Những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc Khơ Mú tại Thanh Hoá

Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143  
135  
5(48) (2021) 135-143  
Những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo  
của hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc Khơ Mú tại Thanh Hoá  
The subjective factors on capacity to escape poverty of the Dao and Khmu households in  
Thanh Hoa province  
Nguyễn Thị Duyêna*  
Nguyen Thi Duyena*  
aKhoa Khoa học Xã hội, Trường Đại học Hồng Đức, Thanh Hoá, Việt Nam  
aFaculty of Social Sciences, Hong Duc University, Thanh Hoa, Viet Nam  
(Ngày nhận bài: 20/5/2021, ngày phản biện xong: 11/7/2021, ngày chấp nhận đăng: 02/10/2021)  
Tóm tắt  
Nghiên cứu mô tả và phân tích tác động của những nhân tố chủ quan đến năng lực thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc  
Dao và dân tộc Khơ Mú tại tỉnh Thanh Hoá. Những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo của hộ dân  
tộc thiểu số ít người giới hạn ở 2 chiều cạnh: Đặc điểm nhân khẩu xã hội của hộ và những nhân tố thuộc về vốn vật chất  
để phát triển kinh tế của hộ. Ngoài ra, nghiên cứu cũng phân tích sự khác biệt về những nhân tố chủ quan ảnh hưởng  
đến năng lực thoát nghèo của dân tộc Dao và dân tộc Khơ Mú ở Thanh Hoá hiện nay.  
Từ khoá: Dân tộc thiểu số ít người; hộ nghèo; năng lực thoát nghèo; Thanh Hoá.  
Abstract  
The research describes and analyzes the impact of the subjective factors on the capacity to escape poverty of households  
of the Dao and Khmu ethnic groups in Thanh Hoa province. Subjective factors affecting their ability to escape poverty  
of ethnic minority households have 2-dimensional limits: Social demographic characteristics of the household and  
factors of physical capital for the economic development of the household. In addition, the study also analyzes the  
differences in the subjective factors affecting the capacity to escape poverty of the Dao and the Khmu in Thanh Hoa  
nowaday.  
Keywords: Ethnic minorities; poor households; capacity to escape poverty; Thanh Hoa  
1. Đặt vấn đề  
năng lực thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc  
Dao và dân tộc Khơ Mú. Những nhân tố chủ  
quan là nhóm nhân tố bên trong của hộ, tác  
động trực tiếp và quyết định năng lực thoát  
nghèo bao gồm (tuổi, giới tính,học vấn, nghề  
nghiệp, kỹ năng kinh nghiệm, số lượng lao  
động trong hộ gia đình, các yếu tố thuộc về  
Năng lực thoát nghèo của hộ gia đình dân  
tộc thiểu số nói chung và dân tộc thiểu số ít  
người ở Thanh Hoá nói riêng chịu sự tác động  
của nhiều nhóm nhân tố khác nhau, ở những  
chiều cạnh và mức độ khác nhau. Bài viết phân  
tích những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến  
*Corresponding Author: Nguyen Thi Duyen; Faculty of Social Sciences, Hong Duc University, Thanh Hoa, Viet Nam  
136  
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143  
nguồn vốn vật chất của hộ…) Hiện nay, trên  
địa bàn miền núi tỉnh Thanh Hoá có 6 dân tộc  
thiểu số đang sinh sống (Thái, Mường, Thổ,  
Mông, Dao, Khơ Mú) và phân bố ở 11 huyện  
miền núi, tuy nhiên, nghiên cứu lựa chọn hai  
nhóm dân tộc thiểu số ít người cư trú ở vùng  
núi cao, với điều kiện phát triển kinh tế còn  
nhiều khó khăn của tỉnh Thanh Hoá, là dân tộc  
Dao và dân tộc Khơ Mú.  
Mú trong đó (nam giới chiếm 80% và 20% nữ  
giới; hộ nghèo chiếm 55% và 45% hộ thoát  
nghèo; Nghề nghiệp có 75% làm ruộng, 1,5%  
trồng rừng, 0,5% buôn bán dịch vụ, 11% thủ  
công, chăn nuôi,12% công nhân làm thuê; Học  
vấn có 40,5% không đi học, 32,5% tiểu học,  
20% trung học cơ sở, 6,5% trung học phổ  
thông, và 0,5% TC, CĐ, ĐH). Có 30 phỏng vấn  
sâu bổ sung thông tin cho các phân tích định  
lượng, (8 phỏng vấn dành cho cán bộ xã, thôn  
và 22 phỏng vấn người dân). Nội dung phỏng  
vấn xoay quanh những thuận lợi và khó khăn,  
những biện pháp cách thức mà các hộ gia đình  
đã thực hiện, những mong muốn và đề xuất…  
của hộ gia đình trong quá trình phát triển kinh  
tế để vươn lên thoát nghèo và thoát nghèo bền  
vững của hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc  
Khơ Mú.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ  
nông hộ và các cấp chính quyền. Phương pháp  
chọn mẫu ngẫu nhiên đại diện hộ gia đình của  
nhóm hộ nghèo và nhóm hộ thoát nghèo. Kết  
quả phân tích dựa trên số liệu khảo sát của đề  
tài được thực hiện trong đoạn 2018-2020 về  
“Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến  
năng lực thoát nghèo bền vững của hộ gia đình  
dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Thanh Hoá hiện  
nay”. Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn bán cấu  
trúc 3400 đại diện hộ gia đình trong đó 400 đại  
diện hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc Khơ  
Mô hình nghiên cứu những nhân tố chủ quan  
ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo của hộ gia  
đình dân tộc thiểu số ít người Dao, Khơ Mú ở  
Thanh Hoá được thiết lập như sau:  
Nguồn vốn vật  
chất của hộ:  
- Trâu bò  
- Máy sản xuất  
- Xe chở thuê  
- Gia súc (Dê,  
lợn…)  
Đặc điểm nhân khẩu  
xã hội:  
- Tuổi  
- Giới tính  
- Học vấn  
- Kỹ năng, kinh  
nghiệm  
- Số lao động trong  
hộ  
NĂNG LỰC  
THOÁT NGHÈO  
CỦA HỘ DÂN  
TỘC DAO, DÂN  
TỘC KHƠ MÚ  
- Gia cầm (Gà,  
vịt…)  
…
Biểu 1. Mô hình những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo  
Tác giả dùng phân tích hồi quy logistic để  
kiểm định mô hình này với phương trình được  
thiết lập như sau:  
NĂNG LỰC THOÁT NGHÈO = β0 +  
β1TUỔI + β2GIỚI TÍNH + β3TRÌNH ĐỘ  
HỌC VẤN + β4KỸ NĂNG KINH NGHIỆM +  
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143  
137  
β5SỐ LAO ĐỘNG + β6TRÂU BÒ + β7MÁY  
SẢN XUẤT + β8XE CHỞ THUÊ + β9GIA  
SÚC GIA CẦM  
gia đình, biến này nhận giá trị là 1 nếu hộ gia  
đình có năng lực thoát nghèo tốt, và ngược lại  
sẽ nhận giá trị 0.  
Trong đó: Năng lực thoát nghèo là biến phụ  
thuộc đo lường khả năng thoát nghèo của hộ  
Bảng 1. Diễn giải các biến độc lập trong mô  
hình logistic  
Tên biến  
TUỔI  
Đơn vị  
Năm  
Định nghĩa  
Kỳ vọng  
Năm sinh, sẽ nhận giá trị tương ứng với tuổi của đại  
diện hộ gia đình ở thời điểm khảo sát  
+
GIỚI TÍNH  
TRÌNH ĐỘ  
HỌC VẤN  
1/2  
Năm  
Nhận giá trị 1 là Nam giới, 2 là nữ giới  
Trình độ học vấn nhận giá trị tương ứng với số năm  
đi học của đại diện hộ gia đình ở thời điểm hiện tại  
+/-  
+
KỸ NĂNG  
KINH NGHIỆM  
Năm  
Kỹ năng kinh nghiệm nhận giá trị tương ứng với số  
năm trồng trọt hoặc chăn nuôi, hay kinh doanh buôn  
bán của đại diện hộ tính đến thời điểm hiện tại  
+
SỐ LAO ĐỘNG  
Tỷ lệ  
Tỷ lệ lao động, nhận giá trị tỉ lệ lao động trực tiếp  
tham gia sản xuất, tổng số lao động của hộ  
+
+
+
+
+
TRÂU BÒ  
Con  
Trâu bò, số lượng đầu con trâu bò của hộ gia đình ở  
thời điểm hiện tại  
MÁY SẢN XUẤT Cái  
Tổng số máy sản xuất của hộ gia đình phục vụ cho  
trồng trọt, chăn nuôi ở thời điểm hiện tại  
XE CHỞ THUÊ  
Cái  
Số lượng xe chở thuê của hộ tính đến thời điểm hiện  
tại  
Số lượng gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng… của hộ ở  
thời điểm hiện tại  
GIA SÚC,  
GIA CẦM  
Con  
(Kết quả phân tích số liệu của đề tài thực hiện 2018-2020)  
3. Kết quả nghiên cứu  
nghèo của hộ dân, có ảnh trực tiếp đến việc  
phát huy năng lực thoát nghèo của hộ.  
3.1. Tác động của nhóm nhân tố về đặc điểm  
nhân khẩu xã hội  
Bảng 2. Đặc điểm nhân khẩu xã hội của hộ  
dân tộc Dao và dân tộc KhơMú  
Đặc điểm nhân khẩu xã hội là thế mạnh của  
hộ, có tác động trực tiếp đến khả năng thoát  
Độ lệch  
chuẩn  
Chỉ tiêu  
Dân tộc Đơn vị Thấp nhất Cao nhất Trung bình  
TUỔI  
Dao  
Năm  
Năm  
Năm  
17  
15  
0
80  
85  
14  
50,16  
49,3  
7,16  
12,29  
11,36  
4,007  
KhơMú  
Dao  
TRÌNH ĐỘ  
HỌC VẤN  
Khơ Mú Năm  
Dao Năm  
Khơ Mú Năm  
Dao Người  
Khơ Mú Người  
0
1
12  
27  
48  
3
3,32  
19,49  
13,19  
4,32  
7,021  
5,85  
7,93  
1,38  
0,93  
KỸ NĂNG KINH  
NGHIỆM  
0
SỐ LAO ĐỘNG  
9
17  
5
2,19  
(Nguồn: Phân tích số liệu khảo sát của đề tài 2018-2020)  
138  
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143  
độ học vấn giữa người không biết chữ và người  
có trình độ ở bậc trung cấp hay cao đẳng.  
Dựa vào kết quả khảo sát cho thấy, độ tuổi  
lao động của nông hộ người dân tộc Dao cao  
nhất là 80 và thấp nhất là 17, độ tuổi trung bình  
là 50,16. Còn nhóm hộ dân tộc Khơ Mú tuổi  
đời cao nhất là 85 thấp nhất là 15, độ tuổi trung  
bình là 49,3. Đa phần cả hai nhóm hộ dân tộc  
thiểu số ít người này có độ tuổi tham gia sản  
xuất ở độ tuổi trung niên giới hạn khoảng từ  
35-50 tuổi.  
Kinh nghiệm sản xuất được tích lũy và kế  
thừa theo thời gian với số năm kinh nghiệm  
bình quân của hộ dân tộc Dao là 19 năm và dân  
tộc Khơ Mú là 13 năm. Về kinh nghiệm sản  
xuất cũng có sự khác biệt đáng kế giữa hai  
nhóm dân tộc này. Với kinh nghiệm, kỹ năng  
dày dặn và nhạy bén trong hoạt động sản xuất,  
hộ gia đình dân tộc Dao có nhiều tiềm lực phát  
huy tốt khả năng tiếp cận thị trường, lựa chọn  
mô hình sản xuất, dự đoán sâu bệnh, chăn nuôi  
gia súc gia cầm…  
Nông hộ có trình độ học vấn cao nhất là đại  
học (chỉ chiếm 0,5%), thấp nhất là mù chữ  
(chiếm 10,2%). Trình độ học vấn trung bình  
của các nông hộ dân tộc Dao đạt được ở trung  
học cơ sở (lớp 8 đến lớp 9), dân tộc Khơ Mú  
lớp 6 -7 và có sự khác biệt về trình độ học vấn  
giữa 2 nhóm dân tộc thiểu số này, trong mỗi  
nhóm dân tộc có sự chênh lệch đáng kể về trình  
Bảng 3. Phân tích một số nhân tố thuộc về  
đặc điểm nhân khẩu ảnh hưởng đến năng lực  
thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc Dao và dân  
tộc Khơ Mú  
Mô hình hồi qui đa  
biến  
Mô hình logistic  
Biến số  
Mức ý  
Hệ số B  
nghĩa  
Hệ số B  
0,663  
Mức ý nghĩa  
VIF  
Hằng số  
Tuổi  
Trình độ học vấn  
Kỹ năng, kinh nghiệm  
Số lao động  
-7,064  
0,031  
0,131  
0,052  
0,282  
0,000  
0,086  
0,002  
0,072  
0,024  
0,083  
0,218  
0,000  
0,362  
0,011  
0,007  
0,038  
0,009  
0,099  
1,264  
1,326  
1,213  
1,260  
Số quan sát (N): 400  
Mức ý nghĩa (Sig.) : 0,002  
-2 Log likelihood : 198,564  
Tỷ lệ dự báo đúng : 92,200  
Số quan sát (N) : 400  
Mức ý nghĩa (Sig.): 0,009  
Hệ số R2 hiệu chỉnh : 0,237  
Hệ số Durbin-Watson : 1,026  
(Nguồn: Phân tích số liệu khảo sát của đề tài 2018-2020)  
Nhằm xác định các nhân tố thuộc về nhân  
khẩu xã hội ảnh hưởng đến năng lực thoát  
nghèo của hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc  
Khơ Mú, tác giả sử dụng mô hình kiểm định  
hồi qui logistic và mô hình hồi quy đa biến. Kết  
quả phân tích hồi quy logistic cho thấy giá trị  
Sig = 0,002 với mức ý nghĩa 99%, tỷ lệ dự báo  
đúng mô hình là 92%. Như vậy có thể kết luận  
những biến độc lập có tác động đến năng lực  
thoát nghèo của nông hộ. Mặt khác kết quả  
phân tích hồi quy đa biến cho thấy Sig = 0,009  
với mức ý nghĩa 99%, giá trị VIF đều nhỏ hơn  
10, hệ số hiệu chỉnh R2 = 23,7% khẳng định  
các biến độc lập giải thích được năng lực thoát  
nghèo của nông hộ.  
Trình độ học vấn của đại diện hộ gia đình ở  
kiểm định hồi quy logistic và kiểm định hồi qui  
đa biến đều có ý nghĩa là mức 1% cùng với hệ  
số β lần lượt là 0,321 và 0,038. Kết luận: trình  
độ học vấn có tác động cùng chiều với năng lực  
thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc Dao và dân  
tộc Khơ Mú. Người lao động có trình độ học  
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143  
139  
vấn càng cao thì năng lực thoát nghèo và thoát  
nghèo bền vững càng tốt. Trình độ học vấn cao  
sẽ giúp nông hộ hoạch định chiến lược phát  
triển kinh tế và quản lý tài chính, tiếp thu và  
học hỏi những kỹ năng kinh nghiệm, học hỏi và  
ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ  
thuật mới vào sản xuất.  
Phân tích số lao động của hộ có ảnh hưởng  
đến năng lực thoát nghèo, kiểm định hồi quy  
logistic và kiểm định hồi qui đa biến cho mức ý  
nghĩa lần lượt là 0,024 và 0,011 < 0,05. Từ đó  
có thể giải thích năng lực thoát nghèo của hộ có  
liên quan đến số lao động của hộ. Một số nhóm  
hộ dân tộc thiểu số ít người nghèo vì không có  
lao động làm việc, họ rơi vào nhóm gia đình có  
con nhỏ hay có người già cả phải chăm sóc, dẫn  
đến lao động chính trong gia đình không thể di  
cư đi làm những công việc phi nông nghiệp  
ngoài địa phương.  
Kiểm định hồi quy logistic biến tuổi và kỹ  
năng kinh nghiệm sản xuất của nông hộ có mức  
ý nghĩa là 0,052 và 0,031 < 0,05. Từ đó cho  
thấy, kinh nghiệm và tuổi tác của người lao  
động có tác động đến năng lực thoát nghèo của  
hộ. Người lao động có tuổi đời càng cao thì  
càng có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, tuy  
nhiên, những lao động trẻ lại có nhiều cơ hội và  
nhanh nhạy hơn trong học hỏi những kỹ năng  
kinh nghiệm mới, áp dụng những thành tựu  
khoa học kỹ thuật vào sản xuất.  
Bảng 4. Tương quan giữa học vấn với việc  
thiếu kỹ năng, kinh nghiệm dẫn đến nghèo của  
hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc Khơ Mú  
Trình độ học vấn của chủ hộ  
Mức độ  
Tổng  
Không đi Tốt nghiệp Tốt nghiệp Tốt nghiệp Tốt nghiệp  
học  
tiểu học  
THCS  
THPT  
TC, CĐ, ĐH  
Hoàn toàn  
không đúng  
Không đúng  
một phần  
-
46.4%  
24.1%  
23.2%  
60.2%  
28.2%  
-
-
-
100.0%  
100.0%  
15.7%  
Đúng một phần  
Đúng  
10.3%  
27.4%  
8.0%  
48.6%  
39.5%  
24.1%  
30.0%  
23.0%  
39.0%  
13.1%  
9.8%  
-
-
100.0%  
100.0%  
100.0%  
Hoàn toàn đúng  
28.2%  
.6%  
(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2018 - 2020)  
Kiểm định Chi-Square cho giá trị Sig =  
0.018 < 0.05 với mức ý nghĩa 95%, chứng tỏ  
nhận thức của người dân về nguyên nhân ảnh  
hưởng đến năng lực thoát nghèo và học vấn có  
mối tương quan. Kết quả này khẳng định vai trò  
của học vấn trong việc phát huy năng lực thoát  
nghèo của nông hộ. Nếu học vấn cao sẽ có  
nhiều thuận lợi hơn trong việc tiếp nhận thông  
tin, học hỏi những kỹ năng, kinh nghiệm, cách  
thức làm ăn mới để vươn lên thoát nghèo, và  
ngược lại, nếu học vấn thấp sẽ hạn chế rất  
nhiều trong việc học hỏi, tiếp nhận khoa học kỹ  
thuật, những cách làm mới để vươn lên thoát  
nghèo.  
Bảng 5. Tương quan giữa yếu tố học vấn với  
năng lực lập kế hoạch phát triển kinh tế hộ và  
quản lý kinh tế của hộ dân tộc Dao và dân tộc  
Khơ Mú  
140  
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143  
Trình độ học vấn của chủ hộ  
Mức độ  
Tốt  
nghiệp  
tiểu học  
Tốt nghiệp  
TC, CĐ,  
ĐH trở lên  
Tốt nghiệp  
Tốt nghiệp  
Không đi học  
THCS  
THPT  
Hoàn toàn  
không đúng  
-
-
5.7%  
2.8%  
4.6%  
9.7%  
-
Không đúng  
một phần  
3.9%  
2.9%  
-
Đúng một phần  
Đúng  
5.5%  
28.5%  
62.0%  
100.0%  
6.5%  
26.5%  
64.0%  
100.0%  
13.8%  
18.3%  
59.5%  
100.0%  
10.1%  
20.8%  
54.8%  
100.0%  
-
-
-
-
Hoàn toàn đúng  
Tổng  
(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2018 - 2020)  
Kiểm định Chi-Square cho giá trị Sig =  
0.011 < 0.05 với mức ý nghĩa 95% chứng tỏ  
học vấn của chủ hộ có tương quan với việc lập  
kế hoạch phát triển kinh tế hộ và quản lý kinh  
tế của hộ thoát nghèo.  
Vì yếu tố trình độ học vấn thấp sẽ kéo theo  
hàng loạt các yếu tố khác như không có trình  
độ tay nghề, kỹ năng cao, sẽ khó khăn hơn  
trong việc tiếp cận thị trường lao động việc làm  
hiện nay, cũng như sẽ khó khăn trong việc đi  
học nghề, đào tạo nghề mới…  
Học vấn thấp là một trong những hạn chế  
lớn nhất của người dân để có thể chuyển đổi  
sang những công việc ổn định, có thu nhập cao.  
Bảng 6. Kiểm định chi bình phương giữa  
biến dân tộc với việc tham gia các lớp tập huấn  
Dân tộc Dao  
Số hộ Tỷ lệ (%)  
130  
70  
200  
Dân tộc Khơ Mú  
Tập huấn kỹ thuật  
Số hộ  
59  
Tỷ lệ (%)  
Có tham gia  
65  
35  
100,0  
29.5  
70.5  
100,0  
Không tham gia  
Tổng  
Giá trị kiểm định Chi bình phương = 44,929a  
Hệ số Sig = 0,002***  
141  
200  
(Nguồn: Phân tích số liệu khảo sát của đề tài 2018-2020)  
Kiểm định chi bình phương cho giá trị Sig =  
Bản thân chủ hộ luôn ý thức rất cao và cho  
rằng đúng và hoàn toàn đúng trong việc chủ  
động học hỏi để nâng cao năng lực thoát nghèo  
cho hộ gia đình mình. Tuy nhiên, cơ cấu việc  
làm của người DTTS vẫn khá lạc hậu, phần lớn  
gắn với nông nghiệp và lâm nghiệp. Hầu hết  
người DTTS làm việc và họ chấp nhận công  
việc nặng nhọc, thu nhập thấp. Cũng vì vậy, tỷ  
lệ thất nghiệp của họ rất thấp so với tỷ lệ thất  
nghiệp chung của cả nước. Các nhóm dân tộc  
0,002<0.005 với mức ý nghĩa 99% chứng tỏ có  
sự khác biệt giữa hộ dân tộc Dao và dân tộc  
Khơ Mú trong việc tham gia các lớp tập huấn.  
Hộ dân tộc Dao có chí tiến thủ, cần cù chịu khó  
và năng động hơn rất nhiều so với hộ gia đình  
dân tộc Khơ Mú, nhất là nhóm dân tộc Dao ở  
Làng Phùng Sơn xã Phùng Giáo. Họ được xem  
là điểm sáng của cả huyện, tỉnh về công tác  
hiếu học.  
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143  
141  
có tỷ trọng làm việc trong nông nghiệp càng  
cao thì tỷ lệ thất nghiệp càng thấp, thậm chí  
không có người thất nghiệp.  
máy xúc, máy tuốt...) xe để chở thuê..., thứ hai,  
là những tài sản có giá trị được dùng trong sinh  
hoạt hằng ngày như: điều kiện nhà ở, các vật  
dụng sinh hoạt trong gia đình (tivi, tủ lạnh, xe  
máy, giường tủ,….phương tiện liên lạc). Phân  
tích ảnh hưởng của yếu tố vật chất đến năng lực  
thoát nghèo của hộ dân tộc Dao và dân tộc Khơ  
Mú, tác giả giới hạn phân tích yếu tố vật chất ở  
dạng thứ nhất.  
3.2. Tác động của nhóm nhân tố thuộc về yếu  
tố vật chất  
Nguồn vốn vật chất là điều kiện không thể  
thiếu được để nông hộ sử dụng trong quá trình  
sản xuất của nông hộ và sinh hoạt trong gia  
đình. Vốn vật chất của nông hộ dân tộc Dao và  
dân tộc Khơ Mú được kể đến ở 2 dạng: thứ  
nhất, là những tài sản có giá trị được nông hộ  
sử dụng trong sản xuất để tạo ra thu nhập cho  
hộ bao gồm: trâu bò, máy sản xuất (máy cày,  
Bảng 7. Kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố  
vật chất đến năng lực thoát nghèo của hộ dân  
tộc Dao và dân tộc Khơ Mú  
Nhân tố  
Hệ số hồi quy  
đã chuẩn hoá Giá trị t  
(Beta)  
Mức ý  
nghĩa  
(Sig.)  
Hệ số hồi quy chưa  
Biến độc lập  
phóng đại  
phương sai  
(VIF)  
tiêu chuẩn hoá(B)  
Hằng số  
-10.324,1  
.042  
-3.35  
.000  
Trâu/bò  
.039  
.037  
.019  
.913  
.453  
.317  
.018  
.032  
.026  
1.013  
1.067  
1.078  
Máy sản xuất(máy cày,  
máy tuốt, máy múc…)  
.028  
.058  
Xe chở thuê  
Gia súc khác (Dê, lợn,  
-1.213  
-1.483  
0.51  
0.43  
4.83  
6.88  
.022  
.232  
1.021  
1.035  
Gia cầm (gà, vịt..)  
Biến số phụ thuộc: Năng lực lập kế hoạch phát triển kinh tế và quản lý kinh tế hộ  
Dung lượng mẫu: 400  
Giá trị F= 1.070  
Giá trị Sig = 0.023  
Giá trị R2 = 0.569  
Giá trị R2 điều chỉnh =0.575  
Giá trị Durbin Watson =1.239  
(Nguồn: Kết quả phân tích số liệu điều tra nghiên cứu đề tài 2018 -2020)  
Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến  
tố vật chất (trâu/bò, máy sản xuất, xe chở thuê,  
các loại gia súc) có ảnh hưởng đến năng lực  
thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc Dao và dân  
tộc Khơ Mú.  
năng lực lập kế hoạch phát triển và quản lý  
kinh tế hộ của hộ được dựa trên kết quả phân  
tích hồi quy tuyến tính. Kiểm định hồi quy trên  
cho thấy, giá trị R2 hiệu chỉnh là 0.569 với Sig  
= 0,023. Kết quả trên cho thấy, các biến khác  
đều có ý nghĩa thống kê với mức từ 95% trở  
lên, có thể khẳng định, sự tác động của các yếu  
Bảng 8. Đánh giá của hộ gia đình dân tộc  
Dao và dân tộc Khơ Mú về vai trò của vốn vật  
chất dùng trong sản xuất%  
142  
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143  
Rất quan  
trọng  
Bình  
thường  
Không quan  
Nhóm tài sản  
Quan trọng  
Tổng  
trọng  
Trâu/bò  
Máy sản xuất(máy cày, máy  
tuốt, máy múc…)  
80  
19  
45  
1
0
100  
100  
50  
5
0
Xe chở thuê  
Gia súc khác (Dê, lợn,  
Gia cầm (gà, vịt..)  
5
5.2  
0
35  
25.8  
0
45  
22  
55  
15  
2
45  
100  
100  
100  
(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2018 - 2020)  
Nhóm tài sản được nông hộ đánh giá quan  
trọng và rất quan trọng bao gồm: trâu/bò  
(chiếm 99%), các loại máy sản xuất (95%); gia  
súc khác (31%). Điều này chứng tỏ, vai trò của  
vốn vật chất đối với việc thoát nghèo của hộ.  
Nguồn vốn vật chất không chỉ là công cụ, là  
yếu tố tác động đến khả năng phát triển kinh tế  
để nông hộ thoát nghèo, vươn lên làm giàu mà  
còn là những tài sản có giá trị trong gia đình  
của hộ gia đình.  
(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2018 - 2020)  
Biểu 2. Vốn vật chất được dùng trong sản xuất của hộ dân tộc Dao và dân tộc Khơ Mú %  
Kiểm định Chi-Square cho giá trị Sig =  
0.011 < 0.05 với mức ý nghĩa 95%, hai biến  
này có mối tương quan. Kết quả này cho thấy  
sự khác biệt về tài sản được dùng trong sản  
xuất của nông hộ giữa dân tộc Dao và dân tộc  
Khơ Mú. Nguồn vốn vật dùng trong sản xuất  
của hộ gia đình dân tộc Dao tốt hơn so với hộ  
dân tộc Khơ Mú ở những nhóm vốn vật chất có  
giá trị như: trâu bò, máy sản xuất, xe chở thuê.  
Thực trạng này chứng minh khả năng thoát  
nghèo của nhóm các hộ dân tộc Khơ Mú gặp rất  
nhiều khó khăn, khi tài sản được dùng trong sản  
xuất còn hạn chế, nhất là nhóm những tài sản  
có giá trị như trâu, bò, máy sản xuất….  
4. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu đã xác định được những  
nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực thoát  
nghèo của hộ bao gồm nhóm những nhân tố  
thuộc về đặc điểm nhân khẩu xã hội (tuổi, giới  
tính, học vấn, kỹ năng kinh nghiệm, lao  
động…), và nhóm nhân tố thuộc về vốn vật  
Nguyễn Thị Duyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 135-143  
143  
chất của hộ (trâu bò, máy sản xuất, xe chở thuê,  
gia súc, gia cầm…).  
vật chất như: máy sản xuất, xe chở thuê…hộ  
dân tộc Dao chiếm tỷ lệ cao hơn, thực tế này  
giúp hộ gia đình dân tộc Dao năng động và  
nhạy bén hơn trong việc áp dụng các thành tựu  
khoa học vào sản xuất, làm cho việc thoát  
nghèo và thoát nghèo bền vững nhanh và ổn  
định.  
Đặc điểm nhân khẩu xã hội có tác động  
mạnh đến việc phát huy năng lực thoát nghèo  
của hộ gia đình dân tộc thiểu số, trong đó học  
vấn là đặc điểm có tác động mạnh mẽ nhất, số  
lao động tốt nghiệp từ trung học phổ thông trở  
lên chiếm một tỉ lệ khiêm tốn. Học vấn có vai  
trò quan trọng, đây là yếu tố cốt lõi, kéo theo  
hàng loạt các yếu tố khác như vấn đề nâng cao  
nhận thức, trang bị thêm những kiến thức kỹ  
năng, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất,  
tiếp cận thị trường lao động và tiêu thụ sản  
phẩm...  
Tài liệu tham khảo  
[1] Đề án Ổn định sản xuất, đời sống và phát triển kinh tế  
- xã hội các bản dân tộc Dao huyện Mường Lát, tỉnh  
Thanh Hóa” giai đoạn 2016 -2020;  
[2] Đề án Ổn định sản xuất, đời sống và phát triển kinh tế  
- xã hội các bản dân tộc Dao huyện Quan Sơn, tỉnh  
Thanh Hóa” giai đoạn 2016 – 2020;  
[3] Đề án Ổn định đời sống và phát triển kinh tế - xã hội  
dân tộc Dao, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020;  
Vốn vật chất cũng là nhân tố ảnh hưởng đến  
việc phát huy năng lực thoát nghèo. Nhóm tài  
sản được nông hộ đánh giá quan trọng và rất  
quan trọng chiếm tỷ lệ cao. Điều này chứng tỏ  
vai trò của vốn vật chất đối với việc thoát  
nghèo của hộ, nguồn vốn vật chất không chỉ là  
công cụ, là yếu tố tác động đến khả năng phát  
triển kinh tế để nông hộ thoát nghèo…  
[4]  
Đề án Chính sách hỗ trợ giảm nghèo cho các xã có tỷ  
lệ hộ nghèo cao vùng miền núi, không nằm trong  
danh mục xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135)  
của tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2015 -2020;  
[5]  
Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Việt Nga, Nguyễn  
Thanh Phương, Nguyễn Văn Thục (2015), Tổng  
quan về các nghiên cứu giảm nghèo ở Việt Nam,  
Viện khoa học Xã hội Việt Nam.  
[6] Nguyễn Trọng Hoài (2005), Nghiên cứu ứng dụng  
các mô hình kinh tế lượng phân tích các nhân tố ảnh  
hưởng đến nghèo đói và đề xuất giải pháp xóa đói  
giảm nghèo ở Đông Nam Bộ, đề tài Khoa học và  
Công nghệ cấp Bộ, Trường Đại học Kinh tế Thành  
phố Hồ Chí Minh.  
Có sự khác biệt về những nhân tố chủ quan  
ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo giữa nhóm  
hộ dân tộc Dao và Khơ Mú. Hộ gia đình dân  
tộc Dao có năng lực chủ quan thoát nghèo tốt  
hơn nhóm hộ dân tộc Khơ Mú, thể hiện ở  
những chiều cạnh: học vấn và kỹ năng kinh  
nghiệm tốt hơn, các tài sản thuộc về nguồn vốn  
[7] Nghị quyết số 09- NQ/TU của Ban chấp hành Đảng  
Bộ tỉnh về việc tăng cường sự lãnh đạo đối với công  
tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện  
miền núi Thanh Hóa đến năm 2020.  
pdf 9 trang baolam 28000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc Dao và dân tộc Khơ Mú tại Thanh Hoá", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_nhan_to_chu_quan_anh_huong_den_nang_luc_thoat_ngheo_cu.pdf