Yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự tiếp nhận và áp dụng tiến bộ kỹ thuật của nông dân sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long - Phân tích số liệu từ điều tra nông dân

YẾU TỐ KINH TẾ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TIẾP NHẬN VÀ ÁP DỤNG TIẾN  
BỘ KỸ THUẬT CỦA NÔNG DÂN SẢN XUẤT LÚA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU  
LONG: PHÂN TÍCH SỐLIỆU TỪ ĐIỀU TRA NÔNG DÂN  
Trương Thị Ngọc Chi1  
1Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tiến bộ kỹ thuật (TBKT) quyết định tiềm năng chất lượng và sản lượng sản xuất nông nghiệp  
thông qua sự phát triển và cải tiến kỹ thuật. Nông dân là thành phần ảnh hưởng bởi các yếu tố  
ngoại sinh (cấu trúc cộng đồng, thể chế,...) và yếu tố nội sinh do nông hộ điều khiển. Nông dân  
là người quyết định có hay không tiếp nhận và áp dụng tiến bộ kỹ thuật và làm thế nào để sử  
dụng nguồn lực nhằm hỗ trợ chúng. Sự quyết định áp dụng TBKT tùy thuộc vào sự nhận định  
của nông dân về chúng. TBKT được phát triển nhằm giảm rủi ro của mối quan hệ nhân quả  
trong quá trình đạt đến kết quả sản xuất. TBKT có hai phần: Phần cứng và phần mềm. Phần  
cứng là vật thểvật lý, phần mềm là thông tin kỹ thuật nằm trong vật thể vật lý đó. TBKT khi  
được giới thiệu cho nông dân, họ có thể không hoặc có tiếp nhận và áp dụng. Nông dân khám  
phá các vấn đề của TBKT và đưa vào áp dụng. Phạm vi áp dụng, sự điều chỉnh TBKT cho thích  
hợp hoặc không áp dụng chúng tùy thuộc vào thái độ hành vi của nông dân. Có nhiều yếu tố ảnh  
hưởng đến tiếp nhận và áp dụng TBKT của nông dân như là thuộc tính của kỹ thuật, khách hàng  
của chúng (là nông dân), tác nhân kỹ thuật (là cán bộ khuyến nông,...) và môi trường sinh học, lý  
học và kinh tế xã hội. Nông dân là nhân tố chính trong quá trình phát triển. Đặc tính kinh tế xã  
hội của nông dân như tuổi tác, trình độ văn hóa, thu nhập,... và niềm tin ảnh hưởng tích cực đến  
áp dụng TBKT. Các đặc tính cá nhân của cán bộ khuyến nông như sự tín nhiệm, có khả năng  
quan hệ và giao tiếp tốt với nông dân, sự thông minh, nói năng khúc chiết, chân thành,... ảnh  
hưởng đến sự tiếp nhận và áp dụng TBKT của nông dân. Các điều kiện sinh học và lý học của  
môi trường như đồng ruộng, vị trí của nó, sự hiện diện nguồn lực và các điều kiện như đường  
sá, chợ búa, sâu bệnh, phân phối lượng mưa, loại đất, nước, dịch vụ và điện cũng ảnh hưởng.  
Do sự áp dụng TBKT của nông dân bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, mục đích của bài này là phân  
tích xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tiếp nhận và áp dụng các TBKT cho lúa của nông  
dân Đồng bằng sông Cửu Long từ số liệu điều tra nông hộ.  
II. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU  
Để xác định yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự tiếp nhận và áp dụng TBKT từ góc độ  
nông hộ, chọn ngẫu nhiên nông dân trồng lúa ở các tỉnh, thành là Cần Thơ, Tiền Giang, An  
Giang, Bến Tre để điều tra. Mỗi tỉnh chọn 1 huyện và mỗi huyện chọn 2 xã đại diện cho vùng  
trồng lúa. Bến Tre và Tiền Giang mỗi nơi có 1 xã lúa tưới và 1 xã lúa nước trời. Tổng cộng có 6  
xã vùng lúa tưới và 2 xã vùng lúa nước trời. Mỗi xã điều tra ngẫu nhiên 250 hộ trồng lúa.  
Phương pháp điều tra cá thể và trực tiếp được thực hiện vào tháng 4 năm 2007 bằng mẫu phiếu  
điều tra lập sẵn (đã qua điều tra thử 5 phiếu mỗi xã). Phỏng vấn nhóm nông dân được tiến hành  
để bổ sung thông tin cho số liệu điều tra.  
Số liệu được tóm tắt bằng thống kê mô tả ở dạng số trung bình và phần trăm. Do số liệu bao  
gồm cả hai số liệu định lượng và định tính và biến số phụ thuộc là biến số mang tính chất định  
tính có 2 thuộc tính (có hay không tiếp nhận và áp dụng), để xác định yếu tố ảnh hưởng đến  
tiếp nhận và áp dụng từng tiến bộ kỹ thuật của nông dân từ điều tra cá thể, phân tích probit  
(Goldberger, 1964, trích bởi Maddala) được tiến hành. Mô hình sử dụng là:  
Y = Xβ+ ε  
Trong đó:  
Y là biến số phụ thuộc gồm có 1 và 0 (1: Có tiếp nhận và áp dụng kỹ thuật, 0: Không).  
X là các biến độc lập, gồm có hệ sinh thái (1 = nước tưới, 0 = nước trời); tham dự tập huấn (1  
= có, 0 = không); tiếp cận thông tin (1 = kênh công cộng, 0 = kênh trung gian); kiến thức về  
TBKT (% hiểu biết); nhận thức ưu điểm của TBKT (5 là quan trọng nhất và 1 là ít quan trọng  
nhất); nhận thức khuyết điểm của TBKT (5 là nghiêm trọng nhất và 1 là ít nghiêm trọng nhất);  
diện tích gieo trồng (ha); trình độvăn hoá; vốn (1 = có khảnăng vềvốn, 0 = không); mặt ruộng (1  
= bằng phẳng, 0 = không); dân tộc (1 = kinh và 0 = người dân tộc); khoảng cách từ nhà đến trạm  
y tế gần nhất (m); giới (1 = nam, 0 = nữ); hệthống canh tác (1 = 3lúa, 0 = cái khác); năng suất lúa  
(tấn/ha); lợi nhuận từ lúa (1000 đồng/năm).  
Β là vector của các thông số có ảnh hưởng một phần đến từng biến số độc lập. ε là vector sai  
số của các biến độc lập, yếu tố ε được giả định có số trung bình bằng 0, độ biến động là hằng số  
và không có tương quan.  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
1. Tình hình sản xuất lúa của nông dân  
Nông dân điều tra thuộc vùng lúa nước trời chiếm 25%, còn lại là vùng lúa tưới. Diện tích lúa  
bình quân ở vùng lúa nước trời là 0,63 ha/hộ và ở vùng lúa tưới là 1,39 ha/hộ. Tỷ lệ nông dân  
giảm lượng hạt giống thấp, chỉcó 20 - 21% nông dân sạ từ 80 - 150 kg/ha. Nông dân còn lại sạ  
trên 150kg/ha. Về đầu tư và thu nhập từ lúa, tổng thu nhập lúa đông xuân 19,3 triệu/ha, hè thu  
12,4 triệu/ha và xuân hè 9,4 triệu/ha. Chi phí không kể công lao động gia đình dao động từ 6,5  
- 7,2 triệu/ha tuỳ theo mùa vụ. Trong đó, chi phí phân bón chiếm 26 - 32%, nông dược 16 -  
20%, lao động thuê 31 - 36%. Lợi nhuận không tính công lao động gia đình từ lúa vụ đông  
xuân là 12 triệu/ha, hè thu 5,59 triệu/ha và xuân hè 2,89 triệu/ha. Nông dân có thói quen lấy công  
làm lời nên con số lợi nhuận trên được nông dân quan tâm. Nếu công lao động gia đình được  
tính vào chi phí thì lợi nhuận thấp nhỏ hơn vì công lao động gia đình dao động từ 1,249 - 1,5  
triệu đồng/ha tuỳ theo mùa vụ.  
Tỷ lệ nông dân áp dụng IPM chiếm 34%, sạ hàng 19%, ba giảm ba tăng 41%, giống xác nhận  
35%, sấy lúa 5% trong số nông dân điều tra (không kể thương lái sấy ở nhà máy xay lúa, gặt  
máy 7%. Ở vùng lúa tưới tỷ lệ nông dân áp dụng TBKT thuật cao hơn vùng lúa nước trời.  
2. Tình hình tiếp cận thông tin về tiến bộ kỹ thuật của nông dân  
Tỷ lệ nông dân tham dự các lớp tập huấn TBKT còn thấp, IPM có 32%, sạ hàng 20%, ba giảm  
ba tăng 29%, giống và giống lúa xác nhận 19%, sấy lúa và gặt máy dưới 10%. Vì vậy, có từ một  
phần ba đến gần phân nửa nông dân không có kiến thức về các TBKT.  
Phần lớn nông dân nghe thông tin về TBKT từ các kênh thông tin nhà nước như cán bộ kỹ  
thuật, cán bộ khuyến nông, tivi, radio, tạp chí, sách báo, panô, áp phích, trường đại học, viện  
nghiên cứu và hiệp hội quần chúng (hội nông dân, phụ nữ, thanh niên, câu lạc bộ khuyến nông,  
IPM,...). Thông tin từ kênh trung gian gồm có thân nhân, hàng xóm, người bán phân bón, thuốc  
trừ sâu.  
3. Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến sự tiếp nhận và áp dụng tiến bộ kỹ thuật của nông  
dân từ số liệu điều tra nông hộ.  
Nhìn chung, sự tham dự tập huấn và kiến thức vềTBKT của nông dân ảnh hưởng tích cực và  
có ý nghĩa đến sự tiếp nhận và áp dụng TBKT. Yếu tố dân tộc không ảnh hưởng đến việc áp  
dụng IPM. Có tham dự tập huấn và kiến thức hiểu biết cao làm tăng sự tiếp nhận và áp dụng IPM  
một cách có ý nghĩa. Nhiều nông dân ở vùng lúa tưới không áp dụng IPM hơn ở vùng lúa nước  
trời vì sự thâm canh tăng vụ với lúa ngắn ngày ở vùng lúa tưới cao hơn nên sự lo sợ sâu bệnh  
tấn công cao hơn. Diện tích gieo trồng càng lớn thì nông dân ít áp dụng IPM hơn do việc thăm  
đồng theo dõi mật số sâu hại và thiên địch trên ruộng rộng lớn khó khăn và mất thời gian hơn  
ruộng nhỏ. Lợi nhuận từ lúa càng cao làm tăng áp dụng IPM. Khoảng cách từ nhà nông dân đến  
trạm y tế càng gần thì sự tiếp nhận và áp dụng IPM càng cao vì nông dân nhận được thông tin về  
độc hại do nông dược từ cán bộ y tế (bảng 1).  
Bảng 1. Phân tích xác định yếu tố tác động đến sự tiếp nhận và áp dụng IPM của nông dân  
Biến số  
Hệ số  
0,227  
Giá trị T Giá trị xác suất (P)  
Hằng số  
0,376  
- 7,239  
5,796  
0,7067  
0,0000  
0,0000  
0,0000  
0,0617  
0,0314  
0,0244  
0,0383  
Hệ sinh thái (1 = nước tưới, 0 = nước trời)  
Tham dự tập huấn IPM (1 = có, 0 = không)  
Kiến thức vềIPM (%)  
- 1,946  
1,445  
0,031  
8,393  
Dân tộc (1 = kinh,0 = người dân tộc)  
Diện tích gieo trồng (ha)  
- 1,074  
- 0,071  
0,000  
- 1,868  
- 2,151  
2,251  
Tiền lời từ lúa (triệu đồng/ha/năm)  
Khoảng cách đến trạm y tế gần nhất (m)  
- 0,000  
- 2,071  
Biến số phụ thuộc: Tiếp nhận và áp dụng IPM (1 = có, 0 = không)  
Không có sự khác biệt về sự tiếp nhận và áp dụng kỹ thuật sạ hàng giữa vùng lúa có tưới và  
vùng lúa nước trời. Sự tham dự tập huấn và kiến thức kỹ thuật về sạ hàng cao làm tăng áp dụng  
sạ hàng. Sạ hàng được áp dụng nhiều hơn ở hệ thống 2 lúa và lúa - cá hơn hệ thống 3 lúa vì trong  
hệ thống 3 lúa thường có một vụ lúa nông dân không làm đất mà chỉ sạ chay nên khó sạ hàng.  
Nông dân có khả năng về vốn và ruộng bằng phẳng áp dụng sạ hàng nhiều hơn nông dân không  
có khả năng về vốn và ruộng không bằng phẳng. Lợi nhuận từ lúa không ảnh hưởng đến sự tiếp  
nhận và áp dụng kỹ thuật sạ hàng (bảng 2).  
Bảng 2. Phân tích xác định yếu tố tác động đến sự tiếp nhận và áp dụng sạ hàng của nông  
dân  
Biến số  
Hệ số  
Giá trị T Giá trị xác suất (P)  
Hằng số  
- 10,772  
7,288  
0,000  
0,000  
5,137  
7,432  
- 3,471  
2,730  
2,483  
- 0,691  
1,0000  
1,0000  
0,0000  
0,0000  
0,0005  
0,0063  
0,0130  
0,4894  
Hệ sinh thái (1 = nước tưới, 0 = nước trời)  
Tham dự tập huấn sạ hàng (1 = có, 0 = không)  
Kiến thức về sạ hàng (%)  
1,202  
0,029  
Hệ thống canh tác (1 = 3 lúa, 0 = cái khác)  
Vốn (1 = có khả năng về vốn, 0 = không)  
Mặt ruộng (1 = bằng, 0 = không)  
Lợi nhuận từ lúa (1000 đồng/năm)  
- 0,867  
0,700  
0,957  
- 0,000  
Biến số phụ thuộc: Tiếp nhận và áp dụng sạ hàng (1 = có, 0 = không).  
Có tham dự tập huấn và kiến thức cao là hai yếu tốcó ảnh hưởng tích cực đến sự tiếp nhận và  
áp dụng ba giảm ba tăng. Sự nhận thức tốt về ưu điểm của ba giảm ba tăng và lợi nhuận từ lúa  
càng cao làm tăng áp dụng TBKT này. Tương tự nhưIPM, nhiều nông dân ở vùng lúa tưới  
không áp dụng ba giảm ba tăng hơn vùng lúa nước trời vì sự thâm canh tăng vụ ởvùng lúa tưới  
cao hơn dễ lo sợ sản lượng giảm nên vẫn sử dụng phân và thuốc theo tập quán canh tác cũ. Nông  
dân có diện tích gieo trồng nhỏ thì áp dụng nhiều hơn nông dân có diện tích lớn vì nông dân có  
diện tích lớn lo sợ thất thu lớn hơn do chưa tin tưởng vào hiệu quả của kỹ thuật này. Tương tự,  
phỏng vấn nhóm nông dân cũng cho thấy diện tích quá lớn khó kéo hàng vì tốn nhiều thời gian  
(bảng 3).  
Bảng 3. Phân tích xác định yếu tố tác động đến sự tiếp nhận và áp dụng ba giảm ba tăng  
Biến số  
Hệ số  
- 1,747  
- 1,017  
1,145  
Giá trị T Giá trị xác suất (P)  
Hằng số  
- 6,456  
- 5,045  
6,088  
0,0000  
0,0000  
0,0000  
Hệ sinh thái (1 = nước tưới, 0 = nước trời)  
Tham dự tập huấn ba giảm ba tăng (1 = có, 0 =  
không)  
Kiến thức về ba giảm ba tăng (%)  
Diện tích gieo trồng (ha)  
0,020  
- 0,065  
0,000  
0,187  
7,228  
- 2,069  
2,692  
3,016  
0,0000  
0,0386  
0,0071  
0,0026  
Lợi nhuận từ lúa (1000 đồng/năm)  
Nhận thức ưu điểm của ba giảm ba tăng  
Biến số phụ thuộc: Tiếp nhận và áp dụng ba giảm ba tăng (1 = có, 0 = không).  
Tham dự tập huấn và kiến thức về giống xác nhận và giống mới cũng như sự nhận thức được  
ưu điểm của chúng có ảnh hưởng tích cực trong việc tiếp nhận và áp dụng. Hệ thống canh tác  
lúa 3 vụ một năm cũng không làm tăng sử dụng giống xác nhận và giống mới (bảng 4).  
Bảng 4. Phân tích yếu tố tác động đến tiếp nhận và áp dụng giống xác nhận và giống mới  
Biến số  
Hệ số  
- 1.708  
1.316  
Giá trị T Giá trị xác suất (P)  
Hằng số  
- 6.118  
6.622  
0,0000  
0,0000  
0,0000  
0,0068  
0,0669  
0,0003  
Tham dự tập huấn về giống (1 = có, 0 = không)  
Kiến thức vềgiống (%)  
0.021  
8.505  
Nhận thức ưu điểm về giống  
Nhận thức khuyết điểm về giống  
Hệ thống canh tác (1 = 3 lúa, 0 = cái khác)  
0.161  
2.705  
- 0.095  
- 0.609  
- 1.832  
- 3.631  
Biến số phụ thuộc: Tiếp nhận và áp dụng hạt giống đạt tiêu chuẩn và giống mới (1 = có, 0 =  
không).  
Đối với sấy lúa, sự tham dự tập huấn và kiến thức liên quan đến việc sấy lúa và lò sấy làm  
tăng sự áp dụng kỹ thuật này một cách có ý nghĩa. Nông dân ở các hệ thống canh tác 2 vụ lúa  
một năm, lúa - màu và lúa - cá có khuynh hướng sấy lúa ở lò sấy nhiều hơn nông dân trồng 3 vụ  
lúa một năm. Ở hệ thống 2 vụ lúa, nông dân thu hoạch lúa hè thu vào thời kỳ mưa nhiều, còn  
các hệ thống khác như lúa - màu và lúa - cá cần sấy lúa cho nhanh để có thời gian và giành công  
lao động cho công việc trồng màu và nuôi cá. Diện tích đất và lợi nhuận từ lúa không ảnh hưởng  
đến sự tiếp nhận và áp dụng sấy lúa của nông dân (bảng 5).  
Bảng 5. Phân tích xác định yếu tố tác động đến áp dụng sấy lúa của nông dân  
Biến số  
Hệ số  
- 1,748  
1,636  
0,008  
- 0,704  
0,119  
0,000  
Giá trị T Giá trị xác suất (P)  
Hằng số  
- 5,055  
5,539  
0,0000  
0,0000  
0,0275  
0,0137  
0,1338  
0,3376  
Tham dự tập huấn về máy sấy (1 = có, 0 = không)  
Kiến thức về máy sấy (%)  
Hệ thống canh tác (1 = 3 lúa, 0 = cái khác)  
Diện tích đất (ha/hộ)  
2,203  
- 2,460  
1,499  
Lợi nhuận từ lúa (1000 đồng/năm)  
- 0,962  
Biến số phụ thuộc: Áp dụng sấy lúa (1 = có, 0 = không);  
Sự tham dự tập huấn và kiến thức về máy gặt ảnh hưởng tích cực trong khâu gặt máy. Kênh  
thông tin trung gian có tác động lớn trong việc áp dụng gặt lúa bằng máy của nông dân. Vì vậy,  
việc hình thành nhóm nông dân sẽ có tác động tích cực hơn trong việc áp dụng gặt máy. Trình  
độ văn hoá nông dân càng cao càng tăng áp dụng gặt máy. Giới ảnh hưởng đến việc áp dụng  
máy gặt. Phụ nữ là người quản lý đồng áng làm tăng gặt lúa bằng máy. Phỏng vấn nhóm nông  
dân cho thấy gặt máy làm giảm đau lưng của phụ nữ do khom lưng cắt lúa. Lợi nhuận từ lúa  
càng cao càng làm tăng việc gặt lúa bằng máy. Chúng ta giả thuyết rằng cơ giới hoá khâu gặt lúa  
cần có diện tích ruộng lớn. Tuy nhiên, ở mức độ nông hộ, nông dân có ruộng nhỏ cũng áp dụng  
gặt máy. Phỏng vấn nhóm nông dân cho thấy, ở Đồng bằng sông Cửu Long, máy gặt xếp dãy là  
phổ biến nên diện tích nhỏ dễ sắp xếp lao động để gom lúa dễ dàng hơn (bảng 6).  
Bảng 6. Phân tích xác định yếu tố tác động đến áp dụng gặt máy của nông dân  
Biến số  
Hệ số  
- 8,630  
7,499  
2,068  
0,024  
Giá trị T Giá trịxác suất (P)  
Hằng số  
0,000  
0,000  
4,999  
6,118  
- 2,932  
1,0000  
1,0000  
0,0000  
0,0000  
0,0034  
Hệ sinh thái (1 = nước tưới, 0 = nước trời)  
Tham dự tập huấn về máy gặt (1 = có, 0 = không)  
Kiến thức vềmáy gặt (%)  
Tiếp cận thông tin về gặt máy (1 = kênh công cộng, - 0,995  
0 = kênh trung gian)  
Diện tích gieo trồng (ha)  
- 0,271  
0,000  
- 3,155  
2,542  
0,0016  
0,0110  
0,0268  
Lợi nhuận từ lúa (1000 đồng/năm)  
Giới của người quản lý đồng ruộng (1 = nam, 0 = - 0,880  
nữ)  
- 2,215  
Trình độ văn hoá  
0,170  
3,264  
0,0011  
1,0000  
Năng suất (tấn/năm)  
- 0,109  
- 1,908  
Biến số phụ thuộc: Áp dụng gặt lúa bằng máy (1 = có, 0 = không).  
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ  
Sự áp dụng các TBKT của nông dân trồng lúa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn thấp.  
Yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tiếp nhận và áp dụng tiến bộ kỹ thuật liên quan đến điều  
kiện nông hộ là trình độ văn hoá, kiến thức hiểu biết và sự nhận thức về TBKT của nông dân.  
Các yếu tố ảnh hưởng khác ngoài điều kiện nông hộ gồm tham dự tập huấn, thông tin, hệ sinh  
thái và điều kiện môi trường đồng ruộng.  
Giải pháp tăng sự tiếp nhận và áp dụng TBKT của nông dân trồng lúa vùng Đồng bằng sông  
Cửu Long là cần nâng cao trình độ văn hoá, kiến thức, nhận thức của nông dân về TBKT. Việc  
cải thiện điều kiện đồng ruộng cần có nổ lực của cả cá thể và cộng đồng cùng với sự chỉ đạo  
của địa phương. Cần có chính sách cho nông dân vay lượng vốn và thời gian vay dài hơn hạn  
định để nông dân có điều kiện tích lũy vốn. Thúc đẩy hiệp hội quần chúng, đoàn thể trong hoạt  
động liên quan đến áp dụng TBKT. Xây dựng nhóm nông dân có cùng sở thích để cùng áp  
dụng TBKT có tính cộng đồng. Hoạt động liên kết giữa các ngành trong công tác khuyến nông  
và mối quan hệ bốn nhà chặt chẽ tăng cường áp dụng TBKT của nông dân.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Cruz, F. A. (1987), Adoption and diffusion of agricultural extensions, In An introduction to  
extension delivery systems by Valera, J. B., Martinez V. A., and Plopino R. F. (eds.),  
Island Publishing House, Manila, page. 97 - 127.  
Paris, T.R. (1988), Integrating the gender variablein farming system research, Paper presented  
during training course on “Gender Analysis in Farming System Research” organized at  
International Rice Research Institute from 1 - 15 November 1992.  
Rogers, E. M. (1983), Diffusion of innovations (3rd edition), The Free Press, A Division of  
Macmillan Publishing Co., Inc. New York, Collier Macmillan Publishers, London.  
Valera, J. B. and Plopino R. F. (1987), Philosophy and principle of extension, In An introduction  
to extension delivery systems by Valera, J. B., Martinez V. A. and Plopino R. F. (editors),  
Island Publishing House, Manila, page 51 - 61.  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 23680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự tiếp nhận và áp dụng tiến bộ kỹ thuật của nông dân sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long - Phân tích số liệu từ điều tra nông dân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfyeu_to_kinh_te_xa_hoi_anh_huong_den_su_tiep_nhan_va_ap_dung.pdf