Những khuynh hướng cơ bản của Phật giáo Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
44
CHUYÊN MỤC
VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT - TÔN GIÁO
NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO
NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
NGUYỄN VĂN QUÝ*
Trong lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ, Phật giáo luôn đóng vai
trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của người dân. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, Phật giáo Nam Bộ đã gặp
nhiều thách thức về chính trị, tư tưởng, văn hóa, tôn giáo... tuy nhiên, thời kỳ này
nhiều tăng sĩ, cư sĩ ở Nam Bộ có tâm huyết với Phật giáo đã vận động Giáo hội
Tăng già cải cách và kết quả là phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Bộ hình
thành và lan ra miền Trung, miền Bắc.
Nghiên cứu này tiếp cận theo hướng sử học tôn giáo nhằm nêu lên hai khuynh
hướng vận động cơ bản của Phật giáo Nam Bộ thời kỳ này: thành lập các hội
Phật giáo cùng sự ra đời của những tạp chí Phật học; hình thành các hệ phái
Phật giáo mới.
Từ khóa: hiện tượng tôn giáo mới, khuynh hướng Phật giáo Nam Bộ, phong trào
chấn hưng
Nhận bài ngày: 29/1/2021; đưa vào biên tập: 10/3/2021; phản biện: 14/5/2021;
duyệt đăng: 10/7/2021
của lưu dân vào đất mới có đủ tam
giáo và đạo thờ tổ tiên, ông bà. Tuy
nhiên, Nho giáo vốn không sâu sắc
đối với đa số lưu dân ít học, về sau
lại tỏ ra bất lực đối với cuộc xâm
lăng của thực dân Pháp, nên Phật
giáo và Đạo giáo nổi trội cùng với
ma thuật cổ truyền trộn lẫn với nhau”
(dẫn theo Đỗ Quang Hưng, 2001:
24-25).
1. DẪN NHẬP
Vùng đất Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến
cuối thế kỷ XIX hội tụ nhiều tộc
người (Việt, Khmer, Chăm, Hoa) có
sự giao thoa văn hóa, tín ngưỡng,
tôn giáo khá sâu đậm. Trần Bạch
Đằng nhận xét: “Hành trang tôn giáo
* Viện Nghiên cứu Tôn giáo.
NGUYỄN VĂN QUÝ – NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN…
45
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các tôn giáo khác. Phật giáo vẫn luôn
tầng lớp địa chủ và thực dân Pháp tìm là một tôn giáo phổ biến nhất ở Nam
Bộ trong thời kỳ này và có ảnh hưởng
lớn đến đời sống tinh thần của người
dân, đồng thời còn là nền tảng tư
tưởng, giáo lý trong việc hình thành
các hiện tượng tôn giáo mới. Tuy
nhiên, trong bối cảnh đất nước có
nhiều biến động, Phật giáo Việt Nam
nói chung và Phật giáo Nam Bộ nói
riêng buộc phải "canh tân" sau một
thời gian dài suy thoái.
mọi cách khai thác tài nguyên, bóc lột
sức lao động khiến cho đời sống cư
dân khốn khổ. Các phong trào khởi
nghĩa bị đàn áp khốc liệt. "Không khí
chính trị lại càng trở lên ngột ngạt khi
Pháp và Nhật ra sức tranh giành ảnh
hưởng tại Việt Nam. Các phong trào
yêu nước của nhân dân ta bị triều
đình Huế và thực dân Pháp đàn áp
khốc liệt, tầng lớp trí thức rơi vào
trạng thái bế tắc. Người dân Nam Bộ
thời bấy giờ mất phương hướng và
khủng hoảng niềm tin sâu sắc" (Viện
Nghiên cứu Phật học Việt Nam và
Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn TPHCM, 2015: 234).
2. TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO NAM BỘ
CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
Đến cuối thế kỷ XIX, những biến động
về đời sống chính trị, xã hội của đất
nước với sự hiện diện của thực dân
Pháp đã khiến tam giáo và nhất là
Phật giáo suy thoát nghiêm trọng,
không giữ được vai trò trong việc định
hướng tâm linh cho người dân.
Trong bối cảnh như vậy, nhiều hiện
tượng tôn giáo mới đã nảy sinh rồi tàn
lụi như đạo Dừa, đạo Nằm..., có hiện
tượng tôn giáo mới hình thành và phát
triển cho đến ngày nay, như đạo Cao
Đài, đạo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu
Nghĩa… góp phần làm cho đời sống
tín ngưỡng tôn giáo ở Nam Bộ đa sắc.
Đối với Phật giáo Nam Bộ, thách
thức đầu tiên ở ngay chính bản thân
tôn giáo này. Tình trạng tăng già rời
rạc, tu sĩ thất học, buông lỏng giới
luật..., đến nỗi cư sĩ Khánh Vân than
rằng: "Có kẻ mượn Phật làm danh,
cũng ngày đêm hai buổi công phu, thọ
trì, sóc vọng, cũng sám hối như ai...
lại thủ dị cầu kỳ, học thêm bùa ngải,
luyện roi thần, làm bạn với Thiên Linh
Cái, lúc ông lên, lúc bà xuống, ngáp
ngắn ngáp dài, thư phù niệm chú, gọi
là cứu nhân độ thế, nhưng lợi dụng
lòng mê muội của chư thiện tín mở
rộng túi tham quơ quét cho sạch sành
sanh. Than ôi! Họ phải ma vương sao
mà làm chuyện trò cười cho ngoại đạo?
Vậy mà cũng nên mặt trụ trì! Hiện
Bên cạnh sự ra đời, phát triển hay tàn
lụi của nhiều hiện tượng tôn giáo mới,
Nho giáo vẫn in đậm trong ứng xử của
người dân; Đạo giáo vẫn len lỏi trong
cộng đồng người Hoa, người Việt với
bùa chú, những phương pháp chữa
bệnh dân gian. Những tôn giáo có
nguồn gốc phương Tây như Kitô giáo
sau một thời gian dài trắc trở đã hiện
diện trong một bộ phận tầng lớp nhân
dân; đạo Tin Lành mới du nhập những
năm đầu thế kỷ XX nhưng đã có
những ảnh hưởng đến sinh hoạt của
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021
46
trạng như thế, bảo sao chẳng suy đồi. quốc tế đã xuất hiện cuối thế kỷ XIX(3)
Làm tấm bia cho các nhà duy vật mỉa trong bối cảnh khoa học kỹ thuật phát
mai"(1). Phật giáo ở miền Trung và
triển, sự giao lưu Đông - Tây mở rộng.
miền Bắc cũng trong tình trạng tương
tự, cư sĩ Thanh Quang viết: "Đau đớn
thay xứ ta, những hạng người xuất gia
vào chùa phần nhiều chỉ học đặng vài
bộ kinh, lo luyện hơi cho hay, tập nhịp
tán cho già, nay lãnh đám này mai
lãnh đám khác; cũng tràng hạt, cũng
cà sa, thử lật mặt trái của họ mà xem
thì có khác nào người trần tục"(2). Như
vậy, Phật giáo Việt Nam nói chung và
Phật giáo Nam Bộ nói riêng thời kỳ
này suy thoái bởi đội ngũ tăng già một
phần không am hiểu giáo lý Phật giáo,
một phần chịu tác động của bối cảnh
xã hội dẫn đến giới luật lỏng lẻo, hoạt
động mê tín gây mất niềm tin đối với
tín đồ, người dân.
Tư tưởng, văn hóa phương Tây theo
dấu chân của những nhà truyền giáo
(Công giáo, Tin Lành) ngày càng ảnh
hưởng đến các nước ở phương Đông
trên nhiều bình diện, nhất là chính trị,
văn hóa, làm cho tăng già tại các
nước có nền Phật giáo lâu đời thức
tỉnh. Từ cuối thế kỷ XIX, Phật giáo ở
các nước Srilanka, Ấn Độ, Trung Hoa,
Nhật Bản đã bắt đầu canh tân và các
tăng sĩ đã truyền bá Phật giáo đến các
nước ngoài địa vực Châu Á, làm cho
người phương Tây bắt đầu quan tâm
hơn đến văn hóa Phật giáo, như Henry
Steel Olcott (1832-1907) người Mỹ(4)
hay Tăng sĩ Anagarika Dharmapala
(1864-1933) người Sri Lanka(5); Đại
sư Thái Hư (1998-1947) người Trung
Quốc(6). Những hoạt động của họ là
nguồn cổ vũ to lớn cho ý tưởng chấn
hưng Phật giáo của những tăng sĩ thế
giới và tăng già Nam Bộ thời bấy giờ.
Thứ hai, sự xuất hiện của các hiện
tượng tôn giáo mới "vừa như sự thách
thức, vừa như nhằm thay thế vai trò
chi phối xã hội của đạo Phật chính
thống. Nhiều tín đồ của đạo Phật đã
bỏ đạo của mình đi theo các đạo trên,
nhất là theo đạo Cao Đài, hoặc tách ra
theo đạo Thiên Chúa hay trở thành
người không đạo. Theo đà này, nếu
đạo Phật không thay đổi thì sẽ có […]
nguy cơ diệt vong" (Nguyễn Tài Thư,
1988: 430). Phật giáo bấy giờ không
còn là điểm tựa tinh thần cho người
dân, niềm tin của người dân vào tăng
già bị suy giảm. Một bộ phận không
nhỏ Phật tử đã tìm đến các tôn giáo
mới, Công giáo và Tin Lành.
Chính ở thời điểm này, đã xuất hiện
nhiều vị cao tăng tâm huyết với Phật
giáo như: hòa thượng Tâm Thông
chùa Trường Thọ, hòa thượng Từ
Phong chùa Giác Hải, hòa thượng
Hoằng Nghĩa chùa Giác Viên, hòa
thượng Từ Văn chùa Hội Khánh, hòa
thượng Huệ Tịnh chùa Linh Tuyền,
hòa thượng Từ Vân chùa Tân Long,
hòa thượng Hoằng Đạo chùa Hội Linh,
hòa thượng Khánh Hòa chùa Tuyên
Linh, sư Thiện Chiếu chùa Linh Sơn…
Trong đó, hòa thượng Khánh Hòa và
sư Thiện Chiếu có nhiều hoạt động
Thứ ba, trên thế giới những ý tưởng
về một tổ chức Phật giáo mang tầm
NGUYỄN VĂN QUÝ – NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN…
47
đưa Phật giáo Việt Nam thoát khỏi Như vậy, hòa thượng Khánh Hòa và
sư Thiện Chiếu là nguồn cảm hứng
cho đoàn thể tăng già Trung Bộ và
Bắc Bộ có những hành động cụ thể,
đưa Phật giáo Việt Nam ra khỏi tình
trạng suy thoái để phát triển. Phong
trào chấn hưng Phật giáo Nam Bộ đã
diễn ra chủ yếu theo hai khuynh
hướng: thành lập các hội Phật giáo
và tạp chí liên quan đến Phật giáo;
hình thành các hệ phái Phật giáo
mới.
tình trạng suy thoái.
Trước thực trạng Phật giáo Nam Bộ
sa sút, Hòa thượng Khánh Hòa (1877-
1947) đã tới nhiều tổ đình lớn vận
động chấn hưng Phật giáo và đã nhận
được sự ủng hộ, hợp tác của các vị
trưởng lão hòa thượng, trong đó điển
hình là hòa thượng Huệ Quang, Pháp
Hải, Khánh Anh. Năm 1923, hòa
thượng Khánh Hòa đã triệu tập đại
điện các tổ đình họp tại chùa Long
Hòa ở Trà Vinh. Tại buổi họp, toàn thể
mọi người nhất trí thành lập một tổ
chức Phật giáo lấy tên là Hội Lục Hòa
Liên hiệp với "mục đích là vận động
thành lập một Hội Phật giáo Việt Nam
toàn quốc làm cơ sở chấn hưng Phật
giáo. Trong số những người cộng sự,
có một vị tăng sĩ trẻ đầy nhiệt huyết là
Thiện Chiếu, trụ trì chùa Linh Sơn -
Sài Gòn" (Nguyễn Quốc Tuấn - Thích
Đồng Bổn, 2018: 12).
3. KHUYNH HƯỚNG VẬN ĐỘNG
CỦA PHẬT GIÁO NAM BỘ CUỐI
THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
3.1. Khuynh hướng thành lập các
hội Phật giáo và tạp chí liên quan
đến Phật giáo
Việc thành lập các hội Phật giáo và
xuất bản tạp chí chuyển tải nội dung,
giáo lý Phật giáo ở thời kỳ này là điểm
nhấn trong phong trào chấn hưng
Phật giáo ở Nam Bộ. Ở đây, chúng tôi
xin điểm qua một số hội Phật giáo ra
đời trong thời gian này:
Vân Thanh (1974: 194) viết về sư
Thiện Chiếu như sau: "Trừ Hòa
thượng Khánh Hòa ra khắp ba kỳ
Nam, Trung, Bắc thời này chưa có vị
nào (bằng tuổi ngài) viết báo Việt
được (đa số là chẳng thông Việt văn),
hạng lớn tuổi học và hạnh kiểm, Hòa
thượng Khánh Hòa là bực nhất thời
nầy. Về thanh niên tăng, sư Thiện
Chiếu giỏi nhất thời này...", "Ở Việt
Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học
(Hội Nghiên cứu và Bảo tồn Phật
giáo ở Nam Kỳ) thành lập vào tháng
8/1931, trụ sở tại chùa Linh Sơn (Cầu
Muối – Sài Gòn). Hội chủ là hòa
thượng Từ Phong chùa Giác Hải (Chợ
Lớn), hòa thượng Khánh Hòa là Phó
nhất hội chủ, ông Trần Nguyên Chấn
Nam ta buổi này, người xem được là Phó nhì hội chủ. Cơ quan ngôn luận
báo Tàu cổ văn, tân văn, thanh niên của hội là tạp chí Từ Bi Âm do hòa
thượng Khánh Hòa làm chủ nhiệm,
hòa thượng Bích Liên là chủ bút. Tạp
chí này ra số đầu tiên vào ngày
1/9/1932.
tăng chỉ có sư Thiện Chiếu, trung niên
và lão thành chỉ có Hòa thượng
Khánh Hòa mà thôi" (Vân Thanh,
1974: 196).
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021
48
Liên đoàn Phật học xã thành lập năm lập năm 1936, trụ sở đặt tại chùa Tam
1933, trụ sở tại chùa Long Hòa tỉnh Bảo ở Rạch Giá. Chánh tổng lý là hòa
Vĩnh Long, chùa Long Phước ở Trà thượng Trí Thiền, các ông Nguyễn
Ôn và chùa Viên Giác ở Bến Tre. Liên Văn Ngọc, Ngô Thành Nghĩa là Phó
đoàn Phật học xã ngừng hoạt động sau tổng lý. Cơ quan ngôn luận của hội là
9 tháng hoạt động, do thiếu kinh phí.
tạp chí Tiến Hóa.
Sau đó, các vị hòa thượng Khánh Hội Phật giáo Cứu quốc do hòa
Hòa, hòa thượng Huệ Quang, hòa thượng Thích Minh Nguyệt cùng các
thượng Khánh Anh, hòa thượng Pháp cư sĩ yêu nước thành lập vào cuối
Hải và một số cư sĩ như Huỳnh Thái năm 1946 tại Đồng Tháp Mười. Trụ
Cửu, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Văn sở của hội đặt tại chùa Ô Môi ở Đồng
Khỏe,... thành lập Hội Lưỡng Xuyên Tháp Mười. Hội trưởng là hòa thượng
Phật học vào tháng 3/1934. Hội đặt trụ Minh Nguyệt, Phó hội trưởng là hòa
sở tại chùa Long Phước ở Trà Vinh. thượng Huệ Thành. Cơ quan ngôn
Hội chủ là Huỳnh Thái Cửu, hòa luận của hội là tạp chí Tinh Tấn do
thượng Khánh Hòa là Pháp sư, hòa hòa thượng Thích Minh Nguyệt làm
thượng Huệ Quang làm giảng sư kiêm chủ nhiệm.
đổng lý. Tháng 4/1935, Hội Lưỡng
Xuyên Phật học mở lớp đào tạo
khoảng 30 học tăng. Cơ quan ngôn
luận là tạp chí Duy Tâm Phật học, chủ
nhiệm tạp chí là hòa thượng Huệ
Quang, chủ bút là ông Trần Huỳnh.
Tạp chí này ra số đầu tiên vào ngày
1/10/1935.
Hội Phật học Nam Việt do cư sĩ
Chánh Trí Mai Thọ Truyền vận động
thành lập vào năm 1950, trụ sở đặt tại
chùa Khánh Hưng, sau dời sang chùa
Phước Hòa. Năm 1958, Hội chuyển
trụ sở đến chùa Xá Lợi – một ngôi
chùa do ông đứng ra vận động xây
dựng. Hội do ông làm Tổng thư ký và
Thiên Thai Thiền Giáo tông Liên Hữu Hội trưởng từ năm 1955 cho đến khi
hội (gọi tắt là Thiên Thai Thiền Giáo ông mất(7).
tông) do Hòa thượng Huệ Đăng cùng
Ở miền Trung và miền Bắc các hội
một số người thành lập năm 1934, trụ
Phật giáo ra đời muộn hơn. Chẳng
sở tại chùa Thiên Thai ở Bà Rịa. Hội
hạn như Hội An Nam Phật học ra đời
trưởng là ông Phạm Hữu Đức, Hội
vào năm 1932 do hòa thượng Giác
phó là ông Thái Văn Chanh... Hội
Tiên, hòa thượng Phước Huệ, cư sĩ
trưởng danh dự là các ông Esquivillon,
Tâm Minh Lê Đình Thám thành lập.
Vincenti và ông Nguyễn Văn Vỹ là Hội
Viên Âm(8); Hội Tăng ni Chính Lý Bắc
phó... (là người làm việc trong chính
quyền). Cơ quan ngôn luận của hội là
Cơ quan ngôn luận của hội là tạp chí
Việt thành lập năm 1949 do hòa
tạp chí Bát Nhã Âm.
thượng Tố Liên làm Hội trưởng.
Hội Phật học Kiêm tế do sư Thiện Tháng 9/1950, hội đổi tên là Giáo hội
Chiếu và hòa thượng Trí Thiền thành Tăng già Bắc Việt. Hòa thượng Mật
NGUYỄN VĂN QUÝ – NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN…
49
Ứng được bầu làm Thiền gia pháp 1926, các nhà sư trẻ đã dự các cuộc
chủ. Cơ quan ngôn luận của hội là tạp
chí Phương Tiện do hòa thượng Tố
Liên làm chủ nhiệm. Muộn hơn, có thể
kể đến Giáo hội Tăng già Việt Nam
thành lập năm 1951; Tổng hội Phật
giáo Việt Nam thành lập ngày
9/5/1951 tại chùa Từ Đàm; Giáo hội
Tăng già toàn quốc Việt Nam thành
lập năm 1952, Giáo hội Lục Hòa tăng
Việt Nam được thành lập năm 1952
và xuất bản tạp chí Phật học do
thượng tọa Huệ Chí làm chủ bút...
diễn thuyết của Nguyễn An Ninh,
Phan Châu Trinh ở Sài Gòn; hoặc tổ
chức vận động đòi ân xá Phan Bội
Châu; tham gia tổ chức đám tang
Phan Châu Trinh...
Tuy nhiên, trước sự chi phối của thực
dân Pháp, một số tổ chức Phật giáo ở
Nam Bộ đã phân hóa theo các hướng
khác nhau. "Một số tờ báo và tạp chí
thì kiên trì được khuynh hướng tiến bộ
và yêu nước, như: Phật hóa Tân
thanh niên (Sài Gòn), Tiến Hóa (chùa
Tam Bảo, Rạch Giá), Pháp Âm (Hội
Cư sĩ Tịnh Độ, Chợ Lớn)... Một số
Nhìn chung, các hội Phật giáo được
thành lập ở Nam Bộ thời kỳ này chú
trọng đến việc thành lập cơ quan ngôn khác thì thỏa hiệp với ý chí của Pháp
và tư tưởng Phật giáo cổ truyền. Một
số thì trở thành người cách mạng tiền
phong như phật tử Nguyễn An Ninh,
Thiện Chiếu... một số khác thì thái độ
cầm chừng, yêu đạo ghét Pháp song
không dám phản kháng. Một số người
khác nữa thì chú trọng về mặt lễ nghi,
mặt thoát tục" (Nguyễn Tài Thư, 1988:
440-441).
luận là tạp chí nhằm chuyển tải nội
dung Phật giáo bằng hình thức mới.
Nhiều chủ đề xoay quanh giáo lý Phật
giáo được đưa ra bàn luận, chẳng hạn
có linh hồn bất tử không, có Thượng
đế sáng tạo ra muôn vật không, Tây
phương cực lạc có tồn tại hay
không… Qua đó, những vấn đề liên
quan đến Phật học đã được phổ rộng
đến các tầng lớp nhân dân, đồng thời 3.2. Khuynh hướng hình thành các
hệ phái Phật giáo mới
những bài viết kêu gọi chỉnh đốn Phật
giáo của hòa thượng Khánh Hòa, sư
Thiện Chiếu trên tạp chí Phật hóa Tân
thanh niên, Pháp Âm, Đông Pháp thời
báo... " đã làm náo nức giới thanh
niên phật tử lúc bấy giờ. Họ đòi hỏi
phải có nhận thức, cách giải thích
mới, cách tu hành mới đối với Phật
giáo. Đồng thời họ yêu cầu được
tham gia hoạt động xã hội" (Nguyễn
Theo thượng tọa Thích Giác Tây
(2014) do những biến động của lịch
sử, Phật giáo miền Nam tách rời với
miền Bắc, miền Trung và xuất hiện
nhiều giáo phái, hệ phái mới; có trên
14 hệ phái khác nhau, hầu hết ra đời
trong khoảng nửa cuối thế kỷ XIX đến
đầu thế kỷ XX. Những hệ phái này liên
tiếp ra đời đã tạo nên bản sắc văn hóa
Tài Thư, 1988: 434-435). Trong thực đa dạng cho vùng Nam Bộ thời bấy
tế, tăng già Nam Bộ đã tham gia các giờ, như: đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
(Đạo Lành) do ông Đoàn Minh Huyên
hoạt động xã hội như: vào năm 1925,
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021
50
(1807-1856) sáng lập năm 1849 tại An năm, "đến mùa Vu lan theo luật Phật
Giang(9); đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (Đạo
chế phải hội về một nơi để sinh hoạt
Hiếu Nghĩa) do ông Ngô Lợi (1831-
1890) sáng lập năm 1867(10); Phật
giáo Hòa Hảo do ông Huỳnh Phú Sổ
(1920-1947) sáng lập năm 1939 tại
làng Hòa Hảo, tỉnh An Giang(11);… Hệ
phái Khất sĩ và Liên Tông Tịnh Độ
Non Bồng là những hệ phái lớn trong
14 hệ thuộc Giáo hội Phật giáo Việt
Nam.
Tự tứ vào rằm tháng bảy. Đến lễ Tự
tứ, mỗi vị xuất gia phải tự kiểm điểm
hạnh đức, giới luật của chính mình,
nhờ đại chúng chỉ bày những sai sót
trên tinh thần lục hòa hoan hỷ và tập
trung năng lực tinh thần cầu nguyện
cho bá tánh. Ngày ấy quý vị tiện thay
đổi y bát và cùng được tính thêm tuổi
đạo" (Thích Giác Duyên, 2014: 43).
Hệ phái Khất sĩ do nhà sư Minh Đăng
Quang sáng lập vào năm 1946, tại
chùa Linh Bửu với mục đích “Nối
truyền Thích Ca chánh pháp”. Năm
1947, ông xuất gia cho nhiều đệ tử và
bắt đầu cho xây tịnh xá. Năm 1948,
Hệ phái Khất sĩ truyền pháp ở Sài
Gòn và dần dần phát triển khắp vùng
tây - đông Nam Bộ. Theo thượng tọa
Thích Giác Duyên (2014: 34-35):
chiều ngày 30/1/1954, tại Tịnh xá
Ngọc Quang (Sa Đéc), ngài tập trung
đệ tử và ân cần dạy bảo vấn đề tu học
và phát triển đạo rồi từ giã tịnh tu ở
núi "Lửa". Sáng ngày mùng 1 tháng 2,
ông cùng với trưởng lão Giác Thủy và
tiểu sa di Giác Pháp đến Tịnh xá Ngọc
Viên (Vĩnh Long). Tại đây, ông mời
thân phụ và chị Ba của mình đến và
dặn dò. Sau đó, ông cùng đoàn đến
Cần Thơ. Nhưng khi qua Cái Vồn
đoàn bị giữ lại đưa vào dinh của
Trung tướng Trần Văn Soái (Năm
Lửa)... Từ đó, mất hẳn tin tức về ông.
Hòa thượng Thích Trí Quảng cho rằng:
"Về phương diện giới luật, Hệ phái
Khất sĩ sử dụng giới bản của Đại thừa
với những điểm dị biệt không đáng kể.
Về văn hóa y phục và ꢀm thực, Hệ
phái Khất sĩ ăn trường chay như Đại
thừa, quấn y gần giống với phong
cách truyền thống của Phật giáo Ấn
Độ. Đây là sự dung hòa giữa bản sắc
văn hóa Đại thừa và Nguyên thủy
trong Hệ phái Khất sĩ. Về phương
pháp tu trì, Hệ phái Khất sĩ chủ trương
phát huy chánh niệm trong bốn oai
nghi trong đời sống hằng ngày và
thực tập thiền định, cũng như vận
dụng các phương tiện thiện xảo để
tiếp cận quần chúng, giáo hóa chúng
sanh, vốn là sự cộng thông trong
phương pháp hành trì của Nguyên
thủy và Đại thừa..." (Viện Nghiên cứu
Tôn giáo - Viện Nghiên cứu Phật học
Việt Nam - Hệ phái Khất sĩ, 2014).
Về tổ chức, sau khi thu nhận đệ tử,
đoàn du tăng khất sĩ được quy định:
Tiểu giáo hội gồm 20 vị; Trung giáo
hội: 100 vị; Đại giáo hội: 500 vị. Ban
đầu, nhà sư Minh Đăng Quang vừa là
bổn sư vừa là sư trưởng dạy dỗ đoàn
Về tôn chỉ, phương pháp tu tập của
Hệ phái Khất sĩ là sự dung hợp hai
đường lối tu tập của Phật giáo Nam
tông và Phật giáo Bắc tông. Hàng
NGUYỄN VĂN QUÝ – NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN…
51
du tăng "thực hiện Tứ y pháp Trung Nguyên và thành lập được 6 giáo
đạo". Mỗi ngày đoàn du tăng hành
đạo một nơi, nơi nào người tín tâm
với đạo thì họ lưu lại và giảng đạo,
nhưng mỗi nơi không quá ba tháng.
Theo Luật nghi Khất sĩ, Tổ sư Minh
Đăng Quang chia giáo hội ra thành hai
đoàn du tăng và trụ xứ. Đoàn du tăng
trực tiếp theo ngài hành đạo từ nơi
này đến nơi khác. Ngược lại, đoàn trụ
xứ ở những tịnh xá tu học và giáo hóa
tín đồ. Theo quy định về phân giáo
đoàn: “Người xuất gia mới nhập đạo
phải theo Thầy ở chung trong Giáo hội
2 năm, kế đi tách riêng một mình 2
năm nữa. Trên 4 năm được thâu một
người tập sự, trên 6 năm mới được
thâu nhận một đệ tử và một người tập
sự. Được trên 12 năm tách ra đi lập
đạo riêng, dạy số đông” (Luật Nghi
Khất sĩ, 1965: 39-40). Điều 83 trong
Luật Nghi Khất Sĩ (1965: 238) “Cấm
không đặng thiếu sót sự hành đạo của
tăng, mỗi chỗ phải do Giáo hội chứng
minh và các Giáo hội nhánh mỗi kỳ 3
tháng phải trình bày về trung ương
một lần về sự tu học”.
đoàn tăng, 1 giáo đoàn ni và 4 phân
đoàn ni. Ngoài ra, Hệ phái Khất sĩ đã
có mặt ở một số nước như Mỹ,
Canada, Úc, Pháp. (Giáo hội Phật
giáo Việt Nam – Hệ phái Khất sĩ,
2014).
Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng do hòa
thượng Thiện Phước Nhựt Ý (1924-
1986) thuộc phổ hệ Lâm Tế đời thứ
41 sáng lập. Ngay từ thuở ban đầu
thành lập, hòa thượng Nhựt Ý đã
“dùng yếu chỉ của Tịnh Độ làm tâm
tông độ chúng, không lập phái để
quản chúng, không dùng giáo quyền
để hành đạo lấy cương minh Tịnh Độ
làm cương lĩnh, dùng pháp môn tu tứ
nhiếp pháp và ba mươi bảy phꢀm trợ
đạo mà giáo hóa chúng” (Quan Âm Tu
viện, 2016: 126). Về phương pháp tu
tập, hòa thượng Nhựt Ý chú trọng các
nghi lễ Tịnh Độ. Ông thường xuyên tổ
chức các nghi lễ như: Lễ bái niệm
Phật, phát nguyện niệm Phật, kinh
hành niệm Phật, sám hối trong ba
tháng, lục thời tụng kinh… Nổi bật
nhất là các khóa niệm Phật Bá nhựt trì
danh, Phát nguyện niệm Phật và Lễ
bái niệm Phật. Trong đó, khóa niệm
Phật Bá nhựt trì danh không chỉ được
xem là tông chỉ tu hành đặc sắc của
Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng mà còn
là "hạnh tu của nhà sư Tịnh Độ Non
Từ năm 1948 đến năm 1953, nhà sư
Minh Đăng Quang thường tổ chức
hành đạo khắp các tỉnh Bình Dương,
Biên Hòa, Vũng Tàu, Sài Gòn, Cần
Thơ, Châu Đốc,... đồng thời xây cất
tịnh xá. Trong khoảng thời gian 10
năm, ông đã xây được 27 ngôi tịnh xá Bồng" (Quan Âm Tu viện, 2016:127).
ở Nam Bộ. Đến nay, Hệ phái Khất sĩ Khóa niệm Phật này kéo dài trong 100
có khoảng 500 ngôi tịnh xá ở trong ngày, bắt đầu vào lúc 21 giờ ngày
mùng 8 tháng 8 đến ngày 17 tháng 11
(âm lịch) hàng năm, tức đúng ngày kết
lễ vía Phật A Di Đà. Trong 100 ngày
nước và hơn 50 tịnh xá ở nước ngoài.
Các giáo đoàn tăng và ni đã phát triển
không ngừng đến miền Trung, Tây
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021
52
này, tăng ni, phật tử ngày đêm niệm Hoằng pháp; Ban Thế học và Phật
Phật không ngừng nghỉ. Cội nguồn học; Ban Nghi lễ; Ban Từ thiện Xã hội;
Ban Trang nghiêm; Ban Nông thiền;
Ban Nghiên cứu học Phật và văn hóa
nghệ thuật; Ban Dược sư; Ban Bảo
trợ; Ban Kiểm soát. Như vậy, Ban
Chấp sự Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
gồm 2 chứng minh; 1 tông trưởng và
15 chức danh. Ngoài ra, tại các tự
viện của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
trên cả nước, nếu lập riêng đạo tràng
phật tử thì có nội quy sinh hoạt riêng
trong phạm vi nội bộ tự viện, nhưng
không làm mất quy củ tông phong và
phải phụng thờ Đức Tông chủ tôn sư.
Về nhân sự, Ban Chấp sự được bổ
sung do nhu cầu Phật sự hoặc nhân
sự khuyết tại hội nghị họp mặt hàng
năm.
của khóa niệm Phật Bá nhựt trì danh
do hòa thượng Khánh Anh(12) tổ chức
tại Phật học đường Lưỡng Xuyên ở
tỉnh Trà Vinh. Theo hòa thượng Thích
Giác Quang (2010: 208): "Năm 1934,
Đức Pháp chủ thượng Khánh hạ Anh,
mở trường Phật học Lưỡng Xuyên ở
Trà Vinh, [...], mở khóa ‘Niệm Phật Bá
nhựt trì danh’". Sau này, hòa thượng
Nhựt Ý kế nối, tiếp tục mở các khóa tu
cho tăng ni, phật tử.
Theo Bản nội quy Liên Tông Tịnh Độ
Non Bồng thì cơ cấu tổ chức bao gồm
Hội đồng Tông phong và Ban Chấp sự
Hội đồng Tông phong. Tông trưởng
phải là người nắm vững tông phong,
sống đạo đức, có uy tín với tăng ni,
phật tử trong và ngoài tông phái và
phải được hội nghị toàn thể tăng ni,
phật tử suy tôn. Hiện nay, Tông
trưởng Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
là Ni trưởng Huệ Giác.
Trong các tự viện, tịnh xá, tịnh thất,
niệm phật đường, am, cốc, điện thờ
Phật của Liên Tông Tịnh Độ Non
Bồng đều phụng thờ: Chứng minh
Đạo sư Đức Sư Ông Bửu Đức; Tông
chủ Thiện Phước Nhựt Ý. Theo thống
kê Hệ phái Liên Tông Tịnh Độ Non
Bồng có 170 tự viện trên toàn quốc,
1.276 tăng ni và 1.350.000 tín đồ,
Phật tử trong và ngoài nước sinh hoạt
theo tông phong và hoạt động theo
Hiến chương của Giáo hội Phật giáo
Việt Nam (Nguyễn Văn Quý, 2018:
75)(13). Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
dựa trên cơ sở kinh điển pháp tu Tịnh
Độ xác lập tôn chỉ tu hành niệm Phật
cầu vãng sinh Tịnh Độ. Do đó, hệ phái
này chú trọng phát triển các nghi thức
hành trì riêng, phù hợp để tín đồ, Phật
tử trong bối cảnh lịch sử nhất định.
Hội đồng Tông phong Liên Tông Tịnh
Độ Non Bồng bao gồm: chư tăng, chư
ni, cư sĩ nam và cư sĩ nữ. Ngoài ra,
nếu tịnh nhân cư sĩ có phꢀm hạnh tốt
cũng được chọn cử vào hội đồng. Về
số lượng thì tùy theo nhu cầu và do
hội nghị bàn bạc; Ban Chấp sự do Hội
đồng suy cử tại Hội nghị Hội đồng
tông phong. Ban chấp sự bao gồm: 1.
Chứng minh: Đức Sư Ông Bửu Đức;
Đức tông chủ Thiện Phước; 2. Tông
trưởng (hiện nay): Ni trưởng Huệ
Giác; 3. Thành phần Ban Chấp sự: Cố
vấn; Giám Luật tăng; Giám Luật ni;
Tổng Thư ký; Ban Tăng sự; Ban
NGUYỄN VĂN QUÝ – NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN…
53
4. KẾT LUẬN
Bộ xuất hiện các hệ phái Phật giáo
mới. Sự ra đời của các hệ phái Phật
giáo này là sự đổi mới uyển chuyển
đáp ứng kịp thời tín ngưỡng của
người dân Nam Bộ vốn ưu chuộng
đạo Phật. Phương thức tổ chức, tôn
chỉ, phương pháp tu tập của các hệ
phái này đáp ứng nhu cầu tôn giáo
của nhiều tầng lớp nhân dân Nam Bộ.
Hiện nay, một số hệ phái như Hệ phái
Khất sĩ, Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
ngày càng phát triển, không chỉ ở
Nam Bộ, Trung Bộ hay Tây Nguyên
mà còn hiện diện ở nhiều nước khác.
Sự chuyển mình của Phật giáo Nam
Bộ vào đầu thế kỷ XX đã thúc đꢀy việc
chấn hưng Phật giáo nước nhà, tiếp
nối tinh thần nhập thế của Phật giáo
Việt Nam.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Phật
giáo ở Nam Bộ sau một thời gian suy
thoái đã có sự chấn hưng bởi các vị
sư, cư sĩ có tâm huyết. Thời kỳ này,
Phật giáo Nam Bộ phát triển theo xu
hướng hiện đại hóa tăng già theo
hướng tổ chức đoàn thể ở phương
Tây và tạp chí được phát hành nhằm
giới thiệu nghiên cứu và truyền bá
giáo lý Phật giáo trong hình thức mới,
phù hợp với bối cảnh lịch sử. Do đó,
xu hướng nghiên cứu Phật học và
công tác xã hội nổi trội trong hoạt
động của các hội này. Xu hướng hình
thành các hội Phật giáo, tạp chí liên
quan đến Phật giáo đã lan rộng ra
miền Trung và miền Bắc Việt Nam
những năm này. Bên cạnh việc thành
lập các hội Phật giáo, Phật giáo Nam
CHÚ THÍCH
(1) Tạp chí Duy Tâm, số 18. Cơ quan ngôn luận của Hội Lưỡng Xuyên Phật học, thành lập
năm 1934 tại chùa Long Phước, tỉnh Trà Vinh.
(2) Tạp chí Đuốc Tuệ, số 178. Cơ quan ngôn luận của Bắc Kỳ Phật giáo hội, thành lập năm
1934 tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Xem thêm: Nguyễn Quốc Tuấn và Thích Đồng Bổn (chủ
biên). 2018. Hòa thượng Khánh Hòa với phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Hà Nội:
Nxb. Hồng Đức, tr. 121.
(3)
Và kết quả là sự ra đời của Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới (The World Fellowship of
Buddhist – WFB) năm 1950, Hội Tăng già Thế giới (The World Buddhist Sangha Council –
WBSC) ra đời năm 1966.
(4) Ông là một sĩ quan, nhà báo, luật sư và là chủ tịch đầu tiên của Hội Thông Thiên học; là
người đầu tiên thực hiện cải cách Phật giáo ở Sri Lanka, tạo tiền đề nghiên cứu Phật giáo
và giáo dục Phật giáo theo hướng hiện đại.
(5)
Ông là nhà văn, nhà hoạt động tiên phong trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Ấn
Độ thông qua các buổi thuyết pháp tại Châu Á, Châu Âu và Bắc Mỹ.
(6)
Ông đã thành lập các Hiệp hội Tăng giáo dục, Phật giáo Hợp tiến, Phật giáo Tổng hội,
Phật giáo Liên hiệp… tại nhiều nước như Myanma, Sri Lanka, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái
Lan làm cho phong trào cải cái Phật giáo lan rộng.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021
54
(7)
Xem thêm Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam. 2019.
Kỷ yếu hội thảo khoa học Cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền với Hội Phật học Nam Việt. Chùa
Phật học Xá Lợi, TPHCM.
(8) Xem chi tiết Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế -
Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo. 2019. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình
Thám và những đóng góp với Hội An Nam Phật học. Tổ đình Từ Đàm, Huế.
(9) Tôn chỉ hành đạo của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là "học Phật - tu nhân", đề cao thực hành
"tứ ân" bao gồm: Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân Tam bảo và Ân đồng bào nhân loại;
đồng thời cổ vũ khꢀn hoang tạo thành phong trào lan rộng ở miền Tây Nam Bộ lúc bấy giờ.
Hiện nay, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có khoảng 15.000 tín đồ tập trung ở các tỉnh An Giang,
Đồng Tháp, Sóc Trăng,…
(10)
Đạo Hiếu Nghĩa chú trọng phát triển Phật giáo bằng hình thức cư sĩ tại gia. Cũng như
Bửu Sơn Kỳ Hương, tôn chỉ hành đạo của Tứ Ấn Hiếu Nghĩa là "tu nhân - học Phật" và
trong thực hành nghi lễ có sự kết hợp hài hòa các đối tượng phụng thờ của Phật giáo, Nho
giáo và Đạo giáo, thỏa mãn đời sống tâm linh của người dân thời kỳ này.
(11)
Phật giáo Hòa Hảo lấy nền tảng giáo lý Phật giáo kết hợp với những bài sấm giảng giáo
lý và thi văn giáo lý do ông Huỳnh Phú Sổ biên soạn. Cũng như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân
Hiếu Nghĩa, tôn chỉ hành đạo của Phật giáo Hòa Hảo là "học Phật - tu nhân", chú trọng phát
triển tín đồ là cư sĩ tại gia. Hiện nay, Phật giáo Hòa Hảo có khoảng gần 100.000 tín đồ.
(12)
Hòa Thượng Thích Khánh Anh (1895-1961), tục danh Võ Hóa, hiệu Khánh Anh, quê xã
Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1916, ông quy y thọ giới và tu
ở chùa Quang Lộc, tỉnh Quãng Ngãi. Năm 1917, ông thọ giới Sa di và nghiên cứu kinh, luật,
luận, rồi thọ giới Tỳ kheo, Bồ tát, pháp hiệu là Khánh Anh. Năm 1927, ông dạy học tại
trường Gia Giáo, chùa Giác Hoa, tỉnh Bạc Liêu; năm 1931 ông về trụ trì chùa Long An, quận
Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Ở đây, ông có nhiều đệ tử, Phật tử đến cầu học. Năm 1932, ông
nhận chức Pháp sư giảng dạy cho Liên đoàn Học xã tại chùa Thiên Phước, quận Trà Ôn (3
tháng); chùa Rạch Miễu, tỉnh Mỹ Tho (3 tháng). Năm 1935, ông nhận chức Đốc giáo tại Phật
học đường Lưỡng Xuyên, tỉnh Trà Vinh; hợp tác với hòa thượng Lê Khánh Hòa, hòa thượng
Huệ Quang để xây dựng cơ sở đào tạo Tăng tài. Hòa thượng viết báo nhằm cổ xúy phong
trào chấn hưng Phật giáo. Năm 1940, ông làm Pháp sư dạy tại chùa Thiên Phước, chùa
Linh Phong... Năm 1942, hòa thượng về trụ trì chùa Phước Hậu, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ.
Tại đây, ông mở lớp Phật pháp cho Phật học cư sĩ. Năm 1945, hòa thượng đến dạy cho
tăng ni tại chùa Long Hòa, quận Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Năm 1946, hòa thượng nhập thất
tại chùa Phước Hậu để nghiên cứu Tam tạng kinh, soạn thảo, phiên dịch rất nhiều kinh sách.
Năm 1955, Hội Phật học Nam Việt thỉnh hòa thượng vào Ban Chứng minh đạo sư. Ngày
mồng 1 tháng 3 năm 1957, toàn thể Đại hội Tăng, Ni và Phật tử miền Nam tại chùa Ấn
Quang suy tôn hòa thượng lên ngôi pháp chủ để lãnh đạo tinh thần Phật giáo miền Nam.
Năm 1959, tại Chùa Ấn Quang, tại Đại hội Giáo hội Tăng già toàn quốc lần thứ 2 đã long
trọng suy tôn hòa thượng lên ngôi Thượng thủ Giáo hội Tăng già toàn quốc. Hòa thượng
luôn luôn niệm Phật để cầu sanh Tây phương. Ngày 30/1/1961, ngài viên tịch tại chùa
(13)
Xem thêm: Quan Âm Tu viện. 2016. Chương IX: Những tự, viện, tịnh xá, tịnh thất, đạo
tràng chư tăng ni trụ trì thuộc hệ thống môn phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng (từ năm
1920-2016), tr. 193-206.
NGUYỄN VĂN QUÝ – NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN…
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
55
1. Đỗ Quang Hưng (chủ biên). 2001. Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ. Hà Nội:
Nxb. Khoa học Xã hội.
2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Hệ phái Khất sĩ. 2014. 100 ngôi tịnh xá tiêu biểu.
TPHCM: Nxb. Tổng hợp TPHCM.
28/5/2021.
4. Luật Nghi Khất sĩ. 1965.
5. Nguyễn Tài Thư (chủ biên). 1988. Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Khoa
học Xã hội.
6. Nguyễn Quốc Tuấn - Thích Đồng Bổn (chủ biên). 2018. Hòa thượng Khánh Hòa với
phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Hồng Đức.
7. Nguyễn Văn Quý. 2018. “Tìm hiểu về Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng: Tiếp cận sử học
tôn giáo”. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 10 (510).
8. Quan Âm Tu viện. 2016. Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng - 57 năm hình thành và phát
triển. Hà Nội: Nxb. Hồng Đức.
9. Tạp chí Đuốc Tuệ, số 178 - Cơ quan ngôn luận của Bắc Kỳ Phật giáo hội.
10. Tạp chí Duy Tâm, số 18 - Cơ quan ngôn luận của Hội Lưỡng Xuyên Phật học.
11. Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh.1992. Văn hóa dân gian
người Việt ở Nam Bộ. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.
12. Thích Giác Duyên. 2014. Hệ phái Khất sĩ 70 hình thành và phát triển. Hà Nội: Nxb.
Tôn giáo.
13. Thích Giác Quang. 2010. Tịnh Độ giảng lược. Hà Nội: Nxb. Phương Đông.
14. Vân Thanh. 1974. Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam qua các thời đại và phát nguồn
của các giáo phái Phật giáo. Sài Gòn. Phật học viện và chùa xuất bản.
15. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia TPHCM. 2015. Phật giáo vùng Mê-Kông: lịch sử và hội nhập.
TPHCM: Nxb. Đại học Quốc gia TPHCM.
16. Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế -
Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo. 2019. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Cư sĩ Tâm Minh Lê
Đình Thám và những đóng góp với Hội An Nam Phật học. Huế. Tổ đình Từ Đàm.
17. Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam. 2019. Kỷ
yếu hội thảo khoa học Cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền với Hội Phật học Nam Việt.
TPHCM. Chùa Xá Lợi.
18. Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam - Hệ phái Khất sĩ.
2014. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Hệ phái Khất sĩ: Quá trình hình thành, phát triển và hội
nhập. Pháp viện Minh Đăng Quang, TPHCM.
Bạn đang xem tài liệu "Những khuynh hướng cơ bản của Phật giáo Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhung_khuynh_huong_co_ban_cua_phat_giao_nam_bo_cuoi_the_ky_x.pdf

