Những khuynh hướng cơ bản của Phật giáo Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

44  
CHUYÊN MỤC  
VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT - TÔN GIÁO  
NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO  
NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX  
NGUYỄN VĂN QUÝ*  
Trong lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ, Phật giáo luôn đóng vai  
trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của người dân. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ  
XX, trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, Phật giáo Nam Bộ đã gặp  
nhiều thách thức về chính trị, tư tưởng, văn hóa, tôn giáo... tuy nhiên, thời kỳ này  
nhiều tăng sĩ, cư sĩ ở Nam Bộ có tâm huyết với Phật giáo đã vận động Giáo hội  
Tăng già cải cách và kết quả là phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Bộ hình  
thành và lan ra miền Trung, miền Bắc.  
Nghiên cứu này tiếp cận theo hướng sử học tôn giáo nhằm nêu lên hai khuynh  
hướng vận động cơ bản của Phật giáo Nam Bộ thời kỳ này: thành lập các hội  
Phật giáo cùng sự ra đời của những tạp chí Phật học; hình thành các hệ phái  
Phật giáo mới.  
Từ khóa: hiện tượng tôn giáo mới, khuynh hướng Phật giáo Nam Bộ, phong trào  
chấn hưng  
Nhận bài ngày: 29/1/2021; đưa vào biên tập: 10/3/2021; phản biện: 14/5/2021;  
duyệt đăng: 10/7/2021  
của lưu dân vào đất mới có đủ tam  
giáo và đạo thờ tổ tiên, ông bà. Tuy  
nhiên, Nho giáo vốn không sâu sắc  
đối với đa số lưu dân ít học, về sau  
lại tỏ ra bất lực đối với cuộc xâm  
lăng của thực dân Pháp, nên Phật  
giáo và Đạo giáo nổi trội cùng với  
ma thuật cổ truyền trộn lẫn với nhau”  
(dẫn theo Đỗ Quang Hưng, 2001:  
24-25).  
1. DẪN NHẬP  
Vùng đất Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến  
cuối thế kỷ XIX hội tụ nhiều tộc  
người (Việt, Khmer, Chăm, Hoa) có  
sự giao thoa văn hóa, tín ngưỡng,  
tôn giáo khá sâu đậm. Trần Bạch  
Đằng nhận xét: “Hành trang tôn giáo  
* Viện Nghiên cứu Tôn giáo.  
NGUYỄN VĂN QUÝ – NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN…  
45  
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các tôn giáo khác. Phật giáo vẫn luôn  
tầng lớp địa chủ và thực dân Pháp tìm là một tôn giáo phổ biến nhất ở Nam  
Bộ trong thời kỳ này và có ảnh hưởng  
lớn đến đời sống tinh thần của người  
dân, đồng thời còn là nền tảng tư  
tưởng, giáo lý trong việc hình thành  
các hiện tượng tôn giáo mới. Tuy  
nhiên, trong bối cảnh đất nước có  
nhiều biến động, Phật giáo Việt Nam  
nói chung và Phật giáo Nam Bộ nói  
riêng buộc phải "canh tân" sau một  
thời gian dài suy thoái.  
mọi cách khai thác tài nguyên, bóc lột  
sức lao động khiến cho đời sống cư  
dân khốn khổ. Các phong trào khởi  
nghĩa bị đàn áp khốc liệt. "Không khí  
chính trị lại càng trở lên ngột ngạt khi  
Pháp và Nhật ra sức tranh giành ảnh  
hưởng tại Việt Nam. Các phong trào  
yêu nước của nhân dân ta bị triều  
đình Huế và thực dân Pháp đàn áp  
khốc liệt, tầng lớp trí thức rơi vào  
trạng thái bế tắc. Người dân Nam Bộ  
thời bấy giờ mất phương hướng và  
khủng hoảng niềm tin sâu sắc" (Viện  
Nghiên cứu Phật học Việt Nam và  
Trường Đại học Khoa học xã hội và  
Nhân văn TPHCM, 2015: 234).  
2. TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO NAM BỘ  
CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX  
Đến cuối thế kỷ XIX, những biến động  
về đời sống chính trị, xã hội của đất  
nước với sự hiện diện của thực dân  
Pháp đã khiến tam giáo và nhất là  
Phật giáo suy thoát nghiêm trọng,  
không giữ được vai trò trong việc định  
hướng tâm linh cho người dân.  
Trong bối cảnh như vậy, nhiều hiện  
tượng tôn giáo mới đã nảy sinh rồi tàn  
lụi như đạo Dừa, đạo Nằm..., có hiện  
tượng tôn giáo mới hình thành và phát  
triển cho đến ngày nay, như đạo Cao  
Đài, đạo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu  
Nghĩa… góp phần làm cho đời sống  
tín ngưỡng tôn giáo ở Nam Bộ đa sắc.  
Đối với Phật giáo Nam Bộ, thách  
thức đầu tiên ở ngay chính bản thân  
tôn giáo này. Tình trạng tăng già rời  
rạc, tu sĩ thất học, buông lỏng giới  
luật..., đến nỗi cư sĩ Khánh Vân than  
rằng: "Có kẻ mượn Phật làm danh,  
cũng ngày đêm hai buổi công phu, thọ  
trì, sóc vọng, cũng sám hối như ai...  
lại thủ dị cầu kỳ, học thêm bùa ngải,  
luyện roi thần, làm bạn với Thiên Linh  
Cái, lúc ông lên, lúc bà xuống, ngáp  
ngắn ngáp dài, thư phù niệm chú, gọi  
là cứu nhân độ thế, nhưng lợi dụng  
lòng mê muội của chư thiện tín mở  
rộng túi tham quơ quét cho sạch sành  
sanh. Than ôi! Họ phải ma vương sao  
mà làm chuyện trò cười cho ngoại đạo?  
Vậy mà cũng nên mặt trụ trì! Hiện  
Bên cạnh sự ra đời, phát triển hay tàn  
lụi của nhiều hiện tượng tôn giáo mới,  
Nho giáo vẫn in đậm trong ứng xử của  
người dân; Đạo giáo vẫn len lỏi trong  
cộng đồng người Hoa, người Việt với  
bùa chú, những phương pháp chữa  
bệnh dân gian. Những tôn giáo có  
nguồn gốc phương Tây như Kitô giáo  
sau một thời gian dài trắc trở đã hiện  
diện trong một bộ phận tầng lớp nhân  
dân; đạo Tin Lành mới du nhập những  
năm đầu thế kỷ XX nhưng đã có  
những ảnh hưởng đến sinh hoạt của  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021  
46  
trạng như thế, bảo sao chẳng suy đồi. quốc tế đã xuất hiện cuối thế kỷ XIX(3)  
Làm tấm bia cho các nhà duy vật mỉa trong bối cảnh khoa học kỹ thuật phát  
mai"(1). Phật giáo ở miền Trung và  
triển, sự giao lưu Đông - Tây mở rộng.  
miền Bắc cũng trong tình trạng tương  
tự, cư sĩ Thanh Quang viết: "Đau đớn  
thay xứ ta, những hạng người xuất gia  
vào chùa phần nhiều chỉ học đặng vài  
bộ kinh, lo luyện hơi cho hay, tập nhịp  
tán cho già, nay lãnh đám này mai  
lãnh đám khác; cũng tràng hạt, cũng  
cà sa, thử lật mặt trái của họ mà xem  
thì có khác nào người trần tục"(2). Như  
vậy, Phật giáo Việt Nam nói chung và  
Phật giáo Nam Bộ nói riêng thời kỳ  
này suy thoái bởi đội ngũ tăng già một  
phần không am hiểu giáo lý Phật giáo,  
một phần chịu tác động của bối cảnh  
xã hội dẫn đến giới luật lỏng lẻo, hoạt  
động mê tín gây mất niềm tin đối với  
tín đồ, người dân.  
Tư tưởng, văn hóa phương Tây theo  
dấu chân của những nhà truyền giáo  
(Công giáo, Tin Lành) ngày càng ảnh  
hưởng đến các nước ở phương Đông  
trên nhiều bình diện, nhất là chính trị,  
văn hóa, làm cho tăng già tại các  
nước có nền Phật giáo lâu đời thức  
tỉnh. Từ cuối thế kỷ XIX, Phật giáo ở  
các nước Srilanka, Ấn Độ, Trung Hoa,  
Nhật Bản đã bắt đầu canh tân và các  
tăng sĩ đã truyền bá Phật giáo đến các  
nước ngoài địa vực Châu Á, làm cho  
người phương Tây bắt đầu quan tâm  
hơn đến văn hóa Phật giáo, như Henry  
Steel Olcott (1832-1907) người Mỹ(4)  
hay Tăng sĩ Anagarika Dharmapala  
(1864-1933) người Sri Lanka(5); Đại  
sư Thái Hư (1998-1947) người Trung  
Quốc(6). Những hoạt động của họ là  
nguồn cổ vũ to lớn cho ý tưởng chấn  
hưng Phật giáo của những tăng sĩ thế  
giới và tăng già Nam Bộ thời bấy giờ.  
Thứ hai, sự xuất hiện của các hiện  
tượng tôn giáo mới "vừa như sự thách  
thức, vừa như nhằm thay thế vai trò  
chi phối xã hội của đạo Phật chính  
thống. Nhiều tín đồ của đạo Phật đã  
bỏ đạo của mình đi theo các đạo trên,  
nhất là theo đạo Cao Đài, hoặc tách ra  
theo đạo Thiên Chúa hay trở thành  
người không đạo. Theo đà này, nếu  
đạo Phật không thay đổi thì sẽ có […]  
nguy cơ diệt vong" (Nguyễn Tài Thư,  
1988: 430). Phật giáo bấy giờ không  
còn là điểm tựa tinh thần cho người  
dân, niềm tin của người dân vào tăng  
già bị suy giảm. Một bộ phận không  
nhỏ Phật tử đã tìm đến các tôn giáo  
mới, Công giáo và Tin Lành.  
Chính ở thời điểm này, đã xuất hiện  
nhiều vị cao tăng tâm huyết với Phật  
giáo như: hòa thượng Tâm Thông  
chùa Trường Thọ, hòa thượng Từ  
Phong chùa Giác Hải, hòa thượng  
Hoằng Nghĩa chùa Giác Viên, hòa  
thượng Từ Văn chùa Hội Khánh, hòa  
thượng Huệ Tịnh chùa Linh Tuyền,  
hòa thượng Từ Vân chùa Tân Long,  
hòa thượng Hoằng Đạo chùa Hội Linh,  
hòa thượng Khánh Hòa chùa Tuyên  
Linh, sư Thiện Chiếu chùa Linh Sơn…  
Trong đó, hòa thượng Khánh Hòa và  
sư Thiện Chiếu có nhiều hoạt động  
Thứ ba, trên thế giới những ý tưởng  
về một tổ chức Phật giáo mang tầm  
NGUYỄN VĂN QUÝ – NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN…  
47  
đưa Phật giáo Việt Nam thoát khỏi Như vậy, hòa thượng Khánh Hòa và  
sư Thiện Chiếu là nguồn cảm hứng  
cho đoàn thể tăng già Trung Bộ và  
Bắc Bộ có những hành động cụ thể,  
đưa Phật giáo Việt Nam ra khỏi tình  
trạng suy thoái để phát triển. Phong  
trào chấn hưng Phật giáo Nam Bộ đã  
diễn ra chủ yếu theo hai khuynh  
hướng: thành lập các hội Phật giáo  
và tạp chí liên quan đến Phật giáo;  
hình thành các hệ phái Phật giáo  
mới.  
tình trạng suy thoái.  
Trước thực trạng Phật giáo Nam Bộ  
sa sút, Hòa thượng Khánh Hòa (1877-  
1947) đã tới nhiều tổ đình lớn vận  
động chấn hưng Phật giáo và đã nhận  
được sự ủng hộ, hợp tác của các vị  
trưởng lão hòa thượng, trong đó điển  
hình là hòa thượng Huệ Quang, Pháp  
Hải, Khánh Anh. Năm 1923, hòa  
thượng Khánh Hòa đã triệu tập đại  
điện các tổ đình họp tại chùa Long  
Hòa ở Trà Vinh. Tại buổi họp, toàn thể  
mọi người nhất trí thành lập một tổ  
chức Phật giáo lấy tên là Hội Lục Hòa  
Liên hiệp với "mục đích là vận động  
thành lập một Hội Phật giáo Việt Nam  
toàn quốc làm cơ sở chấn hưng Phật  
giáo. Trong số những người cộng sự,  
có một vị tăng sĩ trẻ đầy nhiệt huyết là  
Thiện Chiếu, trụ trì chùa Linh Sơn -  
Sài Gòn" (Nguyễn Quốc Tuấn - Thích  
Đồng Bổn, 2018: 12).  
3. KHUYNH HƯỚNG VẬN ĐỘNG  
CỦA PHẬT GIÁO NAM BỘ CUỐI  
THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX  
3.1. Khuynh hướng thành lập các  
hội Phật giáo và tạp chí liên quan  
đến Phật giáo  
Việc thành lập các hội Phật giáo và  
xuất bản tạp chí chuyển tải nội dung,  
giáo lý Phật giáo ở thời kỳ này là điểm  
nhấn trong phong trào chấn hưng  
Phật giáo ở Nam Bộ. Ở đây, chúng tôi  
xin điểm qua một số hội Phật giáo ra  
đời trong thời gian này:  
Vân Thanh (1974: 194) viết về sư  
Thiện Chiếu như sau: "Trừ Hòa  
thượng Khánh Hòa ra khắp ba kỳ  
Nam, Trung, Bắc thời này chưa có vị  
nào (bằng tuổi ngài) viết báo Việt  
được (đa số là chẳng thông Việt văn),  
hạng lớn tuổi học và hạnh kiểm, Hòa  
thượng Khánh Hòa là bực nhất thời  
nầy. Về thanh niên tăng, sư Thiện  
Chiếu giỏi nhất thời này...", "Ở Việt  
Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học  
(Hội Nghiên cứu và Bảo tồn Phật  
giáo ở Nam Kỳ) thành lập vào tháng  
8/1931, trụ sở tại chùa Linh Sơn (Cầu  
Muối – Sài Gòn). Hội chủ là hòa  
thượng Từ Phong chùa Giác Hải (Chợ  
Lớn), hòa thượng Khánh Hòa là Phó  
nhất hội chủ, ông Trần Nguyên Chấn  
Nam ta buổi này, người xem được là Phó nhì hội chủ. Cơ quan ngôn luận  
báo Tàu cổ văn, tân văn, thanh niên của hội là tạp chí Từ Bi Âm do hòa  
thượng Khánh Hòa làm chủ nhiệm,  
hòa thượng Bích Liên là chủ bút. Tạp  
chí này ra số đầu tiên vào ngày  
1/9/1932.  
tăng chỉ có sư Thiện Chiếu, trung niên  
và lão thành chỉ có Hòa thượng  
Khánh Hòa mà thôi" (Vân Thanh,  
1974: 196).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021  
48  
Liên đoàn Phật học xã thành lập năm lập năm 1936, trụ sở đặt tại chùa Tam  
1933, trụ sở tại chùa Long Hòa tỉnh Bảo ở Rạch Giá. Chánh tổng lý là hòa  
Vĩnh Long, chùa Long Phước ở Trà thượng Trí Thiền, các ông Nguyễn  
Ôn và chùa Viên Giác ở Bến Tre. Liên Văn Ngọc, Ngô Thành Nghĩa là Phó  
đoàn Phật học xã ngừng hoạt động sau tổng lý. Cơ quan ngôn luận của hội là  
9 tháng hoạt động, do thiếu kinh phí.  
tạp chí Tiến Hóa.  
Sau đó, các vị hòa thượng Khánh Hội Phật giáo Cứu quốc do hòa  
Hòa, hòa thượng Huệ Quang, hòa thượng Thích Minh Nguyệt cùng các  
thượng Khánh Anh, hòa thượng Pháp cư sĩ yêu nước thành lập vào cuối  
Hải và một số cư sĩ như Huỳnh Thái năm 1946 tại Đồng Tháp Mười. Trụ  
Cửu, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Văn sở của hội đặt tại chùa Ô Môi ở Đồng  
Khỏe,... thành lập Hội Lưỡng Xuyên Tháp Mười. Hội trưởng là hòa thượng  
Phật học vào tháng 3/1934. Hội đặt trụ Minh Nguyệt, Phó hội trưởng là hòa  
sở tại chùa Long Phước ở Trà Vinh. thượng Huệ Thành. Cơ quan ngôn  
Hội chủ là Huỳnh Thái Cửu, hòa luận của hội là tạp chí Tinh Tấn do  
thượng Khánh Hòa là Pháp sư, hòa hòa thượng Thích Minh Nguyệt làm  
thượng Huệ Quang làm giảng sư kiêm chủ nhiệm.  
đổng lý. Tháng 4/1935, Hội Lưỡng  
Xuyên Phật học mở lớp đào tạo  
khoảng 30 học tăng. Cơ quan ngôn  
luận là tạp chí Duy Tâm Phật học, chủ  
nhiệm tạp chí là hòa thượng Huệ  
Quang, chủ bút là ông Trần Huỳnh.  
Tạp chí này ra số đầu tiên vào ngày  
1/10/1935.  
Hội Phật học Nam Việt do cư sĩ  
Chánh Trí Mai Thọ Truyền vận động  
thành lập vào năm 1950, trụ sở đặt tại  
chùa Khánh Hưng, sau dời sang chùa  
Phước Hòa. Năm 1958, Hội chuyển  
trụ sở đến chùa Xá Lợi – một ngôi  
chùa do ông đứng ra vận động xây  
dựng. Hội do ông làm Tổng thư ký và  
Thiên Thai Thiền Giáo tông Liên Hữu Hội trưởng từ năm 1955 cho đến khi  
hội (gọi tắt là Thiên Thai Thiền Giáo ông mất(7).  
tông) do Hòa thượng Huệ Đăng cùng  
Ở miền Trung và miền Bắc các hội  
một số người thành lập năm 1934, trụ  
Phật giáo ra đời muộn hơn. Chẳng  
sở tại chùa Thiên Thai ở Bà Rịa. Hội  
hạn như Hội An Nam Phật học ra đời  
trưởng là ông Phạm Hữu Đức, Hội  
vào năm 1932 do hòa thượng Giác  
phó là ông Thái Văn Chanh... Hội  
Tiên, hòa thượng Phước Huệ, cư sĩ  
trưởng danh dự là các ông Esquivillon,  
Tâm Minh Lê Đình Thám thành lập.  
Vincenti và ông Nguyễn Văn Vỹ là Hội  
Viên Âm(8); Hội Tăng ni Chính Lý Bắc  
phó... (là người làm việc trong chính  
quyền). Cơ quan ngôn luận của hội là  
Cơ quan ngôn luận của hội là tạp chí  
Việt thành lập năm 1949 do hòa  
tạp chí Bát Nhã Âm.  
thượng Tố Liên làm Hội trưởng.  
Hội Phật học Kiêm tế do sư Thiện Tháng 9/1950, hội đổi tên là Giáo hội  
Chiếu và hòa thượng Trí Thiền thành Tăng già Bắc Việt. Hòa thượng Mật  
NGUYỄN VĂN QUÝ – NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN…  
49  
Ứng được bầu làm Thiền gia pháp 1926, các nhà sư trẻ đã dự các cuộc  
chủ. Cơ quan ngôn luận của hội là tạp  
chí Phương Tiện do hòa thượng Tố  
Liên làm chủ nhiệm. Muộn hơn, có thể  
kể đến Giáo hội Tăng già Việt Nam  
thành lập năm 1951; Tổng hội Phật  
giáo Việt Nam thành lập ngày  
9/5/1951 tại chùa Từ Đàm; Giáo hội  
Tăng già toàn quốc Việt Nam thành  
lập năm 1952, Giáo hội Lục Hòa tăng  
Việt Nam được thành lập năm 1952  
và xuất bản tạp chí Phật học do  
thượng tọa Huệ Chí làm chủ bút...  
diễn thuyết của Nguyễn An Ninh,  
Phan Châu Trinh ở Sài Gòn; hoặc tổ  
chức vận động đòi ân xá Phan Bội  
Châu; tham gia tổ chức đám tang  
Phan Châu Trinh...  
Tuy nhiên, trước sự chi phối của thực  
dân Pháp, một số tổ chức Phật giáo ở  
Nam Bộ đã phân hóa theo các hướng  
khác nhau. "Một số tờ báo và tạp chí  
thì kiên trì được khuynh hướng tiến bộ  
và yêu nước, như: Phật hóa Tân  
thanh niên (Sài Gòn), Tiến Hóa (chùa  
Tam Bảo, Rạch Giá), Pháp Âm (Hội  
Cư sĩ Tịnh Độ, Chợ Lớn)... Một số  
Nhìn chung, các hội Phật giáo được  
thành lập ở Nam Bộ thời kỳ này chú  
trọng đến việc thành lập cơ quan ngôn khác thì thỏa hiệp với ý chí của Pháp  
và tư tưởng Phật giáo cổ truyền. Một  
số thì trở thành người cách mạng tiền  
phong như phật tử Nguyễn An Ninh,  
Thiện Chiếu... một số khác thì thái độ  
cầm chừng, yêu đạo ghét Pháp song  
không dám phản kháng. Một số người  
khác nữa thì chú trọng về mặt lễ nghi,  
mặt thoát tục" (Nguyễn Tài Thư, 1988:  
440-441).  
luận là tạp chí nhằm chuyển tải nội  
dung Phật giáo bằng hình thức mới.  
Nhiều chủ đề xoay quanh giáo lý Phật  
giáo được đưa ra bàn luận, chẳng hạn  
có linh hồn bất tử không, có Thượng  
đế sáng tạo ra muôn vật không, Tây  
phương cực lạc có tồn tại hay  
không… Qua đó, những vấn đề liên  
quan đến Phật học đã được phổ rộng  
đến các tầng lớp nhân dân, đồng thời 3.2. Khuynh hướng hình thành các  
hệ phái Phật giáo mới  
những bài viết kêu gọi chỉnh đốn Phật  
giáo của hòa thượng Khánh Hòa, sư  
Thiện Chiếu trên tạp chí Phật hóa Tân  
thanh niên, Pháp Âm, Đông Pháp thời  
báo... " đã làm náo nức giới thanh  
niên phật tử lúc bấy giờ. Họ đòi hỏi  
phải có nhận thức, cách giải thích  
mới, cách tu hành mới đối với Phật  
giáo. Đồng thời họ yêu cầu được  
tham gia hoạt động xã hội" (Nguyễn  
Theo thượng tọa Thích Giác Tây  
(2014) do những biến động của lịch  
sử, Phật giáo miền Nam tách rời với  
miền Bắc, miền Trung và xuất hiện  
nhiều giáo phái, hệ phái mới; có trên  
14 hệ phái khác nhau, hầu hết ra đời  
trong khoảng nửa cuối thế kỷ XIX đến  
đầu thế kỷ XX. Những hệ phái này liên  
tiếp ra đời đã tạo nên bản sắc văn hóa  
Tài Thư, 1988: 434-435). Trong thực đa dạng cho vùng Nam Bộ thời bấy  
tế, tăng già Nam Bộ đã tham gia các giờ, như: đạo Bửu Sơn Kỳ Hương  
(Đạo Lành) do ông Đoàn Minh Huyên  
hoạt động xã hội như: vào năm 1925,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021  
50  
(1807-1856) sáng lập năm 1849 tại An năm, "đến mùa Vu lan theo luật Phật  
Giang(9); đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (Đạo  
chế phải hội về một nơi để sinh hoạt  
Hiếu Nghĩa) do ông Ngô Lợi (1831-  
1890) sáng lập năm 1867(10); Phật  
giáo Hòa Hảo do ông Huỳnh Phú Sổ  
(1920-1947) sáng lập năm 1939 tại  
làng Hòa Hảo, tỉnh An Giang(11);… Hệ  
phái Khất sĩ và Liên Tông Tịnh Độ  
Non Bồng là những hệ phái lớn trong  
14 hệ thuộc Giáo hội Phật giáo Việt  
Nam.  
Tự tứ vào rằm tháng bảy. Đến lễ Tự  
tứ, mỗi vị xuất gia phải tự kiểm điểm  
hạnh đức, giới luật của chính mình,  
nhờ đại chúng chỉ bày những sai sót  
trên tinh thần lục hòa hoan hỷ và tập  
trung năng lực tinh thần cầu nguyện  
cho bá tánh. Ngày ấy quý vị tiện thay  
đổi y bát và cùng được tính thêm tuổi  
đạo" (Thích Giác Duyên, 2014: 43).  
Hệ phái Khất sĩ do nhà sư Minh Đăng  
Quang sáng lập vào năm 1946, tại  
chùa Linh Bửu với mục đích “Nối  
truyền Thích Ca chánh pháp”. Năm  
1947, ông xuất gia cho nhiều đệ tử và  
bắt đầu cho xây tịnh xá. Năm 1948,  
Hệ phái Khất sĩ truyền pháp ở Sài  
Gòn và dần dần phát triển khắp vùng  
tây - đông Nam Bộ. Theo thượng tọa  
Thích Giác Duyên (2014: 34-35):  
chiều ngày 30/1/1954, tại Tịnh xá  
Ngọc Quang (Sa Đéc), ngài tập trung  
đệ tử và ân cần dạy bảo vấn đề tu học  
và phát triển đạo rồi từ giã tịnh tu ở  
núi "Lửa". Sáng ngày mùng 1 tháng 2,  
ông cùng với trưởng lão Giác Thủy và  
tiểu sa di Giác Pháp đến Tịnh xá Ngọc  
Viên (Vĩnh Long). Tại đây, ông mời  
thân phụ và chị Ba của mình đến và  
dặn dò. Sau đó, ông cùng đoàn đến  
Cần Thơ. Nhưng khi qua Cái Vồn  
đoàn bị giữ lại đưa vào dinh của  
Trung tướng Trần Văn Soái (Năm  
Lửa)... Từ đó, mất hẳn tin tức về ông.  
Hòa thượng Thích Trí Quảng cho rằng:  
"Về phương diện giới luật, Hệ phái  
Khất sĩ sử dụng giới bản của Đại thừa  
với những điểm dị biệt không đáng kể.  
Về văn hóa y phục và ꢀm thực, Hệ  
phái Khất sĩ ăn trường chay như Đại  
thừa, quấn y gần giống với phong  
cách truyền thống của Phật giáo Ấn  
Độ. Đây là sự dung hòa giữa bản sắc  
văn hóa Đại thừa và Nguyên thủy  
trong Hệ phái Khất sĩ. Về phương  
pháp tu trì, Hệ phái Khất sĩ chủ trương  
phát huy chánh niệm trong bốn oai  
nghi trong đời sống hằng ngày và  
thực tập thiền định, cũng như vận  
dụng các phương tiện thiện xảo để  
tiếp cận quần chúng, giáo hóa chúng  
sanh, vốn là sự cộng thông trong  
phương pháp hành trì của Nguyên  
thủy và Đại thừa..." (Viện Nghiên cứu  
Tôn giáo - Viện Nghiên cứu Phật học  
Việt Nam - Hệ phái Khất sĩ, 2014).  
Về tổ chức, sau khi thu nhận đệ tử,  
đoàn du tăng khất sĩ được quy định:  
Tiểu giáo hội gồm 20 vị; Trung giáo  
hội: 100 vị; Đại giáo hội: 500 vị. Ban  
đầu, nhà sư Minh Đăng Quang vừa là  
bổn sư vừa là sư trưởng dạy dỗ đoàn  
Về tôn chỉ, phương pháp tu tập của  
Hệ phái Khất sĩ là sự dung hợp hai  
đường lối tu tập của Phật giáo Nam  
tông và Phật giáo Bắc tông. Hàng  
NGUYỄN VĂN QUÝ – NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN…  
51  
du tăng "thực hiện Tứ y pháp Trung Nguyên và thành lập được 6 giáo  
đạo". Mỗi ngày đoàn du tăng hành  
đạo một nơi, nơi nào người tín tâm  
với đạo thì họ lưu lại và giảng đạo,  
nhưng mỗi nơi không quá ba tháng.  
Theo Luật nghi Khất sĩ, Tổ sư Minh  
Đăng Quang chia giáo hội ra thành hai  
đoàn du tăng và trụ xứ. Đoàn du tăng  
trực tiếp theo ngài hành đạo từ nơi  
này đến nơi khác. Ngược lại, đoàn trụ  
xứ ở những tịnh xá tu học và giáo hóa  
tín đồ. Theo quy định về phân giáo  
đoàn: “Người xuất gia mới nhập đạo  
phải theo Thầy ở chung trong Giáo hội  
2 năm, kế đi tách riêng một mình 2  
năm nữa. Trên 4 năm được thâu một  
người tập sự, trên 6 năm mới được  
thâu nhận một đệ tử và một người tập  
sự. Được trên 12 năm tách ra đi lập  
đạo riêng, dạy số đông” (Luật Nghi  
Khất sĩ, 1965: 39-40). Điều 83 trong  
Luật Nghi Khất Sĩ (1965: 238) “Cấm  
không đặng thiếu sót sự hành đạo của  
tăng, mỗi chỗ phải do Giáo hội chứng  
minh và các Giáo hội nhánh mỗi kỳ 3  
tháng phải trình bày về trung ương  
một lần về sự tu học”.  
đoàn tăng, 1 giáo đoàn ni và 4 phân  
đoàn ni. Ngoài ra, Hệ phái Khất sĩ đã  
có mặt ở một số nước như Mỹ,  
Canada, Úc, Pháp. (Giáo hội Phật  
giáo Việt Nam – Hệ phái Khất sĩ,  
2014).  
Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng do hòa  
thượng Thiện Phước Nhựt Ý (1924-  
1986) thuộc phổ hệ Lâm Tế đời thứ  
41 sáng lập. Ngay từ thuở ban đầu  
thành lập, hòa thượng Nhựt Ý đã  
“dùng yếu chỉ của Tịnh Độ làm tâm  
tông độ chúng, không lập phái để  
quản chúng, không dùng giáo quyền  
để hành đạo lấy cương minh Tịnh Độ  
làm cương lĩnh, dùng pháp môn tu tứ  
nhiếp pháp và ba mươi bảy phꢀm trợ  
đạo mà giáo hóa chúng” (Quan Âm Tu  
viện, 2016: 126). Về phương pháp tu  
tập, hòa thượng Nhựt Ý chú trọng các  
nghi lễ Tịnh Độ. Ông thường xuyên tổ  
chức các nghi lễ như: Lễ bái niệm  
Phật, phát nguyện niệm Phật, kinh  
hành niệm Phật, sám hối trong ba  
tháng, lục thời tụng kinh… Nổi bật  
nhất là các khóa niệm Phật Bá nhựt trì  
danh, Phát nguyện niệm Phật và Lễ  
bái niệm Phật. Trong đó, khóa niệm  
Phật Bá nhựt trì danh không chỉ được  
xem là tông chỉ tu hành đặc sắc của  
Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng mà còn  
là "hạnh tu của nhà sư Tịnh Độ Non  
Từ năm 1948 đến năm 1953, nhà sư  
Minh Đăng Quang thường tổ chức  
hành đạo khắp các tỉnh Bình Dương,  
Biên Hòa, Vũng Tàu, Sài Gòn, Cần  
Thơ, Châu Đốc,... đồng thời xây cất  
tịnh xá. Trong khoảng thời gian 10  
năm, ông đã xây được 27 ngôi tịnh xá Bồng" (Quan Âm Tu viện, 2016:127).  
ở Nam Bộ. Đến nay, Hệ phái Khất sĩ Khóa niệm Phật này kéo dài trong 100  
có khoảng 500 ngôi tịnh xá ở trong ngày, bắt đầu vào lúc 21 giờ ngày  
mùng 8 tháng 8 đến ngày 17 tháng 11  
(âm lịch) hàng năm, tức đúng ngày kết  
lễ vía Phật A Di Đà. Trong 100 ngày  
nước và hơn 50 tịnh xá ở nước ngoài.  
Các giáo đoàn tăng và ni đã phát triển  
không ngừng đến miền Trung, Tây  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021  
52  
này, tăng ni, phật tử ngày đêm niệm Hoằng pháp; Ban Thế học và Phật  
Phật không ngừng nghỉ. Cội nguồn học; Ban Nghi lễ; Ban Từ thiện Xã hội;  
Ban Trang nghiêm; Ban Nông thiền;  
Ban Nghiên cứu học Phật và văn hóa  
nghệ thuật; Ban Dược sư; Ban Bảo  
trợ; Ban Kiểm soát. Như vậy, Ban  
Chấp sự Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng  
gồm 2 chứng minh; 1 tông trưởng và  
15 chức danh. Ngoài ra, tại các tự  
viện của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng  
trên cả nước, nếu lập riêng đạo tràng  
phật tử thì có nội quy sinh hoạt riêng  
trong phạm vi nội bộ tự viện, nhưng  
không làm mất quy củ tông phong và  
phải phụng thờ Đức Tông chủ tôn sư.  
Về nhân sự, Ban Chấp sự được bổ  
sung do nhu cầu Phật sự hoặc nhân  
sự khuyết tại hội nghị họp mặt hàng  
năm.  
của khóa niệm Phật Bá nhựt trì danh  
do hòa thượng Khánh Anh(12) tổ chức  
tại Phật học đường Lưỡng Xuyên ở  
tỉnh Trà Vinh. Theo hòa thượng Thích  
Giác Quang (2010: 208): "Năm 1934,  
Đức Pháp chủ thượng Khánh hạ Anh,  
mở trường Phật học Lưỡng Xuyên ở  
Trà Vinh, [...], mở khóa ‘Niệm Phật Bá  
nhựt trì danh’". Sau này, hòa thượng  
Nhựt Ý kế nối, tiếp tục mở các khóa tu  
cho tăng ni, phật tử.  
Theo Bản nội quy Liên Tông Tịnh Độ  
Non Bồng thì cơ cấu tổ chức bao gồm  
Hội đồng Tông phong và Ban Chấp sự  
Hội đồng Tông phong. Tông trưởng  
phải là người nắm vững tông phong,  
sống đạo đức, có uy tín với tăng ni,  
phật tử trong và ngoài tông phái và  
phải được hội nghị toàn thể tăng ni,  
phật tử suy tôn. Hiện nay, Tông  
trưởng Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng  
là Ni trưởng Huệ Giác.  
Trong các tự viện, tịnh xá, tịnh thất,  
niệm phật đường, am, cốc, điện thờ  
Phật của Liên Tông Tịnh Độ Non  
Bồng đều phụng thờ: Chứng minh  
Đạo sư Đức Sư Ông Bửu Đức; Tông  
chủ Thiện Phước Nhựt Ý. Theo thống  
kê Hệ phái Liên Tông Tịnh Độ Non  
Bồng có 170 tự viện trên toàn quốc,  
1.276 tăng ni và 1.350.000 tín đồ,  
Phật tử trong và ngoài nước sinh hoạt  
theo tông phong và hoạt động theo  
Hiến chương của Giáo hội Phật giáo  
Việt Nam (Nguyễn Văn Quý, 2018:  
75)(13). Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng  
dựa trên cơ sở kinh điển pháp tu Tịnh  
Độ xác lập tôn chỉ tu hành niệm Phật  
cầu vãng sinh Tịnh Độ. Do đó, hệ phái  
này chú trọng phát triển các nghi thức  
hành trì riêng, phù hợp để tín đồ, Phật  
tử trong bối cảnh lịch sử nhất định.  
Hội đồng Tông phong Liên Tông Tịnh  
Độ Non Bồng bao gồm: chư tăng, chư  
ni, cư sĩ nam và cư sĩ nữ. Ngoài ra,  
nếu tịnh nhân cư sĩ có phꢀm hạnh tốt  
cũng được chọn cử vào hội đồng. Về  
số lượng thì tùy theo nhu cầu và do  
hội nghị bàn bạc; Ban Chấp sự do Hội  
đồng suy cử tại Hội nghị Hội đồng  
tông phong. Ban chấp sự bao gồm: 1.  
Chứng minh: Đức Sư Ông Bửu Đức;  
Đức tông chủ Thiện Phước; 2. Tông  
trưởng (hiện nay): Ni trưởng Huệ  
Giác; 3. Thành phần Ban Chấp sự: Cố  
vấn; Giám Luật tăng; Giám Luật ni;  
Tổng Thư ký; Ban Tăng sự; Ban  
NGUYỄN VĂN QUÝ – NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN…  
53  
4. KẾT LUẬN  
Bộ xuất hiện các hệ phái Phật giáo  
mới. Sự ra đời của các hệ phái Phật  
giáo này là sự đổi mới uyển chuyển  
đáp ứng kịp thời tín ngưỡng của  
người dân Nam Bộ vốn ưu chuộng  
đạo Phật. Phương thức tổ chức, tôn  
chỉ, phương pháp tu tập của các hệ  
phái này đáp ứng nhu cầu tôn giáo  
của nhiều tầng lớp nhân dân Nam Bộ.  
Hiện nay, một số hệ phái như Hệ phái  
Khất sĩ, Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng  
ngày càng phát triển, không chỉ ở  
Nam Bộ, Trung Bộ hay Tây Nguyên  
mà còn hiện diện ở nhiều nước khác.  
Sự chuyển mình của Phật giáo Nam  
Bộ vào đầu thế kỷ XX đã thúc đꢀy việc  
chấn hưng Phật giáo nước nhà, tiếp  
nối tinh thần nhập thế của Phật giáo  
Việt Nam.  
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Phật  
giáo ở Nam Bộ sau một thời gian suy  
thoái đã có sự chấn hưng bởi các vị  
sư, cư sĩ có tâm huyết. Thời kỳ này,  
Phật giáo Nam Bộ phát triển theo xu  
hướng hiện đại hóa tăng già theo  
hướng tổ chức đoàn thể ở phương  
Tây và tạp chí được phát hành nhằm  
giới thiệu nghiên cứu và truyền bá  
giáo lý Phật giáo trong hình thức mới,  
phù hợp với bối cảnh lịch sử. Do đó,  
xu hướng nghiên cứu Phật học và  
công tác xã hội nổi trội trong hoạt  
động của các hội này. Xu hướng hình  
thành các hội Phật giáo, tạp chí liên  
quan đến Phật giáo đã lan rộng ra  
miền Trung và miền Bắc Việt Nam  
những năm này. Bên cạnh việc thành  
lập các hội Phật giáo, Phật giáo Nam  
CHÚ THÍCH  
(1) Tạp chí Duy Tâm, số 18. Cơ quan ngôn luận của Hội Lưỡng Xuyên Phật học, thành lập  
năm 1934 tại chùa Long Phước, tỉnh Trà Vinh.  
(2) Tạp chí Đuốc Tuệ, số 178. Cơ quan ngôn luận của Bắc Kỳ Phật giáo hội, thành lập năm  
1934 tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Xem thêm: Nguyễn Quốc Tuấn và Thích Đồng Bổn (chủ  
biên). 2018. Hòa thượng Khánh Hòa với phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Hà Nội:  
Nxb. Hồng Đức, tr. 121.  
(3)  
Và kết quả là sự ra đời của Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới (The World Fellowship of  
Buddhist – WFB) năm 1950, Hội Tăng già Thế giới (The World Buddhist Sangha Council –  
WBSC) ra đời năm 1966.  
(4) Ông là một sĩ quan, nhà báo, luật sư và là chủ tịch đầu tiên của Hội Thông Thiên học; là  
người đầu tiên thực hiện cải cách Phật giáo ở Sri Lanka, tạo tiền đề nghiên cứu Phật giáo  
và giáo dục Phật giáo theo hướng hiện đại.  
(5)  
Ông là nhà văn, nhà hoạt động tiên phong trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Ấn  
Độ thông qua các buổi thuyết pháp tại Châu Á, Châu Âu và Bắc Mỹ.  
(6)  
Ông đã thành lập các Hiệp hội Tăng giáo dục, Phật giáo Hợp tiến, Phật giáo Tổng hội,  
Phật giáo Liên hiệp… tại nhiều nước như Myanma, Sri Lanka, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái  
Lan làm cho phong trào cải cái Phật giáo lan rộng.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021  
54  
(7)  
Xem thêm Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam. 2019.  
Kỷ yếu hội thảo khoa học Cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền với Hội Phật học Nam Việt. Chùa  
Phật học Xá Lợi, TPHCM.  
(8) Xem chi tiết Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế -  
Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo. 2019. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình  
Thám và những đóng góp với Hội An Nam Phật học. Tổ đình Từ Đàm, Huế.  
(9) Tôn chỉ hành đạo của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là "học Phật - tu nhân", đề cao thực hành  
"tứ ân" bao gồm: Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân Tam bảo và Ân đồng bào nhân loại;  
đồng thời cổ vũ khꢀn hoang tạo thành phong trào lan rộng ở miền Tây Nam Bộ lúc bấy giờ.  
Hiện nay, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có khoảng 15.000 tín đồ tập trung ở các tỉnh An Giang,  
Đồng Tháp, Sóc Trăng,…  
(10)  
Đạo Hiếu Nghĩa chú trọng phát triển Phật giáo bằng hình thức cư sĩ tại gia. Cũng như  
Bửu Sơn Kỳ Hương, tôn chỉ hành đạo của Tứ Ấn Hiếu Nghĩa là "tu nhân - học Phật" và  
trong thực hành nghi lễ có sự kết hợp hài hòa các đối tượng phụng thờ của Phật giáo, Nho  
giáo và Đạo giáo, thỏa mãn đời sống tâm linh của người dân thời kỳ này.  
(11)  
Phật giáo Hòa Hảo lấy nền tảng giáo lý Phật giáo kết hợp với những bài sấm giảng giáo  
lý và thi văn giáo lý do ông Huỳnh Phú Sổ biên soạn. Cũng như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân  
Hiếu Nghĩa, tôn chỉ hành đạo của Phật giáo Hòa Hảo là "học Phật - tu nhân", chú trọng phát  
triển tín đồ là cư sĩ tại gia. Hiện nay, Phật giáo Hòa Hảo có khoảng gần 100.000 tín đồ.  
(12)  
Hòa Thượng Thích Khánh Anh (1895-1961), tục danh Võ Hóa, hiệu Khánh Anh, quê xã  
Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1916, ông quy y thọ giới và tu  
ở chùa Quang Lộc, tỉnh Quãng Ngãi. Năm 1917, ông thọ giới Sa di và nghiên cứu kinh, luật,  
luận, rồi thọ giới Tỳ kheo, Bồ tát, pháp hiệu là Khánh Anh. Năm 1927, ông dạy học tại  
trường Gia Giáo, chùa Giác Hoa, tỉnh Bạc Liêu; năm 1931 ông về trụ trì chùa Long An, quận  
Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Ở đây, ông có nhiều đệ tử, Phật tử đến cầu học. Năm 1932, ông  
nhận chức Pháp sư giảng dạy cho Liên đoàn Học xã tại chùa Thiên Phước, quận Trà Ôn (3  
tháng); chùa Rạch Miễu, tỉnh Mỹ Tho (3 tháng). Năm 1935, ông nhận chức Đốc giáo tại Phật  
học đường Lưỡng Xuyên, tỉnh Trà Vinh; hợp tác với hòa thượng Lê Khánh Hòa, hòa thượng  
Huệ Quang để xây dựng cơ sở đào tạo Tăng tài. Hòa thượng viết báo nhằm cổ xúy phong  
trào chấn hưng Phật giáo. Năm 1940, ông làm Pháp sư dạy tại chùa Thiên Phước, chùa  
Linh Phong... Năm 1942, hòa thượng về trụ trì chùa Phước Hậu, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ.  
Tại đây, ông mở lớp Phật pháp cho Phật học cư sĩ. Năm 1945, hòa thượng đến dạy cho  
tăng ni tại chùa Long Hòa, quận Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Năm 1946, hòa thượng nhập thất  
tại chùa Phước Hậu để nghiên cứu Tam tạng kinh, soạn thảo, phiên dịch rất nhiều kinh sách.  
Năm 1955, Hội Phật học Nam Việt thỉnh hòa thượng vào Ban Chứng minh đạo sư. Ngày  
mồng 1 tháng 3 năm 1957, toàn thể Đại hội Tăng, Ni và Phật tử miền Nam tại chùa Ấn  
Quang suy tôn hòa thượng lên ngôi pháp chủ để lãnh đạo tinh thần Phật giáo miền Nam.  
Năm 1959, tại Chùa Ấn Quang, tại Đại hội Giáo hội Tăng già toàn quốc lần thứ 2 đã long  
trọng suy tôn hòa thượng lên ngôi Thượng thủ Giáo hội Tăng già toàn quốc. Hòa thượng  
luôn luôn niệm Phật để cầu sanh Tây phương. Ngày 30/1/1961, ngài viên tịch tại chùa  
khanh-anh, truy cập ngày 28/5/2021.  
(13)  
Xem thêm: Quan Âm Tu viện. 2016. Chương IX: Những tự, viện, tịnh xá, tịnh thất, đạo  
tràng chư tăng ni trụ trì thuộc hệ thống môn phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng (từ năm  
1920-2016), tr. 193-206.  
NGUYỄN VĂN QUÝ – NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN…  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
55  
1. Đỗ Quang Hưng (chủ biên). 2001. Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ. Hà Nội:  
Nxb. Khoa học Xã hội.  
2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Hệ phái Khất sĩ. 2014. 100 ngôi tịnh xá tiêu biểu.  
TPHCM: Nxb. Tổng hợp TPHCM.  
28/5/2021.  
4. Luật Nghi Khất sĩ. 1965.  
5. Nguyễn Tài Thư (chủ biên). 1988. Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Khoa  
học Xã hội.  
6. Nguyễn Quốc Tuấn - Thích Đồng Bổn (chủ biên). 2018. Hòa thượng Khánh Hòa với  
phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Hồng Đức.  
7. Nguyễn Văn Quý. 2018. “Tìm hiểu về Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng: Tiếp cận sử học  
tôn giáo”. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 10 (510).  
8. Quan Âm Tu viện. 2016. Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng - 57 năm hình thành và phát  
triển. Hà Nội: Nxb. Hồng Đức.  
9. Tạp chí Đuốc Tuệ, số 178 - Cơ quan ngôn luận của Bắc Kỳ Phật giáo hội.  
10. Tạp chí Duy Tâm, số 18 - Cơ quan ngôn luận của Hội Lưỡng Xuyên Phật học.  
11. Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh.1992. Văn hóa dân gian  
người Việt ở Nam Bộ. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
12. Thích Giác Duyên. 2014. Hệ phái Khất sĩ 70 hình thành và phát triển. Hà Nội: Nxb.  
Tôn giáo.  
13. Thích Giác Quang. 2010. Tịnh Độ giảng lược. Hà Nội: Nxb. Phương Đông.  
14. Vân Thanh. 1974. Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam qua các thời đại và phát nguồn  
của các giáo phái Phật giáo. Sài Gòn. Phật học viện và chùa xuất bản.  
15. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Đại học Quốc gia TPHCM. 2015. Phật giáo vùng Mê-Kông: lịch sử và hội nhập.  
TPHCM: Nxb. Đại học Quốc gia TPHCM.  
16. Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế -  
Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo. 2019. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Cư sĩ Tâm Minh Lê  
Đình Thám và những đóng góp với Hội An Nam Phật học. Huế. Tổ đình Từ Đàm.  
17. Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam. 2019. Kỷ  
yếu hội thảo khoa học Cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền với Hội Phật học Nam Việt.  
TPHCM. Chùa Xá Lợi.  
18. Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam - Hệ phái Khất sĩ.  
2014. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Hệ phái Khất sĩ: Quá trình hình thành, phát triển và hội  
nhập. Pháp viện Minh Đăng Quang, TPHCM.  
pdf 12 trang baolam 28220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những khuynh hướng cơ bản của Phật giáo Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_khuynh_huong_co_ban_cua_phat_giao_nam_bo_cuoi_the_ky_x.pdf