Bước đầu nghiên cứu tạo Enzyme pectinase dạng bột từ ASPergillus Niger và khảo sát một số đặc tính của chế phẩm

Đỗ T. Hiền và Huỳnh P. P. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(2), 21-29 21  
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU TẠO ENZYME PECTINASE  
DẠNG BỘT TỪ Aspergillus niger VÀ KHẢO SÁT  
MỘT SỐ ĐẶC TÍNH CỦA CHẾ PHẨM  
ĐỖ THỊ HIỀN1,*, HUỲNH PHAN PHƯƠNG TRANG1  
1 Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh  
(Ngày nhận: 14/11/2018; Ngày nhận lại: 21/12/2018; Ngày duyệt đăng: 21/12/2018)  
TÓM TẮT  
Enzyme pectinase dạng bột dễ vận chuyển và bảo quản. Vì vậy, nghiên cứu đã sử dụng enzyme  
pectinase hoạt tính 194 UI/mL từ Aspergillus niger để tạo chế phẩm dạng bột bằng phương pháp  
sấy phun (nồng độ chất trợ sấy maltodextrin 10% (w/v), nhiệt độ sấy 130°C, tốc độ nhập liệu 288  
mL/h). Bên cạnh đó, nghiên cứu đã xác định được thông số động học của chế phẩm enzyme Km là  
28,4 mg/mL, pH tối ưu 5,0, nhiệt độ tối ưu 40°C, Cu2+ là chất hoạt hóa và Ag+ là chất kìm hãm  
hoạt động enzyme.  
Từ khóa: Aspergillus niger; Đặc tính sinh hóa pectinase; Pectinase; Sấy phun.  
An initial study of powdered pectinase from aspergillus niger and investigation of  
biochemical characterization of preparation  
ABSTRACT  
Powdered pectinase is easy to transport and store. Therefore, the study used pectinase enzyme  
194 UI mL from Aspergillus niger to produce powdered enzyme preparation by spray drying (10%  
maltodextrin (w/v), drying temperature 130°C, input speed 288 mL/h). In addition, the study  
determined the kinetic parameters of the enzyme preparation at Km 28,4 mg/mL with pH and  
temperature optimum of 5,0 and 40°C, Cu2+ was found to activate and Ag+ was the inhibitor of  
enzyme activity.  
Keywords: Aspergillus niger; Biochemical characterization pectinase; Pectinase; Spray  
drying.  
này được FDA công nhận là an toàn khi ứng  
dụng trong công nghệ thực phẩm.  
1. Đặt vấn đề  
Enzyme pectinase được thu nhận chủ yếu  
nhờ vi nấm, trong đó Aspergillus niger được  
cho là có khả năng sinh nhiều enzyme  
pectinase khi nuôi cấy trong môi trường thích  
hợp. Pectinase từ Aspergillus niger là enzyme  
ngoại bào nên việc thu nhận sản phẩm khá  
thuận lợi và chế phẩm enzyme từ vi sinh vật  
Sử dụng enzyme thu nhận từ Aspergillus  
spp. có khả năng cải thiện hiệu suất thu hồi, làm  
trong và làm giảm độ nhớt của dịch đu đủ  
(Nakkeeran và cộng sự, 2011). Bên cạnh đó,  
Kant và cộng sự đã sử dụng enzyme này để làm  
trong dịch ép ổi. Polygalactorunase thu nhận từ  
22 Đỗ T. Hiền và Huỳnh P. P. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(2), 21-29  
Aspergillus niger nuôi cấy trên nguồn cơ chất  
vỏ chuối có tác dụng làm trong dịch ép chuối  
(Barman và cộng sự, 2015). Sử dụng  
Polygalactorunase từ Neosartorya fisheri làm  
trong dịch ép táo và dâu (Pan và cộng sự,  
2015). Ngoài ra pectinase được xem như là một  
trong những chế phẩm enzyme quan trọng  
trong sản xuất rượu vang và nước trái cây lên  
men có độ cồn thấp (Nguyễn Nhật Minh  
Phương và cộng sự, 2011). Trong sản xuất cà  
phê và ca cao, người ta dùng chế phẩm  
pectinase để hỗ trợ quá trình tách lớp keo ở trên  
bề mặt của hạt (Trần Thị Xô và cộng sự, 2012).  
Trong ngành công nghiệp giấy pectinase làm  
tăng hiệu quả khử lignin và làm sang màu bột  
giấy (Ahlawat và cộng sự, 2008)  
Sấy phun là công nghệ tạo sản phẩm dạng  
bột, thời gian sấy ngắn, dễ sản xuất ở quy mô  
công nghiệp. Sấy phun là hình thức bao gói có  
sử dụng chất trợ sấy (Desai và Jin Park, 2005).  
Chất trợ sấy là yếu tố làm giảm ảnh hưởng của  
nhiệt độ đối với các protein trong quá trình sấy.  
Đồng thời, chất trợ sấy bảo vệ enzyme tránh  
khỏi tác động của nhiệt độ, pH khi sử dụng  
trong các điều kiện khác nhau (Cabral và cộng  
sự, 2009). Maltodextrin là chất trợ sấy được sử  
dụng phổ biến hiện nay và không làm ảnh  
hưởng đến tác nhân cần sấy, giá thành rẻ.  
Nghiên cứu mong muốn sử dụng chế phẩm  
enzyme pectinase từ Aspergillus niger được  
nuôi cấy trên môi trường có bổ sung vỏ cam -  
nguồn nguyên liệu giàu pectin, một phụ phẩm  
thường bị bỏ đi hoặc làm phân bón hữu cơ sau  
khi ép lấy nước. Để thuận tiện trong quá trình  
sử dụng và bảo quản, tiến hành tạo chế phẩm  
enzyme pectinase dạng bột bằng phương pháp  
sấy phun. Bên cạnh đó, để có hướng sử dụng  
chế phẩm enzyme dạng bột, nhóm nghiên cứu  
đã tiến hành xác định một số yếu tố: thông số  
động học, nhiệt độ, pH, các chất hoạt hóa và ức  
chế có ảnh hưởng đến hoạt động enzyme.  
2. Đối tượng, vật liệu và phương pháp  
nghiên cứu  
Aspergillus niger (Huỳnh Phan Phương Trang,  
Đỗ Thị Hiền, 2018).  
Maltodextrin DE 10 của Himedia (ꢀn Độ).  
2.2. Phương pháp  
2.2.1. Chuẩn bị chế phẩm enzyme (Huỳnh  
Phan Phương Trang, Đỗ Thị Hiền, 2018)  
Nuôi cấy Aspergillus niger trong môi  
trường lỏng với vỏ cam 80 g/L (hàm lượng  
pectin 0,72 g/L) - sử dụng vỏ cam trắng (phế  
phẩm nhà máy sản xuất nước ép cam), tỷ lệ vỏ  
cam:glucose là 4:2, nguồn nitrogen thích hợp  
là peptone 4% (w/v), tỷ lệ giống 2% (v/v) với  
mật độ giống 107 bào tử/mL, pH 5,0 và thời  
gian nuôi cấy 72 giờ.  
Dịch nuôi cấy được ly tâm với tốc độ 4500  
vòng/phút trong 15 phút, thu dịch enzyme và  
xác định hoạt tính theo Mohsen và cộng sự  
(2009) là 194 UI/mL.  
2.2.2. Các phương pháp phân tích  
- Xác định độ ẩm bằng cân sấy ẩm Ohaus  
MB 45.  
- Phương pháp xác định hoạt tính enzyme  
pectinase (Mohsen và cộng sự, 2009).  
Cho enzyme tác dụng với cơ chất pectin,  
sản phẩm tạo thành là acid galacturonic tạo  
màu với thuốc thử DNS (Dinitrosalicylic acid),  
đo mật độ quang ở bước sóng 575 nm.  
Hoạt tính enzyme pectinase đo bởi lượng  
đường khử được cắt ra từ pectin bằng phương  
pháp Dinitrosalicylic acid. Một đơn vị hoạt tính  
enzyme pectinase được đo bởi 1 µmol  
galacturonic acid giải phóng trong 1 phút trên  
1mL. Sử dụng đường chuẩn D-galacturonic acid.  
- Xác định hàm lượng protein bằng  
phương pháp Bradford dựa trên phản ứng của  
thuốc nhuộm Coomassie Blue G250 với  
protein (Walker, J.M., 1996).  
2.2.3. Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ  
chất trợ sấy  
Chuẩn bị 50mL dịch enzyme pectinase, bổ  
sung maltodextrin với nồng độ 10, 15, 20, 25,  
30% vào, khuấy tan hoàn toàn maltodextrin. Các  
mẫu trên sẽ được sấy phun ở 140°C, tốc độ nhập  
liệu là 252mL/h. Xác định độ ẩm (%), hoạt tính  
enzyme (UI/g) và hàm lượng protein (mg/g).  
2.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu  
Chế phẩm enzyme pectinase thu nhận từ  
Đỗ T. Hiền và Huỳnh P. P. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(2), 21-29 23  
2.2.4. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ sấy  
Chuẩn bị 50mL dịch enzyme pectinase, bổ  
sung maltodextrin với nồng độ thích hợp thí  
nghiệm 2.3. Sấy phun enzyme ở nhiệt độ sấy từ  
120°C đến 170°C (bước nhảy 10°C), tốc độ nhập  
liệu là 252mL/h. Xác định độ ẩm (%), hoạt tính  
enzyme (UI/g) và hàm lượng protein (mg/g).  
2.2.5. Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ bơm  
nhập liệu  
Chuẩn bị 50mL dịch enzyme pectinase, bổ  
sung maltodextrin với nồng độ thích hợp thí  
nghiệm 2.3, sấy phun enzyme pectinase với  
nhiệt độ thích hợp thí nghiệm 2.4, tốc độ nhập  
liệu từ 180-360mL/h (bước nhảy 36mL/h). Xác  
định độ ẩm (%), hoạt tính enzyme (UI/g) và  
hàm lượng protein (mg/g).  
2.2.6. Xácđịnhthôngsốđộnghọccủaenzyme  
Tiến hành theo Bảng sau:  
Bảng 1  
Xác định thông số động học của enzyme  
Các ống nghiệm  
Hóa chất  
Đơn vị  
0
0
5
5
1
1
4
5
2
2
3
5
3
3
2
5
4
4
1
5
5
5
0
5
Pectin 1%  
ml  
ml  
ml  
Đệm pH = 5  
Pectinase 2%  
Để yên ở 37℃ trong 30 phút  
Đun cách thủy 3 phút, làm nguội, lọc lấy dịch bên dưới  
Các ống nghiệm  
Hóa chất  
Đơn vị  
0’  
1
1’  
1
2’  
1
3’  
1
4’  
1
5’  
1
Dịch lọc  
ml  
ml  
Thuốc thử DNS  
3
3
3
3
3
3
Bịt ống nghiệm bằng giấy nhôm, đun cách thủy 15 phút  
Làm lạnh đến nhiệt độ phòng  
Đo OD tại λ = 575 nm  
Chú ý: Ống 0 là ống kiểm chứng, các ống khác là ống nghiệm  
Lượng sản phẩm tạo thành được xác định  
dựa vào đường chuẩn D galacturonic theo  
phương pháp (Miller, 1959). Qua đó xây dựng  
đồ thị của phương trình Lineweaver – Burk, từ  
đó xác định được thông số động học Km và  
Vmax của enzyme pectinase.  
2.2.7. Khảo sát ảnh hưởng của pH  
Sử dụng 1mL pectin 1% và 0,5mL dung  
dịch enzyme trong các bộ đệm khác nhau nồng  
độ 100mM ở khoảng pH 1,0-10,0, ủ 37°C trong  
30 phút. Thêm 3ml DNS, bịt ống nghiệm bằng  
giấy nhôm, đun cách thủy 15 phút, để nguội ở  
nhiệt độ phòng, đo OD tại λ = 575 nm.  
Các loại đệm: hydrochloric acid-  
potassium chloride (pH 1,0-2,0), citrate–  
phosphate (pH 3,0–7,0), sodium phosphate  
(pH 8,0), glycine-sodium hydroxide (pH 9,0-  
10,0).  
24 Đỗ T. Hiền và Huỳnh P. P. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(2), 21-29  
Xác định hoạt tính enzyme (UI/g).  
2.2.8. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ  
Sử dụng 1mL pectin 1% và 0,5mL dung  
dịch enzyme có pH thích hợp từ thí nghiệm 2.7  
ở nhiệt độ 25°C, 30°C, 37°C, 40°C, 45°C,  
50°C, 55°C, ủ trong 30 phút, 60 phút, 90 phút.  
Thêm 3ml DNS, bịt ống nghiệm bằng giấy  
nhôm, đun cách thủy 15 phút, để nguội ở nhiệt  
độ phòng, đo OD tại λ = 575 nm.  
và các chất ức chế protein như KMnO4,  
EDTA. Thêm 3ml DNS, bịt ống nghiệm bằng  
giấy nhôm, đun cách thủy 15 phút, để nguội ở  
nhiệt độ phòng, đo OD tại λ = 575 nm.  
Xác định hoạt tính enzyme (UI/g), hoạt  
tính tương đối (%).  
2.2.10. Xử lý số liệu  
Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần, kết quả  
được ghi nhận và xử lý thống kê bằng phần  
mềm Statgraphic Centurion XV.I, Excell 2013  
với mức độ tin cậy 95%.  
Xác định hoạt tính enzyme (UI/g).  
2.2.9. Xác định ảnh hưởng của chất ức chế  
và chất hoạt hóa  
3. Kết quả và thảo luận  
Sử dụng 1mL pectin 1% và 0,5mL dung  
dịch enzyme ở pH thích hợp từ thí nghiệm 2.7,  
nhiệt độ và thời gian thích hợp từ thí nghiệm  
2.8. Bổ sung 0,1mL các ion kim loại 1mM:  
Ca2+, Mn2+, Co2+, Cu2+, Zn2+, K2+, Na2+, Ag2+  
3.1. Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ  
chất trợ sấy  
Nồng độ chất trợ sấy có ảnh hưởng đến  
hoạt tính, hàm lượng protein và độ ẩm của chế  
phẩm enzyme sau sấy phun (Bảng 2).  
Bảng 2  
Ảnh hưởng của nồng độ chất trợ sấy  
Nồng độ  
Độ ẩm  
Hoạt tính  
Hàm lượng protein  
(mg/g)  
(w/v)  
(%)  
(UI/g)  
5,7330,015d  
5,2300,265c  
4,9500,040b  
4,9730,015b  
3,8730,021a  
2455,0410,99d  
2343,4910,99c  
2324,2935,50c  
1692,1913,62b  
1042,0815,69a  
17,930,50d  
16,190,67c  
13,870,43b  
12,710,67b  
10,971,09a  
10  
15  
20  
25  
30  
(a, b, c, d là các chữ cái thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%, các nghiệm thức có phân hạng giống  
nhau thì chưa thể hiện rõ sự khác biệt về ý nghĩa thống kê)  
Hoạt tính enzyme giảm dần từ 2455,04 đến  
1042,08UI/g khi nồng độ maltodextrin tăng  
dần (10-30%). Nguyên nhân có thể do  
maltodextrin cản trở quá trình phân giải cơ chất  
của enzyme. Bên cạnh đó, hàm lượng protein  
giảm dần khi nồng độ maltodextrin tăng dần,  
từ 17,93 còn 10,97 mg/g.  
Theo nghiên cứu của Đào Thị Mỹ Linh và  
cộng sự (2017) đã khảo sát nồng độ chất trợ sấy  
sữa gầy 10% (w/v) là thích hợp nhất cho quá  
trình sấy phun bromelain. Như vậy ở nồng độ  
chất trợ sấy 10% thì hoạt tính enzyme cao nhất  
(2455,1 UI/g) và độ ẩm của chế phẩm 5,7% đáp  
ứng yêu cầu bảo quản enzyme.  
3.2. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ sấy  
Theo nghiên cứu của (Heller, 1999;  
Samborska và cộng sự, 2005) cho thấy hoạt  
tính enzyme phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ  
không khí đầu vào và sự phân bố nhiệt độ trong  
thiết bị sấy. Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt  
tính enzyme giảm dần khi tăng nhiệt độ sấy từ  
130-170°C (Bảng 3).  
Đỗ T. Hiền và Huỳnh P. P. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(2), 21-29 25  
Bảng 3  
Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy  
Nhiệt độ  
(°C)  
Độ ẩm  
Hoạt tính  
Hàm lượng protein  
(mg/g)  
(%)  
(UI/g)  
6,2170,025e  
5,7230,021d  
5,5930,015c  
4,9530,021b  
3,7570,021a  
2489,8252,43e  
2391,4610,80d  
2243,933,60c  
1698,1867,74b  
1303,5614,98a  
19,090,44d  
18,070,25d  
15,030,67c  
11,990,67b  
9,810,90a  
130  
140  
150  
160  
170  
a, b, c, d, e  
(
là các chữ cái thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%, các nghiệm thức có phân hạng giống  
nhau thì chưa thể hiện rõ sự khác biệt về ý nghĩa thống kê)  
Khi tăng nhiệt độ sấy, enzyme tiếp xúc với  
nhiệt độ cao sẽ bị biến tính nên hoạt tính  
enzyme giảm dần (từ 2489,8 còn 1303,6UI/g).  
Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu  
của Devakate và cộng sự (2009). Độ ẩm của  
chế phẩm cũng giảm (từ 6,2 còn 3,8%) khi tăng  
nhiệt độ sấy từ 130-170°C. Theo nghiên cứu  
của Katarzyna Samborska 2005, nhiệt độ  
không khí sấy sẽ ảnh hưởng đến quá trình bốc  
hơi nước ra khỏi dung dịch sấy, khi tốc độ nhập  
liệu không thay đổi nhiệt độ sấy càng tăng thì  
nước bốc hơi khỏi dung dịch càng tăng do vậy  
độ ẩm chế phẩm enzyme càng giảm. Ngoài ra  
ở nhiệt độ sấy 120°C chế phẩm enzyme thu  
được có độ ẩm cao, chế phẩm tạo ra dạng bột  
ướt dính lại thành buồng sấy, khó thu hồi và  
bảo quản chế phẩm. Hoạt tính enzyme cao nhất  
ở nhiệt độ 130°C là 2489,8UI/g. Vì vậy, nhiệt  
độ sấy 130°C sẽ được chọn để thực hiện các thí  
nghiệm tiếp theo.  
3.3. Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu  
Bảng 4  
Ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu  
Độ ẩm  
Hoạt tính  
Tốc độ bơm nhập liệu  
Hàm lượng protein  
(mL/h)  
(mg/g)  
(%)  
(UI/g)  
4,9130,015a  
5,4270,021b  
5,7020,021c  
6,0670,083d  
2223,5423,96a  
2326,6912,97b  
2552,195,50c  
2655,3412,64d  
10,250,50a  
12,710,66b  
17,640,25c  
18,940,25d  
180  
216  
252  
288  
a, b, c, d  
(
là các chữ cái thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%, các nghiệm thức có phân hạng giống  
nhau thì chưa thể hiện rõ sự khác biệt về ý nghĩa thống kê)  
26 Đỗ T. Hiền và Huỳnh P. P. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(2), 21-29  
Hoạt tính enzyme tăng dần (2223,5 đến  
2655,3UI/g) và hàm lượng protein tăng dần  
(10,3 đến 18,9g/mg) khi tăng tốc độ nhập liệu  
từ 180-288mL/h. Ở tốc độ bơm nhập liệu thấp,  
kích thước hạt tạo ra nhỏ hơn, bề mặt tiếp xúc  
của hạt với nhiệt độ tăng, thời gian tiếp xúc dài  
hơn làm enzyme dễ bị biến tính (Samborska,  
K., 2005). Độ ẩm của chế phẩm enzyme cũng  
tăng dần (4,9 đến 6,1%) khi tăng tốc độ bơm  
nhập liệu từ 180-288mL/h. Ở các tốc độ nhập  
liệu 324 và 360mL/h, enzyme thu được có độ  
ẩm cao, bị dính lên thành buồng sấy, chế phẩm  
enzyme tạo ra ở dạng bột ướt gây khó khăn  
trong việc thu hồi, bảo quản và sử dụng. Kết  
quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của  
Nguyễn Thi Thùy Ninh (2011), Devakate và  
cộng sự (2009), Đào Thị Mỹ Linh (2017), tốc  
độ bơm nhập liệu có ảnh hưởng lớn đến lưu  
lượng dòng nhập liệu, năng suất thiết bị và cả  
nhiệt độ không khí đầu ra. Tốc độ bơm nhập  
liệu tăng đồng nghĩa với thời gian lưu của vật  
liệu sấy trong buồng sấy giảm, lượng hơi nước  
thoát ra ít hơn làm độ ẩm tăng.  
(Parenico và cộng sự, 1998).  
Ngoài ra một số nghiên cứu về pectinase  
thu nhận từ các chủng vi sinh vật khác nhau thì  
giá trị Km trong khoảng 0,1-0,5 (Martins và  
cộng sự, 2013; Chen và cộng sự, 2014). Như  
vậy, có thể do chế phẩm enzyme tạo ra chưa  
được tinh sạch nên hằng số Km cao hơn khoảng  
10 lần so với enzyme đã tinh sạch từ các nghiên  
cứu trên.  
3.5. Khảo sát ảnh hưởng của pH  
Hoạt tính enzyme tăng dần khi pH tăng từ  
1 đến 5 đạt giá trị lớn nhất ở pH 5 (2650 UI/g).  
Sau đó hoạt tính enzyme giảm mạnh khi pH  
tăng từ 6 đến 10, đặc biệt ở pH từ 8 đến 10 thì  
enzyme gần như mất hoạt tính. Theo Gautam  
và cộng sự (2017) đã nghiên cứu sản xuất, tinh  
chế và xác định đặc tính hóa sinh của một exo-  
polygalacturonase từ Aspergillus niger MTCC  
478. Nhóm tác giả đã khảo sát hoạt tính  
enzyme trong khoảng pH từ 1,0-12,0 với bước  
nhảy 1 pH. Kết quả, hoạt tính ở pH=4 là cao  
nhất. Đối với pectinase có nguồn gốc từ nấm  
mốc pH 3,0-5,0 là pH hoạt động tối thích  
(Nguyễn Đức Lượng và cộng sự, 2004). Kết  
quả nghiên cứu trên cũng tương đồng với  
Dogan và Tari (2008), Kant S, Vohra A, Gupta  
R (2013).  
3.4. Xác định thông số động học của enzyme  
Hình 1. Đồ thị Lineweaver-Burk  
Hằng số Michaelis Menten (Km) đặc trưng  
cho ái lực enzyme và cơ chất. Khi Km càng nhỏ  
thì ái lực của enzyme và cơ chất càng lớn (vận  
tốc phản ứng do enzyme xúc tác càng lớn). Dựa  
vào mối tương quan giữa vận tốc phản ứng của  
enzyme và nồng độ cơ chất xây dựng phương  
trình Lineweaver-Burk có dạng y = 51,184x +  
1,8034, từ đó tính được Km= 28,4 (mg/ml) và  
Vmax= 0,56 (mg/ml/phút). Enzyme pectinase đã  
tinh sạch từ A.niger có Km= 2,3 mg/ml  
(Gautam và cộng sự, 2017), Km= 2,4 mg/ml  
Hình 2. Ảnh hưởng của pH  
3.6. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ  
Hoạt tính enzyme tăng nhẹ từ 10 đến 30°C,  
tăng nhanh từ 30 đến 40°C, từ 40 ÷ 50°C hoạt  
tính enzyme giảm nhẹ, từ 50÷80°C, hoạt tính  
enzyme giảm mạnh và từ 80÷90°C thì enzyme  
gần như mất hoạt tính. Vậy hoạt tính enzyme  
tối ưu ở 40°C (2658,9 UI/g).  
Đỗ T. Hiền và Huỳnh P. P. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(2), 21-29 27  
Nhóm tác giả Gautam và cộng sự (2017) đã  
khảo sát hoạt tính enzyme pectinase từ  
Aspergillus niger trong khoảng nhiệt độ từ 10-  
100°C. Kết quả, hoạt tính enzyme ở 50°C là cao  
nhất. Theo Tari và cộng sự (2008), Thakur và  
cộng sự (2010) thì nhiệt độ tối ưu cho một số  
chủng nấm sinh enzyme pectinase là 40÷60°C.  
Đa số enzyme bị mất hoạt tính ở nhiệt độ trên  
70°C. Phần lớn enzyme hoạt động mạnh nhất ở  
nhiệt độ 40-50°C. Enzyme pectinesterase từ  
nấm mốc có nhiệt độ tối ưu là 30-45°C và bị vô  
hoạt ở 55-62°C. (Nguyễn Đức Lượng, 2004).  
Mức độ ảnh hưởng của các ion kim loại và  
chất ức chế protein đối với enzyme pectinase là  
khác nhau. Đối với các ion Mn2+, Na+, KMnO4  
gần như không làm thay đổi hoạt tính enzyme.  
EDTA làm giảm gần 50% hoạt tính enzyme.  
Ca2+, Zn2+ và K+ làm hoạt tính enzyme giảm  
khoảng 2/3 so với đối chứng. Ion Co2+ làm hoạt  
tính enzyme giảm khoảng 25%. Ion Ag+ thì gần  
như làm mất hoạt tính enzyme, ion Cu2+ thì làm  
tăng hoạt tính enzyme. Như vậy ion Ag+ có thể  
coi là chất ức chế đối với enzyme pectinase, ion  
Cu2+ thì được coi là chất hoạt hóa. Kết quả này  
cũng tương đồng với nghiên cứu của Gautam và  
cộng sự (2017). Ion Cu2+ được coi là chất hoạt  
hóa đối với enzyme endo polygalacturonase từ  
nấm mốc Aspergillus fumigatus (Anand và cộng  
sự, 2016).  
4. Kết luận và Kiến nghị  
4.1. Kết luận  
Nghiên cứu đã xác định được nồng độ chất  
trợ sấy 10% matodextrin, nhiệt độ sấy 130°C,  
tốc độ nhập liệu 288mL/h để tạo chế phẩm  
enzyme pectinase dạng bột bằng phương pháp  
sấy phun. Ngoài ra, nghiên cứu đã xác định một  
số đặc tính của chế phẩm enzyme thu được:  
thông số động học Km 28,4 mg/mL, nhiệt độ  
40°C, và pH 5,0 tối ưu, chất hoạt hóa Cu2+, chất  
ức chế Ag+ ảnh hưởng đến hoạt động của chế  
phẩm enzyme.  
Hình 3. Ảnh hưởng của nhiệt độ  
3.7. Xác định ảnh hưởng của chất ức chế  
và chất hoạt hóa  
Chất hoạt hóa là chất làm tăng hoạt tính  
của enzyme, ngược lại chất ức chế sẽ làm giảm  
hoạt tính enzyme.  
4.2. Kiến nghị  
Khảo sát thêm độ bền nhiệt và tính ổn định  
ở các pH khác nhau của chế phẩm enzyme để  
có hướng sử dụng phù hợp. Đồng thời khảo sát  
thêm ảnh hưởng của điều kiện bảo quản đến  
hoạt tính enzyme. Bên cạnh đó ứng dụng thử  
nghiệm pectinase dạng bột vào việc sản xuất  
mứt quả  
Hình 4. Ảnh hưởng của chất hoạt hóa và chất  
ức chế  
Lời cảm ơn: Trân trọng cảm ơn sinh viên Nguyễn Hoàng Minh Nhật, Trần Đông Anh, Võ Hữu  
Thái An đã hỗ trợ trong quá trình thực hiện nghiên cứu này.  
28 Đỗ T. Hiền và Huỳnh P. P. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(2), 21-29  
Tài liệu tham khảo  
Anand G., Yadav S., Yadav D. (2016). Purification and characterization of polygalacturonase from  
Aspergillus fumigatus MTCC 2584 and elucidating its application in retting of Crotolaria  
juncea fiber. 3 Biotech, 6, 201.  
Barman, S., Sit, N., Badwaik, LS., Deka, SC. (2015). Pectinase production by Aspergillus niger  
using banana (Musa balbisiana) peel as substrate and its effect on clarification of banana juice.  
J Food Sci Technol, 52, 3579-3589.  
Cabral A. C. S., Said S., Oliveira W. P. (2009). Retention of the enzymatic activity and product  
properties during spray drying of pineapple stem extract in presence of maltodextrin.  
International Journal of Food Properties, 12, 536-548.  
Chen Y., Sun D., Zhou Y., Liu L., Han W., Zeng B., Wang Z., Zang Z. (2014). Cloning, expression  
and characterization of a novel thermophilic polygalacturonase from Caldicellulosiruptor  
bescii DSM 6725. Int J Mol Sci, 15(4), 5717-5729.  
Đào Thị Mỹ Linh, Nguyễn Thị Quỳnh Mai, Đỗ Thị Hoàng Tuyến, Nguyễn Thị Như Phượng  
(2017). Khảo sát quá trình tạo chế phẩm bromelain dạng bột từ phụ phẩm dứa. Tạp chí Khoa  
học Công nghệ và Thực phẩm, 12(1), 19-32.  
Desai Kashappa, Goud H., Jin Park Hyun (2005). Recent Developments in Microencapsulation of  
Food Ingredients. Drying Technology, 23, 1366-1367.  
Dogan N., Tari C. (2008). Characterization of three phase partitioned exo-polygalacturonase from  
Aspergillus sojae with unique properties. Biochem Eng J, 39, 43-50.  
Gautam Anand1, Sangeeta Yadav1, Dinesh Yadav1 (2017). Production, purification and  
biochemical characterization of an exo-polygalacturonase from Aspergillus niger MTCC 478  
suitable for clarification of orange juice. 3 Biotech, 7, 122, 1-8.  
Heller, M. C., Carpenter, J. F. and Randolph, T. W. (1999). Protein formulation and lyophilization  
cycle design: Prevention of damage due to freeze-concentration induced phase separation.  
Biotechnology and Bioengineering, 63(2), 166-174.  
Huỳnh Phan Phương Trang và Đỗ Thị Hiền (2018). Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng  
sinh tổng hợp enzyme pectinase từ Aspergillus niger trên nguồn cơ chất vỏ cam. Tạp chí Khoa  
học Công nghệ và Thực phẩm, 16, 54-60.  
Kant S., Vohra A., Gupta R. (2013). Purification and physicochemical properties of  
polygalacturonase from Aspergillus niger MTCC 3323. Prot Exp Purif, 87, 11-16.  
Katarzyna, Samborska Dorota, Witrowa-Rajchert, Andre Gonçalves (2005). Spray-drying of α-  
amylase - the effect of process variables on the enzyme inactivation. Drying Technology: An  
International Journal, 23(4), 941-953.  
Martins ES., Leite RSR., Silva R., Gomes E. (2013). Purification and properties of  
polygalacturonase produced by thermophilic fungus Thermoascus aurantiacus CBMAI-756  
on solid-state fermentation. Enzyme Research, 1-7.  
Miller GL. (1959). Use of dinitrosalicylic acid reagent for determination of reducing sugar. Anal  
Chem, 31(3), 426-428.  
Đỗ T. Hiền và Huỳnh P. P. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(2), 21-29 29  
Mohsen S. M., Bazaraa W. A., Doukani K. (2009). Purification and characterization of Aspergillus  
niger U-86 polygalacturonase and its use in clarification of pomegranate and grape juices. In  
The 4th conference on recent technology in agriculture, 84, 805-816.  
Nakkeeran E., Umesh-Kumar S., Subramanian R. (2011). Aspergillus carbonarius  
polygalacturonases purified by integrated membrane process and affinity precipitation for  
apple juice production. Biores Technol, 102, 3293-3297.  
Nguyễn Đức Lượng, Cao Cường, Nguyễn Ánh Tuyết và cộng sự (2004). Thu nhận enzyme từ vi  
sinh vật. Công nghệ enzyme, từ lần 2. NXB Đại học Quốc gia TP.HCM. TP. HCM, 356-376.  
Nguyễn Nhật Minh Phương, Chế Văn Hoàng, Lý Nguyễn Bình, Châu Trần Diễm Ái (2011). Tác  
động enzyme pectinase đến khả năng trích ly dịch quả và các điều kiện lên men đến chất lượng  
lượng rượu vang xoài sau thời gian lên men chính. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần  
Thơ, 20a, 127-136.  
Nguyễn Thị Thùy Ninh, Nguyễn Thi Hồng Minh (2011). Tối ưu hóa quá trình sấy phun  
dịch cà chua. Tạp chí Khoa hoc và Phát triển, 9(6), 1014 - 1020.  
Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Minh Thủy, Lê Hà Ny và Lê Trung Hiếu (2013). Trích ly enzyme  
Bromelain từ phế phẩm khóm Cầu Đúc-Hậu Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần  
Thơ, 28, 21-27.  
Pan X., Li K., Ma R., Shi P., Huang H., Yang P., Meng K., Yao B. (2015). Biochemical  
characterization of three distinct polygalacturonases from Neosartorya fischeri P1. Food  
Chem,188, 569-575.  
Parenicova L., Benen JA., Kester HC., Visser J., (1998). PgaE encodes a fourth member of the  
endopolygalacturonase gene family from Aspergillus niger. Eur J Biochem, 251, 72-80.  
Sonia Ahlawat, R. P. Mandhan, Saurabh Sudha Dhiman, Rakesh Kumar, Jitender Sharma (2008).  
Potential Application of Alkaline Pectinase from Bacillus subtilis SS in Pulp and Paper.  
Industry Appl Biochem Biotechnol, 149, 287-293.  
Trần Thị Xô, Dương Văn Tuân, Lê Thị Hoàng Linh (2012). Nghiên cứu sử dụng hệ enzyme  
pectinase, cellulase của vi khuẩn B.subtilis, L.plantarum và nấm mốc A.niger,  
Ph.chrysosporium để xử lý lớp nhớt của vỏ cà phê. Tuyển tập báo cáo hội nghị sinh viên  
nghiên cứu khoa học lần thứ 8. Đại học Đà Nẵng.  
Walker, J. M. (Ed.) (1996). The protein protocols handbook, 2. Springer Science & Business  
Media, America.  
pdf 9 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 26100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bước đầu nghiên cứu tạo Enzyme pectinase dạng bột từ ASPergillus Niger và khảo sát một số đặc tính của chế phẩm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbuoc_dau_nghien_cuu_tao_enzyme_pectinase_dang_bot_tu_aspergi.pdf