Nghiên cứu hiệu quả giảm sóng của đê kết cấu rỗng trên mô hình máng sóng

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ GIẢM SÓNG CỦA ĐÊ KẾT CẤU RỖNG  
TRÊN MÔ HÌNH MÁNG SÓNG  
Thiều Quang Tuấn  
Trường Đại học Thủy Lợi  
Đinh Công Sản, Lê Xuân Tú, Đỗ Văn Dương  
Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam  
Tóm tắt: Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu xây dựng công thức đánh giá khả năng khả  
năng triết giảm sóng của đê giảm sóng kết cấu rỗng và phân tích sự biến đổi hình dạng phổ sóng  
trước và sau công trình tại khu vực nước nông của rừng ngập mặn dựa trên thí nghiệm mô hình  
vật lý 2D trong máng sóng.  
Từ khóa: Đê giảm sóng kết cấu rỗng, hệ số truyền sóng, sóng phản xạ, mô hình vật lý 2D  
Summary: In this paper presents the result of establishing a new empirical formula of wave  
transmission at this type of porous breakwater and analysis wave energy spectra transformation  
before and after this structure in the shallow water base on the 2D physical model experiment in  
the wave flume.  
Keywords: porous breakwater, wave transmission, wave reflection, 2D physical model  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ*  
tiêu tán năng lượng sóng cần thiết phải nghiên  
cứu để đánh giá tương tác giữa sóng và công  
trình, cũng như xem xét khả năng làm việc của  
công trình trong các điều kiện thủy động lực học  
biến đổi khác nhau. Trong nghiên cứu này, công  
thức xác định hệ số truyền sóng của đê giảm  
sóng kết cấu rỗng được xây dựng dựa trên phân  
tích dữ liệu đo đạc trong phòng thí nghiệm Thủy  
động lực sông biển- Viện Khoa học Thủy lợi  
Miền nam và các nghiên cứu trước đây về công  
trình đê giảm sóng đỉnh thấp (LCS) của Van der  
Meer et al. 2005; Chen et al. 2008; Li and Xie  
2008, công trình đê giảm sóng dạng cọc có dầm  
mũ của Luth et al. 1994; van der Meer et al.  
2005; Christou et al. 2008; Su-xiang ZHANG  
and Xi LI 2014. Kết quả của nghiên cứu được  
sử dụng cho việc tính toán thiết kế và đánh giá  
hiệu quả làm việc và công trình đê giảm sóng  
với cấu kiện rỗng được sử dụng trong nghiên  
cứu này.  
Trong những năm gần đây quá trình sạt lở bờ  
biển đang diễn ra hết sức nghiêm trọng ở dải  
ven biển đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)  
làm suy thoái rừng ngập mặn, theo nghiên cứu  
của Viện khoa học Thủy lợi miền Nam  
(SIWRR) xói lở bờ biển đã xảy ra trên 280/774  
km đường bờ với tốc độ xói lở từ 1-20m/năm.  
Có nhiều giải pháp bảo vệ bờ biển và phát triển  
rừng ngập mặn một cách tự nhiên ở đồng bằng  
sông Cửu Long, trong đó với dạng công trình  
cứng thì đê giảm sóng xa bờ có kết cấu rỗng  
đang là một trong những giải pháp được nghiên  
cứu và ứng dụng bởi khả năng trao đổi trầm tích  
và bẫy bùn cát. Đặc điểm của đê giảm sóng xa  
bờ kết cấu rỗng là cho sóng có thể truyền qua  
với mức độ nhất định với mục đích trao đổi trầm  
tích bùn cát, gây bồi tụ giúp phát triển rừng  
ngập mặn. Do đó, việc xác định các thông số  
khi thiết kế công trình như hiệu quả giảm sóng,  
sóng phản xạ trước công trình và tối ưu hệ số  
2 MÔ HÌNH VẬT LÝ  
Ngày nhận bài: 05/6/2018  
Ngày duyệt đăng: 12/10/2018  
Ngày thông qua phản biện: 22/7/2018  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 49 - 2018  
1
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
2.2 Mô hình thí nghiệm  
2.1 Cơ sở thí nghiệm  
Cấu kiện đê giảm sóng dùng để thí nghiệm gồm  
hai mặt với các lỗ tròn được bố trí hai hàng có  
kích thước bằng nhau và phần trăm lỗ rỗng bề  
mặt của cấu kiện là 17.7%. Vật liệu làm cấu  
kiện là bê tông cốt sợi phi kim được cung cấp  
và phát triển bởi công ty Busadco. Mô hình thiết  
lập thí nghiệm (hình 2), với chiều cao của đê  
giảm sóng là 0.40m, bãi nông rừng ngập mặn  
được mô phỏng với độ dốc 1/500, mái chuyển  
tiếp giữa khu vực nước sâu và nước nông được  
thiết kế với độ dốc 1/25. Sóng đến trước công  
trình hầu hết bị vỡ ở mái chuyển tiếp này nhằm  
tạo tính chất sóng tương tự như thực tế. Mái hấp  
thụ sóng được thiết kế bằng đá đổ với độ dốc ¼,  
hệ số sóng phản xạ luôn nhỏ hơn 10% khi  
không có công trình.  
Thí nghiệm được thực hiện trong máng sóng  
của phòng thí nghiệm thủy động lực sông biển-  
Viện Khoa học Thủy lợi Miền nam (Hình 1).  
Các cơ sở thiết bị máy móc được cung cấp bởi  
HR Wallingford. Chiều dài máng sóng là 35m,  
chiều rộng 1.2m và cao 1.5m. Hệ thống máy tạo  
sóng được trang bị khả năng hấp thụ sóng phản  
xạ (Active Reflection Compensation), có thể  
tạo ra sóng ngẫu nhiên hoặc sóng đều với chiều  
cao lên đến 0.30m và chu kỳ đỉnh 3.0s, sóng  
được đo với tần số 100Hz (độ chính xác  
±0.1mm).  
Hình 1. Máng sóng thí nghiệm Viện Khoa học  
Thủy lợi miền Nam  
Hình 2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm  
Hình 3. Thiết lập thí nghiệm truyền sóng qua đê giảm sóng kết cấu rỗng  
Tổng số kịch bản thí nghiệm là 60 kịch bản hệ giữa chiều cao và chu kỳ sóng được tính toán  
được tổng hợp trong Bảng 1 (bao gồm 30 kịch theo Linh and Tuấn (2015). Điều kiện biên  
bản không có công trình). Tổ hợp các kịch bản thông số sóng được mô phỏng bằng dạng phổ  
từ 6 điều kiện sóng đặc trưng và 5 mực nước (cả JONSWAP với γ=3.30. Mỗi thí nghiệm được  
ngập và không ngập công trình) từ điều kiện thực hiện ít nhất trong khoảng thời gian 500Tp  
thủy lực đặc trưng cho khu vực ĐBSCL. Quan (s). Tỷ lệ mô hình được lựa chọn dựa trên năng  
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 49 - 2018  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
lực máng sóng và thông số điều kiện biên: Tổng số kịch bản thí nghiệm là 60 kịch bản  
NL=10 (tỷ lệ dài), Nt=3.16 (tỷ lệ thời gian). được tổng hợp trong Bảng 1.  
Bảng 1. Kịch bản thí nghiệm  
Tham số sóng  
Chiều cao lưu  
không Rc / Độ  
sâu nước D (m)  
Trường hợp  
Kịch bản  
Hm0 (m)  
Tp (s)  
WP6-BW-JSW1  
WP6-BW-JSW2  
WP6-BW-JSW3  
WP6-BW-JSW4  
WP6-BW-JSW5  
WP6-BW-JSW6  
0.10  
0.12  
0.15  
0.17  
0.20  
0.22  
1.79  
1.88  
2.00  
2.07  
2.16  
2.20  
0.20/0.20  
0.10/0.30  
0.00/0.40  
-0.10/0.50  
-0.15/0.55  
Không công trình  
Có công trình  
thấp hay gọi là sóng trọng lực - infragravity  
waves (IG) chu kỳ đỉnh khoảng 25s được tạo ra  
trong quá trình sóng vỡ trên mái chuyển tiếp và  
trong vùng nước nông (Baldock, 2012). Ngoài  
ra, sóng dài được tạo ra từ các nhóm sóng cũng  
giống như sóng trọng lực tự do ở các điểm sóng  
vỡ của sóng IG. Sóng IG tồn tại trong khu vực  
bãi biển nông rừng ngập mặn hay rạn san hô.  
3 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH  
3.1 Ảnh hưởng của các thông số lên quá  
trình truyền sóng  
Giống như các đê giảm sóng truyền thống trước  
đây, sóng truyền qua đê giảm sóng kết cấu rỗng  
phụ thuộc vào hàm của tổ hợp chiều cao lưu  
không đỉnh đê, bề rộng đỉnh đê, độ dốc mái  
công trình, độ rỗng bề mặt cấu kiện và tính chất  
sóng. Để xác định công thức truyền sóng qua đê  
giảm sóng có hai yếu quan trọng ảnh hưởng là  
của chiều cao lưu không đỉnh đê và chỉ số tương  
tự sóng vỡ Iribarren được phân tích dựa trên số  
liệu thí nghiệm thực đo. Bên cạnh hai yêu tố kể  
trên thì các yếu tố như độ rỗng cấu kiện hay bề  
rộng đỉnh cấu kiện là các hằng số không đổi thể  
hiện đặc trưng của cấu kiện nên không được  
phân tích trong nghiên cứu này.  
Trong quá trình truyền sóng vào khu vực bãi  
nông của rừng ngập mặn, các con sóng ngắn bị  
vỡ làm cho tầm quan trọng của sóng IG bắt đầu  
tăng lên. Do đó, năng lượng sóng dài chiếm  
một phần lớn trong tổng năng lương sóng tại  
khu vực này (Horstma et al, 2012; Phan et al,  
2014). Quá trình này cũng được áp dụng cho  
việc thiết lập, tính toán điều kiện biên và quá  
trình truyền sóng trong thí nghiệm này. Hình  
thể hiện sự biến đổi phổ sóng sau khi truyền  
qua công trình ứng với trường hợp cao trình  
đỉnh đê lớn, có thể thấy năng lượng của các  
con sóng ngắn phần lớn bị tiêu tán, trong khi  
năng lượng sóng dài vẫn còn khá lớn.  
Sự biến đổi phổ sóng trong khu vực nước  
nông  
Phổ sóng tại khu vực nước nông phía sau công  
trình được thể hiện trong Hình (WG6) xuất hiện  
nhiều đỉnh và giá trị mật độ năng lượng của các  
đỉnh phổ không có sự chênh lệch lớn. Hình dạng  
Những phân tích trên về sự biến đổi phổ sóng  
là cơ sở để khẳng định sóng dài có ý nghĩa quan  
phổ sóng tại khu vực này tương tự như phổ sóng trọng trong quá trình nghiên cứu truyền sóng  
sau khi trải qua quá trình sóng vỡ nhiều lần.  
Đáng chú ý là sự xuất hiện của sóng với tần số  
qua đê giảm sóng kết cấu rỗng tại vùng rừng  
ngập mặn ven biển.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 49 - 2018  
3
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Kt vào chiều cao lưu không đỉnh đê được thể  
hiện trong hình 6. Khi Rc/Hm0 > 0.50 thì hệ số  
truyền sóng gần như là không đổi (Kt ~ 0.30),  
trong trường hợp cao trình đỉnh đê lớn thì sóng  
truyền qua công trình rất nhỏ qua lỗ rỗng. Mặt  
khác, khi độ ngập lớn thì khả năng giảm sóng  
của công trình là khá nhỏ (Kt=0.75-0.80 khi  
Rc/Hm0 < -0.50).  
Hình 4. Phổ năng lượng sóng khi truyền qua  
cấu kiện  
Hình 6. Ảnh hưởng của chiều cao lưu không  
đến hệ số truyền sóng  
Chỉ số tương tự sóng vỡ Iribarren ξ0  
Hệ số truyền sóng qua đê giảm sóng cũng phụ  
thuộc vào hiện tượng sóng vỡ trên mái của công  
trình, tương tác này được thể hiện qua chỉ số  
Iribarren ξ0. Hình 7 mô tả sự phụ thuộc của chỉ  
số Iribarren ξ0 từ dữ liệu thí nghiệm với chu kỳ  
đỉnh Tp (ξ0p) và chu kỳ phổ Tm-1,0 (ξ0m-1,0). Nhìn  
chung, sự phụ thuộc của ξ0 theo xu hướng phi  
tuyến tính và sự phụ thuộc này khá nhỏ trong cả  
trường hợp Rc/Hm0 lớn và nhỏ. Rõ ràng khi sử  
dụng Tm-1,0 thì sự tương quan xuất hiện tốt hơn  
so với sử dụng Tp.  
Hình 5. Kết quả phổ sóng đo đạc từ thí nghiệm  
ứng với các độ sâu D=0.4;0.3;0.2m  
Hình 7. Ảnh hưởng của chỉ số Iribarren  
đến hệ số truyền sóng  
Ảnh hưởng của chiều cao lưu không đỉnh đê  
Rc/Hm0  
Sóng phản xạ  
Sóng phản xạ phía trước công trình được tạo  
Sự phụ thuộc mạnh mẽ của hệ số truyền sóng  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 49 - 2018  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
thành từ tương tác giữa sóng và công trình. Nó  
không được mô tả chi tiết trong quá trình truyền  
sóng, tuy nhiên thông qua việc xác định hệ số  
sóng phản xạ cho phép xác định khả năng tiêu  
tán năng lượng sóng của công trình.  
Với a, b và c là các hằng số thực nghiệm được  
xác định thông qua phương pháp phân tích hồi  
quy với dữ liệu có được từ kết quả thí nghiệm.  
So với công thức Angremond et al. (1996) bề  
rộng đỉnh đê không được xem xét ở đây, dạng  
công trình đê giảm sóng kết cấu rỗng được coi  
là dạng công trình có kết cấu hẹp. Chỉ số tương  
tự sóng vỡ Iribarren ξ0 có thể được tính toán  
theo hai tham số là Tp hoặc Tm-1,0, tùy thuộc vào  
dữ liệu có sẵn. Phân tích hồi quy với những kết  
quả của dữ liệu thí nghiệm theo 2 tham số Tp và  
Tm-1,0, kết quả của phương pháp phân tích cho  
ra hai công thức tương ứng:  
Hình 8. Tương quan giữa hệ số sóng phản xạ  
và Rc/Hm0  
Hình 8 thể hiện tương quan giữa hệ số sóng  
phản xạ và chiều cao lưu không tương đối của  
đỉnh đê. Cho thấy dạng công trình đê giảm sóng  
kết cấu rỗng này có hệ số sóng phản xạ khá cao  
trong trường hợp đê nhô (Kr = 0.40~0.50).  
Nhìn chung khi Rc/Hm0 tăng thì sóng phản xạ  
cũng tăng theo, điều này do công trình chưa đủ  
độ rỗng để hấp thụ năng lượng sóng (độ rỗng  
bề mặt của cấu kiện 17.7%) hay bố trí lỗ rỗng  
chưa hợp lý. Trong trường hợp đê nhô cao, hầu  
hết năng lượng sóng phía sau công trình là do  
sự truyền qua của sóng IG và sóng tràn. Việc  
nhận biết và tính toán sóng phản xạ rất cần  
thiết trong quá trình thiết kế đê giảm sóng kết  
cấu rỗng, đặc biệt cho việc thiết kế giải phải  
bảo vệ chân chống xói cho công trình.  
(1)  
(2)  
Khoảng áp dụng của công thức:  
3.2 Công thức thực nghiệm cho quá trình  
truyền sóng qua đê giảm sóng kết cấu rỗng  
Hình 32 và hình 33 so sánh kết quả hệ số truyền  
sóng Kt theo công thức (1) và (2) với dữ liệu đo  
đạc tương ứng. Cả hai trường hợp đều cho kết  
quả tương quan tốt, tuy nhiên có thể thấy khi sử  
dụng Tm-1,0 cho hệ số tương quan tốt hơn so với  
sử dụng Tp.  
Các phân tích về các thông số ảnh hưởng nhiều  
nhất đến quá trình truyền sóng ở trên là cơ sở  
cho việc xây dựng công thức thực nghiệm.  
Công thức thực nghiệm ở đây được xây dựng  
dựa trên công thức có sẵn của Angremond et al  
(1996). Hai thông số chính được xem xét cho  
xây dựng công thức là độ ngập tương đối đỉnh  
đê Rc/Hm0 và chỉ số tương tự sóng vỡ Iribarren  
ξ0. Công thức tổng quát cho hệ số truyền sóng  
qua đê giảm sóng kết cấu rỗng:  
So sánh giữa công thức nghiên cứu hiện tại với  
các nghiên cứu trước đây của d’Angremond et  
al. (1996), van der Meer et al. (2005) cho loại  
đê chắn sóng truyền thống và đê giảm sóng  
dạng cọc, dạng đê ngầm và Van der Meer and  
Daemen (1994) cho loại đê chắn sóng đỉnh hẹp,  
truyền thống và cả cho dạng đê ngầm, dạng cọc.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 49 - 2018  
5
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Cho thấy dữ liệu trong nghiên cứu hiện tại có cứu Van deer Meer et al. (1993) cho loại đê  
kết quả tương đồng nhất với kết quả của nghiên giảm sóng đỉnh hẹp cho sóng truyền qua.  
Hình 9. Dữ liệu hồi quy với ξ0m-1,0  
Hình 10. Dữ liệu hồi quy với ξ0p  
Hình 11. So sánh công thức thiết lập với công  
thức của đê giảm sóng dạng trơn và dạng cho  
sóng truyền qua (Angremond et al. 1996, Van  
der Meer et al. 2005)  
Hình 12. So sánh với công thức của để chắn  
sóng truyền thống và dạng cho sóng truyền  
qua (DELOS- Van der Meer et al. 2005)  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 49 - 2018  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
chiều cao lưu không tương đối đỉnh đê Rc/Hm0  
và chỉ số sóng vỡ trên mái công trình Iribarren  
ξ0. Kết quả của quá trình phân tích cho thấy chu  
kỳ phổ Tm-1,0 nên được sử dụng để thay thế cho  
chu kỳ đỉnh Tp nhằm thể hiện rõ tầm ảnh hưởng  
của sóng dài trong khu vực nước nông.  
Công thức thực nghiệm áp dụng cho để giảm  
sóng kết cấu rỗng trên bãi nông của rừng ngập  
mặn đã được xây dựng với độ tin cậy cao dựa  
trên các so sánh với các công thức hiện có được  
đưa ra để tăng độ tin cậy cho kết quả thực  
nghiệm như d’Angremond et al.(1996), Van der  
Meer et al (2005) hay Van der Meer and  
Daemen (1994), kết quả của nghiên cứu này  
khá phù hợp với các kết quả ngiên cứu trước  
đây đặc biệt với nghiên cứu về dạng đê giảm  
sóng đỉnh hẹp của Van der Meer et al. (1993).  
Trong quá trình thiết kế đê giảm sóng kết cấu  
rỗng cần lưu ý:  
Hình 13. So sánh với công thức của đê giảm  
sóng đỉnh hẹp (Van der Meer and Daemen, 1994)  
4 KẾT LUẬN  
Để xây dựng công thức truyền sóng qua đê giảm  
sóng kết cấu rỗng, một chuỗi thí nghiệm bao  
gồm 60 kịch bản truyền sóng đã được thực hiện.  
Quá trình biến đổi phổ sóng trong khu vực bãi  
nông của rừng ngập mặn và qua đê giảm sóng  
cho thấy tầm quan trọng của năng lượng sóng  
dài trong quá trình truyền sóng. Năng lượng  
sóng ngắn hầu hết bị tiêu tán hoặc phản xạ, sóng  
phía sau công trình phần lớn là năng lượng sóng  
dài.  
- Cao trình đỉnh đê giảm sóng nên cao hơn  
mực nước triều (đê nhô) để tăng hiệu quả giảm  
sóng, hầu hết sóng bị chặn khi Rc/Hm0 > 0.50.  
- Giải pháp bảo vệ chân công trình nên được  
xem xét một cách kỹ lưỡng trong quá trình thiết  
kế đê giảm sóng kết cấu rỗng.  
Trong nghiên cứu tới các yếu tố về phần trăm  
độ rỗng của đê và chiều rộng đỉnh của cấu kiện  
đê giảm sóng rỗng đến hiệu quả giảm sóng sẽ  
được trình bày.  
Quá trình truyền sóng qua đê giảm sóng kết cấu  
rỗng bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố quan trọng là  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Angremond, K., Van der Meer, J.W. and de Jong, R.J., 1996. Wave transmission at  
low-crested structures. Proc. 25th ICCE, ASCE, Orlando, USA.  
[2] Implications for the concept of “bound” wave release at short wave breaking.  
Coastal Engineering, 60, pp. 276-285.  
[3] Đặng Thị Linh và Thiều Quang Tuấn, 2015. Xây dựng quan hệ chu kỳ và chiều cao  
của sóng gió cho mùa vùng biển Bắc và Bắc Trung Bộ nước ta. Hội nghị khoa học  
thường niên năm 2015, Đại học Thủy lợi, Hà Nội, 407 – 409.  
[4] Horstman, E., Dohmen-Janssen, M., Narra, P., van den Berg, NJ., Siemerink, M.,  
Balke, T., Bouma, T., and Hulscher, S., 2012. Wave attenuation in mangrove  
forests; field data obtained in Trang, Thailand. Proc. 33nd Int. Conf. Coastal Eng.,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 49 - 2018  
7
CHUYỂN GIAO  
CÔNG NGHỆ  
[5] Hughes, A.S., 1993. Physical models and laboratory techniques in coastal  
engineering, World Scientific, Singapore, 568 pp.  
[6] Phan, L.K., van Thiel de Vries, J.S.M., and Stive, M.J.F., 2014. Coastal mangrove  
squeeze in the Mekong Delta. Journal of Coastal Research, 31, 2, pp. 233 – 243.  
[7] Tuan, T.Q., Tien, N.V. and Verhagen, H.J., 2016. Wave transmission over  
submerged, smooth and impermeable breakwaters on a gentle and shallow  
foreshore. In: Proc. 9th PIANC-COPEDEC, pp. 897-905, Rio de Janeiro, BRAZIL.  
[8] Van der Meer, J.W., Daemen, I.F.R., 1994. Stability and wave transmission at low  
crested rubble mound structures. Journal of Waterway, Port Coastal and Ocean  
Engineering, 1, 1-19.  
[9] Van der Meer, J. W., Briganti, R., Zanuttigh, B. and Wang, B., 2005. Wave  
transmission and reflection at low-crested structures: Design formulae, oblique  
wave attack and spectral change. Coastal Engineering, 52, 915 - 929.  
[10] Zelt, J.A. and Skjelbreia, J.E., 1992. Estimating incident and reflected wave fields  
using an arbitrary number of wave gauges. Proc. 23rd Int. Conf. Coastal Eng., ASCE,  
pp. 777-789.  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 49 - 2018  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 18940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu hiệu quả giảm sóng của đê kết cấu rỗng trên mô hình máng sóng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_hieu_qua_giam_song_cua_de_ket_cau_rong_tren_mo_hi.pdf