Tài liệu Chăm sóc sức khỏe tâm thần phụ nữ và trẻ em
for every child
VIET NAM
BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH
(Dành cho cán bộ cấp xã)
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN
PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
Hà Nội, 2017
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .............................................................................................................. 5
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................................................. 6
BÀI 1: KHÁI QUÁT VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN Ở PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM.......................................... 8
1.Khái niệm sức khỏe tâm thần và các khái niệm liên quan ....................................... 8
2.Rối loạn tâm thần ở phụ nữ, trẻ em ........................................................................ 10
3.Mối liên quan giữa sức khỏe tâm thân ở mẹ và rối nhiễu tâm thần ở con............ 11
4.Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần
cho phụ nữ và trẻ em tại cộng đồng ......................................................................... 13
4.1. Vai trò trong cung cấp các dịch vụ ........................................................................................... 13
4.2. Vai trò kết nối, chuyển gửi tới các dịch vụ bên ngoài ........................................................ 13
4.3. Vai trò truyền thông giáo dục..................................................................................................... 13
4.4. Vai trò là nhà biện hộ..................................................................................................................... 13
BÀI 2 : VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN Ở PHỤ NỮ VÀ NHỮNG CAN THIỆP, HỖ TRỢ CỦA
NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ...............................................................................................14
1.Một số rối loạn tâm thần thường gặp ở phụ nữ ..................................................... 14
2.Nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần ở phụ nữ ................ 15
3.Hậu quả của rối loạn tâm thần ở phụ nữ ................................................................. 17
4.Những can thiệp của Nhân viên công tác xã hội với các vấn đề
sức khỏe tâm thần ở phụ nữ...................................................................................... 18
4.1. Hỗ trợ phụ nữ xử lý khủng hoảng (khi bị bạo lực, xâm hại, HIV…)............................... 18
4.2. Hỗ trợ phụ nữ khi trầm cảm, trầm cảm sau sinh.................................................................. 20
4.3. Hỗ trợ phụ nữ bị lo âu ................................................................................................................... 22
5.Phòng ngừa rối loạn tâm thần ở phụ nữ ................................................................. 24
3
i
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
BÀI 3: VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN Ở TRẺ EM VÀ NHỮNG CAN THIỆP, HỖ TRỢ CỦA
NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ...............................................................................................28
1.Những vấn đề sức khỏe tâm thần thường gặp ở trẻ em ........................................ 28
1.1. Lo âu ................................................................................................................................................... 29
1.2. Trầm cảm .......................................................................................................................................... 30
1.3. Rối loạn stress sau sang chấn (PTSD)...................................................................................... 30
1.4. Hành vi gây rối ................................................................................................................................ 31
1.5. Rối loạn hành vi ứng xử ............................................................................................................... 32
1.6. Tăng động giảm chú ý (ADHD).................................................................................................. 32
1.7. Rối loạn tâm thần có nghiện chất............................................................................................ 34
1.8. Rối loạn phổ tự kỷ.......................................................................................................................... 35
2.Nguyên nhân rối loạn tâm thần ở trẻ em ................................................................ 36
3.Những can thiệp với các vấn đề sức khỏe tâm thần ở trẻ em ................................ 37
3.1. Sàng lọc với phát hiện sớm rối loạn tâm thần ở trẻ em.................................................... 37
3.2. Hỗ trợ trẻ em xử lý khủng hoảng ............................................................................................. 38
PHỤ LỤC .....................................................................................................................................41
1.Dưỡng sinh TuNa (RTCCD) ........................................................................................ 41
2.Câu hỏi đánh giá điểm mạnh và khó khăn ở trẻ em (SDQ25) ............................... 48
3.Trắc nghiệm rối loạn lo âu lan tỏa (GAD-7) ............................................................. 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................................................52
4
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVTE
Bảo vệ trẻ em
CFSI
Tổ chức dịch vụ gia đình và cộng đồng
Công tác xã hội
CTXH
NVCTXH
PTCD
RLTT
Nhân viên công tác xã hội
Phát triển cộng đồng
Rối loạn tâm thần
RNTT
RTCCD
SKTT
Rối nhiễu tâm trí
Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển cộng đồng
Sức khỏe tâm thần
UNICEF
WHO
Qũy nhi đồng Liên hợp quốc
Tổ chức y tế thế giới
5
i
LỜI MỞ ĐẦU
Công tác xã hội chiếm vị trí ý nghĩa trong giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề liên quan
tới chăm sóc sức khỏe tâm thần. Như một quy luật tự nhiên, một quốc gia càng phát triển bao
nhiêu thì sức khỏe tinh thần người dân càng có nguy cơ ảnh hưởng nhiều bấy nhiêu. Vệt Nam đang
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, do vậy những vấn đề liên quann tới sức khỏe tâm
thần, rối loạn tâm thần trong cộng đồng dân cư có xu hướng gia tăng. Theo số liệu báo cáo trong
Đề án 1215 về phục hồi chức năng cho người tâm thần dựa vào cộng đồng được Chính phủ phê
duyệt năm 2011 cho thấy có tới 10% dân số Việt Nam có những vấn đề sức khỏe tâm thần. Trong số
cộng đồng dân cư, phụ nữ và trẻ em là hai nhóm đối tượng có nguy cơ và bị ảnh hưởng nhiều nhất
về sức khỏe tâm thần mỗi khi có biến cố đối với cá nhân cũng như gia đình và xã hội. Do vậy, tổ
chức UNICEF đã phối hợp với Cục Bảo trợ xã hội Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội triển khai xây
dựng tài liệu và tập huấn cho cán bộ tại cơ sở về Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho phụ nữ và trẻ em.
Tài liệu được thiết kế thành 3 phần tương ứng với 3 bài trong chương trình tập huấn nâng cao
nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên công tác xã hội tại cộng đồng.
Trong khuôn khổ của khóa tập huấn cho cán bộ cơ sở nên tài liệu chỉ đề cập những nội dung cơ
bản nhất gồm những kiến thức sơ đẳng về sức khỏe tâm thần của phụ nữ và trẻ em, nhằm giúp
cán bộ cơ sở có được hiểu biết cơ bản để phục vụ cho hoạt động phát hiện sớm, can thiệp sớm đối
với những rối loạn tâm thần có thể có ở phụ nữ và trẻ em.
Do mới được biên tập lần đầu nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong bạn đọc và học
viên đóng góp ý kiến và bổ sung thông tin để giúp cho việc hoàn thiện trong lần tái bản sau.
Trân trọng cảm ơn!
Nhóm tác giả/Ban biên tập
6
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
7
KHÁI QUÁT VỀ
SỨC KHỎE TÂM THẦN
Ở PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
1. Khái niệm sức khỏe tâm thần và các khái niệm liên quan
Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn khoẻ mạnh về thể chất, tâm thần và xã hội và không có nghĩa là
không có bệnh hoặc thương tổn”. (Tổ chức y tế thế giới, 1946)
Sức khỏe tâm thần
Sức khỏe tâm thần được xem như trạng thái khỏe mạnh của cá nhân mà ở đó họ có thể nhận ra tiềm
năng của riêng mình, đối mặt với những căng thẳng thông thường trong cuộc sống, và có thể làm
việc một cách hiệu quả, đóng góp cho xã hội (WHO)
Rối loạn tâm thần
Theo Bản các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần cuối cùng (Diagnostic and Statistical Manual
of Mental Disorders DSM-5): “Rối loạn tâm thần là một hội chứng được đặc trưng bởi sự xáo trộn
đáng kể về mặt lâm sàng trong nhận thức, cảm xúc, hoặc hành vi của một cá nhân, phản ánh sự
rối nhiễu chức năng về tâm lý, sinh học, hoặc các quá trình phát triển cơ bản tâm thần. Rối loạn
tâm thần thường đi kèm với khủng hoảng trầm trọng về mặt xã hội, nghề nghiệp, hay những hoạt
động quan trọng khác”.
8
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
Những phản ứng xuất phát từ những áp lực hay mất mát, tổn thất trong cuộc sống, hành vi đó có
thể đoán trước được, và được chấp nhận về mặt văn hóa thì không coi là rối loạn tâm thần. Hành vi
lệch lạc có thể xảy ra giữa cá nhân và xã hội, xuất phát từ những xung đột xã hội (về chính trị, tôn
giáo hoặc tình dục) cũng không được xem là rối loạn tâm thần, trừ khi sự lệch lạc hay xung đột đó
bắt nguồn từ sự rối nhiễu chức năng của cá nhân như đã mô tả ở trên.
Sức khỏe tâm trí và rối nhiễu tâm trí
-“Sức khỏe tâm trí” là cụm từ được Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo phát triển cộng đồng (RTCCD)
đề xuất dùng thay cho“sức khỏe tâm thần”. Mục tiêu để khắc phục tình trạng liên tưởng tiêu cực do
từ“tâm thần”gây nên, giúp tiếp cận được với người dân dễ dàng hơn trong công tác phòng chống
bệnh tâm thần. Bên cạnh đó, về mặt ngôn từ, dùng “sức khỏe tâm trí” là phù hợp và tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phát triển y tế dự phòng và y tế công cộng. Cũng theo quan điểm của RTCCD khi
đến với dân, nhân viên CTXH được phân biệt với nhân viên y tế, nên cách tiếp cận, ngôn từ dùng ở
trạng thái“không bệnh”sẽ dễ dàng đi vào vấn đề hơn, tạo cảm giác tích cực hơn. Do vậy, việc dùng
“sức khỏe tâm trí”thay cho“sức khỏe tâm thần”được xem là phù hợp với người làm công tác xã hội.
Theo quan điểm của Trần Tuấn, RTCCD, sức khỏe tâm trí bao gồm trạng thái khỏe mạnh, rối nhiễu
và bệnh tật như sau:
Bệnh
Tâm thần
Rối nhiễu
tâm trí
Khỏe mạnh
Sức khỏe tâm trí
Hình 1- Sức khỏe tâm trí (Trần Tuấn, 2003).
Tuy nhiên quan điểm này vẫn còn có nhiều tranh luận trong giới y khoa tại Việt Nam.
Rối nhiễu tâm trí:
Theo Trung tâm RTCCD, rối nhiễu tâm trí chỉ tình trạng sức khỏe tâm trí ở trạng thái dao động lệch
lạc, chệch khỏi ngưỡng bình thường, diễn ra lâu ngày, ngoài ý muốn của bản thân, không tự điều
chỉnh trở về bình thường, gây ảnh hưởng đến chức năng sống, dẫn đến các biểu hiện:
9
i
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
• Sụt giảm sinh lực, khí lực, niềm tin
• Bất an, lo nghĩ không đâu
• Cảm xúc bất thường, lệch lạc
• Hành vi bất thường
• Mất cân bằng trong xử lý tình huống, quan hệ xã hội sụt giảm…
• Các chức năng sống như ăn, ngủ, hoạt động thể lực, hoạt động tình dục… bị ảnh hưởng ở các
mức độ khác nhau.
Khi những biểu hiện liệt kê trên nếu chỉ diễn ra đơn lẻ, trong một khoảng thời gian ngắn (trong
ngày, vài ngày, hoặc một tuần trở lại) thì chưa phải là rối nhiễu tâm trí, mà được xem là“bất thường”.
Khi những “bất thường này” nhiều lên, có mối liên hệ với nhau, và diễn ra trong một thời gian dài,
không quay về bình thường được mặc dù đối tượng nhận thức thấy tính nghiêm trọng của vấn đề
và có chủ ý điều chỉnh thì có thể coi là họ đã bị rối nhiễu tâm trí/ tâm thần. Khoảng thời gian để xét
các diễn biến bất thường nêu trên lặp đi lặp lại tạo nên tình trạng“rối nhiễu tâm trí”thường là“một
tháng qua” ở phụ nữ (tham khảo bộ câu hỏi sàng lọc SRQ20) hoặc “sáu tháng qua” ở trẻ em (tham
khảo bộ câu hỏi sàng lọc SDQ25).
2. Rối loạn tâm thần ở phụ nữ, trẻ em
Giai đoạn từ khi sinh ra đến trước 18 tuổi được xem là giai đoạn đặc biệt của mỗi cá nhân. Trong
giai đoạn đầu của lứa tuổi này, cơ thể sinh học cũng như đời sống cảm xúc, xã hội sẽ phát triển và
hoàn thiện dần. Trạng thái tâm lý, hành vi, thói quen, ứng xử, quan hệ xã hội, khả năng kiểm soát
suy nghĩ và hành động của trẻ em nói chung là chưa ổn định, bền vững như người lớn. Trẻ dễ bị
dao động, đôi khi có những biểu hiện tưởng như là bất thường với người quan sát, nhưng lại có thể
là bình thường với đặc điểm tâm lý ở từng lứa tuổi nhất định.
Đối với phụ nữ, họ lại trải qua các giai đoạn mang thai, sinh đẻ, giai đoạn tiền mãn kinh, mãn kinh.
Những vấn đề này cũng làm cho những thay đổi về tâm lý trong mỗi giai đoạn này. Ở các giai đoạn
này, những biến đổi sinh học, trạng thái tâm lý cảm xúc cũng hay có sự dao động lớn, diễn biến
bất thường.
Thêm vào đó, trẻ em và phụ nữ đã và đang bị ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp về sức khỏe tâm trí, đặc
biệt ở các nơi còn nặng hủ tục phong kiến trọng nam khinh nữ, thiếu dân chủ, đời sống vật chất
thiếu thốn, sinh hoạt văn hóa tư tưởng nghèo nàn, cuộc sống có quá nhiều mối lo toan và bất ổn đi
kèm các thói quen xấu như thói gia trưởng, tính bạo hành lạm dụng uy quyền chèn ép trẻ em- phụ
nữ, tình trạng lạm dụng chất, nghiện rượu, cờ bạc…
Sự kết hợp các yếu tố xã hội và tâm sinh lý đặc thù của trẻ em và phụ nữ nêu trên, khiến trẻ em và
phụ nữ hay rơi vào trạng thái rối nhiễu tâm trí và cần được ưu tiên chăm sóc sức khỏe tâm trí.
10
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
3. Mối liên quan giữa sức khỏe tâm thân ở mẹ và rối nhiễu tâm thần ở con
Phụ nữ và trẻ em luôn luôn được gắn với nhau trong quá trình hình thành và phát triển của trẻ. Sự
gắn bó hai đối tượng này (mẹ và trẻ) có điểm rất riêng, đó là mối quan hệ hữu cơ, trực tiếp, qua lại
hai chiều, không tách rời, thể hiện trong cả hai“con người sinh học và con người xã hội”của người
phụ nữ cũng như của trẻ.
Sức khỏe tâm trí của trẻ được hình thành từ giai đoạn phát triển trong bụng mẹ, nên thời gian
người mẹ mang thai, tinh thần của người mẹ tốt hay không, sự chăm sóc bản thân người mẹ cho
chính đời sống tinh thần của mình đầy đủ đến đâu, đều trực tiếp ảnh hưởng đến tính cách và sự
phát triển tâm trí của trẻ sau này.
Trong quá trình mang thai, sinh nở, đứa trẻ đi từ không đến có, nên mọi bất ổn của các chỉ số sinh
học và chức năng sống ở mẹ (nhiễm trùng, ngộ độc thai nghén, bệnh tật khác nảy sinh trong thời
gian mang thai…), mọi trạng thái tâm lý không ổn định của mẹ đều trực tiếp ảnh hưởng đến sự
hình thành con người sinh học và con người xã hội của trẻ. Nói khác đi, sức khỏe thể chất và tâm trí
của mẹ tạo nền tảng cơ bản cho sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm trí của con.
Ngược lại, sự hoàn thiện con người sinh học của trẻ khi ra đời, mọi biểu hiện nhỏ về sức khỏe tâm
trí của trẻ, từ ánh mắt, nụ cười, sự ổn định trong giấc ngủ, dấu hiệu kém ăn… của con đều trực tiếp
ảnh hưởng đến cả sức khỏe tâm trí và sức khỏe thể chất của mẹ. Sự bất thường trong con người
sinh học hoặc trạng thái tâm lý vận động của con có thể đưa người mẹ đến trạng thái mất ngủ,
lo lắng, chán ăn, mệt mỏi… rất dễ dẫn đến bùng phát rối nhiễu tâm trí và các bệnh thực thể tiềm
tàng. Trầm cảm và lo âu là hai dạng bệnh phổ biến ở phụ nữ trong thời gian mang thai và nuôi con
nhỏ. Nhiều bà mẹ phát sinh bệnh hen, tim mạch… sau khi mang thai, sinh con.
Trẻ em sinh ra bởi người phụ nữ. Hầu hết phụ nữ Việt Nam lập gia đình, sinh con. Do vậy, chăm
sóc sức khỏe tâm trí của trẻ, hoặc chăm sóc sức khỏe tâm trí của người phụ nữ, cần được đặt trong
mối quan hệ hữu cơ phụ nữ-trẻ em. Nói rộng ra, trong chăm sóc sức khỏe trẻ em, không tách riêng
việc khám chữa bệnh chăm sóc cho trẻ khỏi người mẹ. Những sai lầm trong y tế - xã hội như tách
mẹ khi trẻ được đẻ ra, khuyến khích người phụ nữ “ba đảm đang” trong giai đoạn mang thai, nuôi
con nhỏ, cai sữa sớm gửi con cho người khác nuôi để tập trung học tập, công tác xã hội, giới hạn
ngày nghỉ chăm sóc con của người mẹ… đều gây hậu quả nghiêm trọng và lâu dài cho cả hai đối
tượng. Chăm sóc sức khỏe tâm trí của mẹ chính là chăm sóc sức khỏe (cả tâm trí và thực thể) cho
con. Ngược lại, chăm sóc sức khỏe của con nói chung và đặc biệt sức khỏe tâm trí nói riêng, lại có
điểm xuất phát từ thực hiện hỗ trợ giáo dục và chăm sóc sức khỏe tâm trí, sức khỏe thực thể của
người mẹ.
Vai trò của người mẹ trong phòng, điều trị RNTT cho con
Trẻ bị RNTT rất cần sự quan tâm, chăm sóc, gần gũi của người thân, đặc biệt là của người mẹ. Bởi
mẹ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu trong gia đình. Trẻ từ khi mới sinh ra đến khi
trưởng thành, phần lớn thời gian là gần gũi và thường là chịu ảnh hưởng nhiều từ người mẹ. Trẻ
được mẹ cho bú sữa, bồng ẵm, dỗ dành, tắm giặt, ru ngủ, cho ăn uống, chăm sóc rất nhiều khi ốm
đau... Sự quan tâm của người mẹ sẽ giúp trẻ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Để phòng,
điều trị RNTT, phục hồi chức năng cho con, gia đình và đặc biệt người mẹ có ưu thế hơn những
người khác trong gia đình, ngoài cộng đồng:
11
i
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
• Theo tự nhiên, người mẹ có điều kiện gần trẻ sớm nhất.
• Thường được gia đình và xã hội gắn cho trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc trẻ và được tạo điều
kiện để mẹ gần con cả trong sinh hoạt và trong khi ngủ.
• Trẻ luôn muốn nghe mẹ, tin tưởng mẹ.
• Dễ bắt chước hành vi của mẹ (lời nói, ứng xử, việc làm…)
• Khi trẻ ốm, luôn muốn gần mẹ, và tình cảm mẫu-tử mang bản chất tự nhiên, sinh tồn, luôn
mạnh hơn các dạng tình cảm xã hội khác.
Do vậy, trong phòng và điều trị rối nhiễu tâm trí cho trẻ, người mẹ có vai trò lớn nhất, đặc biệt quan
trọng. Thực tế, phần lớn tác động đến trẻ cần được bắt đầu từ người mẹ và thông qua người mẹ.
Bỏ sót hoặc xem nhẹ đối tượng người mẹ trong hoạch định công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ
nói chung và phòng chống rối nhiếu tâm trí ở trẻ nói riêng là một nguyên nhân đưa đến thất bại
hiện nay.
Người mẹ có khả năng làm tốt những vấn đề dưới đây rất có lợi cho sức khỏe tâm trí của trẻ, nên
bắt đầu ngay từ giai đoạn mang thai, sinh con, và các hoạt động chăm sóc sau sinh:
• Giúp đỡ trẻ và lắng nghe trẻ.
• Dành thời gian cùng trẻ làm những điều trẻ thích làm.
• Khuyến khích trẻ chơi với bạn bè, tìm hiểu xung quanh.
• Khuyến khích trẻ trò chuyện với những người trẻ tin tưởng.
• Dành cho trẻ những sự giúp đỡ ở bên ngoài như: nói chuyện với những bạn bè của trẻ và thầy
cô giáo để giúp hiểu chuyện gì đang xảy ra tại trường lớp, từ đó có những biện pháp hỗ trợ tích
cực và kịp thời.
• Phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường ở trẻ.
• Tìm hiểu cảm xúc của trẻ một cách nghiêm túc và khuyến khích trẻ nói về bản thân.
• Khuyến khích trẻ suy nghĩ theo hướng tích cực.
• Trẻ có thể có vấn đề nào đó, nhưng trẻ cần biết rằng bạn sẽ không căm ghét hay từ bỏ chúng.
Trẻ cần biết mẹ chúng có thể giúp chúng chế ngự các cảm xúc của chúng.
• Trẻ có thể cần giúp đỡ để đương đầu với các vấn đề hàng ngày liên quan đến gia đình, bạn bè
và nhà trường.
• Ngoài ra, để phòng và điều trị RNTT cho trẻ, cha mẹ cần phải hiểu tâm lý và những nhu cầu
thiết yếu của trẻ, từ đó có những hành xử phù hợp với trẻ.
12
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
4. Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần cho phụ
nữ và trẻ em tại cộng đồng
4.1. Vai trò trong cung cấp các dịch vụ
Nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) có thể là một thành viên của một nhóm liên ngành tham gia
vào cung cấp dịch vụ BVTE ở các giai đoạn khác nhau từ phòng ngừa, can thiệp sớm và can thiệp
khẩn cấp:
- Dịch vụ phòng ngừa (cấp độ 1): NVCTXH sẽ tổ chức các hoạt động giáo dục-truyền thông hướng
đến toàn bộ dân chúng nói chung để nâng cao nhận thức về các vấn đề của trẻ em và phương
pháp, kỹ năng BVTE.
- Dịch vụ can thiệp sớm (cấp độ 2): NVCTXH sẽ tập trung hỗ trợ nhóm đối tượng trẻ em và gia đình
có nguy cơ, như gia đình có bạo hành, sử dụng rượu hay ma túy, có vấn đề về sức khỏe tâm thần
và khó khăn trong chăm sóc trẻ,... Dịch vụ ở cấp độ này thường là tư vấn, vận động, xây dựng
năng lực cho trẻ em và gia đình về các vấn đề BVTE, hỗ trợ trẻ em tiếp cận đến các chương trình
hỗ trợ chính sách.
- Dịch vụ can thiệp khẩn cấp (cấp độ 3): NVCTXH sẽ sử dụng những kỹ năng chuyên sâu về CTXH
để hỗ trợ trẻ em và gia đình đã gặp phải những vấn đề nhất định, ví dụ như bạo lực, xâm hại, tai
nạn, khủng hoảng,.. Trong cấp độ này, NVCTXH đòi hỏi phải phối hợp liên ngành để giải quyết
các nhu cầu đa dạng của trẻ. Các hoạt động chủ yếu là tham vấn tâm lý, trị liệu tâm lý, thực hiện
dịch vụ chăm sóc thay thế, giáo dục trẻ em vi phạm pháp luật tại xã phường/ thị trấn...
4.2. Vai trò kết nối, chuyển gửi tới các dịch vụ bên ngoài
Vấn đề và nhu cầu của trẻ em bị hoặc có nguy cơ bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng cũng như các vấn
đề liên quan tới sức khỏe tâm thần là rất đa dạng và phức tạp. Bản thân NVCTXH không thể tự mình
đáp ứng và giải quyết hết được mà phải kết nối chuyển gửi đến các cơ sở cung cấp dịch vụ khác để
có thể đáp ứng toàn diện nhu cầu của trẻ.
4.3. Vai trò truyền thông giáo dục
Với vai trò truyền thông giáo dục, NVCTXH thực hiện các hoạt động nâng cao nhận thức và thay đổi
hành vi hoặc lồng ghép với các chương trình liên quan khác tại địa phương. Vai trò truyền thông
giáo dục đặc biệt hữu hiệu trong hoạt động bảo vệ trẻ em ở cấp độ 1 và cấp độ 2 nhằm hướng tới
tăng cường tính cam kết và hỗ trợ bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em trong toàn cộng đồng.
4.4. Vai trò là nhà biện hộ
Biện hộ là hoạt động mà NVCTXH cùng hoặc thay mặt phụ nữ, trẻ em và gia đình để vận động
chính quyền xây dựng các chính sách, chương trình phù hợp đáp ứng nhu cầu của phụ nữ, trẻ và
vận động thực hiện các chương trình/ chính sách liên quan tới chăm sóc sức khỏe tâm thần.
13
VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN
Ở PHỤ NỮ VÀ NHỮNG
CAN THIỆP, HỖ TRỢ CỦA
NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
2
1. Một số rối loạn tâm thần thường gặp ở phụ nữ
- Lo âu
- Giảm chú ý hay quá chú ý
- Trầm cảm, trầm cảm trong khi mang thai và sau sinh
- Stress
- Khủng hoảng/ trầm cảm sau sang chấn
- Tâm thần phân liệt
- Rối loạn ăn uống: ăn quá nhiều hoặc ăn quá ít
- Rối loạn nhân cách lưỡng cực
14
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
Nghiên cứu của Trung tâm RTCCD tại một số tỉnh về vấn đề sức khỏe tâm thần của phụ nữ và trẻ
em cho thấy như sau:
Bảng 1: Gánh nặng RNTT ở bà mẹ
Địa điểm nghiên cứu
Nhóm đối tượng nghiên cứu
Tỷ lệ
31 xã thuộc 5 tỉnh thành Lào Cai, Hưng Yên, Đà
Nẵng, Phú Yên, Bến Tre (chương trình nghiên cứu
Young Lives, 2001-2005)
Bà mẹ đang nuôi con nhỏ 6-17
tháng tuổi
20%
Hà Nam (phụ nữ có thai/mới
sinh con)
33%
22%
Hà Nam và Hà Nội (mẫu ngẫu nhiên 6 xã ở Hà
Nam và 4 phường ở Hà Nội; Đại học Melbourne-
RTCCD, 2008)
Hà Nội (phụ nữ có thai/mới sinh
con)
2. Nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần ở phụ nữ
2
Các nguyên nhân:
Có thể có nhiều nguyên nhân gây nên những rối loạn tâm thần ở phụ nữ. Nó có thể là do yếu tố
gen, yếu tố môi trường, do sang chấn (sọ não), sang chấn do những sự kiện như bị bạo lực gia đình,
bị xâm hại, vấn đề quan hệ mâu thuẫn, áp lực kinh tế, khó khăn trong nuôi dưỡng con cái, thay đổi
hoóc môn…, các stress trong cuộc sống, HIV, lạm dụng chất gây nghiện…
Bảng 2- Rối nhiễu tâm trí ở bà mẹ và trẻ em: Yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ (theo WHO, 2004)
Nguy cơ phát triển RNTT
(Vai trò tăng bệnh
• Tiếp xúc chất độc trong thời gian • Thực hiện tốt công tác phòng chống
Ngăn chặn RNTT
(Vai trò giảm bệnh)
Nhóm yếu tố
Sinh học
mang thai (ví dụ: hút thuốc lá, thiếu hụt vi chất trong thời gian
rượu, phun thuốc trừ sâu…)
• Yếu tố di truyền rối nhiễu tâm trí
• Tổn thương ở đầu
mang thai và những năm đầu đời
• Phát triển thể lực phù hợp với tuổi
• Sức khoẻ thể lực tốt
• Ngạt khi sinh hoặc biến chứng
khác trong khi sinh
• Nhiễm HIV; suy dinh dưỡng, các
bệnh bẩm sinh hoặc mạn tính khác
Tâm lý
• Nhân cách “khó gần”; khó thích • Chương trình can thiệp sớm y tế dự
ứng với bên ngoài, kiểu “đóng” phòng cho trẻ
• Lạm dụng tình dục, thực thể hoặc • Khả năng học tập kinh nghiệm của
tâm lý người khác tốt
• Áp lực lớn, kéo dài trong cuộc sống, • Khả năng tự kiểm soát tốt
học tập
• Kỹ năng hoà đồng xã hội tốt
• Thói gia trưởng của đàn ông, tâm lý
xem nhẹ vai trò phụ nữ, trẻ em
• Khả năng tự giải quyết vấn đề tốt
15
i
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
Xã hội
Gia đình
• Quan tâm chăm sóc kém
• Gắn kết gia đình mạnh
• Mâu thuẫn gia đình
• Kỷ luật không nghiêm
• Quản lý kém
• Thành viên có trách nhiệm với gia
đình
• Vai trò phụ nữ, trẻ em được đánh giá
đúng giá trị, được nhìn nhận trong
gia đình
• Gia đình có người mất
• Gia đình có người lạm dụng chất,
nghiện rượu, nghiện cờ bạc…
Trường học
Cộng đồng
• Nhà trường chạy theo thành tích, • Phương pháp tổ chức giáo dục phù
chỉ tiêu
hợp, lấy học sinh làm trung tâm
• Học kém
• Có cơ hội tham gia vào các hoạt
động ở trường
• Bạo lực học đường
• Phân biệt đối xử
• Thành tích học tập tốt
• Gắn kết với nhà trường
• Mâu thuẫn hàng xóm
• Tình làng nghĩa xóm cao
• Tập quán văn hoá chia sẻ khó khăn
• Môi trường ganh đua, đố kỵ
• Môi trường quản lý yếu kém, tham • Mạng lưới hỗ trợ cộng đồng phát
nhũng, cái ác, cái xấu hoành hành.
triển
• Chính quyền vì dân, do dân, bởi dân
Tuy nhiên cần xem xét nguyên nhân với từng loại rối loạn tâm thần
Ví dụ như với trầm cảm/ sau sinh lại có những lý do đặc thù khác. Đối với phụ nữ trầm cảm, các
nguyên nhân thường được xem xét là:
- Có tiền sử trầm cảm hay bệnh gâm thần nào đó
- Trong gia đình có người trầm cảm hay bệnh tâm thần
- Thiếu sự chăm sóc hỗ trợ của gia đình bạn bè
- Cảm xúc tiêu cực về việc có thai
- Có vấn đề với việc có thai lần trước
- Có vấn đề với hôn nhân
- Nhiều sự kiện gây stress
- Tuổi quá trẻ để có thai
- Sử dụng/lạm dụng chất gây nghiện
16
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
3. Hậu quả của rối loạn tâm thần ở phụ nữ
Khi tình trạng stress kéo dài, tâm thần không khỏe mạnh của phụ nữ diễn ra trong thời gian dài dễ
làm ảnh hưởng tới cuộc sống của họ:
- Ảnh hưởng tới công việc hàng ngày, năng suất lao động giảm.
- Ảnh hưởng đến cách thức nuôi dạy con cái của họ: dễ đưa ra những yêu cầu thái quá, đòi hỏi sự
hoàn hảo, gâp áp lực cho trẻ.
- Con cái của họ cũng phải chịu đựng những cảm xúc, hành vi không “khỏe mạnh” ở họ như cáu
gắt, không nhất quán, dễ bị kích động, gây áp lực… và điều này dễ làm cho những đứa trẻ có
những phản ứng không hợp lý cũng như lâu ngày trở thành nét tính cách của trẻ.
- Dễ tạo nên những căng thẳng trong gia đình với cha mẹ, chồng con.
- Mối quan hệ xã hội cũng bị ảnh hưởng: Quan hệ với đồng nghiệp, với bạn bè, với những người
xung quanh như hoặc là họ xa lánh, rút lui không giao tiếp, hoặc là tạo nên những căng thẳng,
dễ bị tổn thương khi giao tiếp…
- Ảnh hưởng tới sức khỏe thể chất của phụ nữ như ăn uống kém hay quá nhiều, ngủ quá ít hay
quá nhiều… Điều này dễ làm cho họ có những bệnh thể chất như tiểu đường, sinh nở có vấn
đề, tim mạch…
Nhiều nghiên cứu chỉ ra số phụ nữ bị mắc một số rối loạn tâm thần trong thời kỳ mang thai đã ảnh
hưởng nhiều tới bản thân họ và đặc biệt là thai nhi. Tuy nhiên ít người lại quan tâm tới vấn đề này.
Khi mang thai mà phụ nữ bị stress có thể gây tác hại cho thai nhi như thai chết nhất là nếu bị stress
ở 3 tháng đầu thai kỳ. Còn nếu stress xảy ra vào 3 tháng cuối thai kỳ thì nguy cơ cao nhất là thai nhẹ
ký. Rối loạn stress sau chấn thương trong thời gian mang thai có nguy cơ cao sẩy thai, nôn nhiều
và chuyển dạ sớm.
Stress cũng liên hệ nhiều với trầm cảm ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai và sau sinh như sẩy thai,
chảy máu nguy cơ sinh mổ.
Trầm cảm có thể dẫn đến các hành vi hút thuốc lá, uống rượu, sử dụng ma túy và tăng cân.
Những rối loạn tâm thần thường gặp ở phụ nữ khi họ lạm dụng chất gây nghiện như rối loạn hoảng
loạn, rối loạn ăn uống... Khi có thai mà họ mắc những rối loạn này thì thai nhi cũng bị ảnh hưởng.
Khi bị rối loạn lưỡng cực trong giai đoạn hưng cảm thì phụ nữ có thai cũng gặp những khó khăn
trong thời kỳ này như nguy cơ bất thường về nhau thai và chảy máu trong thời gian mang thai,
nguy cơ cao bị chuyển dạ sớm và sinh non, nhiều nước ối và thiếu máu.
Về các rối loạn ăn uống, nếu mắc chứng ăn vô độ khi có thai có nguy cơ sẩy thai cao gấp hai lần,
nguy cơ sinh non tăng gấp ba và gấp sáu lần về đái tháo đường trong thai kỳ và thai nhẹ ký.
Khi phụ nữ bị tâm thần phân liệt tỉ lệ sinh con của họ có khả năng còn sống thường thấp, sinh non,
thai nhẹ ký, thai chết lưu, bất thường nhau hay khiếm khuyết về tim mạch ở thai nhi.
17
i
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
4. Những can thiệp của Nhân viên công tác xã hội với các vấn đề sức khỏe tâm thần ở
phụ nữ
Những can thiệp xử lý rối loạn tâm thần đòi hỏi có nhiều chuyên gia can thiệp tùy theo mức độ
nặng nhẹ của tình trạng rối loạn tâm thần ở phụ nữ.
Với trường hợp nặng đòi hỏi cần kê đơn thuốc thì bác sỹ tâm thần là người quyết định, hay những
can thiêp trị liệu sau về tâm lý thì do nhà trị liệu tâm lý.Tuy nhiên cũng có những trường hợp can
thiệp mang tính hỗ trợ hay phòng ngừa, nhân viên công tác xã hội hay cán bộ tình nguyện tại cơ
sở khi được đào tạo tập huấn vẫn có thể hỗ trợ được phần nào. Sau đây xin giới thiệu cách thức can
thiệp hỗ trợ phụ nữ khi có một số dạng rối loạn tâm thần hay trong tình trạng stress, khủng hoảng
mà tâm thần không được ổn định.
4.1. Hỗ trợ phụ nữ xử lý khủng hoảng (khi bị bạo lực, xâm hại, HIV…)
4.1.1. Đặc điểm của khủng hoảng tâm lý
Khủng hoảng tâm lý là trạng thái sốc về tâm thần và nó thường đi cùng với cảm xúc, suy nghĩ và
hành động gây ra hậu quả tiêu cực tới cuộc sống của người bị khủng hoảng tâm lý.
Thân chủ hay gia đình họ thường rơi vào tình trạng khủng hoảng tâm lý khi được biết tình trạng
của mình (nhiễm HIV, hay con cái sử dụng ma túy, bị tai nạn, người thân mất, v.v.) Khi này họ
thường có tâm lý như:
- Bối rối
- Căng thẳng trầm trọng
- Cảm giác bất lực
- Cảm giác tức giận và buồn, bã
- Cố gắng mọi cách để ứng phó với vấn đề
Một số cảm xúc có thể có:
- Sốc
- Lo lắng
- Quẫn trí
- Phủ nhận: Không tin điều đó có thể xảy ra
- Tức giận: Cảm thấy cuộc sống bất công, tức giận với chính bản thân, với những người xung
quanh, với những gì đã xảy ra với mình. Muốn phá bỏ, muốn trả thù… chính bản thân và những
người khác.
- Cảm giác tội lỗi, tự đổ lỗi cho bản thân
18
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
- Thu mình, trầm uất không chia sẻ với ai, hoặc cho là không ai hiểu mình
- Cũng có người nỗ lực tìm cách tự cứu mình
- Chấp nhận: có người chấp nhận thực tế của mình.
Mức độ khủng hoảng nặng hay nhẹ phụ thuộc vào tính cách của từng cá nhân, song tất cả đều cần
được hỗ trợ kịp thời để vượt qua tình trạng này. Nếu không được trợ giúp kịp thời họ có thể chìm
sâu trong khủng hoảng làm hạn chế các chức năng xã hội của bản thân hoặc có những hành vi tự
giải thoát không phù hợp, ví dụ tự làm hại bản thân, thậm chí tự tử.
4.1.2. Trợ giúp xử lý khủng hoảng
- Hỗ trợ tâm lý ban đầu
+ Tạo dựng mối quan hệ tích cực với thân chủ
+ Nâng đỡ, khuyến khích thân chủ biểu lộ cảm xúc
+ Lắng nghe và thể hiện sự thấu hiểu, đồng cảm
+ Giới thiệu họ tới những cơ sở cung cấp dịch vụ có thể giúp họ được chuyên sâu hơn
- Giúp thân chủ khi họ phủ nhận tình huống
+ Thể hiện sự đồng cảm
+ Ghi nhận những quan điểm của họ và sau này cùng họ trao đổi để họ tự nhận thức và tự thay đổi
+ Nhắc lại các thông tin chi tiết cụ thể của vấn đề một cách nhẹ nhàng và thận trọng
+ Không nên hứa những điều không thực tế, điều không thể
- Giúp đỡ thân chủ khi họ đang tức giận
+ Để họ có cơ hội bộc lộ những xúc cảm của họ
+ Thể hiện sự thấu cảm và nói với họ rằng mình đang cố gắng hiểu họ và biết họ đang tức giận
+ Không nên tranh cãi với thân chủ trong khi họ đang khủng hoảng.
- Giúp đỡ thân chủ trong lúc họ đau khổ, tuyệt vọng
+ Lắng nghe tích cực
+ Tránh không phán xét.
+ Tạo điều kiện cho thân chủ bộc lộ tình cảm.
+ Hãy để họ và khuyến khích họ chia sẻ cảm xúc như buồn bã, lo sợ...
+ Tỏ ra đồng cảm, lo lắng và nâng đỡ tinh thần.
19
i
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
4.2. Hỗ trợ phụ nữ khi trầm cảm, trầm cảm sau sinh
4.2.1 Khái niệm trầm cảm
Trầm cảm là một dạng rối loạn tâm thần hay gặp nhất trong các dạng rối loạn tâm thần, nó liên
quan tới rối loạn cảm xúc như chán nản, trầm uất buồn bã, cảm giác mất hết sinh lực để làm bất
cứ việc gì.
Đối với phụ nữ, trầm cảm trong khi mang thai và sau sinh là khá phổ biến trong số những phụ nữ
bị trầm cảm.
Trầm cảm có nhiều nguyên nhân.
4.2.2 Đặc điểm/ dấu hiệu của người trầm cảm
- Mất ngủ
- Mệt mỏi
- Rối loạn ăn uống: Ăn mất ngon hoặc ăn quá nhiều
- Cảm giác buồn rầu, hoặc bực bội, trầm uất. Mất hết các mối quan tâm, sở thích thường ngày kể
cả những sở thích vốn có trước đây.
- Ý nghĩ chán nản, buông xuôi: Bệnh nhân chán mọi thứ, cho mình là vô dụng, vì vậy muốn buông
xuôi mọi việc.
- Khó khăn tập trung vào một việc gì đó: như đọc sách, nghe giảng, xem ti-vi... không thể ghi
nhớ được.
- Cảm giác bứt rứt, buồn nôn, lo lắng vô cớ: khó có thể ngồi yên một chỗ được một lúc, luôn lo lắng
vô cớ.
- Thường xuyên có các rối loạn thực thể: như đau đầu, đau bụng, đau ngực, đánh trống ngực, đau
cơ, ra nhiều mồ hôi...
- Có người có ý tự sát hay có hành vi tự sát
Các triệu chứng trên kéo dài trên 2 tuần.
4.2.3. Nguyên nhân của trầm cảm
Không có nguyên nhân đơn lẻ cho dạng rối loạn này, thường là kết quả tổng hợp của nhiều
nguyên nhân.
• Có xu hướng ảnh hưởng từ gia đình. Nếu phụ nữ có gia đình có ai đã bị trầm cảm thì họ dễ có
nguy cơ cao bị trầm cảm hơn so với người chưa có ai trong gia đình bị trầm cảm
• Những thay đổi sinh hóa trong cơ thể
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Chăm sóc sức khỏe tâm thần phụ nữ và trẻ em", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_cham_soc_suc_khoe_tam_than_phu_nu_va_tre_em.pdf

