài hơn sầu riêng.  
5 ĐỀ NGHỊ  
Các kết quả thử thuốc trên đây chỉ là hiệu quả in – vitro và chỉ có giá trị giúp  
chúng ta có cái nhìn sơ khởi về hiệu quả của các loại thuốc đặc trị bệnh thán  
thư có lưu hành trên thị trường. Cần tiếp tục thử nghiệm các loại thuốc có hiệu  
quả trong điều kiện của đồng ruộng để khẳng định hiệu quả trị bệnh thán thư  
của chúng.  
Tiếp tục khảo sát sâu hơn về đặc tính sinh học của nấm Colletotrichum để tìm  
biện pháp quản lý bệnh thán thư trên xoài và sầu riêng một cách hữu hiệu và  
bền vững.  
Áp dụng kỹ thuật sinh học phân tử để định danh nhóm nấm chưa xác định tên  
loài.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Ann P. J., M. F. Chen, and R. C. Hwang (1997). Effect of Environmental Factors on Disease  
Incidence of Mango Anthracnose and Bacterial Black Spot. In: Proceedings of the  
Symposium on Climatic Effects on the Occurrence of Plant Disease and Insects, p. 29-40.  
Tu C. C. and C. M. Yang, Eds. Society of Agrometeorology, wufeng, Taichung, Taiwan,  
R.O.C  
Barnett H. L. & Bary. B. Hunter (1998). Illustrated genera of Imperfect fungi, pp.218.  
CABI (2003), Glomerella cingulata. Crop Protection Compendium.  
Mai Văn Trị (2002), Một số bệnh hại trên cây ăn trái. Sổ tay người nông dân trồng cây ăn trái  
cần biết, Công ty dịch vụ Bảo vệ Thực vật An Giang, tr. 26-27.  
Simmonds J. H. (1965), A Study of the Species of Colletotrichum Causing Ripe Fruit Rots in  
Queensland. Queensland Journal of Agriculture and Animal Science 25:178 A.  
Sutton B. C. (1980), The Coelomycestes. Commonwealth Mycological Institute: Kew, U. K,  
pp.696.  
Swart G. M. (1999), Comparative Study of Colletotrichum gloeosporioides from Avocado  
and Mango. PhD Thesis. University of Pretoria, pp.168.  
Võ Thanh Hoàng và Nguyễn Thị Nghiêm (1993), Bài giảng bệnh cây chuyên khoa, Khoa  
Trồng Trọt, Đại học Cần Thơ.  
Waller J. M., Ritchie and M. Holderness (1998), Plant Clinic Handbook, pp. 94.  
40  
pdf 10 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 82800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân loài nấm Colletotrichum gây bệnh thán thư trên xoài và sầu riêng tại đồng bằng sông Cửu Long và thử hiệu lực của sáu loại thuốc đối với các loài nấm nầy", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_loai_nam_colletotrichum_gay_benh_than_thu_tren_xoai_va.pdf