Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường đại học Tiền Giang

170 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192  
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp  
của sinh viên trường đại học Tiền Giang  
A study of factors affecting Tien Giang university students’  
entrepreneurial intention  
Võ Văn Hiền1, Lê Hoàng Vân Trang1*  
1Trường Đại học Tiền Giang, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: l[email protected]u.vn  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
econ.vi.16.2.578.2021  
Mục đích của bài viết là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến  
ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Tiền Giang.  
Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991)  
kết hợp với các nghiên cứu liên quan để xây dựng mô hình nghiên  
cứu đề xuất gồm bảy nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp.  
Nghiên cứu định tính nhằm điều chỉnh mô hình và thang đo sơ  
bộ, hình thành mô hình và thang đo nghiên cứu chính thức.  
Nghiên cứu định lượng được tiến hành để kiểm định độ tin cậy  
thang đo và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý  
định khởi nghiệp thông qua phân tích hồi quy tuyến tính đa biến.  
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có năm nhân tố ảnh hưởng đến ý  
định khởi nghiệp của sinh viên, sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng  
giảm dần là: (1) đặc điểm tính cách, (2) giáo dục khởi nghiệp, (3)  
kinh nghiệm, (4) nhận thức kiểm soát hành vi và (5) quy chuẩn  
chủ quan. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị  
liên quan đến 5 nhân tố ảnh hưởng cũng được đưa ra nhằm nâng  
cao ý định khởi nghiệp của sinh viên nhà trường, đồng thời đề  
xuất hướng nghiên cứu cho tương lai.  
Ngày nhận: 09/07/2020  
Ngày nhận lại: 22/09/2020  
Duyệt đăng: 30/10/2020  
Từ khóa:  
ý định khởi nghiệp, kinh nghiệm,  
tính cách, sinh viên  
ABSTRACT  
The objective of this paper is to identify the factors affecting  
Tien Giang university students’ entrepreneurial intention. The  
study based on the theory of Planned Behavior (Ajzen, 1991) and  
previous relevant empirical studies to build a proposed research  
model which included seven factors influencing students’  
entrepreneurial intention. Qualitative research corrected the  
research model and preliminary research scale, and formed the  
official research model and scale. Quantitative research was used  
to test the reliability of the scale and measure the impact of factors  
on entrepreneurial intention through the multivariate linear  
regression analysis. Study results indicated that there were five  
factors being sorted by the level of diminishing influence: (1)  
personality traits, (2) entrepreneurship education, (3) experience,  
(4) perceived behavioral control and (5) subjective norm.  
Besides, the study also showed difference relevant to students'  
Keywords:  
entrepreneurial intention,  
experience, personality, students  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192 171  
entrepreneurial intention by gender. Based on the study  
outcomes, the paper was concluded by giving some managerial  
implications relevant to 5 influencing factors in order to increase  
students’ entrepreneurial intention in the considered area and  
proposing research directions for the future.  
1. Giới thiệu  
Thời gian qua, khởi nghiệp được xem là một trong những hoạt động có tầm ảnh hưởng  
nhất định đến sự phát triển của đất nước và là một giải pháp hữu hiệu cho tình trạng thất nghiệp  
đang ngày càng gia tăng. Nhiều chính sách khuyến khích khởi nghiệp đối với thanh niên đã được  
Chính phủ ban hành. Trong số đó, những đề án phát huy tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên luôn  
được chú trọng, mà điển hình là đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” (gọi  
tắt là Đề án 1665) được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành ngày 30/10/2017. Có thể  
nói, sinh viên với sự trẻ trung, năng động và nguồn ý tưởng khởi nghiệp đa dạng sẽ là những nhà  
khởi nghiệp tiềm năng sau này.  
Xét riêng trường Đại học Tiền Giang, bên cạnh sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực trình độ  
cao và mang đến cho người học cơ hội nghề nghiệp để thăng tiến, việc truyền cảm hứng khởi  
nghiệp và hình thành năng lực khởi nghiệp trong các thế hệ sinh viên cũng được nhà trường chú  
trọng. Trong năm 2019, trường đã phối hợp với Tập đoàn Trung Nguyên Legend khởi xướng  
chương trình “Hành trình từ trái tim - Hành trình lập chí vĩ đại - Khởi nghiệp kiến quốc”. Bên cạnh  
đó, bắt đầu từ năm 2012 đến nay, cuộc thi “Sinh viên khởi nghiệp” được tổ chức thường lệ hàng  
năm như một hình thức mà nhà trường góp phần tạo môi trường khích lệ khởi nghiệp chung trong  
xã hội.  
Tuy nhiên trong thực tế, các ý tưởng kinh doanh của sinh viên chỉ dừng lại ở mức ý tưởng.  
Hầu hết sinh viên chưa mạnh dạn thực hiện khởi nghiệp sau khi ra trường, kể cả sinh viên thuộc  
nhóm ngành kinh tế. Theo phòng công tác sinh viên và trung tâm khảo thí trường Đại học Tiền  
Giang (2019), số sinh viên khởi nghiệp kinh doanh hay tự tạo việc làm cho mình chỉ chiếm khoảng  
8.5%. Số liệu có được từ việc thực hiện khảo sát việc làm của 487 cựu sinh viên sau một năm ra  
trường (các sinh viên tốt nghiệp vào tháng 09/2018). Điều này chứng tỏ đã có sinh viên của trường  
khởi sự kinh doanh và tự tạo việc làm cho bản thân nhưng tỷ lệ vẫn còn rất thấp.  
Theo Krueger và Brazeal (1994), ý định cho khởi nghiệp chính là tiền đề cho hành vi khởi  
nghiệp. Điều này khẳng định việc nghiên cứu ý định khởi nghiệp là rất quan trọng và thể hiện nỗ  
lực khuyến khích các hoạt động tự kinh doanh. Thực chất, các bạn sinh viên muốn khởi nghiệp  
thành công thì phải có sự đầu tư tìm hiểu kỹ lưỡng ngay từ lúc ban đầu hình thành ý định. Nhiều  
nghiên cứu nước ngoài về các yếu tố ảnh hưởng ý định khởi nghiệp của sinh viên được thực hiện  
như các nghiên cứu của Ambad và Damit (2016); Suan, Ai, Raman, Loon, và Tanumihardja  
(2011); Zhang, Duysters, và Cloodt (2014) .... Việt Nam cũng có một số nghiên cứu cùng lĩnh vực  
nhưng chủ yếu đều thực hiện tại các trường đại học ở các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí  
Minh (TP. HCM) hay Cần Thơ, và hiện tại chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về ý định khởi  
nghiệp của sinh viên trường Đại học Tiền Giang. Ngoài ra, tuỳ theo đặc điểm của từng trường đại  
học cũng như hoàn cảnh từng địa phương mà các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của  
sinh viên cũng sẽ được tiếp cận theo những khía cạnh khác nhau. Với những lý do trên, việc triển  
khai thực hiện đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên  
trường Đại học Tiền Giang” là cần thiết. Kết quả nghiên cứu sẽ mang đến cho lãnh đạo nhà trường  
cái nhìn toàn diện về những yếu tố nào thật sự ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, từ  
đó đưa ra những định hướng hỗ trợ phù hợp, giúp sinh viên có được những kiến thức, kỹ năng và  
172 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192  
thái độ cần thiết làm hành trang khi khởi nghiệp sau này.  
Ngoài phần tóm tắt, giới thiệu và tài liệu tham khảo thì nội dung bài nghiên cứu bao gồm  
cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và thảo luận, kết luận và các hàm ý  
quản trị.  
2. Cơ sở lý thuyết  
2.1. Khởi nghiệp (Entrepreneurship)  
Các quan điểm về khởi nghiệp luôn khác nhau và định nghĩa khởi nghiệp không là duy  
nhất. MacMillan (1993) định nghĩa khởi nghiệp là việc cá nhân chấp nhận mọi rủi ro để tạo lập  
doanh nghiệp mới hoặc mở cửa hàng kinh doanh vì mục đích lợi nhuận và làm giàu. Hisrich và  
Drovensek (2002) cho rằng khởi nghiệp là quá trình tạo ra một cái gì đó mới mẻ, có giá trị bằng  
cách dành thời gian và nỗ lực cần thiết để đạt được sự độc lập về tiền tệ, trong đó có những rủi ro  
về tài chính, tâm linh và xã hội kèm theo. Theo Nga và Shamuganathan (2010), khởi nghiệp là sự  
theo đuổi các cơ hội làm giàu về mặt kinh tế thông qua các sáng kiến hay các ý tưởng mới của cá  
nhân trong môi trường hoạt động không chắc chắn với các nguồn lực hữu hình giới hạn.  
Trong nghiên cứu này, khởi nghiệp sẽ được hiểu là sự tạo dựng một công việc kinh doanh  
mới hay thành lập một doanh nghiệp mới thông qua những ý tưởng kinh doanh sáng tạo, nhận diện  
và tận dụng được các cơ hội để đạt được sự hài lòng trong việc kinh doanh của chính mình (Koe,  
Sa’ari, Majid, & Ismail, 2012). Quan điểm này dễ hiểu và có sự tương đồng với các quan điểm về  
khởi nghiệp trước đó.  
2.2. Ý định khởi nghiệp (Entrepreneurial Intention)  
Bird (1988) quan niệm ý định khởi nghiệp của một cá nhân là trạng thái tâm trí, trong đó  
hướng đến việc hình thành một hoạt động kinh doanh mới hay tạo lập một doanh nghiệp mới. Ý  
định khởi nghiệp cũng được định nghĩa là ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp  
(Souitaris, Zerbinati, & Al-Laham, 2007). Kuckertz và Wagner (2010) khẳng định ý định khởi  
nghiệp bắt nguồn từ việc nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường  
để tạo lập doanh nghiệp. Zain, Akram, và Ghani (2010) cho rằng ý định khởi nghiệp thường liên  
quan đến nội tâm, hoài bão và cảm giác của cá nhân đối với việc “đứng trên đôi chân của mình”.  
Nghiên cứu của Dohse và Walter (2012) đã đưa ra một khái niệm súc tích và gần gũi hơn  
so với các nghiên cứu trước về ý định khởi nghiệp, trong đó ý định khởi nghiệp là trạng thái của  
tâm trí trong việc sẵn sàng thực hiện tự kinh doanh, tự tạo việc làm hoặc thành lập doanh nghiệp  
mới. Ý định khởi nghiệp trong phạm vi nghiên cứu của bài báo này cũng được hiểu theo quan  
điểm của Dohse và Walter (2012).  
2.3. Lý thuyết về hành vi dự định của Ajzen (1991)  
Lý thuyết về hành vi dự định của Ajzen (1991) - Ajzen's Theory of Planned Behavior (TPB)  
- là một sự mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý (Theory of reasoned action) mà Ajzen đã từng  
đưa ra trước đó, nhằm khắc phục những hạn chế của mô hình ban đầu trong việc giải quyết kiểm  
soát hành vi. Lý thuyết này xác định ba tiền đề của ý định: thái độ đối với hành vi (attitude toward  
the behavior hay perceived attitude), các quy chuẩn chủ quan (subjective norm) và nhận thức kiểm  
soát hành vi (perceived behaviorial control).  
Thái độ đối với hành vi đề cập đến mức độ mà một người đánh giá về hành vi đang được  
nói đến là có lợi hay không có lợi. “Các quy chuẩn chủ quan” đề cập đến nhận thức của cá nhân  
về các áp lực xã hội có ảnh hưởng đến việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi. Thêm vào đó,  
Ajzen (1991) cũng cho rằng “thái độ đối với hành vi” và các “quy chuẩn chủ quan” phản ánh “nhận  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192 173  
thức mong muốn” của việc thực hiện hành vi. Còn “nhận thức kiểm soát hành vi” phản ánh nhận  
thức rằng hành vi này có thể kiểm soát được một cách cá nhân hay không. Nói cách khác, “nhận  
thức kiểm soát hành vi” đề cập đến nhận thức của cá nhân về sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc  
thực hiện hành vi. Đây là yếu tố được Ajzen (1991) xem là quan trọng trong mô hình hành vi dự  
định, đồng thời cho thấy điểm khác biệt so với thuyết hành động hợp lý trước đó.  
Mô hình của Ajzen (1991) được sử dụng khá phổ biến trong nhiều nghiên cứu liên quan  
đến ý định khởi nghiệp của cá nhân. Trong nghiên cứu này, các yếu tố trong mô hình của Ajzen  
(1991) cũng được sử dụng để xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp  
của sinh viên.  
2.4. Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của  
sinh viên  
2.4.1. Nghiên cứu nước ngoài  
Suan và cộng sự (2011) nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của 200 sinh viên đại học  
Malaysia. Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết sự kiện khởi nghiệp của Shapero và Sokol (1982) kết  
hợp một số yếu tố khác phù hợp với hoàn cảnh nghiên cứu để xây dựng mô hình nghiên cứu. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy, ngoại trừ “gia đình và bối cảnh cá nhân”, các yếu tố còn lại là đặc điểm  
tính cách, giáo dục, kinh nghiệm và nhận thức mong muốn đều thể hiện sự tác động tích cực đến  
ý định khởi nghiệp. Hạn chế của nghiên cứu là mẫu khảo sát nhỏ với 200 sinh viên và bỏ qua việc  
xem xét yếu tố thái độ đối với hành vi có ảnh hưởng thế nào đến ý định khởi nghiệp.  
Nghiên cứu của Liñán, Rodríguez-Cohard, và Rueda-Cantuche (2011) tại trường đại học  
Pablo Olavide và Seville (Tây Ban Nha) xác định giáo dục khởi nghiệp, thái độ cá nhân, quy chuẩn  
xã hội và nhận thức tính khả thi đều có sự tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.  
Nghiên cứu có hạn chế là chỉ khảo sát trên đối tượng sinh viên thuộc các chuyên ngành kinh tế  
(kinh doanh và kinh tế học) mà bỏ qua sinh viên các nhóm ngành văn hóa hay xã hội.  
Còn kết quả nghiên cứu của Zhang và cộng sự (2014) tại 10 trường đại học ở Trung Quốc  
thể hiện ngoài yếu tố “nhận thức tính khả thi” không có sự ảnh hưởng thì ba yếu tố còn lại là nhận  
thức mong muốn, kinh nghiệm và giáo dục khởi nghiệp đều có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi  
nghiệp. Hạn chế của nghiên cứu là chỉ thực hiện khảo sát đối với sinh viên đại học mà bỏ qua các  
đối tượng khác (chẳng hạn sinh viên cao đẳng, học sinh trung cấp).  
Cùng lĩnh vực, nghiên cứu của Sabah (2016) được thực hiện thông qua khảo sát 528 sinh  
viên năm ba và năm tư ngành Quản trị kinh doanh (232 nam và 296 nữ) đến từ ba thành phố của  
Thổ Nhĩ Kỳ: Istanbul, Ankara và İzmir. Lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) được sử dụng để  
xây dựng mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu thể hiện các yếu tố trong mô hình đều có ảnh  
hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, gồm thái độ đối với hành vi, nhận thức kiểm  
soát hành vi và quy chuẩn chủ quan.  
Còn Ambad và Damit (2016) thực hiện nghiên cứu về các nhân tố tác động đến ý định khởi  
nghiệp của sinh viên tại Malaysia thông qua khảo sát 351 sinh viên đại học đến từ trường Đại học  
cộng đồng Malaysia. Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba nhân tố có sự ảnh hưởng đến ý định khởi  
nghiệp của sinh viên là thái độ cá nhân (ảnh hưởng mạnh nhất), quy chuẩn chủ quan và nhận thức  
kiểm soát hành vi.  
2.4.2. Nghiên cứu trong nước  
Hoang và Bui (2013) đã thực hiện nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của nữ học viên đang  
theo học chuyên ngành MBA tại TP. HCM. Kết quả nghiên cứu thể hiện các yếu tố như nguồn  
174 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192  
vốn, đặc điểm cá nhân, hỗ trợ từ gia đình đều có sự ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp.  
Hạn chế của nghiên cứu là chỉ thực hiện khảo sát tại TP. HCM ở ba trường đại học mà bỏ qua  
khảo sát các nữ học viên MBA tại các trung tâm đào tạo bên ngoài khác (quốc tế, đào tạo ngắn  
hạn…).  
Phan và Giang (2015) xây dựng mô hình ý định khởi nghiệp của sinh viên khoa kinh tế và  
Quản trị kinh doanh (QTKD) trường Đại học Cần Thơ với các yếu tố tác động gồm: thái độ, quy  
chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, giáo dục và nguồn vốn. Tuy nhiên mô hình nghiên  
cứu đã bỏ qua một số nhân tố khác, chẳng hạn như đặc điểm tính cách và kinh nghiệm.  
Do (2016) nghiên cứu ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên QTKD tại trường Đại  
học Lao động – Xã hội, cơ sở TP. HCM. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả bốn yếu tố: tính cách cá  
nhân, giáo dục và đào tạo, kinh nghiệm và nguồn vốn đều ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi  
nghiệp của sinh viên. Hạn chế của nghiên cứu là bỏ qua sự tác động của một số yếu tố khác như  
thái độ hoặc nhận thức của sinh viên về khởi nghiệp kinh doanh và bỏ qua các sinh viên các ngành  
khác.  
Tóm lại, với những hạn chế đã có ở các nghiên cứu trước và sự khuyến khích thực hiện  
nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên ở nhiều vùng khác nhau do các nền văn hóa khác  
nhau thì sẽ cho kết quả nghiên cứu khác nhau (Sabah, 2016), nghiên cứu này là cần thiết thực hiện.  
Nghiên cứu thực hiện trên đối tượng khảo sát là sinh viên năm cuối bậc đại học và cao đẳng thuộc  
tất cả các ngành đang được đào tạo tại trường. Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa theo lý  
thuyết của Ajzen (1991), nhưng có bổ sung các yếu tố từ các nghiên cứu trước sao cho phù hợp.  
2.5. Giả thuyết về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp  
2.5.1. Thái độ đối với hành vi (Attitude toward the behavior)  
Ajzen (1991) định nghĩa thái độ đối với hành vi là nhận thức về nhu cầu cá nhân đối với  
việc thực hiện hành vi. Đây cũng là mức độ mà cá nhân đánh giá hành vi được thực hiện có lợi  
hay không có lợi. Trong nghiên cứu này, hành vi được đề cập là hành vi khởi nghiệp. Autio,  
Keeley, Klofsten, Parker, và Hay (2001) khi nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên tại  
một số trường đại học ở các nước Bắc Âu và Mỹ đã kết luận rằng thái độ đối với hành vi là yếu tố  
có tầm ảnh hưởng tích cực quan trọng thứ hai đối với ý định khởi nghiệp. Tương tự, nghiên cứu  
của Lüthje và Franke (2003) cũng cho rằng thái độ đối với hành vi có ảnh hưởng tích cực và mạnh  
mẽ lên ý định khởi nghiệp của sinh viên. Còn kết quả nghiên cứu của Liñán và Chen (2009) tại  
Tây Ban Nha và Đài Loan thể hiện sự tác động của thái độ đối với hành vi lên ý định khởi nghiệp  
là một sự tác động cùng chiều, trong đó, thái độ của sinh viên tại Tây Ban Nha có mức độ ảnh  
hưởng mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp. Từ các luận điểm trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết  
H1 như sau:  
Giả thuyết H1: Thái độ đối với hành vi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của  
sinh viên.  
2.5.2. Quy chuẩn chủ quan (Subjective norm)  
Quy chuẩn chủ quan được định nghĩa là các áp lực xã hội đến từ gia đình, bạn bè, người  
thân hay những người quan trọng đối với cá nhân…, áp lực này có thể là sự kỳ vọng, ủng hộ hoặc  
không ủng hộ thực hiện hành vi khởi nghiệp, từ đó dẫn đến việc cá nhân sẽ quyết định thực hiện  
hoặc không thực hiện hành vi sau này (Ajzen, 1991). Bird (1988) kết luận một cá nhân sẽ lựa chọn  
thực hiện hành vi theo cách mà họ cảm nhận rằng những người khác trong xã hội mong chờ họ.  
Nghiên cứu của Autio và cộng sự (2001) hay nghiên cứu của Gird và Bagraim (2008) đều thể hiện  
sự tác động tích cực của quy chuẩn chủ quan đến ý định khởi nghiệp, mặc dù mức độ ảnh hưởng  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192 175  
không là mạnh mẽ nhất. Dựa vào các quan điểm trên, nghiên cứu đề xuất giải thuyết H2 như sau:  
Giả thuyết H2: Quy chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của  
sinh viên.  
2.5.3. Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived behavioral control)  
Theo Ajzen (1991), nhận thức kiểm soát hành vi được định nghĩa là quan niệm của cá nhân  
về sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi, có liên quan đến những kinh nghiệm  
trong quá khứ cũng như dự đoán những trở ngại trong tương lai. Trong một bài phân tích tổng hợp  
của 185 nghiên cứu thực nghiệm, Armitage và Conner (2001) đã kết luận, nhận thức kiểm soát  
hành vi trong lý thuyết hành vi dự định rất có hiệu quả đối với việc thúc đẩy cả về ý định lẫn hành  
vi khởi nghiệp của cá nhân. Khi thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa thuyết hành vi dự định,  
các yếu tố môi trường, các yếu tố nhân khẩu học với ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Kenya,  
Amos và Alex (2014) đã chỉ ra rằng nhận thức kiểm soát hành vi là yếu tố có ý nghĩa cũng như  
ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc. Trước đó, nghiên cứu của Gird và Bagraim (2008) cũng  
cho một kết quả tương tự về tác động dương của nhận thức kiểm soát hành vi lên ý định khởi  
nghiệp của sinh viên. Dựa trên các luận điểm này, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H3 như sau:  
Giả thuyết H3: Nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp  
của sinh viên.  
2.5.4. Giáo dục khởi nghiệp (Entrepreneurship education)  
Isaacs, Visser, Friedrich, và Brijlal (2007) định nghĩa “giáo dục khởi nghiệp” là sự can  
thiệp có mục đích của các nhà giáo dục trong việc truyền đạt những kiến thức cũng như kỹ năng  
cần thiết để người học có thể tồn tại được trong thế giới kinh doanh. Kuratko (2005) nhận định ý  
định khởi nghiệp sẽ trở nên mạnh mẽ hơn khi có sự tác động của hoạt động giảng dạy, đào tạo về  
khởi nghiệp tại trường đại học. Theo Turker và Selcuk (2009), nếu một trường đại học cung cấp  
đầy đủ kiến thức và nguồn cảm hứng cho sinh viên, đặc biệt là những kiến thức về khởi nghiệp thì  
ý định lựa chọn thực hiện khởi nghiệp sẽ tăng lên. Nghiên cứu của Wang và Wong (2004) cũng  
chỉ ra rằng giáo dục khởi nghiệp có sự ảnh hưởng tích cực đáng kể đến ý định tự kinh doanh. Từ  
những luận điểm này, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H4 như sau:  
Giả thuyết H4: Giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của  
sinh viên.  
2.5.5. Kinh nghiệm (Experience)  
Theo Obschonka, Silbereisen, và Schmitt-Rodermund (2010), kinh nghiệm trong nghiên  
cứu về khởi nghiệp được hiểu là những trải nghiệm trong việc làm của sinh viên (làm bán thời  
gian, hợp đồng…) có liên quan đến kinh doanh. T. T. Nguyen (2015) và Do (2016) bổ sung thêm  
kinh nghiệm còn là trải nghiệm với các vị trí quản lý mà sinh viên từng đảm nhiệm (chẳng hạn  
quản lý cấp lớp, cấp đoàn thể trong nhà trường, câu lạc bộ…). Như vậy, kinh nghiệm trong đề tài  
này sẽ được hiểu đồng thời theo quan điểm của các nghiên cứu trên. Devonish, Alleyne, Charles-  
Soverall, Young, Marshall, và Pounder (2010) đã đưa ra kết luận các kinh nghiệm liên quan đến  
kinh doanh, bán hàng của cá nhân có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của cá nhân  
đó sau này. Nghiên cứu của Suan và cộng sự (2011) tại Malaysia cho rằng kinh nghiệm của sinh  
viên có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp. Rasli, Khan, Malekifar, và Jabeen (2013) cũng  
cho một kết quả nghiên cứu tương tự về tầm ảnh hưởng của kinh nghiệm đến ý định khởi nghiệp.  
Dựa trên những luận điểm này, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H5 như sau:  
Giả thuyết H5: Kinh nghiệm có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.  
176 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192  
2.5.6. Đặc điểm tính cách (Personality traits)  
Theo Nga và Shamuganathan (2010), đặc điểm tính cách của một cá nhân được định nghĩa  
là mô thức thường xuyên của hành vi, suy nghĩ hay cảm xúc. Đây là những đặc điểm bền vững,  
giải thích cho sự khác biệt của hành vi trong những tình huống tương tự nhau. Kickul và Gundry  
(2002) khi nghiên cứu về đặc điểm tính cách đã đo lường yếu tố này với các biến quan sát liên  
quan đến sự đối mặt và vượt qua trở ngại, giỏi xác định cơ hội và thích được thử thách với hiện  
trạng. Trong đề tài này, đặc điểm tính cách sẽ được đo lường theo hướng tính cách chủ động dựa  
trên quan điểm của Kickul và Gundry (2002). Nghiên cứu của Suan và cộng sự (2011) khẳng định  
rằng có một sự ảnh hưởng tích cực mạnh mẽ của đặc điểm tính cách lên ý định khởi nghiệp. Còn  
Karabulut (2016) cũng đưa ra mối quan hệ cùng chiều về tác động của đặc điểm tính cách cá nhân  
đối với ý định khởi nghiệp. Như vậy, dựa vào những luận điểm trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết  
H6 như sau:  
Giả thuyết H6: Đặc điểm tính cách có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh  
viên.  
2.5.7. Nguồn vốn (Capital)  
Theo Mazzarol, Volery, Doss, và Thein (1999), nguồn vốn là một khía cạnh hay một đặc  
điểm kinh tế. Trong nghiên cứu ở đây, nguồn vốn được hiểu là tiền được sử dụng cho hoạt động  
khởi nghiệp. Nguồn vốn có thể đến từ sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè, từ sự vay mượn, từ sự tiết  
kiệm của cá nhân hoặc các nguồn hỗ trợ khác. Nghiên cứu của Mazzarol và cộng sự (1999) cho  
rằng nguồn vốn sẵn có (nằm trong nhóm yếu tố môi trường kinh tế) tác động dương đến ý định  
khởi nghiệp. Zain và cộng sự (2010) đã xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến ý định khởi  
nghiệp của sinh viên, trong đó có yếu tố về nguồn vốn, và kết quả thể hiện sự ảnh hưởng tích cực  
của nguồn vốn lên ý định khởi nghiệp. Từ những quan điểm trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết  
H7 như sau:  
Giả thuyết H7: Nguồn vốn có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.  
Thái độ đối với hành vi  
H1 (+)  
Quy chuẩn chủ quan  
H2 (+)  
Nhận thức kiểm soát hành vi  
H3 (+)  
Ý định khởi nghiệp  
H4 (+)  
Giáo dục khởi nghiệp  
H5 (+)  
Kinh nghiệm  
H6 (+)  
Đặc điểm tính cách  
H7 (+)  
Nguồn vốn  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192 177  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.  
3.1. Nghiên cứu định tính  
Thực hiện thảo luận nhóm và thảo luận tay đôi. Trong đó, đối tượng thảo luận là các sinh  
viên năm cuối ngành Quản Trị Kinh Doanh (QTKD), các giảng viên thuộc bộ môn QTKD làm  
việc tại trường (thảo luận nhóm) và cựu sinh viên của trường đã khởi nghiệp thành công (thảo luận  
tay đôi). Trong mỗi buổi thảo luận, ý kiến của các thành viên tham gia đều được ghi nhận đầy đủ  
làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh mô hình và thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp.  
Kết quả nghiên cứu định tính thể hiện các thành viên tham gia thảo luận đều thống nhất  
bảy yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Tiền Giang bao gồm:  
thái độ đối với hành vi, quy chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, giáo dục khởi nghiệp,  
kinh nghiệm, đặc điểm tính cách và nguồn vốn. Về thang đo, các thành viên tham gia thảo luận có  
góp ý điều chỉnh câu văn cho phù hợp; bổ sung ba biến trong mỗi thang đo của yếu tố quy chuẩn  
chủ quan, giáo dục khởi nghiệp và đặc điểm tính cách.  
3.2. Nghiên cứu định lượng  
3.2.1. Tổng thể nghiên cứu  
Là tất cả các sinh viên năm cuối (năm ba cao đẳng và năm tư đại học) đang học tại trường  
Đại học Tiền Giang. Theo số liệu thống kê từ phòng công tác sinh viên đến tháng 11/2019, trường  
Đại học Tiền Giang có 1,035 sinh viên năm cuối. Lý do chọn đối tượng này vì đây là nhóm sinh  
viên đã có một thời gian dài học tập tại trường, đã được tiếp cận với kiến thức chuyên ngành cũng  
như hiểu biết rõ về các hoạt động của nhà trường. Ngoài ra, nhóm sinh viên này đang trong giai  
đoạn lựa chọn nghề nghiệp hoặc bắt đầu nghĩ đến những định hướng nghề nghiệp tương lai.  
3.2.2. Kích thước mẫu  
Theo T. D. Nguyen (2011), kích thước mẫu cần cho nghiên cứu định lượng phụ thuộc vào  
nhiều yếu tố như phương pháp xử lý dữ liệu (hồi quy, phân tích nhân tố khám phá EFA) hay độ  
tin cậy cần thiết.  
T. D. Nguyen (2011) cho rằng để thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA, kích thước  
mẫu sẽ được tính bởi công thức : n = k*số biến quan sát (trong đó, k là tỷ lệ quan sát/biến quan  
sát, k thường là 5/1). Với số biến quan sát của mô hình nghiên cứu là 44 và hệ số k là 5/1 thì kích  
thước mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 220.  
Cũng theo T. D. Nguyen (2011), để thực hiện phân tích hồi quy bội, kích thước mẫu thường  
được tính theo công thức: n  50 + 8k (trong đó, k là số biến độc lập của mô hình). Với số biến  
độc lập của mô hình nghiên cứu là bảy thì kích thước mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 106.  
Như vậy, xét các yêu cầu của phân tích EFA cũng như phân tích hồi quy bội, đồng thời xét  
giới hạn về mặt thời gian, số quan sát của nghiên cứu là 280 sẽ phù hợp.  
3.2.3. Chọn mẫu  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất với kỹ thuật chọn mẫu định mức  
bởi sự thuận tiện về mặt thời gian và chi phí, trong đó chọn mẫu định mức sẽ thực hiện phân nhóm  
tổng thể theo hai thuộc tính kiểm soát là bậc đào tạo (cao đẳng và đại học) và khoa quản lý ngành  
đào tạo, rồi thực hiện chọn mẫu thuận tiện (khảo sát đối tượng có thể tiếp cận được).  
Cũng theo số liệu thống kê đến tháng 11/2019 của phòng công tác sinh viên, tỷ lệ sinh viên  
178 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192  
đại học là 58.76% và cao đẳng là 41.24%. Các khoa quản lý ngành đào tạo gồm: các ngành thuộc  
khoa Kinh tế - Luật (KT-L), các ngành thuộc khoa Kỹ Thuật và Công Nghệ Thông Tin (KT &  
CNTT), các ngành thuộc khoa Nông Nghiệp và Công Nghệ Thực Phẩm (NN & CNTP), các ngành  
thuộc khoa Sư Phạm và Xã Hội Nhân Văn (SP & XHNV), có tỷ lệ sinh viên lần lượt là 34.38%,  
18.48%, 23.97%, 23.17%. Như vậy, chọn mẫu định mức với 280 sinh viên phân bổ theo bậc đào  
tạo và khoa quản lý ngành sẽ có 08 kết hợp là 2bậc đào tạo * 4khoa quản lý ngành  
Bảng 1  
Bảng chọn mẫu định mức theo bậc đào tạo và khoa quản lý ngành đào tạo  
Khoa quản lý  
ngành đào tạo  
Số phần tử  
trong mẫu  
Kết hợp Bậc đào tạo  
Tỷ lệ trong mẫu (%)  
1
2
3
4
5
6
7
8
Đại học  
KT -L  
58.76%*34.38%=20.20%  
58.76%*18.48%=10.86%  
58.76%*23.97%=14.08%  
58.76%*23.17%=13.61%  
41.24%*34.38%=14.18%  
41.24%*18.48%=7.62%  
41.24%*23.97%=9.89%  
41.24%*23.17%=9.56%  
57  
31  
40  
39  
38  
22  
27  
26  
280  
Đại học  
KT & CNTT  
NN & CNTP  
SP & XHNV  
KT -L  
Đại học  
Đại học  
Cao đẳng  
Cao đẳng  
Cao đẳng  
Cao đẳng  
KT & CNTT  
NN & CNTP  
SP & XHNV  
Tổng số quan sát:  
Nguồn: công thức tính toán T. D. Nguyen (2011)  
3.2.4. Thu thập dữ liệu  
Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát. Thang đo Likert 5 mức độ, trong  
đó 1 = rất không đồng ý, 2 = không đồng ý, 3 = trung lập, 4 = đồng ý và 5 = rất đồng ý, được dùng  
để đo lường mức độ đồng ý của người được khảo sát cho từng phát biểu.  
3.2.5. Phân tích dữ liệu  
Dữ liệu sẽ được nhập, mã hoá, làm sạch và phân tích thông qua thống kê mô tả, kiểm định  
độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor  
Analysis) và hồi quy tuyến tính đa biến với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 22.0  
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
4.1. Kết quả nghiên cứu  
4.1.1. Thống kê mô tả mẫu khảo sát  
Tổng số phiếu phát ra là 280 phiếu. Sau khi kiểm tra, có 10 phiếu không hợp lệ do đối  
tượng khảo sát không trả lời đầy đủ các thông tin trong bảng câu hỏi hoặc với cùng một phát biểu  
nhưng chọn nhiều mức độ khác nhau. Như vậy, số phiếu còn lại hợp lệ được dùng để đưa vào phân  
tích là 270 phiếu.  
Bảng 2  
Thống kê mô tả mẫu khảo sát  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192 179  
Số lượng  
Chỉ tiêu thống kê  
Tỷ lệ (%)  
sinh viên  
129  
141  
270  
110  
160  
270  
93  
Nam  
47.78%  
52.22%  
100.00%  
40.74%  
59.26%  
100.00%  
34.44%  
18.90%  
23.70%  
22.96%  
100.00%  
48.52%  
51.48%  
100.00%  
Nữ  
Giới tính  
Tổng cộng  
Cao đẳng  
Đại học  
Bậc đào tạo  
Tổng cộng  
KT – L  
KT & CNTT  
NN & CNTP  
SP & XHNV  
Tổng cộng  
Có  
51  
64  
Khoa quản lý ngành đào tạo  
62  
270  
131  
139  
270  
Tình trạng tham gia các hoạt động  
liên quan đến khởi nghiệp  
Không  
Tổng cộng  
Nguồn: Kết quả xử lý SPSS 22.0  
4.1.2. Thống kê mô tả thang đo  
Bảng 3  
Thống kê mô tả các thang đo  
Mã biến  
Nội dung biến quan sát  
Trung bình Độ lệch chuẩn  
Thang đo “Thái độ đối với hành vi”  
Việc trở thành chủ doanh nghiệp đối với anh/chị có lợi  
hơn bất lợi  
TD1  
3.648  
0.835  
Chủ doanh nghiệp là một nghề rất hấp dẫn đối với  
anh/chị  
TD2  
TD3  
TD4  
3.911  
3.896  
3.719  
0.756  
0.802  
0.787  
Anh/chị sẽ rất hài lòng khi làm chủ doanh nghiệp  
Trong số các lựa chọn công việc khác nhau, anh/chị  
thích kinh doanh  
Thang đo “Quy chuẩn chủ quan”  
QC1  
QC2  
Gia đình luôn ủng hộ công việc của anh/chị  
3.930  
3.915  
0.789  
0.744  
Bạn bè luôn ủng hộ công việc của anh/chị  
Những người quan trọng khác đối với anh/chị luôn ủng  
hộ công việc của anh/chị  
QC3  
QC4  
3.837  
3.841  
0.739  
0.742  
Anh/chị biết nhiều doanh nhân thành công  
180 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192  
Mã biến  
QC5  
Nội dung biến quan sát  
Trung bình Độ lệch chuẩn  
Anh/chị rất ngưỡng mộ những doanh nhân thành công  
Anh/chị thường nghiên cứu các doanh nhân thành công  
3.881  
3.567  
0.791  
0.772  
QC6  
Thang đo “Nhận thức kiểm soát hành vi”  
KS1  
KS2  
Anh/chị nhận thấy thật dễ dàng để bắt đầu kinh doanh  
Anh/chị biết cách để phát triển một dự án kinh doanh  
2.359  
2.859  
0.732  
0.702  
Anh/chị biết cụ thể những việc cần làm để tiến hành  
kinh doanh  
KS3  
KS4  
KS5  
2.944  
2.930  
3.756  
0.762  
0.731  
0.761  
Anh/chị có thể kiểm soát được quá trình hoạt động của  
một doanh nghiệp mới  
Nếu anh/chị cố gắng, anh/chị sẽ thành công trong việc  
kinh doanh  
Thang đo “Giáo dục khởi nghiệp”  
Tại trường đại học, anh/chị được cung cấp những kiến  
thức cần thiết về kinh doanh  
GD1  
GD2  
GD3  
GD4  
3.759  
3.800  
3.815  
3.841  
0.919  
0.865  
0.898  
0.945  
Tại trường đại học, anh/chị được cung cấp những kỹ  
năng cần thiết về kinh doanh  
Tại trường đại học, anh/chị được khuyến khích phát  
triển những ý tưởng kinh doanh sáng tạo  
Tại trường đại học, anh/chị được khuyến khích tham  
gia cuộc thi “Sinh viên khởi nghiệp”  
Tại trường đại học, anh/chị được khuyến khích tham  
gia các lớp tập huấn “Khởi sự kinh doanh”  
GD5  
GD6  
3.781  
3.652  
0.900  
0.947  
Anh/chị thường tự học để có kiến thức kinh doanh  
Thang đo “Kinh nghiệm”  
Anh/chị đã từng làm công việc liên quan đến kinh  
KN1  
KN2  
KN3  
KN4  
KN5  
3.463  
3.333  
2.722  
3.026  
3.459  
1.033  
1.144  
0.953  
0.981  
0.962  
doanh  
Anh/chị đã từng tham gia công tác quản lý (cán bộ lớp,  
cán bộ Đoàn,…)  
Anh/chị đã từng là thành viên của câu lạc bộ kinh doanh  
trong hoặc ngoài nhà trường  
Anh/chị đã từng tham gia các hoạt động ngoại khóa tại  
các doanh nghiệp  
Anh/chị đã từng tham gia các buổi hội thảo về kinh  
doanh  
Thang đo “Đặc điểm tính cách”  
TC1 Anh/chị là người dám đối mặt với trở ngại  
3.752  
0.758  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192 181  
Mã biến  
TC2  
Nội dung biến quan sát  
Trung bình Độ lệch chuẩn  
Anh/chị là người dám vượt qua mọi trở ngại  
Anh/chị là người rất giỏi trong việc xác định các cơ hội  
3.696  
3.044  
0.754  
0.655  
TC3  
Anh/chị là người thích được thử thách với những nhiệm  
vụ khó khăn  
TC4  
3.619  
0.705  
TC5  
TC6  
TC7  
Anh/chị là người dám chấp nhận rủi ro  
Anh/chị là người có tính sáng tạo  
Anh/chị là người thích tự lập  
3.511  
3.656  
3.604  
0.750  
0.729  
0.773  
Thang đo “Nguồn vốn”  
NV1  
NV2  
Anh/chị có thể vay, mượn tiền từ gia đình và bạn bè  
3.685  
3.815  
0.991  
0.898  
Anh/chị có thể vay tiền từ các tổ chức tài chính (như  
ngân hàng, quỹ tín dụng)  
Anh/chị có thể tích lũy vốn từ việc làm thêm hoặc tiết  
kiệm  
NV3  
3.652  
0.852  
Địa phương anh/chị có các chính sách hỗ trợ vốn cho  
thanh niên  
NV4  
NV5  
3.796  
3.678  
0.900  
0.769  
Anh/chị dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn  
Thang đo “Ý định khởi nghiệp”  
YD1  
YD2  
Mục tiêu nghề nghiệp của anh/chị là khởi sự kinh doanh  
3.452  
3.507  
0.778  
0.826  
Anh/chị có mong muốn mạnh mẽ để khởi sự kinh doanh  
trong tương lai  
Anh/chị muốn là người chủ doanh nghiệp hơn là nhân  
viên  
YD3  
YD4  
3.593  
3.681  
0.843  
0.777  
Anh/chị có sự suy nghĩ nghiêm túc về việc khởi sự kinh  
doanh sau này  
Anh/chị sẵn sàng làm mọi việc cần thiết để khởi sự kinh  
doanh  
YD5  
YD6  
3.537  
3.548  
0.793  
0.838  
Nếu có cơ hội, anh/chị sẽ khởi sự kinh doanh  
Nguồn: Kết quả xử lý SPSS 22.0  
4.1.3. Kiểm định độ tin cậy của thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha  
Theo T. D. Nguyen (2011), một thang đo có thể chấp nhận được về mặt độ tin cậy nếu  
Cronbach Alpha 0.6 và hệ số tương quan biến - tổng của biến quan sát lớn hơn 0.4. Về lý thuyết,  
hệ số Cronbach’s Alpha càng lớn thì thang đo có độ tin cậy càng cao. Tuy nhiên, nếu hệ số này  
quá lớn (>0.95) thì lại cho thấy nhiều biến trong thang đo không có khác biệt nhau. Còn theo  
Hoang và Chu (2008), nếu hệ số Cronbach Alpha từ 0.6 trở lên là có thể sử dụng được. Vậy, để  
kiểm định chất lượng thang đo, nghiên cứu sử dụng Cronbach’s Alpha 0.6 và hệ số tương quan  
biến - tổng > 0.4.  
182 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192  
Nghiên cứu đã tiến hành thực hiện phân tích độ tin cậy của thang đo 02 lần. Sau khi thực  
hiện phân tích độ tin cậy thang đo lần 01, các biến quan sát QC6, KS5, KN5, TC3, TC6 và NV5  
đều bị loại do có hệ số tương quan biến – tổng nhỏ hơn 0.4. Sau thực hiện phân tích độ tin cậy  
thang đo lần 02, các thang đo đều đạt yêu cầu về độ tin cậy để tiếp tục thực hiện phân tích nhân tố  
khám phá EFA.  
Bảng 4  
Bảng Cronbach’s Alpha thang đo các biến (lần 02)  
Trung bình thang đo Hệ số tương quan Hệ số Cronbach's  
Mã biến  
nếu loại biến  
biến-tổng  
Alpha nếu loại biến  
Thang đo “Thái độ đối với hành vi” - Hệ số Cronbach's Alpha: 0.788  
TD1  
TD2  
TD3  
TD4  
11.526  
11.263  
11.278  
11.456  
0.591  
0.595  
0.586  
0.586  
0.730  
0.728  
0.732  
0.732  
Thang đo “Quy chuẩn chủ quan” - Hệ số Cronbach's Alpha: 0.905  
QC1  
QC2  
QC3  
QC4  
QC5  
15.474  
15.489  
15.567  
15.563  
15.522  
6.503  
7.136  
7.228  
6.901  
6.637  
0.838  
0.707  
0.687  
0.782  
0.795  
Thang đo “Nhận thức kiểm soát hành vi” - Hệ số Cronbach's Alpha: 0.781  
KS1  
KS2  
KS3  
KS4  
8.733  
8.233  
8.148  
8.163  
3.445  
3.109  
2.840  
3.103  
0.440  
0.636  
0.684  
0.598  
Thang đo “Giáo dục khởi nghiệp” - Hệ số Cronbach's Alpha: 0.910  
GD1  
GD2  
GD3  
GD4  
GD5  
GD6  
18.889  
18.848  
18.833  
18.807  
18.867  
18.996  
0.855  
0.699  
0.753  
0.739  
0.630  
0.820  
0.878  
0.901  
0.893  
0.895  
0.910  
0.883  
Thang đo “Kinh nghiệm” - Hệ số Cronbach's Alpha: 0.674  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192 183  
Trung bình thang đo Hệ số tương quan Hệ số Cronbach's  
Mã biến  
nếu loại biến  
9.081  
biến-tổng  
5.547  
Alpha nếu loại biến  
KN1  
KN2  
0.406  
0.484  
9.211  
4.844  
KN3  
KN4  
9.822  
9.519  
5.292  
5.745  
0.546  
0.401  
Thang đo “Đặc điểm tính cách” - Hệ số Cronbach's Alpha: 0.891  
TC1  
TC2  
TC4  
TC5  
TC7  
14.430  
14.485  
14.563  
14.670  
14.578  
6.268  
6.258  
6.894  
6.341  
6.260  
0.764  
0.772  
0.635  
0.751  
0.746  
Thang đo “Nguồn vốn” - Hệ số Cronbach's Alpha: 0.828  
NV1  
NV2  
NV3  
NV4  
11.263  
11.133  
11.296  
11.152  
4.849  
5.320  
5.473  
5.237  
0.675  
0.640  
0.647  
0.663  
Thang đo “Ý định khởi nghiệp” - Hệ số Cronbach's Alpha: 0.828  
YD1  
YD2  
YD3  
YD4  
YD5  
17.867  
17.811  
17.726  
17.637  
17.781  
17.770  
0.550  
0.490  
0.729  
0.513  
0.587  
0.724  
0.810  
0.823  
0.772  
0.818  
0.803  
0.773  
YD6  
Nguồn: Kết quả xử lý SPSS 22.0  
4.1.4. Phân tích nhân tố khám phá – EFA  
a. Phân tích EFA các biến độc lập  
Hệ số KMO = 0.764 > 0.5, đồng thời căn cứ vào kiểm định Bartlett với Sig.= 0.00 < 0.05  
(mức ý nghĩa 5%), các biến quan sát có tương quan với nhau. Đại lượng Eigenvalue của nhân tố  
thứ 07 là 1.243 > 1, nghiên cứu xác định có bảy nhân tố được trích ra từ dữ liệu khảo sát với tổng  
phương sai trích (cumulative %) là 68.925% > 50%.  
Ma trận xoay nhân tố (Rolated Component Matrix) với phép xoay Varimax xác định cụ thể  
bảy nhóm nhân tố như sau:  
Bảng 5  
Bảng ma trận xoay nhân tố các biến độc lập (EFA lần 02)  
184 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192  
Nhân tố  
1
2
3
4
5
6
7
GD1  
GD6  
GD3  
GD4  
GD2  
GD5  
QC1  
QC5  
QC4  
QC2  
QC3  
TC2  
TC1  
TC5  
TC4  
TC7  
NV4  
NV1  
NV3  
NV2  
TD3  
TD4  
TD2  
TD1  
KS3  
KS2  
KS4  
KN2  
KN3  
KN1  
0.904  
0.882  
0.828  
0.823  
0.795  
0.736  
0.908  
0.885  
0.830  
0.753  
0.701  
0.881  
0.872  
0.701  
0.686  
0.678  
0.826  
0.824  
0.798  
0.797  
0.756  
0.729  
0.712  
0.683  
0.855  
0.838  
0.755  
0.802  
0.694  
0.678  
Nguồn: Kết quả xử lý SPSS 22.0  
- Nhân tố 1: bao gồm các biến quan sát GD1, GD2, GD3, GD4, GD5, GD6. Nhân tố này  
được đặt tên là “Giáo dục khởi nghiệp” (ký hiệu GD).  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192 185  
- Nhân tố 2: bao gồm các biến quan sát QC1, QC2, QC3, QC4, QC5. Nhân tố này được  
đặt tên là “Quy chuẩn chủ quan” (ký hiệu QC).  
- Nhân tố 3: bao gồm các biến quan sát TC1, TC2, TC4, TC5, TC7. Nhân tố này được đặt  
tên là “Đặc điểm tính cách” (ký hiệu TC).  
- Nhân tố 4: bao gồm các biến quan sát NV1, NV2, NV3, NV4. Nhân tố này được đặt tên  
là “Nguồn vốn” (ký hiệu NV).  
- Nhân tố 5: bao gồm các biến quan sát TD1, TD2, TD3, TD4. Nhân tố này được đặt tên  
là “Thái độ đối với hành vi” (ký hiệu TD).  
- Nhân tố 6: bao gồm các biến quan sát KS2, KS3, KS4. Nhân tố này được đặt tên là “Nhận  
thức kiểm soát hành vi” (ký hiệu KS).  
- Nhân tố 7: bao gồm các biến quan sát KN1, KN2, KN3. Nhân tố này được đặt tên là  
“Kinh nghiệm” (ký hiệu KN).  
b. Phân tích EFA biến phụ thuộc  
Hệ số KMO = 0.730 > 0.5, kiểm định Bartlett với Sig. = 0.000 < 0.05 (mức ý nghĩa 5%),  
các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể.  
Đại lượng Eigenvalue của nhân tố thứ nhất là 3.255 > 1 cho thấy sự hội tụ của phép phân  
tích dừng ở nhân tố thứ nhất, tổng phương sai trích (cumulative %) là 54.254% > 50%, hệ số tải  
nhân tố đều lớn hơn 0.5. Như vậy, kết quả phân tích EFA biến phụ thuộc thể hiện có một nhân tố  
được rút trích từ sáu biến quan sát của thang do ý định khởi nghiệp, và nhân tố này giải thích đến  
54.254% sự biến thiên của bộ dữ liệu.  
Từ kiểm định KMO và Bartlett, phân tích EFA trong nghiên cứu này là phù hợp.  
Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến  
Phân tích tương quan  
Bảng 6  
Ma trận hệ số tương quan Pearson  
YD  
TD  
QC  
KS  
GD  
KN  
TC  
NV  
1.000  
YD  
TD  
QC  
KS  
GD  
KN  
TC  
NV  
0.393**  
0.378**  
0.394**  
0.255**  
0.501**  
0.582**  
0.024  
1.000  
0.451**  
0.209**  
-0.001  
0.185** 0.186**  
0.520** 0.414**  
1.000  
0.110  
-0.032  
1.000  
-0.084  
0.314  
0.287  
-0.015  
1.000  
0.038  
-0.015 0.351**  
1.000  
1.000  
0.034  
0.020  
-0.068  
0.074 -0.010  
1.000  
Nguồn: Kết quả xử lý SPSS 22.0  
Theo kết quả từ Bảng 6, các biến độc lập đều có tương quan với biến phụ thuộc, còn hệ số  
tương quan giữa các biến độc lập là rất thấp nên không phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến. Tuy  
186 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192  
nhiên, việc kiểm tra đa cộng tuyến khi phân tích hồi quy vẫn được thực hiện để đảm bảo độ tin cậy  
cho kết quả nghiên cứu.  
Kiểm định sự phù hợp của mô hình  
Bảng 7  
Bảng tóm tắt mô hình  
Thống kê thay đổi  
Sai số  
R2 hiệu  
chỉnh  
Durbin  
Watson  
R
R2  
chuẩn ước  
lượng  
R2 thay F thay  
Sig. F thay  
df1 df2  
262  
đổi  
đổi  
đổi  
.750a  
0.398  
0.563  
48.136  
7
0.000  
1.806  
0.563 0.551  
Nguồn: Kết quả xử lý SPSS 22.0  
R2 hiệu chỉnh = 0.551, có nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính đa biến đã xây dựng phù hợp  
với tập dữ liệu đến 55.1%. Ngoài ra, giá trị Sig. = 0.000 < 0.05 (mức ý nghĩa 5%), cho thấy mô  
hình có ý nghĩa thống kê chung với bảy biến độc lập.  
Phương trình hồi quy tuyến tính đa biến  
Bảng 8  
Bảng hệ số hồi quy  
Hệ số  
Hệ số  
Thống kê hiện  
chuẩn hóa  
tượng cộng tuyến  
chưa chuẩn hóa  
T
Sig.  
B
Sai số chuẩn  
Beta  
Dung sai  
VIF  
-0.397  
0.054  
0.135  
0.199  
0.213  
0.198  
0.326  
0.006  
0.266  
0.048  
0.043  
0.043  
0.032  
0.034  
0.049  
0.033  
-1.494  
1.117  
3.101  
4.676  
6.602  
5.914  
6.596  
0.169  
0.136  
0.265  
0.002  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.866  
(Hằng số)  
TD  
0.056  
0.147  
0.207  
0.272  
0.267  
0.343  
0.007  
0.657  
0.741  
0.850  
0.982  
0.819  
0.618  
0.984  
1.522  
1.349  
1.177  
1.019  
1.220  
1.619  
1.016  
QC  
KS  
GD  
KN  
TC  
NV  
Nguồn: Kết quả xử lý SPSS 22.0  
Theo kết quả từ Bảng 8, “Nguồn Vốn” (NV) và “Thái Độ đối với hành vi” (TD) không có  
ý nghĩa thống kê với giá trị Sig. lần lượt là = 0.866 và 0.265 > 0.05 (mức ý nghĩa 5%), giả thuyết  
H1 và H7 không được chấp nhận. Các biến độc lập còn lại đều có ý nghĩa thống kê do có giá trị  
Sig. = 0.000 < 0.05 nên chấp nhận các giả thuyết H2, H3, H4, H5 và H6.  
Kiểm định các giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính  
Phân phối của phần dư xấp xỉ chuẩn với Mean (trung bình) = 0 và Std. Dev (độ lệch chuẩn)  
= 0.986 (gần bằng 1). Như vậy, giả định phân phối chuẩn của phần dư không bị vi phạm.  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192 187  
Theo Hoang và Chu (2008), đại lượng Durbin-Watson (d) có giá trị biến thiên trong khoảng  
từ 0 đến 4. Nếu các phần dư không có tương quan chuỗi bậc nhất với nhau, giá trị d sẽ gần bằng  
2. Theo Bảng 7, đại lượng Durbin-Watson của mô hình hồi quy là 1.804. Như vậy, giả định về tính  
độc lập của sai số không bị vi phạm.  
VIF của mỗi biến độc lập đều nhỏ hơn 10. Như vậy, giả định không có mối tương quan  
giữa các biến độc lập không bị vi phạm, hay không có dấu hiệu đa cộng tuyến.  
Kiểm định sự khác biệt về ý định khởi nghiệp của sinh viên  
Theo giới tính: Kiểm định Levene có giá trị Sig. = 0.128 > 0.05, trong kiểm định T  
(T-test), giá trị Sig. = 0.000 < 0.05 (mức ý nghĩa 5%). Như vậy ý định khởi nghiệp giữa nam sinh  
viên và nữ sinh viên là khác nhau, trong đó sinh viên nam có ý định khởi nghiệp cao hơn sinh  
viên nữ.  
Theo bậc đào tạo: Kiểm định Levene có giá trị Sig. = 0.391 > 0.05, trong kiểm định T (T-  
test), giá trị Sig. = 0.267 > 0.05 (mức ý nghĩa 5%) nên không có sự khác biệt về ý định khởi nghiệp  
của sinh viên bậc cao đẳng và sinh viên bậc đại học tại trường.  
Theo tình trạng tham gia các hoạt động liên quan đến khởi nghiệp: Kiểm định Levene có  
giá trị Sig. = 0,981 > 0.05, trong kiểm định T (T-test), giá trị Sig. = 0.072 > 0.05 (mức ý nghĩa 5%)  
nên không có sự khác biệt về ý định khởi nghiệp giữa những sinh viên có tham gia và không có  
tham gia các hoạt động liên quan khởi nghiệp.  
4.2. Thảo luận  
Kết quả nghiên cứu cho thấy có năm nhân tố ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp  
của sinh viên tại trường Đại học Tiền Giang, được sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng giảm dần bao  
gồm: đặc điểm tính cách (β=0.343), giáo dục khởi nghiệp (β=0.272), kinh nghiệm (β=0.267), nhận  
thức kiểm soát hành vi (β=0.207) và quy chuẩn chủ quan (β=0.147). Không giống nhiều nghiên  
cứu trước (Ambad & Damit, 2016; Hoang & Bui, 2013; Phan & Giang, 2015; Sabah, 2016), nghiên  
cứu này kết luận “nguồn vốn” và “thái độ đối với hành vi” không có ý nghĩa thống kê.  
4.2.1. Đối với đặc điểm tính cách  
Đây là nhân tố có mức độ tác động mạnh nhất so với các nhân tố còn lại (β=0.343). Nhân  
tố này trong nghiên cứu được xem xét trên phương diện của tính cách chủ động, rất cần có ở người  
muốn khởi nghiệp kinh doanh. Kết quả phân tích hồi quy bội thể hiện đặc điểm tính cách có ảnh  
hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết H7 được chấp nhận. Nếu sinh viên của trường  
được trau dồi, rèn luyện để hình thành những đặc điểm tính cách chủ động như bản lĩnh dám đối  
mặt với trở ngại, tính tự lập, dám chấp nhận rủi ro,… thì ý định khởi nghiệp của sinh viên càng trở  
nên mạnh mẽ. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu trước đây của Suan và cộng sự (2011) hay  
nghiên cứu của Hoang và Bui (2013).  
4.2.2. Đối với giáo dục khởi nghiệp  
Đây là nhân tố có mức độ tác động mạnh thứ hai (β=0.272). Kết quả phân tích hồi quy bội  
thể hiện giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết H4 được  
chấp nhận. Điều này có nghĩa, nếu sinh viên càng nhận được nhiều sự giáo dục về khởi nghiệp tại  
trường đại học thì ý định khởi nghiệp của sinh viên cũng sẽ tăng lên. Kết quả này phù hợp với  
nghiên cứu trước đây của Suan và cộng sự (2011) hay Zhang và cộng sự (2014). Thực tế trong  
thời gian qua, nhà trường luôn quan tâm đến việc phát triển những ý tưởng kinh doanh sáng tạo  
trong sinh viên thông qua cuộc thi “Sinh viên khởi nghiệp” hay các lớp học ngắn hạn về lập kế  
hoạch kinh doanh. Giáo dục khởi nghiệp tại trường không chỉ trang bị kiến thức, kỹ năng kinh  
188 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192  
doanh cho sinh viên mà còn định hướng thái độ đúng đắn đối với khởi nghiệp.  
4.2.3. Đối với kinh nghiệm  
Đây là nhân tố có mức độ tác động mạnh thứ ba (β=0.267). Kết quả phân tích hồi quy bội  
thể hiện kinh nghiệm có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết H5 được chấp  
nhận. Như vậy, những sinh viên nào đã từng trải nghiệm với các hoạt động kinh doanh, bán hàng  
hoặc quản lý lớp, câu lạc bộ,… tại trường đại học thì ý định khởi nghiệp của sinh viên đó sẽ càng  
mạnh mẽ. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Suan và cộng sự (2011) hay Do (2016).  
Sự trải nghiệm đối với các hoạt động kinh doanh thực tiễn hay tham gia các chương trình thực tập  
sinh tại các công ty, doanh nghiệp… là rất quan trọng để giúp sinh viên biết được mình cần phải  
làm những gì khi lựa chọn con đường khởi nghiệp kinh doanh sau này.  
4.2.4. Đối với nhận thức kiểm soát hành vi  
Đây là nhân tố có mức độ tác động mạnh thứ tư (β=0.207). Kết quả phân tích hồi quy bội  
thể hiện nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết  
H3 được chấp nhận. Điều này có nghĩa, nếu nhận thức kiểm soát hành vi của sinh viên tăng thì ý  
định khởi nghiệp của sinh viên cũng tăng theo. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu trước đó  
của Ambad và Damit (2016), Sabah (2016) hay Phan và Giang (2015). Tuy nhiên, mức độ ảnh  
hưởng của nhận thức kiểm soát hành vi trong nghiên cứu này không được mạnh mẽ so với các  
nghiên cứu trước đó. Ngoài ra, nhiều sinh viên chưa biết cách phát triển một dự án kinh doanh  
thực tế cũng như cách thức kiểm soát quá trình hoạt động của một doanh nghiệp mới nên sự đánh  
giá của sinh viên nhà trường đối với nhân tố này không cao (trung bình đánh giá thang đo của nhân  
tố này là 2.970, thấp nhất trong các thang đo).  
4.2.5. Đối với quy chuẩn chủ quan  
Kết quả phân tích hồi quy bội thể hiện quy chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý  
định khởi nghiệp và giả thuyết H2 được chấp nhận. Điều này có nghĩa, nếu sinh viên nhận được  
nhiều sự ủng hộ từ gia đình, người thân, bạn bè hay những người quan trọng khác thì ý định khởi  
nghiệp của sinh viện cũng sẽ tăng lên. Đây là nhân tố có mức độ tác động yếu nhất trong các nhân  
tố (β=0.147). Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Ambad và Damit (2016), Sabah (2016),  
hay nghiên cứu của Phan và Giang (2015). Xét một đất nước với nền văn hóa Á Đông như Việt  
Nam thì suy nghĩ và hành động của cá nhân thường chịu tác động bởi ý kiến của những người  
xung quanh. Đặc biệt, sinh viên phần lớn là những người đã có thời gian dài sống với gia đình,  
phụ thuộc vào gia đình thì ý kiến cũng như quan điểm của gia đình có sự ảnh hưởng nhất định đến  
ý định khởi nghiệp của sinh viên sau này.  
4.2.6. Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo  
Nghiên cứu chỉ thực hiện khảo sát trên đối tượng là sinh viên năm cuối mà bỏ qua các đối  
tượng sinh viên năm nhất hay năm hai, năm ba. Các nghiên cứu trong tương lai cần mở rộng khảo  
sát thêm trên các đối tượng sinh viên này để có sự so sánh, đánh giá khách quan hơn về ý định khởi  
nghiệp. Bên cạnh đó, các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu chỉ giải thích được 55.1% sự biến  
thiên của biến phụ thuộc. Điều này có nghĩa mặc dù mô hình nghiên cứu là phù hợp nhưng vẫn còn  
44.9% thuộc về các nhân tố khác chưa được đề cập trong mô hình, chẳng hạn như chính sách địa  
phương. Các nghiên cứu tiếp theo cần xem xét thêm các nhân tố ảnh hưởng sao cho phù hợp.  
5. Kết luận và hàm ý quản trị  
5.1. Kết luận  
Nghiên cứu đã đạt được mục tiêu khi xác định năm nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2), 170-192 189  
nghiệp của sinh viên trường Đại học Tiền Giang thông qua phân tích dữ liệu của 270 phiếu khảo  
sát sinh viên năm cuối. Các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: đặc điểm tính cách, giáo dục khởi nghiệp,  
kinh nghiệm, nhận thức kiểm soát hành vi và quy chuẩn chủ quan. Cùng với nguồn vốn thì thái độ  
đối với hành vi – một trong ba yếu tố của thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991) – lại không có  
ý nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở lý luận cho các nghiên cứu khác cùng lĩnh vực  
được thực hiện sau này. Ngoài ra, nghiên cứu cũng có một ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối với  
nhà trường trong việc mang đến cái nhìn toàn diện, mới mẻ về ý định khởi nghiệp của sinh viên,  
từ đó đề ra những chính sách thích hợp nhằm phát huy hơn nữa tinh thần khởi nghiệp đúng đắn  
trong sinh viên thời gian tới.  
5.2. Hàm ý quản trị  
Một số hàm ý quản trị được đề xuất để nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên:  
5.2.1. Xét về đặc điểm tính cách  
Việc phát triển những đặc điểm tính cách chủ động cho sinh viên cần được chú trọng và  
tập trung vào các khía cạnh như bản lĩnh đối mặt với trở ngại, thích được thử thách và dám chấp  
nhận rủi ro. Các hoạt động ngoại khóa nên được nhà trường tổ chức mới hơn, không chỉ đơn thuần  
mang tính giải trí mà còn mang đến cho sinh viên cảm giác được thử thách chính mình. Bên cạnh  
những nỗ lực của nhà trường thì sự cố gắng rèn luyện và trau dồi của chính sinh viên là điều không  
thể thiếu. Sinh viên phải mạnh dạn tham gia nhiều phong trào, cọ xát thực tế thì mới có được bản  
lĩnh vượt qua mọi rào cản.  
5.2.2. Xét về giáo dục khởi nghiệp  
Các lớp tập huấn “khởi sự kinh doanh” phải hướng đến sinh viên nhiều ngành chứ không  
chỉ dành riêng cho sinh viên kinh tế. Và các lớp này cũng cần được đổi mới theo hướng gia tăng  
thời lượng kết hợp nâng cao chất lượng và có cấp chứng nhận, thay vì chỉ là các lớp ngắn hạn 03  
– 05 ngày như hiện nay. Ngoài ra, định hướng xây dựng riêng một chương trình đào tạo “Quản trị  
khởi nghiệp” cũng cần được nhà trường xem xét. Nhà trường phải xác định rõ giảng dạy khởi  
nghiệp không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm kinh doanh mà còn phải  
truyền được nhiệt huyết, sự yêu thích và đam mê.  
5.2.3. Xét về kinh nghiệm  
Nhà trường cần chú trọng hỗ trợ sinh viên nhiều hơn trong việc giới thiệu việc làm thêm  
cũng như quản lý việc làm thêm để sinh viên tích lũy kinh nghiệm. Sự phối hợp giữa nhà trường  
và doanh nghiệp là rất cần thiết nhằm xây dựng nhiều hơn các chương trình thực tập sinh, kiến tập  
kinh doanh tại các công ty, doanh nghiệp. Kế hoạch thành lập một câu lạc bộ khởi nghiệp cần được  
nhà trường xem xét. Đó sẽ là mái nhà chung cho những sinh viên yêu thích kinh doanh và muốn  
rèn luyện, phát triển bản thân với những kỹ năng, kiến thức kinh doanh hữu ích.  
5.2.4. Xét về nhận thức kiểm soát hành vi  
Nhận thức tích cực, đúng đắn về khả năng đối với khởi nghiệp rất quan trọng. Để có thể  
hỗ trợ sinh viên về vấn đề này thì định hướng giảng dạy dự án kinh doanh hay kế hoạch khởi  
nghiệp kinh doanh của nhà trường hiện tại cần thay đổi theo hướng thiết thực hơn khi mô phỏng  
một dự án thực tế và giảm lý thuyết. Riêng bản thân sinh viên cũng phải dành thời gian nghiên cứu  
thêm về các kiến thức kinh doanh liên quan, đặc biệt cập nhật những quy định mới của Nhà nước  
về việc thành lập doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp….  
5.2.5. Xét về quy chuẩn chủ quan  
Đây là yếu tố mang tính chất xã hội nên vai trò của các tổ chức đoàn thể rất quan trọng.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 23 trang baolam 21040 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường đại học Tiền Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cac_nhan_to_anh_huong_den_y_dinh_khoi_nghiep_cua.pdf