Những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc Khơ Mú tại Thanh Hoá
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143
135
5(48) (2021) 135-143
Những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo
của hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc Khơ Mú tại Thanh Hoá
The subjective factors on capacity to escape poverty of the Dao and Khmu households in
Thanh Hoa province
Nguyễn Thị Duyêna*
Nguyen Thi Duyena*
aKhoa Khoa học Xã hội, Trường Đại học Hồng Đức, Thanh Hoá, Việt Nam
aFaculty of Social Sciences, Hong Duc University, Thanh Hoa, Viet Nam
(Ngày nhận bài: 20/5/2021, ngày phản biện xong: 11/7/2021, ngày chấp nhận đăng: 02/10/2021)
Tóm tắt
Nghiên cứu mô tả và phân tích tác động của những nhân tố chủ quan đến năng lực thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc
Dao và dân tộc Khơ Mú tại tỉnh Thanh Hoá. Những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo của hộ dân
tộc thiểu số ít người giới hạn ở 2 chiều cạnh: Đặc điểm nhân khẩu xã hội của hộ và những nhân tố thuộc về vốn vật chất
để phát triển kinh tế của hộ. Ngoài ra, nghiên cứu cũng phân tích sự khác biệt về những nhân tố chủ quan ảnh hưởng
đến năng lực thoát nghèo của dân tộc Dao và dân tộc Khơ Mú ở Thanh Hoá hiện nay.
Từ khoá: Dân tộc thiểu số ít người; hộ nghèo; năng lực thoát nghèo; Thanh Hoá.
Abstract
The research describes and analyzes the impact of the subjective factors on the capacity to escape poverty of households
of the Dao and Khmu ethnic groups in Thanh Hoa province. Subjective factors affecting their ability to escape poverty
of ethnic minority households have 2-dimensional limits: Social demographic characteristics of the household and
factors of physical capital for the economic development of the household. In addition, the study also analyzes the
differences in the subjective factors affecting the capacity to escape poverty of the Dao and the Khmu in Thanh Hoa
nowaday.
Keywords: Ethnic minorities; poor households; capacity to escape poverty; Thanh Hoa
1. Đặt vấn đề
năng lực thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc
Dao và dân tộc Khơ Mú. Những nhân tố chủ
quan là nhóm nhân tố bên trong của hộ, tác
động trực tiếp và quyết định năng lực thoát
nghèo bao gồm (tuổi, giới tính,học vấn, nghề
nghiệp, kỹ năng kinh nghiệm, số lượng lao
động trong hộ gia đình, các yếu tố thuộc về
Năng lực thoát nghèo của hộ gia đình dân
tộc thiểu số nói chung và dân tộc thiểu số ít
người ở Thanh Hoá nói riêng chịu sự tác động
của nhiều nhóm nhân tố khác nhau, ở những
chiều cạnh và mức độ khác nhau. Bài viết phân
tích những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến
*Corresponding Author: Nguyen Thi Duyen; Faculty of Social Sciences, Hong Duc University, Thanh Hoa, Viet Nam
136
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143
nguồn vốn vật chất của hộ…) Hiện nay, trên
địa bàn miền núi tỉnh Thanh Hoá có 6 dân tộc
thiểu số đang sinh sống (Thái, Mường, Thổ,
Mông, Dao, Khơ Mú) và phân bố ở 11 huyện
miền núi, tuy nhiên, nghiên cứu lựa chọn hai
nhóm dân tộc thiểu số ít người cư trú ở vùng
núi cao, với điều kiện phát triển kinh tế còn
nhiều khó khăn của tỉnh Thanh Hoá, là dân tộc
Dao và dân tộc Khơ Mú.
Mú trong đó (nam giới chiếm 80% và 20% nữ
giới; hộ nghèo chiếm 55% và 45% hộ thoát
nghèo; Nghề nghiệp có 75% làm ruộng, 1,5%
trồng rừng, 0,5% buôn bán dịch vụ, 11% thủ
công, chăn nuôi,12% công nhân làm thuê; Học
vấn có 40,5% không đi học, 32,5% tiểu học,
20% trung học cơ sở, 6,5% trung học phổ
thông, và 0,5% TC, CĐ, ĐH). Có 30 phỏng vấn
sâu bổ sung thông tin cho các phân tích định
lượng, (8 phỏng vấn dành cho cán bộ xã, thôn
và 22 phỏng vấn người dân). Nội dung phỏng
vấn xoay quanh những thuận lợi và khó khăn,
những biện pháp cách thức mà các hộ gia đình
đã thực hiện, những mong muốn và đề xuất…
của hộ gia đình trong quá trình phát triển kinh
tế để vươn lên thoát nghèo và thoát nghèo bền
vững của hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc
Khơ Mú.
2. Phương pháp nghiên cứu
Số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ
nông hộ và các cấp chính quyền. Phương pháp
chọn mẫu ngẫu nhiên đại diện hộ gia đình của
nhóm hộ nghèo và nhóm hộ thoát nghèo. Kết
quả phân tích dựa trên số liệu khảo sát của đề
tài được thực hiện trong đoạn 2018-2020 về
“Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến
năng lực thoát nghèo bền vững của hộ gia đình
dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Thanh Hoá hiện
nay”. Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn bán cấu
trúc 3400 đại diện hộ gia đình trong đó 400 đại
diện hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc Khơ
Mô hình nghiên cứu những nhân tố chủ quan
ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo của hộ gia
đình dân tộc thiểu số ít người Dao, Khơ Mú ở
Thanh Hoá được thiết lập như sau:
Nguồn vốn vật
chất của hộ:
- Trâu bò
- Máy sản xuất
- Xe chở thuê
- Gia súc (Dê,
lợn…)
Đặc điểm nhân khẩu
xã hội:
- Tuổi
- Giới tính
- Học vấn
- Kỹ năng, kinh
nghiệm
- Số lao động trong
hộ
NĂNG LỰC
THOÁT NGHÈO
CỦA HỘ DÂN
TỘC DAO, DÂN
TỘC KHƠ MÚ
- Gia cầm (Gà,
vịt…)
…
Biểu 1. Mô hình những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo
Tác giả dùng phân tích hồi quy logistic để
kiểm định mô hình này với phương trình được
thiết lập như sau:
NĂNG LỰC THOÁT NGHÈO = β0 +
β1TUỔI + β2GIỚI TÍNH + β3TRÌNH ĐỘ
HỌC VẤN + β4KỸ NĂNG KINH NGHIỆM +
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143
137
β5SỐ LAO ĐỘNG + β6TRÂU BÒ + β7MÁY
SẢN XUẤT + β8XE CHỞ THUÊ + β9GIA
SÚC GIA CẦM
gia đình, biến này nhận giá trị là 1 nếu hộ gia
đình có năng lực thoát nghèo tốt, và ngược lại
sẽ nhận giá trị 0.
Trong đó: Năng lực thoát nghèo là biến phụ
thuộc đo lường khả năng thoát nghèo của hộ
Bảng 1. Diễn giải các biến độc lập trong mô
hình logistic
Tên biến
TUỔI
Đơn vị
Năm
Định nghĩa
Kỳ vọng
Năm sinh, sẽ nhận giá trị tương ứng với tuổi của đại
diện hộ gia đình ở thời điểm khảo sát
+
GIỚI TÍNH
TRÌNH ĐỘ
HỌC VẤN
1/2
Năm
Nhận giá trị 1 là Nam giới, 2 là nữ giới
Trình độ học vấn nhận giá trị tương ứng với số năm
đi học của đại diện hộ gia đình ở thời điểm hiện tại
+/-
+
KỸ NĂNG
KINH NGHIỆM
Năm
Kỹ năng kinh nghiệm nhận giá trị tương ứng với số
năm trồng trọt hoặc chăn nuôi, hay kinh doanh buôn
bán của đại diện hộ tính đến thời điểm hiện tại
+
SỐ LAO ĐỘNG
Tỷ lệ
Tỷ lệ lao động, nhận giá trị tỉ lệ lao động trực tiếp
tham gia sản xuất, tổng số lao động của hộ
+
+
+
+
+
TRÂU BÒ
Con
Trâu bò, số lượng đầu con trâu bò của hộ gia đình ở
thời điểm hiện tại
MÁY SẢN XUẤT Cái
Tổng số máy sản xuất của hộ gia đình phục vụ cho
trồng trọt, chăn nuôi ở thời điểm hiện tại
XE CHỞ THUÊ
Cái
Số lượng xe chở thuê của hộ tính đến thời điểm hiện
tại
Số lượng gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng… của hộ ở
thời điểm hiện tại
GIA SÚC,
GIA CẦM
Con
(Kết quả phân tích số liệu của đề tài thực hiện 2018-2020)
3. Kết quả nghiên cứu
nghèo của hộ dân, có ảnh trực tiếp đến việc
phát huy năng lực thoát nghèo của hộ.
3.1. Tác động của nhóm nhân tố về đặc điểm
nhân khẩu xã hội
Bảng 2. Đặc điểm nhân khẩu xã hội của hộ
dân tộc Dao và dân tộc KhơMú
Đặc điểm nhân khẩu xã hội là thế mạnh của
hộ, có tác động trực tiếp đến khả năng thoát
Độ lệch
chuẩn
Chỉ tiêu
Dân tộc Đơn vị Thấp nhất Cao nhất Trung bình
TUỔI
Dao
Năm
Năm
Năm
17
15
0
80
85
14
50,16
49,3
7,16
12,29
11,36
4,007
KhơMú
Dao
TRÌNH ĐỘ
HỌC VẤN
Khơ Mú Năm
Dao Năm
Khơ Mú Năm
Dao Người
Khơ Mú Người
0
1
12
27
48
3
3,32
19,49
13,19
4,32
7,021
5,85
7,93
1,38
0,93
KỸ NĂNG KINH
NGHIỆM
0
SỐ LAO ĐỘNG
9
17
5
2,19
(Nguồn: Phân tích số liệu khảo sát của đề tài 2018-2020)
138
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143
độ học vấn giữa người không biết chữ và người
có trình độ ở bậc trung cấp hay cao đẳng.
Dựa vào kết quả khảo sát cho thấy, độ tuổi
lao động của nông hộ người dân tộc Dao cao
nhất là 80 và thấp nhất là 17, độ tuổi trung bình
là 50,16. Còn nhóm hộ dân tộc Khơ Mú tuổi
đời cao nhất là 85 thấp nhất là 15, độ tuổi trung
bình là 49,3. Đa phần cả hai nhóm hộ dân tộc
thiểu số ít người này có độ tuổi tham gia sản
xuất ở độ tuổi trung niên giới hạn khoảng từ
35-50 tuổi.
Kinh nghiệm sản xuất được tích lũy và kế
thừa theo thời gian với số năm kinh nghiệm
bình quân của hộ dân tộc Dao là 19 năm và dân
tộc Khơ Mú là 13 năm. Về kinh nghiệm sản
xuất cũng có sự khác biệt đáng kế giữa hai
nhóm dân tộc này. Với kinh nghiệm, kỹ năng
dày dặn và nhạy bén trong hoạt động sản xuất,
hộ gia đình dân tộc Dao có nhiều tiềm lực phát
huy tốt khả năng tiếp cận thị trường, lựa chọn
mô hình sản xuất, dự đoán sâu bệnh, chăn nuôi
gia súc gia cầm…
Nông hộ có trình độ học vấn cao nhất là đại
học (chỉ chiếm 0,5%), thấp nhất là mù chữ
(chiếm 10,2%). Trình độ học vấn trung bình
của các nông hộ dân tộc Dao đạt được ở trung
học cơ sở (lớp 8 đến lớp 9), dân tộc Khơ Mú
lớp 6 -7 và có sự khác biệt về trình độ học vấn
giữa 2 nhóm dân tộc thiểu số này, trong mỗi
nhóm dân tộc có sự chênh lệch đáng kể về trình
Bảng 3. Phân tích một số nhân tố thuộc về
đặc điểm nhân khẩu ảnh hưởng đến năng lực
thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc Dao và dân
tộc Khơ Mú
Mô hình hồi qui đa
biến
Mô hình logistic
Biến số
Mức ý
Hệ số B
nghĩa
Hệ số B
0,663
Mức ý nghĩa
VIF
Hằng số
Tuổi
Trình độ học vấn
Kỹ năng, kinh nghiệm
Số lao động
-7,064
0,031
0,131
0,052
0,282
0,000
0,086
0,002
0,072
0,024
0,083
0,218
0,000
0,362
0,011
0,007
0,038
0,009
0,099
1,264
1,326
1,213
1,260
Số quan sát (N): 400
Mức ý nghĩa (Sig.) : 0,002
-2 Log likelihood : 198,564
Tỷ lệ dự báo đúng : 92,200
Số quan sát (N) : 400
Mức ý nghĩa (Sig.): 0,009
Hệ số R2 hiệu chỉnh : 0,237
Hệ số Durbin-Watson : 1,026
(Nguồn: Phân tích số liệu khảo sát của đề tài 2018-2020)
Nhằm xác định các nhân tố thuộc về nhân
khẩu xã hội ảnh hưởng đến năng lực thoát
nghèo của hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc
Khơ Mú, tác giả sử dụng mô hình kiểm định
hồi qui logistic và mô hình hồi quy đa biến. Kết
quả phân tích hồi quy logistic cho thấy giá trị
Sig = 0,002 với mức ý nghĩa 99%, tỷ lệ dự báo
đúng mô hình là 92%. Như vậy có thể kết luận
những biến độc lập có tác động đến năng lực
thoát nghèo của nông hộ. Mặt khác kết quả
phân tích hồi quy đa biến cho thấy Sig = 0,009
với mức ý nghĩa 99%, giá trị VIF đều nhỏ hơn
10, hệ số hiệu chỉnh R2 = 23,7% khẳng định
các biến độc lập giải thích được năng lực thoát
nghèo của nông hộ.
Trình độ học vấn của đại diện hộ gia đình ở
kiểm định hồi quy logistic và kiểm định hồi qui
đa biến đều có ý nghĩa là mức 1% cùng với hệ
số β lần lượt là 0,321 và 0,038. Kết luận: trình
độ học vấn có tác động cùng chiều với năng lực
thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc Dao và dân
tộc Khơ Mú. Người lao động có trình độ học
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143
139
vấn càng cao thì năng lực thoát nghèo và thoát
nghèo bền vững càng tốt. Trình độ học vấn cao
sẽ giúp nông hộ hoạch định chiến lược phát
triển kinh tế và quản lý tài chính, tiếp thu và
học hỏi những kỹ năng kinh nghiệm, học hỏi và
ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ
thuật mới vào sản xuất.
Phân tích số lao động của hộ có ảnh hưởng
đến năng lực thoát nghèo, kiểm định hồi quy
logistic và kiểm định hồi qui đa biến cho mức ý
nghĩa lần lượt là 0,024 và 0,011 < 0,05. Từ đó
có thể giải thích năng lực thoát nghèo của hộ có
liên quan đến số lao động của hộ. Một số nhóm
hộ dân tộc thiểu số ít người nghèo vì không có
lao động làm việc, họ rơi vào nhóm gia đình có
con nhỏ hay có người già cả phải chăm sóc, dẫn
đến lao động chính trong gia đình không thể di
cư đi làm những công việc phi nông nghiệp
ngoài địa phương.
Kiểm định hồi quy logistic biến tuổi và kỹ
năng kinh nghiệm sản xuất của nông hộ có mức
ý nghĩa là 0,052 và 0,031 < 0,05. Từ đó cho
thấy, kinh nghiệm và tuổi tác của người lao
động có tác động đến năng lực thoát nghèo của
hộ. Người lao động có tuổi đời càng cao thì
càng có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, tuy
nhiên, những lao động trẻ lại có nhiều cơ hội và
nhanh nhạy hơn trong học hỏi những kỹ năng
kinh nghiệm mới, áp dụng những thành tựu
khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Bảng 4. Tương quan giữa học vấn với việc
thiếu kỹ năng, kinh nghiệm dẫn đến nghèo của
hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc Khơ Mú
Trình độ học vấn của chủ hộ
Mức độ
Tổng
Không đi Tốt nghiệp Tốt nghiệp Tốt nghiệp Tốt nghiệp
học
tiểu học
THCS
THPT
TC, CĐ, ĐH
Hoàn toàn
không đúng
Không đúng
một phần
-
46.4%
24.1%
23.2%
60.2%
28.2%
-
-
-
100.0%
100.0%
15.7%
Đúng một phần
Đúng
10.3%
27.4%
8.0%
48.6%
39.5%
24.1%
30.0%
23.0%
39.0%
13.1%
9.8%
-
-
100.0%
100.0%
100.0%
Hoàn toàn đúng
28.2%
.6%
(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2018 - 2020)
Kiểm định Chi-Square cho giá trị Sig =
0.018 < 0.05 với mức ý nghĩa 95%, chứng tỏ
nhận thức của người dân về nguyên nhân ảnh
hưởng đến năng lực thoát nghèo và học vấn có
mối tương quan. Kết quả này khẳng định vai trò
của học vấn trong việc phát huy năng lực thoát
nghèo của nông hộ. Nếu học vấn cao sẽ có
nhiều thuận lợi hơn trong việc tiếp nhận thông
tin, học hỏi những kỹ năng, kinh nghiệm, cách
thức làm ăn mới để vươn lên thoát nghèo, và
ngược lại, nếu học vấn thấp sẽ hạn chế rất
nhiều trong việc học hỏi, tiếp nhận khoa học kỹ
thuật, những cách làm mới để vươn lên thoát
nghèo.
Bảng 5. Tương quan giữa yếu tố học vấn với
năng lực lập kế hoạch phát triển kinh tế hộ và
quản lý kinh tế của hộ dân tộc Dao và dân tộc
Khơ Mú
140
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143
Trình độ học vấn của chủ hộ
Mức độ
Tốt
nghiệp
tiểu học
Tốt nghiệp
TC, CĐ,
ĐH trở lên
Tốt nghiệp
Tốt nghiệp
Không đi học
THCS
THPT
Hoàn toàn
không đúng
-
-
5.7%
2.8%
4.6%
9.7%
-
Không đúng
một phần
3.9%
2.9%
-
Đúng một phần
Đúng
5.5%
28.5%
62.0%
100.0%
6.5%
26.5%
64.0%
100.0%
13.8%
18.3%
59.5%
100.0%
10.1%
20.8%
54.8%
100.0%
-
-
-
-
Hoàn toàn đúng
Tổng
(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2018 - 2020)
Kiểm định Chi-Square cho giá trị Sig =
0.011 < 0.05 với mức ý nghĩa 95% chứng tỏ
học vấn của chủ hộ có tương quan với việc lập
kế hoạch phát triển kinh tế hộ và quản lý kinh
tế của hộ thoát nghèo.
Vì yếu tố trình độ học vấn thấp sẽ kéo theo
hàng loạt các yếu tố khác như không có trình
độ tay nghề, kỹ năng cao, sẽ khó khăn hơn
trong việc tiếp cận thị trường lao động việc làm
hiện nay, cũng như sẽ khó khăn trong việc đi
học nghề, đào tạo nghề mới…
Học vấn thấp là một trong những hạn chế
lớn nhất của người dân để có thể chuyển đổi
sang những công việc ổn định, có thu nhập cao.
Bảng 6. Kiểm định chi bình phương giữa
biến dân tộc với việc tham gia các lớp tập huấn
Dân tộc Dao
Số hộ Tỷ lệ (%)
130
70
200
Dân tộc Khơ Mú
Tập huấn kỹ thuật
Số hộ
59
Tỷ lệ (%)
Có tham gia
65
35
100,0
29.5
70.5
100,0
Không tham gia
Tổng
Giá trị kiểm định Chi bình phương = 44,929a
Hệ số Sig = 0,002***
141
200
(Nguồn: Phân tích số liệu khảo sát của đề tài 2018-2020)
Kiểm định chi bình phương cho giá trị Sig =
Bản thân chủ hộ luôn ý thức rất cao và cho
rằng đúng và hoàn toàn đúng trong việc chủ
động học hỏi để nâng cao năng lực thoát nghèo
cho hộ gia đình mình. Tuy nhiên, cơ cấu việc
làm của người DTTS vẫn khá lạc hậu, phần lớn
gắn với nông nghiệp và lâm nghiệp. Hầu hết
người DTTS làm việc và họ chấp nhận công
việc nặng nhọc, thu nhập thấp. Cũng vì vậy, tỷ
lệ thất nghiệp của họ rất thấp so với tỷ lệ thất
nghiệp chung của cả nước. Các nhóm dân tộc
0,002<0.005 với mức ý nghĩa 99% chứng tỏ có
sự khác biệt giữa hộ dân tộc Dao và dân tộc
Khơ Mú trong việc tham gia các lớp tập huấn.
Hộ dân tộc Dao có chí tiến thủ, cần cù chịu khó
và năng động hơn rất nhiều so với hộ gia đình
dân tộc Khơ Mú, nhất là nhóm dân tộc Dao ở
Làng Phùng Sơn xã Phùng Giáo. Họ được xem
là điểm sáng của cả huyện, tỉnh về công tác
hiếu học.
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143
141
có tỷ trọng làm việc trong nông nghiệp càng
cao thì tỷ lệ thất nghiệp càng thấp, thậm chí
không có người thất nghiệp.
máy xúc, máy tuốt...) xe để chở thuê..., thứ hai,
là những tài sản có giá trị được dùng trong sinh
hoạt hằng ngày như: điều kiện nhà ở, các vật
dụng sinh hoạt trong gia đình (tivi, tủ lạnh, xe
máy, giường tủ,….phương tiện liên lạc). Phân
tích ảnh hưởng của yếu tố vật chất đến năng lực
thoát nghèo của hộ dân tộc Dao và dân tộc Khơ
Mú, tác giả giới hạn phân tích yếu tố vật chất ở
dạng thứ nhất.
3.2. Tác động của nhóm nhân tố thuộc về yếu
tố vật chất
Nguồn vốn vật chất là điều kiện không thể
thiếu được để nông hộ sử dụng trong quá trình
sản xuất của nông hộ và sinh hoạt trong gia
đình. Vốn vật chất của nông hộ dân tộc Dao và
dân tộc Khơ Mú được kể đến ở 2 dạng: thứ
nhất, là những tài sản có giá trị được nông hộ
sử dụng trong sản xuất để tạo ra thu nhập cho
hộ bao gồm: trâu bò, máy sản xuất (máy cày,
Bảng 7. Kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố
vật chất đến năng lực thoát nghèo của hộ dân
tộc Dao và dân tộc Khơ Mú
Nhân tố
Hệ số hồi quy
đã chuẩn hoá Giá trị t
(Beta)
Mức ý
nghĩa
(Sig.)
Hệ số hồi quy chưa
Biến độc lập
phóng đại
phương sai
(VIF)
tiêu chuẩn hoá(B)
Hằng số
-10.324,1
.042
-3.35
.000
Trâu/bò
.039
.037
.019
.913
.453
.317
.018
.032
.026
1.013
1.067
1.078
Máy sản xuất(máy cày,
máy tuốt, máy múc…)
.028
.058
Xe chở thuê
Gia súc khác (Dê, lợn,
-1.213
-1.483
0.51
0.43
4.83
6.88
.022
.232
1.021
1.035
Gia cầm (gà, vịt..)
Biến số phụ thuộc: Năng lực lập kế hoạch phát triển kinh tế và quản lý kinh tế hộ
Dung lượng mẫu: 400
Giá trị F= 1.070
Giá trị Sig = 0.023
Giá trị R2 = 0.569
Giá trị R2 điều chỉnh =0.575
Giá trị Durbin Watson =1.239
(Nguồn: Kết quả phân tích số liệu điều tra nghiên cứu đề tài 2018 -2020)
Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến
tố vật chất (trâu/bò, máy sản xuất, xe chở thuê,
các loại gia súc) có ảnh hưởng đến năng lực
thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc Dao và dân
tộc Khơ Mú.
năng lực lập kế hoạch phát triển và quản lý
kinh tế hộ của hộ được dựa trên kết quả phân
tích hồi quy tuyến tính. Kiểm định hồi quy trên
cho thấy, giá trị R2 hiệu chỉnh là 0.569 với Sig
= 0,023. Kết quả trên cho thấy, các biến khác
đều có ý nghĩa thống kê với mức từ 95% trở
lên, có thể khẳng định, sự tác động của các yếu
Bảng 8. Đánh giá của hộ gia đình dân tộc
Dao và dân tộc Khơ Mú về vai trò của vốn vật
chất dùng trong sản xuất%
142
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143
Rất quan
trọng
Bình
thường
Không quan
Nhóm tài sản
Quan trọng
Tổng
trọng
Trâu/bò
Máy sản xuất(máy cày, máy
tuốt, máy múc…)
80
19
45
1
0
100
100
50
5
0
Xe chở thuê
Gia súc khác (Dê, lợn,
Gia cầm (gà, vịt..)
5
5.2
0
35
25.8
0
45
22
55
15
2
45
100
100
100
(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2018 - 2020)
Nhóm tài sản được nông hộ đánh giá quan
trọng và rất quan trọng bao gồm: trâu/bò
(chiếm 99%), các loại máy sản xuất (95%); gia
súc khác (31%). Điều này chứng tỏ, vai trò của
vốn vật chất đối với việc thoát nghèo của hộ.
Nguồn vốn vật chất không chỉ là công cụ, là
yếu tố tác động đến khả năng phát triển kinh tế
để nông hộ thoát nghèo, vươn lên làm giàu mà
còn là những tài sản có giá trị trong gia đình
của hộ gia đình.
(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2018 - 2020)
Biểu 2. Vốn vật chất được dùng trong sản xuất của hộ dân tộc Dao và dân tộc Khơ Mú %
Kiểm định Chi-Square cho giá trị Sig =
0.011 < 0.05 với mức ý nghĩa 95%, hai biến
này có mối tương quan. Kết quả này cho thấy
sự khác biệt về tài sản được dùng trong sản
xuất của nông hộ giữa dân tộc Dao và dân tộc
Khơ Mú. Nguồn vốn vật dùng trong sản xuất
của hộ gia đình dân tộc Dao tốt hơn so với hộ
dân tộc Khơ Mú ở những nhóm vốn vật chất có
giá trị như: trâu bò, máy sản xuất, xe chở thuê.
Thực trạng này chứng minh khả năng thoát
nghèo của nhóm các hộ dân tộc Khơ Mú gặp rất
nhiều khó khăn, khi tài sản được dùng trong sản
xuất còn hạn chế, nhất là nhóm những tài sản
có giá trị như trâu, bò, máy sản xuất….
4. Kết luận
Kết quả nghiên cứu đã xác định được những
nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực thoát
nghèo của hộ bao gồm nhóm những nhân tố
thuộc về đặc điểm nhân khẩu xã hội (tuổi, giới
tính, học vấn, kỹ năng kinh nghiệm, lao
động…), và nhóm nhân tố thuộc về vốn vật
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143
143
chất của hộ (trâu bò, máy sản xuất, xe chở thuê,
gia súc, gia cầm…).
vật chất như: máy sản xuất, xe chở thuê…hộ
dân tộc Dao chiếm tỷ lệ cao hơn, thực tế này
giúp hộ gia đình dân tộc Dao năng động và
nhạy bén hơn trong việc áp dụng các thành tựu
khoa học vào sản xuất, làm cho việc thoát
nghèo và thoát nghèo bền vững nhanh và ổn
định.
Đặc điểm nhân khẩu xã hội có tác động
mạnh đến việc phát huy năng lực thoát nghèo
của hộ gia đình dân tộc thiểu số, trong đó học
vấn là đặc điểm có tác động mạnh mẽ nhất, số
lao động tốt nghiệp từ trung học phổ thông trở
lên chiếm một tỉ lệ khiêm tốn. Học vấn có vai
trò quan trọng, đây là yếu tố cốt lõi, kéo theo
hàng loạt các yếu tố khác như vấn đề nâng cao
nhận thức, trang bị thêm những kiến thức kỹ
năng, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
tiếp cận thị trường lao động và tiêu thụ sản
phẩm...
Tài liệu tham khảo
[1] Đề án Ổn định sản xuất, đời sống và phát triển kinh tế
- xã hội các bản dân tộc Dao huyện Mường Lát, tỉnh
Thanh Hóa” giai đoạn 2016 -2020;
[2] Đề án Ổn định sản xuất, đời sống và phát triển kinh tế
- xã hội các bản dân tộc Dao huyện Quan Sơn, tỉnh
Thanh Hóa” giai đoạn 2016 – 2020;
[3] Đề án Ổn định đời sống và phát triển kinh tế - xã hội
dân tộc Dao, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020;
Vốn vật chất cũng là nhân tố ảnh hưởng đến
việc phát huy năng lực thoát nghèo. Nhóm tài
sản được nông hộ đánh giá quan trọng và rất
quan trọng chiếm tỷ lệ cao. Điều này chứng tỏ
vai trò của vốn vật chất đối với việc thoát
nghèo của hộ, nguồn vốn vật chất không chỉ là
công cụ, là yếu tố tác động đến khả năng phát
triển kinh tế để nông hộ thoát nghèo…
[4]
Đề án Chính sách hỗ trợ giảm nghèo cho các xã có tỷ
lệ hộ nghèo cao vùng miền núi, không nằm trong
danh mục xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135)
của tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2015 -2020;
[5]
Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Việt Nga, Nguyễn
Thanh Phương, Nguyễn Văn Thục (2015), Tổng
quan về các nghiên cứu giảm nghèo ở Việt Nam,
Viện khoa học Xã hội Việt Nam.
[6] Nguyễn Trọng Hoài (2005), Nghiên cứu ứng dụng
các mô hình kinh tế lượng phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến nghèo đói và đề xuất giải pháp xóa đói
giảm nghèo ở Đông Nam Bộ, đề tài Khoa học và
Công nghệ cấp Bộ, Trường Đại học Kinh tế Thành
phố Hồ Chí Minh.
Có sự khác biệt về những nhân tố chủ quan
ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo giữa nhóm
hộ dân tộc Dao và Khơ Mú. Hộ gia đình dân
tộc Dao có năng lực chủ quan thoát nghèo tốt
hơn nhóm hộ dân tộc Khơ Mú, thể hiện ở
những chiều cạnh: học vấn và kỹ năng kinh
nghiệm tốt hơn, các tài sản thuộc về nguồn vốn
[7] Nghị quyết số 09- NQ/TU của Ban chấp hành Đảng
Bộ tỉnh về việc tăng cường sự lãnh đạo đối với công
tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện
miền núi Thanh Hóa đến năm 2020.
Bạn đang xem tài liệu "Những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc Khơ Mú tại Thanh Hoá", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhung_nhan_to_chu_quan_anh_huong_den_nang_luc_thoat_ngheo_cu.pdf

