Policy for conservation and promotion of ethnic minority costumes in Ha Giang province results and solutions

VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
POLICY FOR CONSERVATION AND PROMOTION OF ETHNIC  
MINORITY COSTUMES IN HA GIANG PROVINCE  
RESULTS AND SOLUTIONS  
Bui Thi Bich Lana  
Pham Minh Phucb  
a Institute of Anthropology  
b Social Sciences Publishing House  
Received:  
Reviewed:  
Revised:  
Accepted:  
Released:  
13/8/2021  
26/9/2021  
09/10/2021  
05/11/2021  
30/11/2021  
DOI:  
n Ha Giang province, with the efforts and determination of the authorities at all levels and the people,  
I
the conservation and promotion of typical values in the traditional costumes of ethnic minorities have  
achieved remarkable results. Not only bringing aesthetic value, expressing ethnic culture, but in the new  
context, the costumes of some ethnic groups also have economic value, contributing to promoting tourism  
through image promotion, increasing attractiveness for destinations, creating goods and services for  
tourism and consumption,... However, there are many difficulties and challenges, such as limited funding  
for conservation; awareness of conservation work of people, officials and professional agencies is still  
formal; the influence of foreign cultures, of the market economy, etc. From there, it sets forth requirements  
for innovation in the formulation and implementation of policies and solutions to preserve and promote  
unique cultural values to this type of culture.  
Keywords: Policy; Costumes; Ethnic minority; Ha Giang Province.  
1. Đặt vấn đề  
cường năng lực bảo tồn, phát triển văn hóa các dân  
tộc, bài trừ hủ tục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu  
số”, trong đó đặt ra nhiệm vụ bảo tồn trang phục  
của các dân tộc thiểu số (DTTS) rất ít người. Đặc  
biệt là Quyết định số 209/QĐ-BVHTTDL ngày  
18/01/2019 phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát huy  
trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt  
Nam trong giai đoạn hiện nay”. Đề án được thực  
hiện trên phạm vi cả nước giai đoạn 2019 – 2030,  
kinh phí là 230 tỷ đồng, với những mục tiêu cụ thể:  
Hoàn thành 100% việc kiểm kê và lập danh mục di  
sản văn hóa phi vật thể về trang phục truyền thống  
của các DTTS; khôi phục trang phục truyền thống  
của 3 dân tộc đã mai một; đến năm 2022, 100%  
học sinh trường dân tộc nội trú các tỉnh, thành phố  
mặc trang phục truyền thống 2 buổi/tuần và các dịp  
lễ, Tết, hội; lập 10 hồ sơ di sản văn hóa phi vật  
thể về nghề thủ công truyền thống, nghệ thuật thêu  
hoa văn, trang trí hoa văn liên quan đến trang phục  
Xác định trang phục truyền thống là chỉ dấu  
bản sắc quan trọng trong văn hóa tộc người, đồng  
thời việc bảo tồn và phát huy giá trị của trang phục  
truyền thống chính là đáp ứng yêu cầu “di sản văn  
hóa vừa là động lực vừa là mục tiêu” góp phần phát  
triển bền vững văn hóa và kinh tế-xã hội, Đảng và  
Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính  
sách nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của các di sản  
văn hóa nói chung, trang phục các dân tộc nói riêng.  
Có thể kể đến một số Quyết định của Thủ tướng  
Chính phủ như: Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày  
06/5/2009 phê duyệt “Chiến lược phát triển văn hóa  
đến năm 2020”, Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày  
27/7/2011 phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn  
hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”,  
Quyết định số 3508/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng  
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 10/10/2013  
phê duyệt Dự án “Bảo tồn khẩn cấp và hỗ trợ, tăng  
Volume 10, Issue 4  
115  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
truyền thống các DTTS được đưa vào Danh mục di bảo tồn trang phục của các DTTS nói riêng đã được  
sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Bộ Văn hóa, Thể triển khai nhưng cách thức triển khai cũng như hiệu  
thao và Du lịch sẽ tổ chức liên hoan trình diễn trang quả của các chính sách này vẫn còn đặt ra nhiều  
phục các DTTS; ngày hội sắc màu văn hóa các dân vấn đề cần được quan tâm. Do vậy, việc nghiên cứu  
tộc; lễ hội văn hóa thổ cẩm Việt Nam; xây dựng sâu chính sách bảo tồn, phát huy trang phục của  
website giới thiệu các trang phục;... Đề án cũng các DTTS tỉnh Hà Giang là hết sức thiết thực nhằm  
hướng đến vinh danh các nghệ nhân ưu tú, nghệ nhìn nhận, đánh giá chính xác kết quả bảo tồn trên  
nhân dân gian về nghề thủ công liên quan đến trang thực tế, từ đó đề ra những giải pháp hữu hiệu cho  
phục truyền thống, xây dựng ngân hàng dữ liệu về việc bảo tồn, phát huy trang phục dân tộc gắn với  
trang phục, phục vụ cho công tác bảo tồn, nghiên phát triển du lịch.  
cứu khoa học, giảng dạy và quảng bá (Xuan, 2019).  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Với tinh thần coi văn hóa là động lực, mục tiêu  
của phát triển kinh tế-xã hội, dựa vào văn hóa để  
phát triển du lịch và phát triển du lịch để bảo tồn  
văn hóa, tỉnh Hà Giang đã chú trọng công tác bảo  
tồn và phát huy giá trị tiêu biểu trong trang phục  
truyền thống của các tộc người thiểu số trên địa bàn.  
Bài viết này góp phần làm rõ những thành công,  
hạn chế trong công tác này trên địa bàn tỉnh trong  
thời gian qua, từ đó đề xuất một vài chính sách, giải  
pháp nhằm bảo tồn và phát huy tốt hơn nữa các giá  
trị độc đáo của trang phục truyền thống ở các tộc  
người thiểu số.  
Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến  
hành khảo sát một số tộc người thiểu số ở tỉnh Hà  
Giang vào các năm 2019, 2020, cụ thể là: người Bố  
Y (thôn Quyết Tiến, xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ),  
người Dao (thôn Phìn Hồ, xã Thông Nguyên, huyện  
Hoàng Su Phì), người Mông (thôn Lùng Tám, xã  
Lùng Tám, huyện Quản Bạ), người Lô Lô (thôn  
Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn), người  
Pà Thẻn (thôn My Bắc, xã Tân Bắc, huyện Quang  
Bình),… Đây là những thôn bản đã và đang được  
đầu tư mô hình du lịch cộng đồng, mô hình du lịch  
làng nghề. Trang phục truyền thống của những cộng  
đồng ở các điểm khảo sát có tính độc đáo, thẩm  
mỹ cao, trong đó, trang phục của một số dân tộc  
đã và đang được đầu tư bảo tồn và phát triển thành  
sản phẩm du lịch. Với phương pháp điền dã dân tộc  
học làm chủ đạo, chúng tôi đã thực hiện các cuộc  
phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm với người dân ở các  
địa bàn nghiên cứu. Đối tượng phỏng vấn sâu (24  
người) đa dạng về độ tuổi, giới tính, trình độ văn  
hóa, điều kiện kinh tế,… 08 cuộc thảo luận nhóm  
đã được thực hiện với đối tượng chủ yếu là cán  
bộ thuộc các ban ngành địa phương và người dân  
địa phương. Nội dung thảo luận liên quan đến chủ  
đề như thực trạng và nhu cầu sử dụng trang phục  
truyền thống hiện nay; những thuận lợi, khó khăn  
cũng như những kiến nghị, đề xuất của người dân  
và chính quyền trong việc bảo tồn và phát huy trang  
phục truyền thống trong bối cảnh mới. Bên cạnh  
đó, phương pháp nghiên cứu tư liệu, phương pháp  
so sánh, phương pháp chuyên gia,... cũng được áp  
dụng trong bài viết này nhằm đem lại những kết quả  
nghiên cứu khách quan và khoa học.  
2. Tổng quan nghiên cứu  
Đề án “Bảo tồn, phát huy trang phục truyền  
thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn  
hiện nay” đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch  
cho ra đời, đã đưa ra mục tiêu tổng quát: “Bảo tồn và  
phát huy trang phục truyền thống của các DTTS đáp  
ứng yêu cầu “văn hóa vừa là động lực vừa là mục  
tiêu” góp phần cho sự phát triển bền vững văn hóa  
các DTTS Việt Nam”. (Hà Phương, Về đề án “Bảo  
tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc  
thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”: “Sống  
cùng với đồng bào mới thấy được giá trị của Đề  
Từ đây, các tỉnh, thành phố có đồng bào DTTS sinh  
sống đã có những Đề án bảo tồn trang phục dân tộc  
riêng, phù hợp với đặc thù của địa phương mình.  
Riêng ở tỉnh Hà Giang, Sở Văn hóa, Thể thao và  
Du lịch tỉnh đã phối hợp với các nhà nghiên cứu tại  
Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam cho  
ra mắt hơn 10 chuyên khảo về một số dân tộc ở Hà  
Giang như “Người Bố Y ở huyện Quản Bạ, tỉnh Hà  
Giang”, “Người Pà Thẻn ở huyện Quang Bình, tỉnh  
Hà Giang”, “Người Pu Péo ở huyện Đồng Văn, tỉnh  
Hà Giang”... trong đó có những khảo tả về nghề  
dệt vải, thêu dệt thổ cẩm và đặc trưng của trang  
phục truyền thống. Ở mỗi công trình, đặc trưng  
trong trang phục của mỗi dân tộc trên địa bàn tỉnh  
được mô tả chi tiết, từ khâu khai thác nguyên liệu,  
quy trình, kỹ thuật tạo dựng trang phục; giá trị, tính  
năng, hoàn cảnh sử dụng; giải thích rõ ý nghĩa các  
hoa văn, góp phần phục vụ cho công tác bảo tồn,  
nghiên cứu, giảng dạy và làm cơ sở để cải tiến mẫu  
mã trang phục sau này.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Chính sách, giải pháp và kết quả đạt được  
trong việc bảo tồn và phát huy những loại hình  
trang phục tiêu biểu ở tỉnh Hà Giang  
4.1.1. Một số chính sách, giải pháp đã ban hành  
Đối với tỉnh Hà Giang, trên cơ sở các văn bản chỉ  
đạo của Trung ương và tình hình thực tế địa phương,  
các cấp ủy đảng và chính quyền đã ban hành những  
chính sách quan trọng nhằm bảo tồn, phát huy giá trị  
của di sản văn hóa nói chung, trang phục nói riêng.  
Có thể kể đến Chương trình số 62-CTr/TU ngày  
29/3/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “Phát triển  
văn hóa gắn với du lịch giai đoạn 2013-2020”; Nghị  
Các công trình nghiên cứu cũng cho thấy rõ,  
không ít chính sách bảo tồn văn hóa nói chung và  
116  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
quyết số 02-NQ-TU ngày 06/1/2016 của Ban chấp biểu diễn trang phục truyền thống được đẩy mạnh  
hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI “về việc đưa kỹ năng  
sống và văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số  
vào giảng dạy trong các trường học trên địa bàn tỉnh  
Hà Giang”; Đề án số 09-ĐA/TU, ngày 21/7/2017 của  
Tỉnh ủy Hà Giang “về việc bảo tồn, khôi phục, phát  
huy giá trị văn hóa đặc trưng dân tộc Hmông trên địa  
bàn tỉnh Hà Giang”; Kế hoạch 46/KH-SVHTTDL  
ngày 25/7/2017 của Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch  
tỉnh Hà Giang về việc thực hiện Đề án “Bảo tồn, khôi  
phục phát huy giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc  
Hmông trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2017-  
2020, định hướng đến năm 2030”...  
Hoạt động sưu tầm, trưng bày trang phục truyền  
thống của các dân tộc được các huyện triển khai  
thực hiện trong trường học theo chủ trương của  
Nghị quyết 02-NQ/TU ngày 06/1/2016 của Ban  
chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI về việc đưa kỹ  
năng sống và văn hóa truyền thống các DTTS vào  
giảng dạy trong các trường học trên địa bàn tỉnh  
Hà Giang. Các nhà trường động viên các bậc phụ  
huynh may trang phục truyền thống cho học sinh;  
yêu cầu học sinh mặc trang phục truyền thống vào  
ngày đầu tuần, giúp giới trẻ làm quen với trang  
phục truyền thống của dân tộc mình và dân tộc bạn.  
Trên thực tế, tỉnh Hà Giang đã triển khai tổng  
kiểm kê và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật  
thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể  
quốc gia theo Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL  
ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du  
lịch. Qua đó, đã kiểm kê và lập hồ sơ khoa học di  
sản văn hóa phi vật thể liên quan đến trang phục  
truyền thống của các DTTS đã được Bộ Văn hóa,  
Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn  
hóa phi vật thể quốc gia1. Các di sản văn hóa sau khi  
được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể  
quốc gia đã được xây dựng dự án bảo tồn và phát  
huy giá trị, phục vụ cho mục tiêu phát triển du lịch  
tại địa phương.  
Bên cạnh đó, trang phục truyền thống của các  
DTTS còn được UBND tỉnh và các huyện chú trọng  
bảo tồn thông qua các việc xây dựng và triển khai  
các đề án, dự án về mô hình làng văn hóa du lịch  
cộng đồng gắn với xây dựng Nông thôn mới, bảo  
tồn thôn truyền thống và nhất là các dự án về bảo  
tồn nghề dệt thổ cẩm thủ công truyền thống. Trong  
đó, có thể kể đến Dự án bảo tồn làng văn hóa truyền  
thống Lô Lô Chải (xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn),  
Dự án bảo tồn thôn truyền thống dân tộc Bố Y (thôn  
Nậm Lương, xã Quyết Tiến, huyện Quản Bạ), Dự  
án bảo tồn thôn truyền thống dân tộc Pà Thẻn (thôn  
My Bắc, xã Tân Bắc, huyện Quang Bình),... Trong  
nội dung đầu tư, bảo tồn của các đề án, dự án này  
đều có nội dung liên quan đến bảo tồn trang phục  
truyền thống như bảo tồn nghề thêu của phụ nữ Lô  
Lô; đầu tư xây dựng nhà trưng bày sản phẩm và  
trình diễn nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân  
tộc Pà Thẻn; bảo tồn, khôi phục nghề dệt thổ cẩm  
của dân tộc Bố Y,...  
Hầu hết các huyện được khảo sát như Xín Mần,  
Bắc Quang, Hoàng Su Phì, Quản Bạ,... đều tổ chức  
các cuộc thi trình diễn trang phục dân tộc hoặc  
khuyến khích mặc trang phục truyền thống trong  
các lễ hội được tổ chức hàng năm gắn với các sự  
kiện văn hóa, chính trị, qua đó góp phần bảo tồn và  
phát huy giá trị của trang phục, đồng thời thúc đẩy  
phát triển du lịch địa phương.  
Ngoài ra, bằng nguồn kinh phí sự nghiệp, Sở  
Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh đã phối hợp với  
các nhà nghiên cứu tại Viện Văn hóa nghệ thuật  
Quốc gia Việt Nam cho ra mắt hơn 10 chuyên khảo  
về một số dân tộc ở Hà Giang như “Người Bố Y ở  
huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang”, “Người Pà Thẻn  
ở huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang”, “Người Pu  
Péo ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang”,... trong đó  
có những khảo tả về nghề dệt vải, thêu dệt thổ cẩm  
và đặc trưng của trang phục truyền thống (kết quả  
phỏng vấn chị Nguyễn Thị Lượng – chuyên viên Sở  
Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang). Ở mỗi  
công trình này, đặc trưng trong trang phục của mỗi  
dân tộc trên địa bàn tỉnh được mô tả chi tiết, từ khâu  
khai thác nguyên liệu, quy trình, kỹ thuật tạo dựng  
trang phục; giá trị, tính năng, hoàn cảnh sử dụng;  
giải thích rõ ý nghĩa các hoa văn, góp phần phục vụ  
cho công tác bảo tồn, nghiên cứu, giảng dạy và làm  
cơ sở để cải tiến mẫu mã trang phục sau này.  
* Các lớp truyền dạy được hình thành  
Nhằm nâng cao trình độ tay nghề cho người dân,  
phát triển đội ngũ kế thừa cũng như nâng cao chất  
lượng của sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường,  
tỉnh Hà Giang đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ-  
TU ngày 06/1/2016 của Ban chấp hành Đảng bộ  
tỉnh khóa XVI “về việc đưa kỹ năng sống và văn  
hóa truyền thống các DTTS vào giảng dạy trong  
các trường học trên địa bàn tỉnh Hà Giang”, chỉ đạo  
các cơ sở dạy nghề của các huyện phối hợp với các  
nghệ nhân mở lớp đào tạo. Dù nguồn kinh phí dành  
cho công tác bảo tồn văn hóa còn hạn hẹp, chưa đáp  
ứng nhu cầu thực tế, nhưng với mong muốn lưu giữ  
bản sắc văn hóa tộc người, các lớp truyền dạy kỹ  
4.1.2. Những kết quả đạt được  
Việc triển khai các chính sách trên đây đã giúp  
cho công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa  
độc đáo của các loại hình trang phục các DTTS tỉnh  
Hà Giang đạt được nhiều kết quả tích cực, đóng góp  
không nhỏ vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa tộc  
người và phát triển sinh kế, cụ thể là:  
* Hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày, thuật thêu, dệt thổ cẩm đã nhanh chóng được hình  
thành trên khắp địa bàn tỉnh. Các nghệ nhân nắm  
giữ kỹ năng, bí quyết vẫn nhiệt tình tham gia các  
1. Trong các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia có kỹ thuật  
trồng lanh và dệt vải lanh của người Mông, tỉnh Hà Giang.  
Volume 10, Issue 4  
117  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
lớp học để hướng dẫn, trao truyền cho thế hệ trẻ dù gia đình kinh doanh dịch vụ homestay đã chú ý  
chế độ đãi ngộ chưa thật thỏa đáng (kết quả thảo trưng bày trang phục truyền thống của các dân tộc;  
luận với lãnh đạo và cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao quy ước người dân tại các điểm du lịch cộng đồng,  
và Du lịch tỉnh Hà Giang).  
nhất là thành viên các hộ gia đình kinh doanh dịch  
vụ homestay thường xuyên mặc trang phục truyền  
thống khi đón tiếp khách,... đã hình thành. Các hộ  
gia đình tham gia kinh doanh dịch vụ homestay ở  
thôn Nậm Đăm (xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ) đã  
tuân thủ nghiêm túc quy định mặc trang phục truyền  
thống khi tiếp khách và có lẽ đó là một trong những  
lý do khiến nơi đây trở thành một “điểm sáng” về  
du lịch cộng đồng ở tỉnh Hà Giang hiện nay (kết quả  
khảo sát thực địa tại thôn Nậm Đăm, thôn Lô Lô  
Chải, thôn Quảng Hạ).  
Khảo sát thực địa cho thấy, nghề dệt vải chàm và  
tự may những bộ váy áo cổ truyền của phụ nữ Nùng  
ở xã Cốc Rế (huyện Xín Mần) hiện còn được giữ  
khá nguyên vẹn, một phần là nhờ hiệu ứng tích cực  
từ các lớp truyền dạy. Khắp thôn, bản, bên những  
nương ngô, bà con trồng cây chàm để nhuộm màu  
cho những thước vải dệt từ nguyên liệu tự nhiên.  
Tại các trường học trên địa bàn huyện, từ cấp tiểu  
học tới trung học phổ thông đều có những lớp dạy  
may, thêu thủ công truyền thống do nghệ nhân tại  
địa phương truyền dạy. Từ những lớp học này, niềm  
Gắn với chương trình xây dựng Nông thôn  
yêu thích văn hóa truyền thống được nuôi dưỡng, mới, các hợp tác xã dệt vải, may thêu trang phục  
trao truyền trong lớp trẻ.  
được hình thành và ngày càng thể hiện được vai trò  
trợ giúp cho các hộ, nhóm hộ tiến gần hơn với thị  
trường trong và ngoài nước; từ đó, góp phần bảo  
tồn trang phục truyền thống, thúc đẩy du lịch và  
phát triển kinh tế hộ gia đình. Tiêu biểu trong số  
đó có thể kể đến hợp tác xã dệt lanh Lùng Tám (xã  
Lùng Tám, huyện Quản Bạ), hợp tác xã thổ cẩm Lô  
Lô Chải (xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn) hay hợp  
tác xã thổ cẩm My Bắc (xã Tân Bắc, huyện Quang  
Bình),… Nỗ lực của người dân kết hợp với hỗ trợ  
của chính quyền các cấp và các tổ chức, hợp tác xã  
dệt lanh Lùng Tám đã tìm được chỗ đứng khá vững  
chắc ở cả thị trường trong nước và ngoài nước, đem  
lại nguồn thu nhập đáng kể so với sản xuất nông  
nghiệp cho các thành viên (trung bình từ 3-4 triệu  
đồng/tháng). Một trong những lý do mà khách hàng  
lựa chọn sản phẩm của hợp tác xã Lùng Tám là bởi  
nguồn nguyên liệu làm ra sản phẩm hoàn toàn từ tự  
nhiên. Nghề trồng lanh, dệt vải, vẽ hoa văn từ sáp  
ong,… vẫn được duy trì, khiến sản phẩm tạo ra sự  
khác biệt bởi sự thân thiện với môi trường. Còn với  
một số hợp tác xã khác, dù chưa tiếp cận được với  
thị trường nước ngoài nhưng trong không gian của  
homestay, sau khi tìm hiểu về nguyên liệu, quy trình  
và kỹ thuật làm nên bộ trang phục rực rỡ sắc đỏ của  
người Lô Lô, người Pà Thẻn, nhiều du khách đã đặt  
mua để làm kỷ niệm hoặc quà tặng, giúp các thành  
viên của hợp tác xã có thêm thu nhập ngoài nông  
nghiệp khoảng 1-2 triệu đồng mỗi tháng.  
Tương tự, theo báo cáo của Ủy ban nhân dân  
huyện Hoàng Su Phì, với mong muốn xây dựng và  
nhân rộng mô hình bảo tồn nghề thêu, dệt thổ cẩm  
của người Dao Đỏ gắn với bảo tồn, phát huy các  
giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, phát triển các  
sản phẩm phục vụ du lịch, tăng thu nhập cho người  
dân, năm 2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã  
phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh  
Hà Giang, Ủy ban nhân dân huyện Hoàng Su Phì tổ  
chức lớp bảo tồn thêu, dệt thổ cẩm của người Dao  
Đỏ gắn với phát triển các sản phẩm phục vụ du lịch  
tại nhà văn hóa cộng đồng các thôn bản, nhiều trang  
thiết bị, vật tư thêu, dệt được hỗ trợ. Chỉ riêng xã  
Thông Nguyên (huyện Hoàng Su Phì), hàng trăm  
lượt học viên người Dao Đỏ đã được truyền dạy  
nghề và một bộ phận người dân, nhất là lớp người  
cao tuổi tại đây đang có xu hướng quay lại sử dụng  
trang phục truyền thống của dân tộc mình (kết quả  
khảo sát thực địa tại xã Thông Nguyên).  
* Bảo tồn trang phục gắn với phát triển du lịch  
và đảm bảo sinh kế  
Theo đánh giá của du khách và các công ty lữ  
hành, sự đặc sắc trong trang phục truyền thống  
của một số dân tộc ở Hà Giang là một trong những  
điểm nhấn thu hút du khách. Những bộ trang phục  
nữ sặc sỡ sắc màu của người Mông, người Lô Lô,  
người Pà Thẻn,... với sắc đỏ chủ đạo thực sự bắt  
mắt trong khung cảnh ruộng bậc thang trùng điệp,  
những nương ngô, đồi chè xanh mướt hay giữa buổi  
chợ phiên rộn ràng không khí bán mua. Trang phục  
truyền thống đã làm say lòng không ít du khách  
từng đến miền đất này, qua đó góp phần không nhỏ  
trong việc xây dựng, quảng bá hình ảnh điểm đến.  
4.2. Một số vấn đề đặt ra  
Dù đạt được những thành công nhất định, nhưng  
kết quả thực hiện các chính sách/giải pháp về bảo tồn  
và phát huy các giá trị của trang phục truyền thống  
trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số tồn tại, hạn chế.  
* Công tác bảo tồn và phát huy chưa được thực  
hiện đồng bộ, sâu rộng  
Trước thực tế đó, Chương trình số 62-CTr/  
TU ngày 29/3/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy  
“về phát triển văn hóa gắn với du lịch giai đoạn  
Công tác bảo tồn và phát huy giá trị của trang  
2013-2020” đã được ban hành. Công tác bảo tồn phục truyền thống chưa thực sự khuyến khích được  
trang phục truyền thống gắn với phát triển du lịch người dân chủ động, tích cực tham gia. Một bộ phận  
đã được triển khai ở các ngành, các địa phương. không nhỏ thanh, thiếu niên có tâm lý e ngại, tự  
Một số điểm du lịch, nhà văn hóa cộng đồng, hộ ti khi sử dụng trang phục của dân tộc mình trong  
118  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
giao tiếp xã hội và thiếu nhiệt tình tham gia các lớp bàn. Kết quả khảo sát cho thấy, ngoài người Dao ở  
truyền dạy về may mặc trang phục. Nhận thức của thôn Nậm Đăm mặc trang phục truyền thống khi  
đa số người dân về giá trị của trang phục truyền đón khách thì một số điểm du lịch khác không thực  
thống còn hạn chế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, giao hiện quy ước này. Những nếp nhà trình tường, nhà  
thông đi lại khó khăn. Sau khi được tuyên truyền, sàn,… không thể mang lại cho du khách những cảm  
họ cũng có ý thức nhất định trong việc bảo tồn bản nhận chân thực về một không gian văn hóa truyền  
sắc dân tộc, nhưng trong giai đoạn hiện nay, mối thống khi chủ nhà lại ăn vận trang phục phổ thông  
quan tâm lớn nhất đối với họ là phát triển kinh tế, như ở homestay thôn Lô lô Chải (xã Lũng Cú), thôn  
sau đó mới là giữ gìn văn hóa truyền thống.  
* Kinh phí bảo tồn còn hạn hẹp, ảnh hưởng đến  
hiệu quả bảo tồn  
Quảng Hạ (xã Quảng Nguyên), thôn Nậm Lương  
(xã Quyết Tiến),...  
Không ít chính sách bảo tồn văn hóa nói chung  
và trang phục của các DTTS nói riêng đã được triển  
khai nhưng cách thức triển khai cũng như hiệu quả  
của các chính sách này vẫn còn đặt ra nhiều vấn  
đề cần được quan tâm. Kết quả khảo sát ở xã Sính  
Lủng tại thời điểm tháng 9/2019 cho thấy, cả xã có  
140 hộ người Cơ Lao nhưng chỉ còn 3-4 người biết  
khâu thêu trang phục nữ, trang phục truyền thống  
của nam giới thì chỉ còn duy nhất 01 bộ và không  
còn ai biết làm. Không ít gia đình khi có con trai sắp  
cưới vợ hoặc có người sắp qua đời phải đi đặt trang  
phục truyền thống của người đồng tộc ở xã Mậu  
Duệ (cách gần 30km). Các dân tộc ít người khác ở  
nước ta cũng trong tình trạng tương tự. Trước tình  
hình đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án  
“Phát triển kinh tế-xã hội vùng các dân tộc: Mảng,  
La Hủ, Cống, Cờ Lao (giai đoạn 2011-2020)” theo  
Quyết định 1672/QĐ-TTg, ngày 26/9/2011, do Ủy  
ban Dân tộc chủ trì. Theo đó, nhằm bảo tồn, phát  
huy các giá trị văn hóa truyền thống, mỗi gia đình  
người Cơ Lao ở thôn Mã Trề, xã Sính Lủng được  
hỗ trợ 1 bộ trang phục nữ truyền thống. Tuy nhiên,  
vì lý do nào đó mà bộ trang phục được hỗ trợ đã  
bị cách tân, thiếu tôn trọng bản sắc, dẫn đến người  
sống không muốn mặc mà người chết cũng không  
thể “mang theo”.  
Một số thôn bản đã sưu tầm được những bộ  
trang phục truyền thống (chủ yếu là y phục) để  
trưng bày trong nhà văn hóa cộng đồng, các cơ sở  
giáo dục cũng xây dựng được “Góc văn hóa truyền  
thống trong trường học”, trong đó có trưng bày  
trang phục truyền thống của các dân tộc sinh sống ở  
địa phương. Tuy nhiên, do không có điều kiện bảo  
quản bằng các phương tiện, kỹ thuật hiện đại như  
ở bảo tàng khiến trang phục trưng bày bị ẩm mốc,  
bụi bẩn, vô hình chung làm xấu đi vẻ đẹp của trang  
phục truyền thống.  
Kết quả khảo sát tại các xã như Sính Lủng, Lũng  
Cú, Quảng Nguyên… cho thấy, nguồn kinh phí chi  
trả cho nghệ nhân giảng dạy về trang phục truyền  
thống trong các trường học chủ yếu được lấy từ quỹ  
hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng và Hội  
nghệ nhân dân gian nên mức chi trả cho nghệ nhân  
thường chỉ 50.000 - 60.000 đồng/buổi/người. Trong  
khi giao thông đi lại khó khăn, mức thù lao lại quá  
thấp nên ở một số địa phương, nghệ nhân cao tuổi -  
những người được xem là “báu vật nhân văn sống”  
không thực sự tâm huyết với công việc này, dẫn đến  
chất lượng dạy và học nhiều khi mang tính hình thức,  
thiếu hiệu quả. Việc huy động nhiều nguồn lực hỗ trợ  
các hợp tác xã may thêu trang phục truyền thống là  
điều kiện cần thiết để sản phẩm có thể cạnh tranh trên  
thị trường. Tuy nhiên, với nguồn kinh phí hạn hẹp  
5. Thảo luận  
Từ kết quả nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu  
nên mục tiêu này khó thực hiện, dẫn tới tình trạng đề xuất một số chính sách/giải pháp bảo tồn và phát  
chung của các hợp tác xã là chậm đổi mới kỹ thuật, huy các giá trị văn hóa độc đáo của các loại hình  
chưa có thương hiệu, nhãn mác hàng hóa, ít kiến thức trang phục tiêu biểu phục vụ phát triển kinh tế-xã  
về thị trường, sức cạnh tranh kém.  
* Hạn chế về năng lực quản lý trong hoạt động  
bảo tồn  
hội như sau:  
* Kết hợp giữa “bảo tồn tĩnh” và “bảo tồn động”  
Cần tiếp tục kết hợp giữa “bảo tồn động” (tức  
Một số cuộc thi trình diễn trang phục truyền bảo tồn và giữ gìn trong chính cộng đồng, chủ thể  
thống đặt ra vấn đề cần lưu tâm, đó là vì sự tùy tiện, văn hóa) với “bảo tồn tĩnh” trong tư liệu, thư viện,  
cách tân “quá đà” mà nhiều bộ trang phục truyền bảo tàng, nhà văn hóa cộng đồng, homestay; trong  
thống khi trình diễn trên sân khấu bị “đối xử” theo đó lấy “bảo tồn động” làm trọng tâm, nhằm đưa  
lối phô trương, phản thẩm mỹ, sai lệch bản sắc,...  
“bảo tồn” trở thành nhu cầu tự thân của đồng bào  
các dân tộc. Về cách thức bảo tồn, nếu như “bảo tồn  
tĩnh” cần được đảm bảo tính nguyên vẹn thì “bảo  
tồn động” có thể chấp nhận những thay đổi, cách  
tân cần thiết trên quan điểm giữ được nét cơ bản,  
cốt cách làm nên đặc trưng, bản sắc của từng dân  
tộc, không làm biến dạng, xa rời truyền thống. Làm  
được điều này không đơn giản, đòi hỏi sự vào cuộc  
của các nhà quản lý, nhà thiết kế thời trang, nhà  
Mặc dù đã được chú ý, nhưng chính quyền và  
người dân chưa thực sự quan tâm đến việc khai  
thác, phát triển sản phẩm phục vụ du lịch tại địa  
phương. Quy ước được đưa ra là người dân tại các  
điểm du lịch cộng đồng, nhất là thành viên các hộ  
gia đình kinh doanh dịch vụ homestay phải mặc  
trang phục truyền thống khi đón tiếp khách đã được  
xây dựng, nhưng việc thực hiện còn tùy lúc, tùy địa  
Volume 10, Issue 4  
119  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
nghiên cứu văn hóa,… và đặc biệt là phải dựa vào Chải (xã Lũng Cú) hay hợp tác xã thổ cẩm My Bắc  
tiếng nói và nhu cầu tự thân của chủ thể văn hóa, (xã Tân Bắc), dù có kỹ thuật khâu thêu tinh xảo và  
giống như những gì chúng ta đã làm với tà áo dài những họa tiết cầu kỳ, bắt mắt không thua kém bộ  
Việt Nam.  
trang phục của người Mông ở xã Lùng Tám nhưng  
do sử dụng vải công nghiệp hoặc mua chỉ công  
nghiệp ngoài chợ về dệt cho đỡ tốn công sức nên  
thị trường tiêu thụ hạn chế hơn. Như vậy, khôi phục  
vùng nguyên liệu cho sản xuất trang phục truyền  
thống là một yêu cầu của công tác bảo tồn.  
Việc giới thiệu các di sản văn hóa và phong  
tục tập quán đặc trưng đến du khách một cách tự  
nhiên và chân thực sẽ không phải ở các bảo tàng,  
các phòng trưng bày hay các hội diễn mà chính là ở  
các homestay và các điểm phục vụ du lịch. Để phát  
huy giá trị trang phục truyền thống trong hoạt động  
* Nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ  
du lịch thì trước hết, cần có sự tồn tại phổ biến của ngành văn hóa  
trang phục trong cộng đồng. Nhiều người mặc trang  
phục truyền thống sẽ tạo nên những hình ảnh hấp dẫn  
cho điểm đến và chỉ khi nào du khách thực sự được  
hòa mình vào không gian sinh hoạt đậm chất truyền  
thống của người dân địa phương từ ăn, mặc, ở đến  
sinh hoạt, lao động thì họ mới có những trải nghiệm  
thú vị với loại hình du lịch homestay. Vì thế, cần đưa  
ra những cam kết chặt chẽ trong việc thực hiện quy  
chế mặc trang phục truyền thống khi đón khách trong  
các homestay, trong các làng văn hóa du lịch cộng  
đồng và ở các điểm phục vụ du lịch.  
Cần nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ  
ngành văn hóa trong công tác bảo tồn, phát huy  
trang phục các DTTS trong thời kỳ hội nhập cũng  
như nâng cao hơn nữa năng lực, hiệu lực, hiệu quả  
quản lý nhà nước về công tác dân tộc, đổi mới  
phương thức xây dựng và tổ chức thực hiện chính  
sách. Trong đó, cần tạo điều kiện để đồng bào DTTS  
chủ động trong việc bảo tồn văn hóa của mình.  
6. Kết luận  
Tỉnh Hà Giang đã có những định hướng và chính  
sách đúng đắn trong việc bảo tồn, phát huy giá trị  
văn hóa các dân tộc, trong đó có trang phục truyền  
thống. Trên cơ sở các nghị quyết lãnh đạo của Đảng,  
chính quyền từ cấp tỉnh, cấp xã đã có những hành  
động cụ thể, thiết thực và đã đạt được những thành  
công nhất định trong công tác bảo tồn và phát huy  
giá trị của trang phục truyền thống. Việc khuyến  
khích mặc trang phục trong các lễ hội, quy định học  
sinh mặc trang phục truyền thống ngày đầu tuần, tổ  
chức các cuộc thi trình diễn trang phục, thành lập  
các hợp tác xã thêu dệt, quy ước người dân tại các  
điểm du lịch cộng đồng, nhất là thành viên các hộ  
gia đình kinh doanh dịch vụ homestay mặc trang  
phục truyền thống khi đón tiếp khách, mở các lớp  
truyền dạy,... đã làm cho nhiều cán bộ, công chức  
và một bộ phận đáng kể người dân, nhất là những  
người dân tham gia hoạt động du lịch cộng đồng và  
* Hỗ trợ hình thành sản phẩm thương mại, sản  
phẩm du lịch  
Tiếp tục có chính sách hỗ trợ người dân, doanh  
nghiệp đầu tư, liên kết với các hợp tác xã sản xuất  
trang phục truyền thống có tiềm năng, nhằm tạo ra  
chuỗi giá trị về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, hình  
thành sản phẩm thương mại, sản phẩm du lịch từ  
trang phục truyền thống, góp phần cải thiện sinh kế,  
tạo nguồn lực cho việc bảo tồn trang phục truyền  
thống một cách bền vững. Tiếp tục tăng cường  
quảng bá trang phục truyền thống các DTTS qua  
các cuộc thi trình diễn gắn với các lễ hội văn hóa  
hoặc các sự kiện phù hợp của địa phương, qua các  
phương tiện truyền thông (báo chí, điện ảnh, truyền  
hình), qua xây dựng trang web giới thiệu về trang  
phục truyền thống.  
Với những trang phục có tiềm năng trở thành thế hệ trẻ nâng cao ý thức trân trọng và giữ gìn các  
sản phẩm hàng hóa thì cần được đầu tư phát triển giá trị tốt đẹp của các loại hình trang phục truyền  
vùng nguyên liệu sản xuất để phục vụ người tiêu thống trên địa bàn.  
dùng và khách du lịch. Câu chuyện về nghề dệt vải,  
thêu dệt thổ cẩm và may mặc trang phục của người  
Mông ở xã Lùng Tám, người Pà Thẻn ở xã Tân Bắc  
và người Lô Lô ở xã Lũng Cú cho chúng ta câu  
trả lời vì sao phải xây dựng vùng nguyên liệu và  
những trang phục của dân tộc nào cần khôi phục  
vùng nguyên liệu. Trong khi các hợp tác xã dệt vải,  
thêu dệt thổ cẩm và may mặc trang phục truyền  
thống ở tỉnh Hà Giang đang phải loay hoay tìm đầu  
ra cho sản phẩm ở trong nước, thì các sản phẩm dệt  
lanh Lùng Tám đã vươn ra thị trường nước ngoài.  
Trường hợp sản phẩm của hợp tác xã thổ cẩm Lô Lô  
Trong thời gian tới, để cụ thể hóa Quyết định số  
209/QĐ-BVHTTDL ngày 18/01/2019 của Bộ trưởng  
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Đề án  
“Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân  
tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” phù  
hợp với tình hình thực tế của địa phương, tỉnh cần  
tập trung xây dựng và hoàn thiện một số chính sách/  
giải pháp về việc tăng cường quảng bá, hỗ trợ doanh  
nghiệp và người dân, đầu tư cải tiến công nghệ, đầu  
tư vùng nguyên liệu, nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ  
bảo tồn cho cán bộ ngành văn hóa…  
120  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
Tai lieu tham khao  
Lan, P. (2013). 40/54 dan toc khong con mac  
trang phuc truyen thong. Báo Mới. Truy  
Ban Chap hanh Dang bo tinh Ha Giang. (2016).  
Viec dua ky nang song va van hoa truyen thong  
cac dan toc thieu so vao giang day trong cac  
truong hoc tren dia ban tinh Ha Giang.  
cap  
tu  
toc-khong-con-mac-trang-phuc-truyen-  
thong/c/12733683.epi  
Thinh, N. D. (2000). Trang phuc co truyen cac  
dan toc Viet Nam. Ha Noi: Nxb. Van hoa  
Dan toc.  
Uy ban nhan dan tinh Ha Giang. Du an “Bao ton  
lang van hoa truyen thong thon Lo Lo Chai, xa  
Lung Cu, huyen Đong Van, tinh Ha Giang”.  
Uy ban nhan dan tinh Ha Giang. (2018). Du an  
“Bao ton thon truyen thong dan toc Pa Then,  
thon My Bac, xa Tan Bac, huyen Quang Binh,  
tinh Ha Giang”.  
Uy ban nhan dan huyen Quang Binh. (2010). Du  
an “Bao ton nghe det tho cam thu cong truyen  
thong dan toc Pa Then, thon Nam O, xa Tan  
Bac, huyen Quang Binh, tinh Ha Giang”.  
Bo truong Bo Van hoa, The thao va Du lich.  
(2019). Phe duyet Đe an “Bao ton, phat huy  
trang phuc truyen thong cac dan toc thieu  
so Viet Nam trong giai doan hien nay”.  
Quyet dinh so 209/QD-BVHTTDL ngày  
18/01/2019.  
Dai, L. D., & Thanh, T. D. (2003). Cac dan toc o  
Ha Giang (chu bien). Ha Noi: Nxb. The gioi.  
Tinh uy Ha Giang. (2013). Phat trien van hoa  
gan voi du lich giai doan 2013-2020. Chuong  
trinh so 62-CTr/TU, ngay 29/3/2013.  
Xuan, T. (2019). Cap bach bao ton trang phuc  
truyen thong cac dan toc thieu so dang bi mai  
com/cap-bach-bao-ton-trang-phuc-truyen-  
thong-cac-dan-toc-thieu-so-dang-bi-mai-  
mot/c/29751980.epi  
CHÍNH SÁCH BẢO TỒN, PHÁT HUY TRANG PHỤC CỦA CÁC  
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH HÀ GIANG: KẾT QUẢ VÀ GIẢI PHÁP  
Bùi Thị Bích Lana  
Phạm Minh Phúcb  
a Viện Dân tộc học  
b Nhà xuất bản Khoa học xã hội  
Ngày nhận bài:  
13/8/2021  
Ngày phản biện: 26/9/2021  
Ngày tác giả sửa: 09/10/2021  
Ngày duyệt đăng: 05/11/2021  
Ngày phát hành: 30/11/2021  
DOI:  
tỉnh Hà Giang, với nỗ lực, quyết tâm của chính quyền các cấp và người dân, công tác bảo tồn và  
phát huy giá trị tiêu biểu trong trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số đã đạt được những  
Ở
kết quả đáng ghi nhận. Không chỉ mang giá trị thẩm mỹ, biểu đạt văn hóa tộc người mà trong bối cảnh  
mới, trang phục của một số dân tộc còn mang giá trị kinh tế, góp phần thúc đẩy du lịch thông qua quảng bá  
hình ảnh, tăng sức hút cho điểm đến, tạo ra sản phẩm hàng hóa phục vụ du lịch và tiêu dùng,... Tuy nhiên,  
không ít khó khăn, thách thức đặt ra, như kinh phí dành cho công tác bảo tồn còn hạn hẹp; nhận thức về  
công tác bảo tồn của người dân, cán bộ và cơ quan chuyên môn còn mang tính hình thức; sự ảnh hưởng  
của văn hóa ngoại lai, của nền kinh tế thị trường,… Từ đó, đặt ra những yêu cầu về đổi mới công tác xây  
dựng và thực hiện chính sách, giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa độc đáo của loại hình văn hóa này.  
Từ khóa: Chính sách; Trang phục; Dân tộc thiểu số; Tỉnh Hà Giang.  
Volume 10, Issue 4  
121  
pdf 7 trang baolam 18720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Policy for conservation and promotion of ethnic minority costumes in Ha Giang province results and solutions", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfpolicy_for_conservation_and_promotion_of_ethnic_minority_cos.pdf