Nghiên cứu xã hội hóa về giới ở trẻ em trong gia đình và một số vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay

Nghiên cứu xã hội hóa về giới ở trẻ em trong gia đình  
và một số vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay  
Nguyễn Thị Phương(*)  
Nguyễn Hữu Minh(**)  
Tóm tắt: Gia đình là thiết chế xã hội cơ bản, là môi trường xã hội hóa đầu tiên và suốt  
đời của con người. Có rất nhiều điều tạo nên bản sắc, đặc điểm riêng của mỗi cá nhân  
được hình thành nên từ quá trình học hỏi ngay trong gia đình và bản sắc giới của mỗi cá  
nhân chính là một trong những điều đó. Cá nhân học hỏi cách đóng các vai trò giới từ  
quá trình giáo dục của người lớn trong gia đình, từ cách bắt chước các khuôn mẫu giới  
đang tồn tại trong gia đình. Thông qua quá trình xã hội hóa về giới trong gia đình ngay  
từ khi còn nhỏ, trẻ học cách trở thành người đàn ông hay người phụ nữ trong tương lai.  
Bài viết nhằm tổng quan một số phát hiện của các nghiên cứu đã có với chủ đề xã hội hóa  
về giới ở trẻ em trong gia đình, trên cơ sở đó thảo luận một số vấn đề cần tiếp tục nghiên  
cứu về chủ đề nghiên cứu này trong bối cảnh hiện nay.  
Từ khóa: Xã hội hóa về giới, Trẻ em, Gia đình, Giới  
Abstract: The family is a basic social institution, the first and lifelong socialization  
environmentofman.Therearemanythingsthatmakeuptheidentity,uniquecharacteristics  
of each individual are formed from the learning process within the family and the gender  
identity of each individual is one of those. Individuals learn how to play gender roles  
from the educational process of adults in the family, from how to imitate existing gender  
stereotypes in the family. Through the process of gender socialization in the family from  
an early age, children learn how to be a man or a woman in the future. The article aims to  
review some of the findings of existing studies with the topic of child gender socialization  
in the family and discusses some issues that need further research in the current context.  
Keywords: Gender socialization, Children, Family, Gender  
1. Mở đầu1  
tích cực ở Việt Nam. Sự xuất hiện của  
Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, cách tiếp cận giới đã làm biến đổi nhanh  
quan điểm giới bắt đầu được truyền bá chóng những quan niệm truyền thống về  
vai trò, vị thế và mối quan hệ giữa phụ nữ  
(*) TS., Phân viện Trường Đại học Nội vụ tại thành  
phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]  
(**) GS.TS., Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện  
và nam giới trong gia đình và xã hội, thúc  
đẩy việc tạo lập bình đẳng giới trong mọi  
lĩnh vực của đời sống xã hội ở Việt Nam.  
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam;  
Cách tiếp cận giới cho rằng, mỗi giới tự  
Nghiên cứu xã hội hóa…  
21  
nhận diện vai trò của mình trong đời sống trọng cho sự phát triển của cả bản sắc giới  
hôn nhân và gia đình. Do đó, bất kỳ thay và vai trò giới. Gia đình là một trong những  
đổi nào trong hoạt động của mỗi giới trong môi trường vi mô quan trọng nhất thực  
gia đình đều chịu ảnh hưởng bởi những hiện xã hội hóa và dưới ảnh hưởng của thời  
giá trị mà mỗi giới gán cho các hoạt động đại, chức năng xã hội hóa gia đình đang có  
đó, trong đó hệ tư tưởng giới đóng vai trò những biến đổi (Lê Ngọc Văn, 2012).  
quan trọng (Oakley, 1972). Như vậy, khi  
Các nghiên cứu về chủ đề này thường  
người vợ và người chồng có những niềm quan tâm đến việc làm rõ vai trò của người  
tin truyền thống về vai trò giới thì sẽ phân cha, người mẹ, các chủ thể khác trong quá  
chia việc nhà theo hướng truyền thống - trình xã hội hóa về giới, cũng như nội dung  
nghĩa là người vợ chịu trách nhiệm chính của xã hội hóa về giới. Về chủ thể nuôi dạy  
về việc nhà; còn những cặp vợ chồng con cái, cho đến nay các nghiên cứu chủ  
mang hệ tư tưởng phi truyền thống thì sẽ yếu tập trung vào các bà mẹ. Đối với việc  
có sự phân chia việc nhà theo hướng bình giáo dục con cái, phụ nữ được xem là người  
đẳng. Hệ tư tưởng giới này có thể được thầy đầu tiên trong gia đình của trẻ em. Phụ  
trao truyền qua các thế hệ, từ thế hệ cha nữ quan tâm không chỉ đến việc học tập  
mẹ đến con cái trong gia đình.  
của con cái mà còn cả việc hình thành các  
Quá trình xã hội hóa là quá trình mà mô hình vai trò giới thông qua việc dạy con  
trong đó cá nhân có thể tiếp nhận nền văn trai và con gái tham gia vào các công việc  
hóa của xã hội, có thể học được cách suy gia đình (Trương Trần Hoàng Phúc, 2010).  
nghĩ và ứng xử phù hợp với đặc trưng của Nghiên cứu gần đây (Nguyễn Hữu Minh,  
xã hội. Trong quá trình xã hội hóa, cá nhân 2019) cho thấy, người mẹ tiếp tục đóng vai  
thu thập kinh nghiệm xã hội và học các trò chủ thể giáo dục chính trong gia đình,  
chuẩn mực, khuôn mẫu một cách tự nhiên. cho dù người cha cũng có vai trò quan  
Gia đình được xem là một thiết chế cơ bản trọng với tư cách chủ thể hướng dẫn thông  
của xã hội và là môi trường xã hội hóa đầu qua sự tham gia vào các vai trò tái sản xuất  
tiên và suốt đời của mỗi cá nhân. Các quan trong gia đình được trẻ quan sát và coi như  
niệm về vai trò giới, khuôn mẫu giới, định mô hình để trẻ áp dụng sau này khi lớn lên.  
kiến giới và những hành vi ứng xử tương  
Tuy nhiên, hoạt động sống của cá  
ứng của mỗi cá nhân chịu tác động rất lớn nhân diễn ra không chỉ trong môi trường  
từ cách giáo dục và những thói quen trong gia đình mà còn cả bên ngoài xã hội. Bên  
các hành vi ứng xử của gia đình. Có hai cạnh tác nhân gia đình, còn có ảnh hưởng  
khía cạnh được các nghiên cứu đi trước đặc tương đối mạnh mẽ của phương tiện truyền  
biệt quan tâm khi nghiên cứu xã hội hóa về thông đại chúng tới sự hình thành vai trò  
giới ở trẻ em trong gia đình là: chủ thể, nội giới ở trẻ em, bởi trẻ em thường có những  
dung xã hội hóa về giới và phương pháp xã hành vi rập khuôn theo những gì chúng  
hội hóa về giới.  
1. Chủ thể và nội dung xã hội hóa về giới  
xem trên truyền hình hay đọc qua báo chí.  
Trường học là tác nhân thứ hai bên ngoài  
Theo Hoàng Bá Thịnh (2014: 145), sự tác động tới sự hình thành vai trò giới ở trẻ  
xác định của xã hội về một con người và em. Tại đây, trẻ em học tập các khuôn mẫu  
sự tự nhận diện tiếp theo của một đứa trẻ hành vi từ thầy/cô giáo và bạn bè. Vì vậy,  
là con trai hay con gái là một vấn đề quan bên cạnh vai trò của gia đình đối với quá  
Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2020  
22  
trình xã hội hóa mà chủ yếu là vai trò của hiện tốt công việc phù hợp với “đặc tính”  
người mẹ, cần phân tích thêm ảnh hưởng nam hoặc nữ của họ, nếu không sẽ bị chê  
của các yếu tố khác.  
trách là “nam giới mà như đàn bà” hoặc  
Đối với nội dung xã hội hóa về giới, “phụ nữ mà giống đàn ông” (Nguyễn Thị  
các nghiên cứu xuất phát từ quan điểm Hà, 2012: 93). Sự phân công lao động nội  
về mối quan hệ gia đình, về việc kỳ vọng trợ theo giới góp phần xã hội hóa vai trò  
nuôi dạy con tốt và những đặc điểm tính giới truyền thống và định hình khuôn mẫu  
cách mà cha mẹ mong muốn xã hội hóa/ giới từ trong gia đình, đó là: ngay từ khi  
giáo dục trẻ. Một số nghiên cứu cho rằng, còn nhỏ các em gái đã được dạy bảo làm  
không có một kiểu nuôi dạy con duy nhất các công việc được xem là của phụ nữ như  
chung cho tất cả các bậc cha mẹ, nhưng quét nhà, rửa ấm chén, bát đĩa, lớn hơn sẽ  
có một số lý tưởng và mục tiêu chung như làm các công việc như nấu cơm, trông em,  
coi gia đình quan trọng hơn cá nhân, nhấn khâu vá, giặt giũ. Trong khi đó, các em  
mạnh vào lòng hiếu thảo, ủng hộ cách trai được định hướng sẽ làm những công  
sống phục tùng, coi trọng tập thể và giữ việc nặng nhọc hay những việc lớn trong  
gìn danh dự gia đình. Các nghiên cứu cũng gia đình. Khi trưởng thành, xu hướng phân  
nhấn mạnh đến việc xã hội hóa về giới đối công lao động theo giới được thể hiện một  
với trẻ em vốn theo một tiêu chuẩn ứng cách rõ nét: phụ nữ là người làm các công  
xử căn cứ vào khuôn mẫu của gia đình và việc không được trả công, còn nam giới  
xã hội, và hướng tới sự k i ểm soát và quản làm các công việc được trả công (Phùng  
lý con cái nhiều hơn. Ví dụ, trẻ em Trung Thị Kim Anh, 2010). Sự phân công công  
Quốc học được rằng phải ngoan ngoãn việc trong gia đình theo giới tính càng rõ  
vâng lời và hy sinh cá nhân để gia đình ràng khi trẻ càng lớn lên. Trẻ em gái bắt  
được coi trọng hơn là hướng tới những chước những công việc của mẹ, của bà,  
hành vi thúc đẩy sự độc lập, bình đẳng đảm nhận những công việc được xem là  
trong gia đình (Dẫn theo: Raj, Stacey and của người phụ nữ trong gia đình, còn trẻ  
Raval, Vaishali, 2013).  
em trai thì làm những công việc của cha,  
Một số tác giả chỉ ra rằng, phong tục của những người đàn ông trong gia đình  
tập quán cùng những định kiến về trọng (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2000: 20). Trần Thị  
nam khinh nữ vốn ăn sâu bám rễ trong Hồng (2007) cũng cho rằng, khuôn mẫu  
cách suy nghĩ của người dân đã trở thành giới trong gia đình hiện nay còn mang  
nếp sống, truyền thống giáo dục trẻ em trai định kiến khá rõ, điều này không chỉ tồn  
và trẻ em gái, khiến chúng lớn lên với sự tại trong nhận định về vai trò, trách nhiệm  
đối xử khác biệt và có những hành vi khác thực tế của phụ nữ và nam giới mà còn tồn  
biệt giới. Quan niệm truyền thống cho tại trong cả những mong muốn, quan niệm  
rằng, nam giới đảm nhiệm những công của các bậc cha mẹ về phẩm chất của con  
việc nặng nhọc và đó thường là những trai và con gái họ.  
công việc quan trọng, có giá trị hơn những  
Theo Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị  
công việc nhẹ nhàng do phụ nữ đảm nhiệm. Hồng (2018), khuôn mẫu dạy dỗ của cha  
Đây được coi là một chuẩn mực mà tất cả mẹ hiện nay không có nhiều sự biến đổi  
mọi người trong cộng đồng tuân theo. Cả so với vài thập niên trước, nội dung chủ  
cộng đồng mong đợi mỗi giới phải thực yếu vẫn tập trung vào các vấn đề học tập,  
Nghiên cứu xã hội hóa…  
23  
ứng xử với mọi người, nề nếp, biết tham không có sự khác biệt giữa con trai và con  
gia chia sẻ công việc gia đình… Dẫn Kết gái. Nhưng quá trình xã hội hóa vẫn mang  
quả Điều tra Gia đình năm 2017, nghiên đậm vai trò giới, thể hiện trong việc trẻ em  
cứu của Nguyễn Xuân Thắng (2018) cho gái được chú trọng các công việc của giới  
thấy tỷ lệ cha mẹ thường trao đổi với con nữ như chăm sóc em nhỏ, trong khi trẻ em  
về cách ứng xử với các thành viên trong nam được hướng dẫn về trách nhiệm phải  
gia đình cũng như với mọi người đạt mức kiếm tiền cho gia đình.  
98,8%, cao nhất trong số các nội dung  
Xã hội hóa vai trò giới trong mối quan  
giáo dục con trẻ. Có 96,2% số người trả hệ gia đình thể hiện ở cách thức cha mẹ  
lời thường hướng dẫn, nhắc nhở con về hướng dẫn con trai và con gái thực hiện  
các vấn đề học tập. Với phương châm giáo vai trò của mình trong các mối quan hệ gia  
dục con ngoan, trò giỏi nên bên cạnh nội đình. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu  
dung học tập, tỷ lệ cha mẹ dạy bảo con về Minh (2019) cho thấy, trong các gia đình  
nề nếp chiếm 94,6% và khuyến khích con hiện nay, tỷ lệ cha mẹ dạy con gái trong  
biết tham gia, chia sẻ công việc gia đình là chăm sóc anh chị em (78,4%), cao hơn so  
91,7%. Dạy con cái biết cách tiêu tiền và với dạy cho con trai (73,8%) về nội dung  
ăn mặc cũng là nội dung được các bậc cha này. Về trách nhiệm kiếm tiền cho gia đình,  
mẹ ngày nay quan tâm nhiều hơn. Riêng tỷ lệ cha mẹ dạy con gái thấp hơn so với  
nội dung giáo dục về các vấn đề giới tính, dạy cho con trai (38,4% so với 43%). Xu  
sức khỏe sinh sản có tỷ lệ người trả lời hướng giáo dục giới này không khác biệt  
đồng ý thấp hơn nhiều so với các nội dung so với thế hệ trước đó (tức là cha mẹ của  
khác, chỉ có 48,8%.  
người trả lời giáo dục người trả lời). Đồng  
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của thời trong mỗi công việc, nội dung giáo  
Nguyễn Hữu Minh (2019) cũng cho thấy, dục và kỳ vọng của cha mẹ ở việc giáo  
giáo dục vai trò giới cho trẻ em trai và trẻ dục trẻ em trai và trẻ em gái có sự khác  
em gái vẫn mang định kiến giới cho dù nhau. Trẻ em gái được giáo dục chi tiết, cụ  
đã có những thay đổi tích cực nhất định. thể để sau này là người đảm đương chính  
Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em trai và trẻ em công việc nội trợ trong gia đình, còn trẻ  
gái thường được cha mẹ, gia đình và cộng em trai được giáo dục chỉ để biết làm chứ  
đồng định hướng những phẩm chất cần không phải để là người làm chính sau này.  
có theo giới tính. Theo đó, trẻ em gái có Đáng chú ý là, khi cha mẹ có quan niệm  
xu hướng được giáo dục sự nết na, thùy nữ giới nên là người đảm đương công việc  
mị, còn trẻ em trai có xu hướng được giáo lo toan kinh tế trong gia đình thì khả năng  
dục sự mạnh mẽ, cứng rắn. Thực tế này đã giáo dục cho cả con trai và con gái các  
và đang diễn ra ở không ít gia đình Việt công việc nội trợ cao hơn so với những  
Nam. Xã hội hóa vai trò giới về mối quan gia đình cha mẹ không đồng tình với quan  
hệ gia đình cũng có điểm khác biệt giữa niệm này. Kết quả đó cho thấy, quan niệm  
con trai và con gái trong gia đình hiện nay về vai trò giới có ảnh hưởng đáng kể đến  
so với trước đây ở một số nội dung giáo việc giáo dục trẻ em thực hành vai trò giới  
dục. Mặc dù quá trình xã hội hóa vai trò (Nguyễn Hữu Minh, 2019). Về ảnh hưởng  
giới trong mối quan hệ gia đình ở nội dung của một số yếu tố khác đối với việc giáo  
giáo dục đức tính hiếu thảo, sự vâng lời dục con cái vai trò giới, kết quả các nghiên  
Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2020  
24  
cứu không đồng nhất đối với những khía xã hội mà cha mẹ đã giáo dục. Trong khi  
cạnh xã hội hóa khác nhau. Lê Ngọc Văn hình phạt về thể chất là một hình thức kỷ  
(2012) nhận xét rằng, cha mẹ có trình độ luật nghiêm khắc đối với trẻ em phổ biến  
học vấn cao hoặc cha mẹ sống ở thành thị ở một số xã hội nhưng từ lâu đã được xem  
có xu hướng quan tâm đến giáo dục các là phương pháp dạy trẻ phù hợp.  
hành vi ứng xử thường ngày như cư xử  
Để đảm bảo việc tuân thủ các nội dung  
lịch sự, tôn trọng người khác. Đồng thời, giáo dục, gia đình Việt Nam truyền thống  
họ cũng quan tâm nhiều hơn đến đời sống đặc biệt sử dụng quyền uy của chủ thể giáo  
tâm lý, tình cảm của con như biết những dục. Phương pháp giáo dục ở đây là buộc  
khó khăn trong mối quan hệ với thầy cô phải tuân theo, phải chấp hành chứ không  
giáo và bạn bè của con, những nơi con được phép tranh luận, phân tích đúng sai  
thường đến chơi, bạn bè con thường chơi (Lê Ngọc Văn, 1994: 65). Bên cạnh đó,  
với ai… Đây là điểm mấu chốt giúp họ phương pháp nêu gương cũng thường  
hiểu được con mình và dạy dỗ con một được các gia đình sử dụng, những tấm  
cách phù hợp để con vượt qua được giai gương được hình thức hóa thông qua các  
đoạn thay đổi tâm sinh lý và hình thành câu chuyện kể, các câu châm ngôn, ca dao,  
nhân cách sau này. Tuy nhiên, kết quả tục ngữ, được truyền miệng từ thế hệ này  
nghiên cứu của Nguyễn Hữu Minh (2019) sang thế hệ khác cũng như nêu gương trực  
thông qua việc phân tích đa biến đối với tiếp qua các hoạt động sinh hoạt gia đình  
tác động của một số yếu tố đến khả năng thường ngày (Đinh Thị Vân Chi, 2015).  
giáo dục trách nhiệm tạo thu nhập cho gia Giáo dục thông qua lao động và bằng  
đình đối với trẻ em trai và trẻ em gái cho lao động là phương pháp phổ biến, được  
thấy, các yếu tố trình độ học vấn, khu vực đại đa số các gia đình sử dụng, với quan  
sinh sống, mức sống gia đình và việc tiếp niệm dạy con nên người là phải dạy con  
nhận hình ảnh giới từ truyền thông đại biết tự lao động. Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ  
chúng không có ảnh hưởng đáng kể.  
2. Phương pháp xã hội hóa giới  
em trong các gia đình nông dân đã được  
hướng dẫn tham gia lao động phù hợp với  
Quá trình xã hội hóa cá nhân được lứa tuổi (Lê Ngọc Văn, 1994: 68). Đinh  
thực hiện qua các phương pháp khác nhau. Thị Vân Chi (2015) cũng chỉ ra những đặc  
Nghiên cứu của Raj, Stacey and Raval, điểm cơ bản của giáo dục gia đình ở Việt  
Vaishali (2013) cho rằng, hành vi khen Nam, đó là tính liên tục và lâu dài, được  
ngợi và hình phạt/trừng phạt thân thể là thực hiện dựa trên tình cảm ruột thịt.  
một trong những cách nuôi dạy con cái  
Trong giai đoạn hiện nay, phương  
phổ biến ở một số nền văn hóa. Sự khen pháp dạy dỗ của cha mẹ ở các gia đình  
ngợi của cha mẹ như là một phần của xã Việt Nam đã có sự thay đổi nhất định,  
hội hóa, bằng cách truyền đạt các mục không còn nhiều cha mẹ dạy con bằng  
tiêu và nói cho con cái biết những hành vi phương pháp áp đặt, cấm đoán mà thay  
nào được mong đợi, giáo dục đứa trẻ cư vào đó là nhắc nhở, phân tích cho con hiểu  
xử theo cách phù hợp với môi trường xã về cái đúng, cái sai. Phần lớn những người  
hội. Việc dành lời khen ngợi là để thể hiện làm cha mẹ đã có sự thay đổi trong quan  
niềm vui của cha mẹ trong việc con cái niệm về cách dạy dỗ con cái, họ xếp mình  
tuân theo các chuẩn mực và các giá trị của ở vị trí là những người bạn đồng hành của  
Nghiên cứu xã hội hóa…  
25  
con, mức độ và số lượng các gia đình sử con trai và con gái, thì ở những người  
dụng các biện pháp bạo lực với con cái đã cha, việc áp dụng cùng phương pháp lại  
hạn chế hơn. Dù vậy, trong một số gia đình có sự khác nhau đối với con trai và con  
vẫn còn hiện tượng đánh đòn con cái khi gái. Phương pháp áp đặt thường được áp  
chúng có hành vi mắc lỗi do quan niệm dụng nhiều hơn với con trai (Nguyễn Hữu  
“thương cho roi cho vọt” (Nguyễn Hữu Minh, 2019).  
Minh, Trần Thị Hồng, 2018; Nguyễn Hữu 3. Một số vấn đề đặt ra hiện nay  
Minh, 2019).  
Các nghiên cứu nêu trên đã cho thấy  
Các bậc cha mẹ sử dụng nhiều cách bức tranh tương đối cơ bản đối với một số  
thức giáo dục, xã hội hóa vai trò giới trong vấn đề xã hội hóa về giới ở trẻ em trong  
gia đình cho con trai và con gái, từ hướng gia đình. Trẻ em học hỏi để đóng vai trò  
dẫn, thực hành và giao việc cho trẻ, thông giới thông qua việc bắt chước hành vi của  
qua những lời răn dạy, truyền thụ kinh các thành viên trong gia đình; hoặc thông  
nghiệm, đây là phương pháp hiệu quả vì qua sự giao việc; qua sự giáo dục mang  
trẻ được vừa học vừa làm. Xã hội hóa về tính áp đặt hoặc định hướng, khuyên nhủ  
giới còn được thông qua các khuôn mẫu của những người lớn tuổi trong gia đình.  
ứng xử hằng ngày, qua tổ chức các hoạt Các khuôn mẫu giới truyền thống vẫn còn  
động và phương pháp nêu gương. Nêu có những ảnh hưởng ở mức độ khác nhau  
gương là một phương pháp giáo dục tích đến nội dung và phương pháp xã hội hóa  
cực được nhiều gia đình lựa chọn trong về giới đối với trẻ em trong gia đình. Nội  
việc giáo dục con cái do có tác động trực dung và phương pháp xã hội hóa về giới  
tiếp, mạnh mẽ, sâu sắc đến đối tượng được đối với trẻ em trong gia đình giai đoạn gần  
giáo dục.  
đây cũng đã có sự thay đổi cơ bản so với  
Việc giáo dục vai trò giới cho trẻ em phương pháp xã hội hóa truyền thống. Tuy  
trai và trẻ em gái trong gia đình thường nhiên, các nghiên cứu này cũng chưa mô tả  
được thực hiện từ khá sớm, ngay khi các và phân tích một cách đầy đủ, thấu đáo sự  
em ở lứa tuổi mẫu giáo và diễn ra phổ biến biến đổi đó cũng như mức độ trẻ em tiếp  
ở lứa tuổi học tiểu học. Ở một số gia đình, nhận vai trò giới từ cha mẹ.  
việc giáo dục cho trẻ em trai về vai trò giới  
Một trong những vấn đề có thể thấy  
trong công việc gia đình được thực hiện rất rõ đó là, trong bối cảnh hiện nay, sự  
muộn hơn một chút so với trẻ em gái. Về bùng nổ của các phương tiện truyền thông,  
thời điểm, hoàn cảnh cha mẹ lựa chọn để sự phổ biến của Internet và các mạng xã  
giáo dục con, thông thường các cha mẹ sử hội đã có tác động mạnh mẽ đến tư duy,  
dụng nhiều thời điểm khác nhau, nhưng đối nhận thức của trẻ em. Trẻ em ngày càng  
với nhiều bậc cha mẹ quá trình xã hội hóa nhận thức đầy đủ hơn về quyền của mình,  
các vai trò giới có thể diễn ra bất cứ khi nào các thông tin mà trẻ được tiếp nhận cũng  
họ thấy cần thiết.  
trở nên đa chiều hơn, điều này góp phần  
Phương pháp giáo dục về vai trò giới tăng cường tư duy phản biện và khả năng  
khác nhau đối với con trai và con gái, đồng độc lập của trẻ. Từ đó, có thể thấy, trẻ em  
thời khác nhau giữa cha và mẹ. Trong khi không sẵn sàng tin và chấp nhận một chiều  
những người mẹ tương đối thống nhất các thông điệp giáo dục giới mà cha mẹ  
trong phương pháp giáo dục đối với cả truyền tải.  
Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2020  
26  
Những thành tựu trong công cuộc đấu với trẻ em trong gia đình trong bối cảnh xã  
tranh vì bình đẳng giới thời gian qua và các hội có nhiều thay đổi như vậy. Việc nghiên  
thông điệp về bình đẳng giới phổ biến trên cứu xã hội hóa về giới ở trẻ em trong bối  
các phương tiện truyền thông đã góp phần cảnh bùng nổ thông tin sẽ góp phần nhận  
làm thay đổi nhận thức giới và hành vi của diện những nội dung, phương pháp giáo  
người lớn. Việc tiếp cận với nhiều nguồn dục mà cha mẹ cần áp dụng trên cơ sở tôn  
thông tin cũng làm thay đổi dần các quan trọng sự khác biệt, phát huy được những  
niệm gia trưởng, áp đặt của người lớn đối ưu thế của trẻ, qua đó giúp cho quá trình xã  
với trẻ em. Cha mẹ có sự quan tâm đến nhu hội hóa về giới của trẻ đạt được hiệu quả  
cầu tâm lý, tình cảm của trẻ nhiều hơn và cao nhất  
dần học cách để tôn trọng những khác biệt  
của trẻ. Việc giáo dục con cái các khuôn Tài liệu tham khảo  
mẫu giới truyền thống và các phương pháp 1. Đinh Thị Vân Chi (2015), Giáo dục gia  
giáo dục áp đặt ngày càng nằm ngoài sự lựa  
chọn của cha mẹ.  
đình và quan hệ của nó với những môi  
trường giáo cụ khác trong quá trình xã  
hội hóa cá nhân, http://huc.edu.vn/chi-  
tiet/3407/Giao-duc-gia-dinh-va-quan-  
he-cua-no-voi-nhung-moi-truong-giao-  
cu-khac-trong-qua-trinh-xa-hoi-hoa-ca-  
nhan.html, truy cập ngày 12/5/2020.  
Mô hình tương tác giữa cha mẹ và trẻ  
em đang trở thành mối quan tâm của nhiều  
nhà nghiên cứu. Điều phổ biến của nhiều  
gia đình trẻ hiện nay, đặc biệt ở khu vực  
đô thị đó là: hằng ngày, các thành viên gia  
đình rời nhà vào buổi sáng và quay trở lại 2. Hoàng Bá Thịnh (2014), Giáo trình xã  
sum họp cùng gia đình vào buổi tối. Sau  
bữa tối, hoặc thậm chí ngay trong bữa tối,  
hội học về giới, Nxb. Đại học Quốc gia,  
Hà Nội.  
mỗi thành viên sẽ gắn với chiếc điện thoại 3. Lê Ngọc Văn (1994), Sự biến đổi chức  
thông minh hoặc tivi, các tương tác trực  
tiếp giữa các thành viên gia đình dần trở  
nên ít đi. Mô hình tương tác này trở thành  
một trong những trở ngại vô cùng lớn đối  
với việc giáo dục trẻ trong gia đình.  
năng xã hội hóa của gia đình Việt Nam  
từ truyền thống đến hiện đại, Luận án  
Phó tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị  
Quốc gia Hồ Chí Minh.  
4. Lê Ngọc Văn (2012), Gia đình và biến  
đổi gia đình ở Việt Nam, Nxb. Khoa học  
xã hội, Hà Nội.  
Sự bùng nổ của thông tin trong xã hội  
hiện nay sẽ làm thay đổi căn bản phương  
thức tương tác và phương pháp, nội dung 5. Nguyễn Hữu Minh (2019), Biến đổi vai  
giáo dục giữa cha mẹ và con cái. Phương  
pháp, nội dung giáo dục mang tính áp đặt  
của cha mẹ đang dần trở nên không còn phù  
trò giáo dục và xã hội hóa cá nhân về  
vai trò giới, Báo cáo đề tài cấp Bộ, Viện  
Nghiên cứu Gia đình và Giới.  
hợp, việc lựa chọn các thông điệp giáo dục 6. Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Hồng  
và phương pháp truyền tải các thông điệp  
đó nên được thực hiện như thế nào đang trở  
thành một thách thức đối với nhiều bậc cha  
mẹ trong việc giáo dục trẻ. Tuy nhiên, hầu  
như chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu  
phân tích các mô hình xã hội hóa về giới đối  
(2018), “Một số đặc điểm sự biến đổi  
gia đình Việt Nam trong mấy thập niên  
qua”, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và  
Giới, số 4 (quyển 28), tr. 3-15.  
(xem tiếp trang 19)  
pdf 7 trang baolam 27580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu xã hội hóa về giới ở trẻ em trong gia đình và một số vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_xa_hoi_hoa_ve_gioi_o_tre_em_trong_gia_dinh_va_mot.pdf