Some factors affecting the results of mplementation of gender equality in the northern mountain region of our country today

CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
SOME FACTORS AFFECTING THE RESULTS OF  
MPLEMENTATION OF GENDER EQUALITY IN THE NORTHERN  
MOUNTAIN REGION OF OUR COUNTRY TODAY  
Phi Hung Cuonga  
Nguyen Van Suongb  
a Vietnam Academy for Ethnic Minorities  
b Dak Lak School of Politics  
Received:  
Reviewed:  
Revised:  
Accepted:  
Released:  
27/8/2021  
06/9/2021  
12/9/2021  
20/9/2021  
30/9/2021  
ender equality always is an issue of concern to the State of Vietnam, implementing many  
G
important policies to bring about equal rights among genders. Therefore, over the past years,  
gender equality in Vietnam in general and in the Northern mountainous region in particular has improved  
markedly. However, the situation of gender inequality in the Northern mountainous region is still taking  
place in different forms. In the framework of this article, the author analyzes a number of factors affecting  
the implementation of gender equality in the northern mountainous region today. Thereby, providing a  
scientific basis to propose appropriate solutions to overcome limitations, contributing to improveing the  
effectiveness of gender equality implementation in the northern mountainous region of our country.  
Keywords: Gender equality; Gender inequality; Affected Factors; Northern mountainous region.  
1. Đặt vấn đề  
cũng đã triển khai nghiêm túc, hiệu quả và đã đạt  
được những thành tựu quan trọng trong công tác  
bình đẳng giới. Bên cạnh những thành tựu đạt được,  
thì việc thực hiện bình đẳng giới hiện nay cũng đang  
bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ  
quan. Vì vậy, cần phân tích và đánh giá những yếu  
tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện bình đẳng giới,  
nhằm cung cấp các cơ sở khoa học để đề xuất những  
chính sách phù hợp với từng địa phương, góp phần  
nâng cao hiệu quả bình đẳng giới ở khu vực miền  
núi phía Bắc hiện nay.  
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò  
ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy  
năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng,  
của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả  
của sự phát triển đó. Ở nước ta, để nâng cao hiệu  
quả bình đẳng giới ở các vùng đồng bào dân tộc  
thiểu số và miền núi (DTTS&MN), Đảng và Nhà  
nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật  
về bình đẳng giới như: Luật Bình đẳng giới, Luật  
Hôn nhân và gia đình, Luật Phòng chống bạo lực  
gia đình, Luật Lao động, các văn bản hướng dẫn  
thi hành luật; đặc biệt là Nghị quyết số 11-NQ/TW  
ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ  
nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá  
2. Tổng quan nghiên cứu  
Nghiên cứu về bình đẳng giới nói chung và  
đối với các yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới  
nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.  
(CNH, HĐH) đất nước… Thực hiện các chủ trương Ngay từ thập niên 90 của thế kỷ XX và những năm  
đầu thế kỷ XXI đã có những công trình nghiên cứu  
trên, các địa phương khu vực miền núi phía Bắc  
22  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
sâu về bình đẳng giới, tiêu biểu như: Tác giả Trần Chí Minh) đã làm rõ sự tác động của toàn cầu hóa  
Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng (1996), “Phụ nữ - đến việc thực hiện bình đẳng giới trong các mặt đời  
giới và phát triển”, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội. Tác giả  
cuốn sách đã tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên  
mối quan hệ giữa phụ nữ - giới và phát triển; phân  
tích vị trí, vai trò của phụ nữ trong đổi mới kinh  
tế-xã hội gắn với vấn đề việc làm, thu nhập, sức  
khỏe, học vấn chuyên môn; phụ nữ quản lý kinh  
tế-xã hội; phụ nữ và gia đình; chính sách xã hội  
đối với phụ nữ và ảnh hưởng của chính sách xã hội  
đối với phụ nữ và thực hiện bình đẳng giới. Tác  
giả Lê Thi (1998), “Phụ nữ và bình đẳng giới trong  
đổi mới ở Việt Nam”, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội. Công  
trình khoa học này chính là kết quả bước đầu của sự  
vận dụng quan điểm của Đảng và Nhà nước, cũng  
như quan điểm tiếp cận giới vào việc xem xét các  
vấn đề có liên quan đến bình đẳng giới, kết hợp  
với các hình thức thu thập thông tin qua các cuộc  
khảo sát đời sống phụ nữ công nhân, nông dân, trí  
thức trong quá trình đổi mới đất nước. Từ đó đã nêu  
lên những vấn đề đáng quan tâm và đề xuất ý kiến  
về một số chính sách xã hội cần thiết, nhằm xây  
dựng sự bình đẳng giới trong tình hình mới. Tác giả  
Nguyễn Linh Khiếu (2002), với công trình “Khía  
cạnh quan hệ giới trong gia đình nông thôn miền  
núi” (Nghiên cứu trường hợp xã Cát Thịnh, huyện  
Văn Chấn, tỉnh Yên Bái), Khoa học về phụ nữ, số  
1, trang 25- 29 đã chỉ ra những thành tựu đạt được,  
những hạn chế cần phải khắc phục, cũng như những  
sống xã hội và gia đình, qua đó đề xuất một số giải  
pháp để phát huy tác động tích cực và hạn chế tác  
động tiêu cực của toàn cầu hóa tới thực hiện bình  
đẳng giới ở Việt Nam hiện nay. Tác giả Đặng Thị  
Ánh Tuyết (2005), “Thực hiện bình đẳng giới các  
tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” (Luận văn  
thạc sĩ Xã hội học), trên cơ sở phân tích thực trạng  
thực hiện bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời  
sống xã hội và gia đình (qua khảo sát ở Yên Bái và  
Hà Giang), đã đề xuất phương hướng cơ bản và giải  
pháp chủ yếu nhằm thực hiện bình đẳng giới ở một  
số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam…  
Những công trình trên bước đầu đặt cơ sở  
lý luận cho việc nghiên cứu bình đẳng giới theo  
phương pháp tiếp cận giới. Tuy nhiên, hiện nay có  
rất ít công trình nghiên cứu sâu về các yếu tố ảnh  
hưởng đến bình đẳng giới ở khu vực miền núi phía  
Bắc nước ta hiện nay. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa có  
chọn lọc những thành quả nghiên cứu trước đây về  
bình đẳng giới, tác giả sẽ nghiên cứu đầy đủ hơn về  
các yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới ở khu vực  
miền núi phía Bắc nhằm góp phần nâng cao chất  
lượng và hiệu quả thực hiện bình đẳng giới ở khu  
vực miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Để hoàn thành bài viết này, tác giả đã sử dụng  
xu hướng vận động và phát triển trong tương lai kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó  
của nông thôn miền núi phía Bắc Việt Nam trong chủ yếu là phương pháp phân tích, tổng hợp, kết  
điều kiện toàn cầu hóa hiện nay. Tác giả Nguyễn hợp với điền dã dân tộc học.  
Linh Khiếu (2003), “Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia  
4. Nội dung nghiên cứu  
đình”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội đã phân tích  
4.1. Khái quát kết quả thực hiện bình đẳng giới  
làm sáng rõ vai trò của phụ nữ cũng như quan hệ  
ở khu vực miền núi phía Bắc trong thời gian qua  
giới trong gia đình thể hiện trên tất cả các lĩnh vực  
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng  
với những nỗ lực của chính quyền các cấp, tình hình  
thực hiện bình đẳng giới ở khu vực miền núi phía  
Bắc trong thời gian qua đã có chuyển biến rõ rệt:  
Nhận thức về bình đẳng giới của cộng đồng các dân  
tộc được nâng lên một bước; cơ cấu cán bộ đã có  
sự tham gia tương đối cả nam và nữ, đặc biệt đội  
ngũ cán bộ nữ DTTS phát triển nhanh về số lượng,  
trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ. Nếu như  
trước đây chủ yếu là nam giới tham gia vào đội  
ngũ lãnh đạo, cán bộ các cấp, thì hiện nay nhiều nữ  
giới ở vùng DTTS tham gia vào các cơ quan, đảng,  
đoàn thể, nhiều người giữ trọng trách cao trong các  
cơ quan, đoàn thể và tham gia nhiều hơn vào các  
lĩnh vực lao động. Tại tỉnh Hà Giang, vấn đề bình  
đẳng giới đã có những tiến bộ vượt bậc. Hội Phụ  
nữ các cấp đã quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, giới  
thiệu, đề xuất nhân sự nữ tham gia Ban Chấp hành  
Đảng bộ và Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp.  
Nhiệm kỳ 2015-2020, tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp  
hành Đảng bộ ở cấp tỉnh đạt 12,96%; cấp huyện đạt  
như kinh tế, tiếp cận nguồn lực, giáo dục và chăm  
sóc sức khỏe. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh hơn đối  
với phụ nữ nông thôn miền núi, vị thế của họ trong  
gia đình cũng như những rào cản văn hóa đang cản  
trở quá trình phát triển của họ. Những kết luận mà  
tác giả khái quát cũng chính là những vấn đề đặt ra  
cho các nhà khoa học cũng như những nhà hoạch  
định chính sách đối với vấn đề phụ nữ - giới và gia  
đình. Nhóm tác giả Phan Thanh Khôi - Trần Thị  
Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh (Chủ biên) (2008),  
“Bình đẳng giới ở Việt Nam”, Khoa học xã hội, Hà  
Nội đã điều tra cơ bản về bình đẳng giới, xác định  
thực trạng bình đẳng giới về cơ hội và khả năng  
nắm bắt cơ hội của phụ nữ và nam giới và tương  
quan giữa hai giới trên lĩnh vực lao động - việc làm,  
giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe và địa vị  
trong gia đình, cộng đồng và xã hội. Đỗ Thị Thạch  
(2010), “Tác động của toàn cầu hóa đối với thực  
hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay” (đề tài  
khoa học cấp cơ sở của Viện Chủ nghĩa xã hội khoa  
học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ  
Volume 10, Issue 3  
23  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
17.64%; cấp xã đạt 18, 67%. Tỷ lệ cán bộ nữ tham kiến giới còn khá phổ biến trong mọi đối tượng, trên  
gia đại biểu HĐND nhiệm 2016 – 2021 ở cấp tỉnh nhiều mặt. Tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý còn  
là 33,33%; cấp huyện là 36,55%; cấp xã là 32,65%. thấp. Ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu  
Phụ nữ và nam giới đều tham gia các hoạt động vùng xa, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi phong tục tập  
đoàn kết, giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, xóa quán lạc hậu, tỷ lệ phụ nữ nghèo, phụ nữ mù chữ  
đói, giảm nghèo bằng nhiều hình thức. Nếu như còn cao. Hiện nay, tỷ lệ phụ nữ DTTS từ 10-49 tuổi  
trước đây chủ yếu nam giới là chủ hộ và cũng chính sinh con tại cơ sở y tế đạt 86,4%, tuy nhiên vẫn thấp  
là người làm chủ tham gia các hoạt động, các mô hơn đáng kể so với phụ nữ Kinh là trên 99%; Tỷ  
hình tập huấn phát triển kinh tế-xã hội, thì hiện lệ CBCC nữ DTTS trong các tổ chức chính trị-xã  
nay, toàn tỉnh có 541 mô hình phát triển kinh tế do hội thấp hơn đáng kể so với nam DTTS ở tất cả các  
phụ nữ làm chủ có thu nhập bình quân từ 60 - 200 vùng kinh tế-xã hội. Tỷ lệ CBCC trong các tổ chức  
triệu đồng/năm/hộ. Hàng năm, có trên 4.000 lượt chính trị - xã hội là nam DTTS ở Trung du và miền  
cán bộ phụ nữ các cấp tham gia; hàng ngàn phụ núi phía Bắc là 49,3%, cao gấp 2,2 lần so với tỷ lệ  
nữ được học chữ từ Cuộc vận động “Phụ nữ dân tương ứng của nữ DTTS... Trong cộng đồng người  
tộc thiểu số học chữ và nói tiếng phổ thông”; trên DTTS khu vực miền núi phía Bắc, phụ nữ và trẻ  
112.000 lượt phụ nữ được tuyên truyền về chăm sóc em gái thường là những đối tượng thiệt thòi hơn về  
sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình; phòng, khả năng tiếp cận các cơ hội, các nguồn lực, do các  
chống lây nhiễm HIV/AIDS từ mẹ sang con; giáo chuẩn mực xã hội áp đặt vị trí thấp kém hơn cho họ,  
dục giới tính và làm mẹ an toàn; phòng, chống các giới hạn họ ở các hoạt động sinh con và sản xuất hộ  
bệnh truyền nhiễm; triển khai và nhân rộng 614 câu gia đình. Sự đan xen của nhiều hình thức phân biệt  
lạc bộ trong lĩnh vực gia đình với trên 20.100 thành đối xử trên cơ sở giới tính và dân tộc có ảnh hưởng  
viên (Báo hagiang.vn).  
phổ biến nhất. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, tình  
trạng phụ nữ và trẻ em gái DTTS biết đọc, biết viết  
chữ phổ thông ít đáng kể so với nữ giới người Kinh.  
Một số DTTS có tỷ lệ phụ nữ và trẻ em gái biết  
đọc, biết viết chữ phổ thông thấp như: Lự 23,22%,  
La Hủ 25,1%, Mông 30,8%, Mảng 32,8%, Brâu  
35,71% (Báo cáo điều tra thực trạng kinh tế-xã hội  
của 53 dân tộc thiểu số năm 2019). Trong lao động  
việc làm, mặc dù chênh lệch về tỷ lệ không nhiều  
nhưng thu nhập của nam giới luôn cao hơn nữ giới.  
Bên cạnh đó, phụ nữ DTTS tham gia quản lý lãnh  
đạo còn thấp, không đồng đều ở các lĩnh vực và  
chưa tương xứng với lực lượng phụ nữ trong xã hội.  
Tại Lào Cai, nếu như trước đây, đa số nam giới  
tham gia vào đội ngũ cán bộ, thì hiện nay phụ nữ  
cũng đã được cấp ủy, chính quyền các cấp ghi nhận,  
đánh giá cao và giao đảm trách nhiều vị trí quan  
trọng trong cấp ủy, chính quyền các cấp. Cụ thể  
nhiệm kỳ 2015 - 2020, tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp  
ủy đảng ở cấp xã đạt gần 21%; cấp huyện, thành  
phố đạt trên 21%; còn ở cấp tỉnh đạt tới 15,69%.  
Chị em phụ nữ Hà Nhì và nhiều dân tộc khác là  
những đại biểu chính thức tham dự Đại hội Đảng  
bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XVI nhiệm kỳ 2020 - 2025,  
một sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng của tỉnh  
(Quang Thuận, Lào Cai đạt được kết quả quan trọng  
4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực  
trong thực hiện bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ, hiện bình đẳng giới ở khu vực miền núi phía Bắc  
laocaitv.vn).  
4.2.1. Sự phân biệt giới  
Kết quả phân tích số liệu tách biệt giới tính trong  
Trong lịch sử đã có nhiều tư tưởng cho rằng  
nam và nữ có vai trò khác biệt trong xã hội, trong  
đó nam giới thường đảm nhiệm các công việc về  
nghệ thuật, kỹ nghệ, quân đội trong khi phụ nữ đảm  
nhận việc nội trợ gia đình và chăm sóc trẻ em. Sự  
chuyên môn hóa về vai trò này đã dẫn đến sự hình  
thành quan niệm rằng phụ nữ không có khả năng  
thực hiện các công việc đòi hỏi trí tuệ. Hiện nay, tại  
hầu hết các địa phương khu vực miền núi phía Bắc,  
đa số phụ nữ đều có thu nhập thấp hơn nam giới. Từ  
định kiến này, dẫn đến những công việc có tính chất  
kỹ thuật chủ yếu là do nam giới đảm nhiệm, còn  
những công việc mang tính chất xã hội đều do phụ  
nữ đảm nhiệm.  
giai đoạn 2015-2019 trong Báo cáo điều tra tình  
hình kinh tế-xã hội 53 DTTS năm 2019 cho thấy,  
những thành tựu nổi bật về bình đẳng giới trong  
các vùng DTTS&MN như tỷ lệ tảo hôn của người  
DTTS đã giảm 4,7 điểm phần trăm; tỷ lệ hộ gia đình  
DTTS có kết nối internet (wifi, cáp hoặc 3G) tăng  
9,4 lần, từ 6,5% năm 2015 lên 61,3% năm 2019; tỷ  
lệ đi học đúng tuổi của trẻ em DTTS tăng 15,2%  
trong giai đoạn 2015 và 2019... Trong các vùng  
kinh tế-xã hội, trung du và miền núi phía Bắc có tỷ  
lệ cán bộ công chức (CBCC) trong cơ quan Đảng là  
nữ DTTS cao nhất cả nước 8,6% (Báo cáo điều tra  
tình hình kinh tế-xã hội 53 DTTS năm 2019).  
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì tỷ lệ  
tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống chung ở 53  
DTTS tuy có giảm, nhưng mức giảm chưa đồng đều  
và cá biệt vẫn tiếp tục tăng trong một số dân tộc, tư  
tưởng định kiến trọng nam khinh nữ vẫn còn. Định  
Một thực tế khách quan nữa là tư tưởng “trọng  
nam, khinh nữ” vẫn tồn tại trong nhiều gia đình ở  
khu vực miền núi phía Bắc hiện nay, nhất là các địa  
bàn vùng sâu, đặc biệt khó khăn và vùng biên giới.  
Người chồng, người cha là chủ gia đình, có vai trò  
24  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
quan trọng nhiều mặt của cuộc sống, có quyền hành khiến các em gái tập trung phát triển các kỹ năng để  
lớn, quyết định mọi việc từ làm ăn, cưới xin, tang sau này làm một người nội trợ giỏi hơn là chú ý đến  
ma đến công việc tín ngưỡng. Đồng thời, họ còn  
là người thay mặt gia đình quan hệ với họ hàng,  
làng xóm và các tổ chức xã hội, với chính quyền địa  
phương. Mọi tài sản trong nhà, kể cả ruộng nương,  
trâu bò, công cụ sản xuất đều do người đàn ông là  
người chủ nắm giữ. Nhiều gia đình quan niệm “con  
gái là con người ta” nên có nhiều gia đình chưa  
quan tâm nhiều đến việc học tập của con gái mà chỉ  
ưu tiên đầu tư và khuyến khích con trai học tập, có  
nghề để nuôi sống gia đình. Quan niệm này khiến  
cho nhiều em gái phải chịu thiệt thòi, thiếu hiểu biết  
nên các em dễ trở thành nạn nhân của tục tảo hôn,  
buôn bán phụ nữ, trẻ em... Ở vùng sâu, xa, vùng đặc  
biệt khó khăn, tình trạng bất bình đẳng khi chia tài  
sản thừa kế (đất đai, ruộng, nương...) cho con trai và  
con gái vẫn còn xảy ra, cha mẹ thường dành phần  
nhiều hơn cho con trai, thậm chí có nhiều nơi con  
gái không được thừa kế tài sản của cha mẹ để lại (vì  
quan niệm con trai được thừa kế tài sản để có trách  
nhiệm thờ cúng ông bà, tổ tiên, con gái thì xuất giá  
theo chồng không phải thực hiện trách nhiệm này),  
gây nên bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử giữa  
con trai và con gái trong gia đình.  
những kỹ năng để sau này kiếm được việc làm tốt  
hay đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Bởi vậy,  
khi ra trường và tham gia vào thị trường lao động,  
phụ nữ nói chung sẽ thấp kém hơn nam giới cùng  
lứa. Khi đã có công việc, xã hội Việt Nam mong đợi  
phụ nữ có gia đình và dành thời gian chăm sóc cho  
gia đình hơn là dành thời gian cho xã hội. Điều này  
ảnh hưởng rất nhiều đến việc chọn nghề của người  
phụ nữ. Ví dụ, nghề giáo viên được coi là thích hợp  
với nữ giới một phần vì có nhiều thời gian chăm  
sóc cho gia đình. Ngày nay, phụ nữ tham gia vào  
việc tạo thu nhập ở nhiều lĩnh vực như nam giới  
nhưng xã hội vẫn mong đợi họ phải làm tốt cả công  
việc nội trợ trong gia đình, chăm sóc con cái, chăm  
lo việc họ hàng, trong khi nam giới chỉ cần đi làm  
kiếm thu nhập là đủ. Điều này lại không được coi là  
quá sức đối với phụ nữ hay bất bình đẳng trong khi  
họ được coi là “phái yếu”. Bởi mong muốn làm tốt  
cả hai vai trò, trong khi quỹ thời gian có hạn, phụ  
nữ phải gồng mình để học tập, lao động và phấn đấu  
nếu muốn có vị trí ngang bằng với nam giới; hoặc  
đây là quyết định của phần đa phụ nữ, hy sinh phát  
triển nghề nghiệp để có thời gian chăm sóc gia đình.  
Để phát triển nghề nghiệp được tốt, ai cũng cần cập  
nhật kiến thức, trao dồi kỹ năng thường xuyên. Thời  
gian nghỉ ngơi, giải trí hàng ngày cũng rất cần thiết  
để tinh thần và thể chất được hồi phục để có thể tiếp  
tục làm việc. Nhưng quan niệm xã hội lại không cho  
phép phụ nữ được hưởng quyền đó vì mong đợi họ  
cống hiến tiếp cho các công việc gia đình. Rõ ràng,  
quan niệm của xã hội về một người phụ nữ tốt và  
hạnh phúc đã tước đoạt đi quyền phát triển nghề  
nghiệp, thể chất và trí tuệ của chị em. Định kiến về  
giới, tư tưởng trọng nam giới hơn nữ giới vẫn tồn tại  
rất lớn ở khu vực miền núi phía Bắc. Nam giới được  
coi là trụ cột chính của gia đình; việc nội trợ, chăm  
sóc gia đình, con cái... được coi là của phụ nữ. Vì  
vậy, phụ nữ vùng DTTS&MN nói chung và đối với  
khu vực miền núi phía Bắc nói riêng thường có ít  
thời gian để học tập, nghỉ ngơi, giải trí, tham gia các  
hoạt động như nam giới. Cơ hội tiếp cận với giáo  
dục của trẻ em gái và phụ nữ, đặc biệt là trẻ em gái  
và phụ nữ DTTS ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao  
khu vực miền núi phía Bắc rất thấp, còn nhiều khó  
khăn, trở ngại. Hiện nay, có tới 74% nam giới ở các  
hộ gia đình DTTS khu vực miền núi phía Bắc đứng  
tên độc lập về quyền sở hữu đất đai, tín dụng. Sau  
khi kết hôn, nam giới vẫn được ưu tiên đi học, còn  
phụ nữ phải ở nhà thực hiện thiên chức làm mẹ, làm  
vợ. Vì thế, nam giới DTTS biết đọc, biết viết cao  
hơn nhiều so với nữ giới. Một số DTTS như Mông,  
Hà Nhì, La Hủ, Lự,… chỉ có khoảng 20-30% phụ  
nữ biết đọc, viết (Ủy ban Dân tộc - Tổng cục Thống  
kê, 2019).  
4.2.2. Định kiến giới  
Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá  
thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí vai trò và  
năng lực của nam hoặc nữ (khoản 4 Điều 5, Luật  
Bình đẳng giới). Những định kiến như trên không  
chỉ tồn tại nhiều từ thời xã hội phong kiến mà ở xã  
hội ngày nay thì những quan niệm đó vẫn còn hiện  
hữu. Định kiến giới vừa phản ánh sự bất bình đẳng  
giới, vừa củng cố duy trì thực trạng bất bình đẳng  
giới trong xã hội. Thể hiện rõ nhất của định kiến  
giới phải kể đến tư tưởng “trọng nam khinh nữ”.  
Mặc dù, những năm gần đây cái nhìn về “con gái”  
trong xã hội đã cởi mở hơn, vai trò và vị trí của phụ  
nữ được nâng cao và được khẳng định hơn, nhưng  
vì tư tưởng thích con trai hơn nên nhiều phụ nữ sẵn  
sàng phá thai nếu biết thai nhi là con gái. Ở các vùng  
nông thôn miền núi không có khả năng tiếp cận dịch  
vụ chẩn đoán giới tính thai nhi sớm đã xảy ra tình  
trạng có nhiều gia đình vẫn tiếp tục sinh tiếp con  
thứ 4, thứ 5 cho đến khi sinh đươc con trai mới thôi.  
Chính những tư tưởng này đã dẫn đến tình trạng  
mất cân bằng giới tính ở Việt Nam nói chung và  
đối với khu vực miền núi phía Bắc nói riêng. Trong  
quan niệm của người Việt Nam nói chung và đối  
với khu vực miền núi phía Bắc nói riêng, thì xã hội  
đặt những chuẩn mực riêng đối với các em gái như  
chăm làm, duyên dáng, nấu ăn giỏi, biết may vá,  
thêu thùa... Phụ nữ cũng không được khuyến khích  
tham gia vào lĩnh vực chính trị hay trở thành lãnh  
đạo. Khi phụ nữ tham gia vào những lĩnh vực này,  
họ sẽ mất đi vẻ “nữ tính”. Những chuẩn mực đó đã  
Volume 10, Issue 3  
25  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
4.2.3. Yếu tố về trình độ, nhận thức  
Do trình độ dân trí thấp hơn các vùng khác và  
ở nhà, tụ tập bên mâm rượu hoặc trông con...  
Những quy định trong các luật tục về những  
mặt bằng giáo dục không cao, phong tục tập quán hoạt động kinh tế như sử dụng, quản lý và phân  
lạc hậu đã ăn sâu vào tư tưởng nên định kiến giới, phối các nguồn tài nguyên ở địa phương... đã có  
tư tưởng trọng nam khinh nữ, áp đặt vị trí thấp kém,  
giới hạn phụ nữ ở các hoạt động sinh con và sản  
xuất hộ gia đình còn tồn tại nặng nề ở vùng miền  
núi phía bắc. Hiện nay, nhận thức của một số người,  
đặc biệt là nam giới, còn thiếu tôn trọng phụ nữ,  
thiếu tôn trọng những giá trị mà phụ nữ mang lại  
cho cuộc sống. Trong khi đó, nữ giới vẫn phải đảm  
đương việc gia đình nhiều hơn nam giới. Đáng nói  
là còn một bộ phận không nhỏ nữ giới chưa nhận  
thức đầy đủ về quyền được bình đẳng của mình,  
chấp nhận chịu bạo hành, chịu sự phân biệt đối xử  
một cách gần như là hiển nhiên. Ngoài ra, do sợ ảnh  
hưởng đến quyền lợi, kinh tế chung của gia đình  
và định kiến của xã hội, nên vẫn còn nhiều phụ nữ  
sống cam chịu. Điều đó vô tình gây trở ngại cho sự  
can thiệp kịp thời của các cơ quan chức năng.  
nhiều ảnh hưởng đối với vai trò, vị trí và tiếng nói  
của nam và nữ trong xã hội. Những giá trị quyết  
định đối với vai trò giới có thể được truyền từ thế  
hệ này qua thế hệ khác, qua việc dạy dỗ trẻ em trong  
gia đình, nhà trường và xã hội. Những giá trị này  
đã tác động đến các chính sách phát triển về bình  
đẳng giới.  
5. Thảo luận  
Từ thực tiễn phân tích ở trên cho thấy, những  
thành tựu đã đạt được trong công tác bình đẳng giới  
của Việt Nam nói chung và đối với khu vực miền  
núi phía Bắc nói riêng là không thể phủ nhận. Tuy  
nhiên, cũng còn những vấn đề đang đặt ra đối với  
công tác bình đẳng giới mà chúng ta cần phải có  
những giải pháp phù hợp để khắc phục sớm:  
Thứ nhất, chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ  
cùng một vị trí công việc vẫn tồn tại, cơ hội để phụ  
nữ tiếp cận những việc làm có thu nhập cao vẫn thấp  
hơn so với nam giới, lao động nữ chưa được đánh  
giá cao như lao động nam, là đối tượng dễ bị rủi ro  
và tổn thương hơn khi doanh nghiệp có nhu cầu cắt  
giảm nhân lực. Đặc biệt là hiện nay, thu nhập bình  
quân của lao động nữ luôn thấp hơn nam giới.  
Thứ hai, tỷ lệ nữ giới làm công tác quản lý, lãnh  
đạo tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp so với  
các vị trí quản lý, lãnh đạo nói chung, so với sự gia  
tăng của lực lượng lao động nữ nói riêng, đặc biệt  
ở cấp cơ sở.  
Thứ ba, phụ nữ vẫn phải làm những công việc nội  
trợ là chủ yếu. Ngoài ra, phụ nữ còn gặp phải những  
vấn đề khác như bạo lực gia đình, nạn nhân của buôn  
bán người, bóc lột lao động, xâm hại tình dục.  
4.2.4. Yếu tố giáo dục, địa lý và kinh tế  
Khu vực miền núi phía Bắc điều kiện địa bàn  
sinh sống là vùng sâu, vùng xa còn rất nhiều khó  
khăn, tỷ lệ nghèo cao, ít được tiếp cận các phương  
tiện truyền thông; phong tục tập quán, định kiến  
giới của một số dân tộc còn nặng nề; hạn chế về  
giao tiếp, tâm lý tự ti, e ngại, rào cản ngôn ngữ của  
phụ nữ DTTS; năng lực của đội ngũ cán bộ còn hạn  
chế. Tình trạng nghèo, lạc hậu ở một số vùng nông  
thôn, vùng DTTS của miền núi phía Bắc khiến lao  
động nữ ít được đến trường học nên không thông  
thạo chữ phổ thông, từ đó chưa chủ động tham gia  
hoạt động xã hội, tham gia các tổ chức xã hội nhằm  
mang lại sự bình đẳng cho chính mình. Điều kiện  
kinh tế cũng ảnh hưởng khá lớn đến vấn đề bình  
đẳng giới, đặc biệt là tình trạng vi phạm pháp luật  
về bình đẳng giới.  
6. Kết luận  
4.2.5. Yếu tố luật tục, qui ước của địa phương  
Hiện nay, bình đẳng giới tại khu vực miền núi  
phía Bắc đã có cải thiện, tình trạng bất bình đẳng  
giới cũng được thu hẹp. Ở các địa phương khu vực  
miền núi phía Bắc đều có nữ tham gia vào các lĩnh  
vực từ chính trị, kinh tế, xã hội và các lĩnh vực khoa  
học kỹ thuật. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả  
đạt được thì bình đẳng giới ở khu vực miền núi  
phía Bắc vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra. Để góp phần  
hạn chế tình trạng bất bình đẳng giới, bên cạnh các  
chương trình hành động, các chính sách hỗ trợ của  
Chính phủ, sự bảo vệ của hệ thống pháp luật, các  
địa phương cần thực hiện tốt công tác tuyên truyền  
giáo dục. Quan trọng hơn là cả nam giới và nữ giới  
đều cần tự giác thay đổi quan niệm về phân biệt đối  
xử; nữ giới cũng cần tự nâng cao trình độ, sự hiểu  
biết để vừa tự bảo vệ bản thân, vừa tích cực tham  
gia các hoạt động xã hội, qua đó khẳng định ý thức  
về quyền được bình đẳng của mình.  
Nội dung Luật tục của các dân tộc bao gồm  
các quy định về quan hệ cộng đồng, quan hệ của  
người đứng đầu buôn làng với dân, quan hệ giữa  
các thành viên trong cộng đồng làng bản, giữa cha  
mẹ với con cái, về sở hữu tài sản, sở hữu đất đai,  
nương rẫy, nguồn nước, giữ gìn trật tự công cộng,  
giữ bình yên, hoà thuận trong buôn làng,… Luật  
tục của các DTTS thể hiện tính nhân văn, tinh thần  
đoàn kết, cộng đồng dân tộc rất cao. Tuy nhiên, tại  
những vùng sâu, vùng xa của các tỉnh miền núi phía  
Bắc hiện nay vẫn còn tồn tại những luật tục, quy  
ước ảnh hưởng đến bình đẳng giới. Điển hình như  
tại tỉnh Lào Cai, dân tộc Hà Nhì quy định những  
phụ nữ người dân tộc Hà Nhì phải mang, vác, gồng  
gánh nặng nhọc... phải cuốc đất bằng tay nếu nhà  
nào không có trâu cày ruộng, thậm chí trong ngày  
mưa lạnh giá họ vẫn phải đi lấy củi về sưởi ấm cho  
gia đình. Trong khi đó những người chồng lại đang  
26  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
Tai lieu tham khao  
Anh, T. T. Van, & Hung, L. N. (1996). Phu nu  
- Gioi và phat trien. Ha Noi: Nxb. Phu nu.  
Thi, L. (1998). Phu nu va binh dang gioi trong  
doi moi o Viet Nam. Ha Noi: Nxb. Phu nu.  
Khieu, N. L. (2002). Khia canh quan he gioi  
trong gia dinh nong thon mien nui (Nghien  
cuu truong hop xa Cat Thinh, Van Chan,  
Yen Bai). Tap chi Khoa hoc ve Phu nu, so  
1, 25–29.  
Thuan, Q. (2020). Lao Cai dat duoc ket qua  
quan trong trong thuc hien binh dang gioi,  
vi su tien bo phu nu. Truy cap 27/11/2020,  
chinh-tri-xa-hoi/lao-cai-dat-duoc-ket-qua-  
quan-trong-trong-thuc-hien-binh-dang-gioi-  
vi-su-tien-bo-phu-nu.  
Khieu, N. L. (2003). Nghien cuu phu nu, gioi  
va gia dinh. Ha Noi: Nxb. Khoa hoc Xa hoi.  
Tuyet, D. T. A. (2005). Thuc hien binh dang gioi  
cac tinh mien nui phia Bac nuoc ta hien nay.  
Luan van thac si Xa hoi hoc.  
Khoi, P. T., Anh, T. T. Van, & Minh, N. H. (Chu  
bien, 2008). Binh dang gioi o Viet Nam. Ha  
Noi: Nxb. Khoa hoc Xa hoi.  
Uy ban Dan toc, & Tong cuc Thong ke. (2019).  
Bao cao dieu tra thuc trang kinh te - xa hoi  
cua 53 dan toc thieu so.  
Thach, D. T. (2010). Tac dong cua toan cau hoa  
doi voi thuc hien binh dang gioi o Viet Nam  
hien nay. De tai khoa hoc cap co so cua vien  
Chu nghia Xa hoi Khoa hoc, Hoc vien Chinh  
tri - Hanh chinh quoc gia Ho Chi Minh.  
MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ THỰC HIỆN  
BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC  
NƯỚC TA HIỆN NAY  
Phí Hùng Cườnga  
Nguyễn Văn Sươngb  
a Học viện Dân tộc  
b Trường Chính trị tỉnh Đắk Lắk  
Ngày nhận bài:  
27/8/2021  
Ngày phản biện: 06/9/2021  
Ngày tác giả sửa: 12/9/2021  
Ngày duyệt đăng: 20/9/2021  
Ngày phát hành: 30/9/2021  
ình đẳng giới đã và luôn là vấn đề được Nhà nước Việt Nam quan tâm, triển khai nhiều chính sách  
B
quan trọng, nhằm mang lại quyền lợi bình đẳng giữa các giới. Vì thế, trong nhiều năm qua, vấn đề  
bình đẳng giới ở Việt Nam nói chung và đối với khu vực miền núi phía Bắc nói riêng đã có những bước  
tiến rõ rệt. Tuy vậy, tình trạng bất bình đẳng giới ở miền núi phía Bắc hiện nay vẫn diễn ra dưới nhiều hình  
thức khác nhau. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện  
bình đẳng giới ở khu vực miền núi phía Bắc hiện nay. Thông qua đó, cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất  
giải pháp phù hợp, nhằm khắc phục những hạn chế, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thực hiện bình  
đẳng giới ở khu vực miền núi phía Bắc nước ta.  
Từ khóa: Bình đẳng giới; Bất bình đẳng giới; Yếu tố ảnh hưởng; Miền núi phía Bắc.  
Volume 10, Issue 3  
27  
pdf 6 trang baolam 26860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Some factors affecting the results of mplementation of gender equality in the northern mountain region of our country today", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsome_factors_affecting_the_results_of_mplementation_of_gende.pdf