Giáo trình môn Cơ sở văn hóa Việt Nam
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC: CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG/TRUNG CẤP
Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-TCDCGNB ngày…….tháng….năm 2018
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình
Ninh Bình, năm 2018
1
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được
pháp dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
2
MỤC LỤC
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cơ sở văn hóa Việt Nam
1. Khái niệm văn hoá, khái niệm gần văn hoá và khái niệm cộng đồng
2. Loại hình văn hoá
3. Những thành tố của văn hoá
4. Chức năng của văn hoá
5. Sự ảnh hưởng của các giá trị văn hoá đến thực hành công tác xã hội
6. Thay đổi văn hoá và phát triển văn hoá
Chương 2: Tiến trình và đặc điểm của văn hóa Việt Nam
1. Tiến trình văn hoá Việt Nam
2. Văn hoá nông thôn Việt Nam
3. Văn hoá đô thị Việt Nam
4. Đặc điểm phát triển của văn hoá Việt Nam
5. Đi thực địa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại kinh tế ngày càng phát triển và sự giao lưu giữa các quốc gia
trên thế giới ngày càng mở rộng thì văn hóa dân tộc cũng trở thành vấn đề được đặc
biệt quan tâm. Đảng và Nhà nước ta nhiều lần khẳng định vai trò quan trọng của
văn hóa trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, đồng thời đặt mục
tiêu "xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" lên trên hết.
Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam được biên soạn theo chương trình dạy
nghề Công tác xã hội của Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình gồm 2 chương:
Chương 1. Những vấn đề cơ bản về cơ sở văn hoá Việt Nam
Chương 2: Tiến trình và đặc điểm của văn hóa Việt Nam
Giáo trình được biên soạn trên cơ sở tham khảo và sử dụng tài liệu của một
số giảng viên, nhà nghiên cứu về văn hóa Việt Nam. Giáo trình này đã được Hội
đồng thẩm định Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình xét duyệt.
Là giáo trình được biên soạn lần đầu, do đó không tránh khỏi những thiếu
sót, chúng tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp và bạn đọc
để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Nhóm biên soạn:
Lê Hùng Cường
Đỗ Thị Thu Hằng
Nguyễn Thị Lành
4
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
Tên môn học: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Mã môn học: MH 07
Vị trí, tính chất, vai trò và ý nghĩa của môn học:
- Vị trí: Cơ sở văn hóa Việt Nam là môn học quan trọng của chương trình đào
tạo nghề Công tác xã hội. Môn học này được bố trí học trước các môn chuyên môn
nghề. Môn học liên quan tới những kiến thức về văn hóa, phong tục, tập quán...
trong khi làm việc với cộng đồng.
- Tính chất: Là môn học lý thuyết cơ sở nghề bắt buộc
Mục tiêu môn học:
- Về kiến thức:
Hiểu biết cơ bản về các đặc điểm văn hoá Việt Nam, văn hóa nông thôn,
văn hóa đô thị...những nét đặc sắc của văn hoá truyền thống Việt Nam phục vụ cho
quá trình giao tiếp với các nhóm đối tượng trong các nền văn hoá khác nhau.
- Về kỹ năng:
+ Vận dụng kiến thức trên để giao tiếp, ứng xử phù hợp với đặc điểm văn
hoá các vùng, miền.
+ Làm việc được với các đối tượng ở các vùng miền văn hoá khác nhau.
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Có ý thức tự học, chăm chỉ, tích cực nghiên cứu bổ sung kiến thức theo
yêu cầu công việc
+ Tôn trọng, tự hào, bảo vệ và phát huy những truyền thống văn hóa Việt
Nam.
+ Tích cực phê phán được những sai lệnh về văn hoá và những ảnh hưởng
của văn hóa đến hoạt động nghề CTXH trong các bối cảnh văn hoá khác nhau.
Nội dung môn học:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cơ sở văn hóa Việt Nam
Mục tiêu:
- Kiến thức:
+ Nhận biết được các loại hình, các thành tố và chức năng của văn hóa.
+ Phân tích được các giá trị của văn hóa đến thực hành công tác xã hội
5
- Kỹ năng: Ứng dụng những thay đổi và phát triển của văn hóa vào công việc
trợ giúp đối tượng
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Có ý thức tự học, chăm chỉ, nghiêm túc, sáng tạo trong quá trình học tập;
+ Tự tin trong giao tiếp với đối tượng thuộc các loại hình văn hóa khác nhau,
các gia đình có nếp sống văn hóa khác nhau.
Nội dung chương:
1.1.Khái niệm văn hoá, khái niệm gần văn hoá và khái niệm cộng đồng
1.1.1 Khái niệm văn hóa
- Theo nghĩa thông dụng, văn hóa dùng để chỉ học thức (trình độ văn hóa),
lối sống (nếp sống văn hóa).
- Theo nghĩa chuyên biệt, dùng để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn
(văn hóa Đông Sơn)…
- Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện
đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động…
* Định nghĩa văn hóa
Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa:
Một học giả Mĩ đã cho rằng “Văn hóa là tấm gương nhiều mặt phản chiếu
đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát
minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Cựu thủ tướng Phạm
Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng
lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con
người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch
sử…cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của
nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí
tuệ với tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài
sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ
mình và không ngừng lớn mạnh.”
6
Định nghĩa văn hóa của UNESCO: Trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hóa
hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và
xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.
Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản
của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn
hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho
chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và
dấn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức
được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét
những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và
sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”.
Theo quan niệm của UNESCO có 2 loại di sản văn hóa:
- Di sản văn hóa hữu thể: đình, chùa, miếu, lăng, mộ…
- Di sản văn hóa vô hình: Âm nhạc, múa, văn chương truyền miệng, ngôn
ngữ, phong tục, tập quán, lễ hội….
Cái hữu thể và vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau như thân xác
và tâm trí con người.
Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hóa, PGS, TSKH Trần Ngọc Thêm
đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa: “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động
thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của
mình”.
1.1.2. Các khái niệm gần văn hóa
- Khái niệm văn minh
Văn minh là danh từ Hán- Việt ( văn là vẻ đẹp, minh là sáng), chỉ tia
sáng của đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật.
Trong tiếng Anh, Pháp, từ sivilisation với nội hàm nghĩa văn minh, có từ
căn gốc La Tinh là civitas với nghĩa gốc: đô thị, thành phố, và các nghĩa phái sinh:
thị dân, công dân.
Văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật
chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại hoặc cả nhân loại.
Như vậy, văn minh khác với văn hóa ở 4 điểm:
7
+ Văn hóa có bề dày của quá khứ (tính lịch sử), văn minh là một lát cắt
đồng đại, nó cho biết trình độ phát triển của văn hóa ở từng giai đoạn.
+ Tính giá trị: Trong khi văn hóa chứa cả giá trị vật chất lẫn tinh thần, thì
văn minh chủ yếu thiên về giá trị vật chất mà thôi.
+ Phạm vi: Văn hóa mang tính dân tộc, còn văn minh có tính quốc tế.
+ Nguồn gốc: Văn hóa gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp,
còn văn minh gắn bó nhiều hơn với phương Tây đô thị.
- Khái niệm văn hiến
Văn hiến ( hiến= hiền tài)- truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp.
GS. Đào Duy Anh khi giải thích từ “văn hiến” khẳng định: “là sách vở”
và nhân vật tốt trong một đời.
Nói cách khác, văn là văn hóa, hiến là hiền tài, như vậy văn hiến thiên về
những giá trị tinh thần do con người có tài đức chuyên tải, thể hiện tính dân tộc,
tính lịch sử rõ rệt.
- Khái niệm văn vật
Truyền thống văn hóa tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử và
nhiều di tích lịch sử. “ Hà Nội nghìn năm văn vật”. Văn vật còn là khái niệm hẹp để
chỉ những công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử, khái niệm văn vật
cũng thể hiện sâu sắc tính dân tộc và tính lịch sử.
VĂN VẬT
Thiên về giá trị
vật chất
VĂN HIẾN
Thiên về giá trị
tinh thần
VĂN HÓA
VĂN MINH
Chứa cả giá trị vật Thiên về giá trị vật
chất lẫn tinh thần
chất- kĩ thuật
Chỉ trình độ phát
triển
Có bề dày lịch sử
Có tính dân tộc
Có tính quốc tế
Gắn bó nhiều hơn với
phương Tây đô thị
Gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp
1.1.3. Khái niệm cộng đồng:
8
Cộng đồng là một từ dùng để chỉ một nhóm người có cùng sở thích hoặc
cùng cư trú trong một vùng lãnh thổ nhất định. trong cộng đồng thường có những
quy tắc chung được mọi người thống nhất thực hiện.
Văn hóa cộng đồng là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh
thần do một nhóm người có cùng sở thích hoặc cùng cư trú trong một vùng lãnh
thổ nhất định sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương
tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình
Văn hóa Việt Nam dưới quan niệm là văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ
sở đa sắc thái văn hóa tộc người được thể hiện ở ba đặc trưng chính:
- Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía
- Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo
ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam. Từ cái nôi của
làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại
- Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội
21, Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những
khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền
văn hóa Việt Nam hiện đại.
1.2.Loại hình văn hoá
9
1.2.1.Các loại hình văn hóa cơ bản trên thế giới
- Văn hóa trồng trọt phương Đông
+ Môi trường sống của cư dân phương Đông là xứ nóng sinh ra mưa nhiều
(ẩm), tạo nên các con sông lớn với những vùng đồng bằng trù phú. Phương Đông
thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp.
+ Những đặc trưng chủ yếu:
Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, do sống phụ thuộc nhiều
vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp
với thiên nhiên. Vd: người Việt Nam mở miệng là nói “ lạy trời”, “nhờ trời”,…
Về mặt nhận thức, hình thành lối tư duy tổng hợp: Quạ tắm thì ráo, sáo
tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa…
- Về mặt tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa sống theo
nguyên tắc trọng tình.( Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình). Lối sống trọng
tình cảm tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ.
+ Lối sống linh hoạt, luôn biến báo cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ
thể, dẫn đến triết lí sống Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi
với ma mặc áo giấy…
+ Con người cư xử bình đẳng, dân chủ với nhau, dẫn đến tâm lí coi
trọng cộng đồng, tập thể.
+ Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện: tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn
trọng pháp luật….,dẫn tới tệ “đi cửa sau” trong giải quyết công việc: Nhất quen,
nhì thân, tam thần, tứ thế..Trọng tình và linh hoạt làm cho tính tổ chức của người
nông nghiệp kém hơn so với cư dân nền văn hóa gốc du mục.
- Trong ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh
hoạt còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận. Đối phó với các cuộc chiến
tranh xâm lược thì mềm dẻo, hiếu hòa
- Văn hóa du mục phương Tây
+ Ứng xử với tự nhiên: coi thường tự nhiên, dẫn đến tham vọng chinh phục tự
nhiên.
+ Lĩnh vực nhận thức thì thiên về tư duy phân tích
+Trong tổ chức cộng đồng thì coi trọng sức mạnh( trọng tài, trọng võ, trọng
nam giới), coi trọng vai trò cá nhân, ứng xử theo nguyên tắc.
10
+Trong ứng xử với môi trường xã hội, độc đoán trong tiếp nhận, cứng rắn,
hiếu thắng trong đối phó
TIÊU CHÍ
Khí hậu
Phương Đông
Nắng nóng lắm, mưa ẩm
nhiều
Phương Tây
Xứ lạnh, khí hậu khô
Đặc trưng
gốc
Nghề chính Trồng trọt
Chăn nuôi
Ứng xử với môi trường Sống định cư, thái độ tôn Sống du cư, coi thường tự
tự nhiên trọng, ước mong sống hòa nhiên,
hợp với thiên nhiên
Chinh phục tự nhiên
Thiên về tổng hợp và biện Thiên về tư duy phân tích:
Lối nhận thức, tư duy chứng( trọng quan hệ);
chủ quan, cảm tính và
khách quan, lí tính và
thực nghiệm
kinh nghiệm
Trọng tình, trọng đức,
Trọng sức mạnh, trọng
tài, trọng võ, trọng nam
giới
Nguyên tắc trọng văn, trọng nữ
Tổ chức
cộng đồng
Linh hoạt và dân chủ,
Cách thức
Ứng xử theo nguyên tắc,
trọng cá nhân
trọng tập thể
Dung hợp trong tiếp nhận; Độc đoán trong tiếp nhận;
mềm dẻo, hiếu hòa trong cứng rắn, hiếu thắng trong
Ứng xử với
đối phó
đối phó
môi trường xã hội
1.2.2.Các loại hình văn hóa cơ bản ở Việt Nam
Văn hóa thường được chia đôi thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh
thần. Bên cạnh đó là những cách chia ba, vd: văn hóa vật chất - văn hóa xã hội -
văn hóa tinh thần; văn hóavật chất - văn hóa tinh thần - văn hóa nghệ thuật; sinh
hoạt kinh tế - sinh hoạt xã hội -sinh hoạt trí thức… Một số tác giả khác nói đến bốn
thành tố như văn hóa sản xuất, vănhóa xã hội, văn hóa tư tưởng, văn hóa nghệ
thuật; hoặc hoạt động sinh tồn, hoạt động xã hội, hoạt động tinh thần, hoạt động
nghệ thuật…Từ cách tiếp cận hệ thống, có thể xem văn hóa như một hệ thống gồm
11
4 thành tố (tiểu hệ) cơ bản với các vi hệ như sau: Mỗi nền văn hóa là tài sản của
một cộng đồng người (chủ thể văn hóa) nhất định. Trong quá trình tồn tại và phát
triển, chủ thể văn hóa đó đã tích lũy được một kho tàng kinh nghiệm và tri thức
phong phú về vũ trụ và về con người - đó là 2 vi hệ của tiểu hệ văn hóa nhận
thức.Tiểu hệ thứ hai liên quan đến những giá trị nội tại của chủ thể văn hóa: đó là
văn hóa tổ chức cộng đồng. Nó bao gồm 2 vi hệ là văn hóa tổ chức đời sống tập thể
(ở tầm vĩ mô như tổ chức nông thôn, quốc gia, đô thị), và văn hóa tổ chức đời sống
cá nhân (liên quanđến đời sống riêng mỗi người như tín ngưỡng, phong tục, giao
tiếp, nghệ thuật...). Cộng đồng chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại
môi trường - môi trường tựnhiên (thiên nhiên, khí hậu...) và môi trường xã hội (các
dân tộc, quốc gia khác). Cho nên, cấu trúc văn hóa còn chứa hai tiểu hệ liên quan
đến thái độ của cộng đồng với hai loại môi trường đó là văn hóa ứng xử với môi
trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.Với mỗi loại môi trường,
đều có thể có hai cách xử thế phù hợp với hai loại tác động của chúng (tạo nên 2 vi
hệ): tận dụng môi trường (tác động tích cực) và ứng phó với môi trường (tác động
tiêu cực). Với môi trường tự nhiên, có thể tận dụng để ăn uống, tạo racác vật dụng
hàng ngày...; đồng thời phải ứng phó với thiên tai (trị thủy), với khoảngcách (giao
thông), với khí hậu và thời tiết (quần áo, nhà cửa...). Với môi trường xã hội, bằng
các quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, mỗi dân tộc đều cố gắng tận dụngnhững
thành tựu của các dân tộc lân bang để làm giàu thêm cho nền văn hóa của
mình;đồng thời lại phải lo ứng phó với họ trên các mặt trận quân sự, ngoại
giao...Dưới góc độ đồng đại, hệ thống văn hóa còn có thể có nhiều cách phân chia
khác. Chẳnghạn, trong quan hệ với cộng đồng, có thể phân biệt văn hoá dân gian và
văn hóa chính thống. Trong quan hệ với địa bàn cư trú, có thể phân biệt văn hóa
biển, văn hóa đồng bằng và văn hóa núi. Cũng vậy, có sự khác biệt giữa văn hóa
Việt với văn hóa các dân tộcít người. Những cách phân chia này cần được vận dụng
kết hợp với cách phân chia chính.Cả 4 thành tố của hệ thống văn hóa đều bị quy
định bởi một gốc chung là loại hình vănhóa. Nếu mô hình cấu trúc của hệ thống
văn hóa cho ta thấy CÁI CHUNG, cái đồng nhấttrong tính hệ thống của các nền
văn hóa thì loại hình văn hóa sẽ cho ta thấy CÁI RIÊNG,cái khác biệt trong tính hệ
thống của chúng.
12
Gần đây, theo cách phân chia của UNESSCO, văn hoá có hai lĩnh vực: văn
hoá hữu thể và văn hoá vô thể. Việc phân chia như thế cũng là cần thiết để có một
cách nhìn toàn diện, tổng thể đối với văn hoá, tuy nhiên ranh giới của sự phân chia
đó lại chỉ là tương đối, không thể quá tách bạch giữa các lĩnh vực. Bởi lẽ ngay
trong văn hoá hữu thể, lại có cái vô thể và ngược lại.
Văn hóa tinh thần
Văn hóa tinh thần hay còn gọi là văn hóa phi vật chất là những ý niệm, tín
ngưỡng, phong tục, tập quán, giá trị, chuẩn mực,... tạo nên một hệ thống. Hệ thống
đó bị chi phối bởi trình độ của các giá trị, đôi khi có thể phân biệt một giá trị bản
chất. Chính giá trị này mang lại cho văn hóa sự thống nhất và khả năng tiến hóa nội
tại của nó.
Văn hóa vật chất
Ngoài các yếu tố phi vật chất như giá trị, tiêu chuẩn,... nền văn hóa còn bao
là đồ tạo tác. Những con đường, tòa cao ốc, đền đài, phương tiện giao thông, máy
móc thiết bị...đều là đồ tạo tác. Văn hóa vật chất và phi vật chất liên quan chặt chẽ
với nhau. Khảo sát một nền văn hóa có thể thấy văn hóa vật chất phản ánh những
nó lại là trung tâm thương mại. Văn hóa vật chất còn phản ánh công nghệ hiểu theo
khái niệm xã hội học là sự áp dụng kiến thức văn hóa vào sinh hoạt trong môi
trường tự nhiên. Ngược lại, văn hóa vật chất cũng làm thay đổi những thành phần
văn hóa phi vật chất.
1.3. Những thành tố của văn hoá
1.3.1 Ngôn ngữ:
Là một hệ thống tín hiệu. Hiểu theo nghĩa rộng ngôn ngữ là một thành tố
văn hoá nhưng là một thành tố chi phối nhiều đến các thành tố văn hoá khác, mặc
dù, ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng “về mặt hình thành, ngôn ngữ và
văn hoá đều là thiết chế xã hội mang tính ước định”.
•
Nhiều từ ngữ Hán được người Việt vay mượn, nhưng xu hướng Việt
hoá là xu hướng mạnh nhất. Người Việt vay mượn cách phát âm mà sau này các
nhà nghiên cứu gọi là cách phát âm Hán – Việt để đọc toàn bộ các chữ Hán. Sau
13
đó, trong cách sử dụng và ý nghĩa các từ Hán ấy lại được Việt hoá. Nhiều yếu tố
của tiếng Hán đi vào tiếng Việt theo kiểu mở rộng hay thu hẹp nghĩa, hoặc được
cấu tạo lại theo kiểu rút ngắn, đổi vị trí,…Tuy vậy sự tiếp nhận các yếu tố của tiếng
Hán không làm mất đi bản sắc của tiếng Việt, trái lại làm cho tiếng Việt giàu có
hơn. Trải qua một ngàn năm người phương Bắc cai trị, tiếng Việt của cư dân Việt
vẫn tồn tại như một thành tố văn hoá đặc sắc, tiêu biểu cho bản sắc văn hoá Việt.
•
Từ 1945 đến nay, tiếng Việt được sử dụng trong mọi mặt của đời sống
xã hội. Nó có một vị thế xứng đáng, được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm
tạo điều kiện cho phát triển cùng với ngôn ngữ của các dân tộc ít người ở Việt
Nam.
•
Là một thành tố của văn hoá, tiếng Việt quan hệ mật thiết với các
thành tố khác. Mang đặc điểm của ngôn ngữ là gắn bó với tư duy như “hai mặt của
một tờ giấy”, tiếng Việt sẽ mang một đặc điểm của ngôn ngữ trong mối quan hệ với
văn hoá. “Từ chiều sâu của một hoạt động không tách rời với sức sống của tư duy,
ngôn ngữ được coi là một phương tiện duy nhất có khả năng giải mã cho tất cả các
loại hình nghệ thuật gắn với phạm trù văn hoá. Chính cũng từ cơ sở của tiềm năng
này, ngôn ngữ có khả năng tạo thành những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ rất tổng
hợp, phản ánh một cách tương đối tập trung tiến trình phát triển bộ mặt văn hoá của
cộng đồng.
Mặt khác, trong sự phát triển của văn hoá, ngôn ngữ bao giờ cũng là một
công cụ, một phương tiện, có tác động nhạy cảm nhất. Lịch sử phát triển của tiếng
Việt đã có nhiều minh chứng cho vấn đề này.
1.3.2. Tôn giáo:
- Tôn giáo do con người sáng tạo ra, như định nghĩa của L.Phowbach: “Con
người tư duy thế nào, được sắp đặt thế nào thì Chúa của họ cũng là thế. Ý thức về
Chúa là ý thức mà con người rút ra từ bản thân nó”. Quan niệm này được Các Mác
làm rõ thêm “ Sự khổ ải tôn giáo vừa là sự biểu hiện sự khổ ải hiện thực, lại vừa
phản kháng lại sự khổ ải hiện thực đó. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị
áp bức, là trái tim của thể giới không có trái tim, cũng giống như nó, là tinh thần
của trạng thái không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Tôn giáo
là hạnh phúc hư ảo của nhân dân.
14
-
Trong mỗi tôn giáo, có hai yếu tố: cái trần tục và cái thiêng liêng. Tôn
giáo là một thực thể khách quan của lịch sử, sinh ra cùng với xã hội loài người, do
con người sáng tạo ra, rồi con người lại bị chi phối bởi nó. Tôn giáo còn tồn tại lâu
dài.
-
Trong lịch sử nhân loại, tôn giáo không chỉ có quan hệ mật thiết mà
còn có tác động mạnh mẽ đến các thành tố khác của văn hoá.
Ở Việt Nam, qua trường kì lịch sử từng tồn tại các tôn giáo có tính phổ
-
quát như Nho giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Kito giáo và Đạo giáo, nhưng lại có những
tôn giáo chỉ có tính chất địa phương như Cao Đài, Hoà Hải.
*Nho giáo
Còn gọi là đạo Nho (phương ngữ Nam Bộ gọi là đạo Nhu) hay Khổng
giáo. Về chữ Nho, Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển giải thích: “Nguyên nghĩa
chữ Nho to lớn lắm, một bên chữ nhân là người, một bên chữ nhu là cần, nghĩa là
các người trong đời cần phải có….Ngày nay, chữ Nho nghĩa là người học giả có đủ
tri thức…”
Nho giáo gắn liền với tên tuổi của những người sáng lập là Khổng Tử và
các nhân vật kế tục như Mạnh Tử, Tuân Tử, Đổng Trọng thư,…
Là một thành tố của văn hoá Việt Nam, Nho giáo có một ảnh hưởng rất
lớn đối với diện mạo cũng như nội dung các thành tố văn hoá khác. Với tư cách là
một học thuyết trính trị, đạo đức, Nho giáo có vai trò như một tố chất trong nho sĩ.
Tâm tư, tình cảm, tư tưởng và lối sống của nhà nho Việt Nam chịu ảnh hưởng của
Nho giáo là lẽ đương nhiên. Vốn dĩ là thành viên của những cộng đồng làng xã, nhà
nho sống ở thôn quê, họ là một kiểu nhân vật văn hoá, vừa truyền bá những khía
cạnh tư tưởng, đạo đức Nho giáo một cách chủ định và không chủ định thông qua
việc dạy học và giao tiếp ở làng xã, vừa sáng tạo, lưu trữ văn hoá.
-Phật giáo
Học thuyết Phật giáo là chân lí về nỗi đau khổ và sự giải thoát con người
khỏi nỗi đau khổ. Chân lí ấy được thể hiện trong Tứ diệu đế:
Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế
Nội dung cơ bản là thuyết thập nhị nhân duyên. Nhân là nguyên nhân gây ra
sự vật. Duyên là những mối quan hệ, những điều kiên, những ảnh hưởng chung
quanh giúp cho nhân phát khởi vận hành, Đạo Phật khái quát thành 12 nhân duyên.
15
Đó là một chuỗi liên tục các nguyên nhân giam hãm con người trong vòng sinh tử
luân hồi.
Như vậy đặc điểm nổi bật của Phật giáo nguyên thuỷ là không chấp nhận
thần linh, chủ trương vô thần nhưng là duy tâm chủ quan.
Đạo Phật được truyền sang châu Á bằng 2 đường:
-
Đường bộ từ phía Đông Ấn Độ lên phía Tây Bắc Ấn Độ vào Trung Á
rồi vòng sang phía Đông ra Đông Á.
-
Đường biển đến Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo.
Là một tôn giáo có ảnh hưởng rất mạnh đến xã hội Việt Nam, Phật giáo với
tư cách là một tôn giáo, một thành tố văn hoá có ảnh hưởng đậm nét đến các thành
tố khác của văn hoá Việt Nam.
*Đạo giáo
Cần phân biệt giữa Đạo giáo triết học và Đạo giáo tôn giáo. Là một
học thuyết, Đạo giáo triết học tập trung vào hai khái niệm Đạo (tức là con đường)
và vô vi (tức không hành động). Trong khi đó, các phái khác nhau của Đạo giáo tôn
giáo đều đi tìm sự trường sinh bất tử.
Ở Việt Nam, ảnh hưởng của Đạo giáo triết học chủ yếu diễn ra trong
tầng lớp nho sĩ nhưng ảnh hưởng của Đạo giáo thì không đậm nét. Sự đan xen giữa
Đạo giáo phù thuỷ và các tín ngưỡng dân gian là phức tạp. Thời Bắc thuộc, theo
các tác giả Lịch sử tư tưởng Việt Nam: “Người Việt Nam lúc bấy giờ thì vẫn chịu
ảnh hưởng của Đạo giáo phù thuỷ vì nó phù hợp với tín ngưỡng dân gian và nó bổ
sung những tín điều cần thiết mà tín ngưỡng dân gian không có, vì đó là con đường
hi vọng để khắc phục những khổ đau xã hội và bệnh tật của con người đương thời,
trong hi vọng đó chỉ có tác dụng an ủi. Tin theo Đạo giáo thần tiên vì người Việt
vốn có tinh thần lãng mạn, muốn có cuộc đời dài lâu, muốn có cuộc sống tốt đẹp”.
Vì thế ảnh hưởng Đạo giáo trong văn hoá Việt Nam không phải là nhỏ,
nhất là các tín ngưỡng dân gian.
*Kitô giáo
Là tên gọi chung của các tôn giáo cùng thờ chúa Giêsu gồm đạo Công
giáo, Chính thống, đạo Tin lành, và Anh giáo. Ở Việt Nam đạo Công giáo còn được
gọi là Thiên chúa giáo. Sự phát triển của đạo Kitô trong lịch sử nhân loại lúc thăng
16
lúc trầm và đến hiện nay, Kitô giáo là tôn giáo có mặt ở hầu hết các nước của châu
lục, chứ không riêng gì ở châu Âu.
Quan niệm của thế giới về Kitô giáo là niềm tin vào Thiên chúa và sự
mầu nhiệm của Thiên chúa tiền định. Vì thế, con người do Thiên chúa sáng tạo, có
nghĩa vụ thờ phụng chúa và tiếp tục công việc của chúa ở trái đất này.
Năm 1644, Hội Thừa sai truyền giáo Pari chính thức ra đời và được giáo
hoàng trao quyền truyền đạo từ Việt Nam, Trung Quốc xuống Đông Nam Á. Cùng
với việc truyền đạo, khá đông các giáo sĩ của hội Thừa sai truyền giáo Pari có
những hoạt động thiếu trong sáng, nhằm phục vụ cho âm mưu xâm lược của người
Pháp. Vì thế các triều vua phong kiến, nhất là Nguyễn Gia Long đã ra lệnh cấm
đạo. Lịch sử du nhập Kitô giáo vào Việt Nam, vì thế, không bình thường như các
tôn giáo khác khi du nhập vào Việt Nam. Sau khi người Pháp chiếm được nước ta,
các nhà truyền đạo Kitô giáo đã được tự do truyền đạo ở Việt Nam.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nhà nước của nhân dân ra
đời. Sự phát triển của Ki tô giáo nằm trong khuôn khô hiến pháp, và pháp luật.
Ảnh hưởng có Ki tô giáo với văn hoá Việt Nam, phải nhìn nhận ở khía cạnh
chữ Quốc ngữ. Để truyền đạo cho người Việt, các giáo sĩ đã dùng bộ chữ cái Latinh
để ghi âm tiếng Việt – thứ chữ ấy về sau được gọi là chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ
quả là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ phương Tây và những người Việt Nam
theo đạo này.
1. 3.3. Tín ngưỡng
Giáo sư Đào Duy Anh viết: “ Lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một
tôn giáo hoặc một chủ nghĩa”. Trong khi đó, giải thích từ tôn giáo, ông lại viết: “
một thứ tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm mà lập nên giới ước để khiến người ta
tín ngưỡng.”
Nói đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hoá một nhân vật được
gửi gắm vào niềm tin tưởng của con người. Quá trình ấy có thể là quá trình huyền
thoại hoá, lịch sử hoá nhân vật phụng thờ. Mặt khác giữa các tín ngưỡng đều có
những đan xen và trong từng tín ngưỡng đều có nhiều lớp văn hoá lắng đọng.
1.3.3.1 Tín ngưỡng phồn thực
Thực chất của tín ngưỡng phồn thực là khát vọng cầu mong sự sinh sôi nảy
nở của con người và tạo vật, lấy các biểu tượng về sinh thực khí, và hành vi giao
17
phối làm đối tượng. Với người việt,dấu vết của tín ngưỡng phồn thực còn lại cho
chúng ta thấy nó từng có mặt từ nơi xa xưa.
Tín ngưỡng này chỉ tự giải thể mà không hề mất đi, nó hội nhập và đan xen
với các loại hình văn hoá nghệ thuật khác.
Đáng lưu ý là sự tồn tại của tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội cổ truyền, đậm
đặc nhất là ở các trò diễn,trò chơi của một số lễ hội cổ truyền.
Qua biến thiên lịch sử, tín ngưỡng phồn thực đã trở thành một thứ trầm tích
văn hoá trong văn hoá Việt Nam.
1.3.3.2 Tín ngưỡng thờ thành hoàng
Là một từ Hán, thành hoàng có nghĩa gốc ban đầu là hào bao quanh thành,
nếu hào có nước sẽ gọi la trì “ thành trì”. Thành hoàng làng là vị thần bảo vệ thành
quách cụ thể.
Các vương triều khác nhau sẽ có các sắc phong thần khác nhau. Một vị thành
hoáng có thể có nhiêu sắc phong khác nhau của các triều đại khác nhau. Ngay một
triều đại cũng có thể phong sắc nhiều lần cho một vị thần, nhưng số mĩ tự thì lần
sau bao giờ cũng gia tăng hơn lần trước.
Trong các thành hoàng được thờ phụng, có rất nhiều các nhân vật lịch sử -
văn hoá. Có các vương triều hoặc người dân ở các làng quê đều đưa những nhân
vật lịch sử - văn hoá vào làm thành hoàng làng. Nói cách khác, các nhân vật lịch sử
- văn hoá của dân tộc có sự hoá thân vào các thành hoàng làng.
Thành hoàng làng là nhân vật trung tâm của một sinh hoạt văn hoá mà dân
các làng quê cũng như các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian gọi là lễ hội. Đó là
ngày tưởng niệm vị thánh của làng. Đối với người dân, thành hoàng là chỗ dựa tinh
thần, nơi gửi gắm niềm tin cho họ, giúp họ vượt qua những khó khăn của cuộc đời
đầy sóng gió.
1.3.3.3 Tín ngưỡng thờ mẫu
Chế độ mẫu hệ còn để lại ảnh hưởng khá đậm trong đời sống xã hội của cư
dân Việt Nam. Vì thế, người Việt có truyền thống thờ nữ thần, một đặc trưng cơ
bản của tín ngưỡng cư dân nông nghiệp. Tín ngưỡng thờ nữ thần của người Việt có
sức mạnh đến nỗi khi Phật giáo và Giao châu đã phải chấp nhận đan xen với nó.
Từ chỗ thờ các nữ thần mà hiện thân của nó là các hiện tượng tự nhiên như
mây, mưa, sấm, chớp, người Việt đã thờ phụng các vị nữ thần cai quản các vùng
18
không gian. Dần dà, tín ngưỡng thờ mẫu xuất hiện. Như vậy, tín ngưỡng thờ mẫu
có sự phát triển từ các hình thức sơ khai đến các hình thức phát triển cao là Mẫu
tam phủ, tứ phủ.
Điện thần của tín ngưỡng thờ Mẫu là một hệ thống có lớp lang tương đối
nhất quán gồm :
-
-
-
-
-
-
-
-
Ngọc hoàng
Tam toà thánh mẫu
Ngũ vị vương quan
Tứ vị chầu bà
Ngũ vị hoàng tử
Thập nhị cô nương
Quan ngũ hổ
Ông lốt “rắn”.
Nhân vật của tín ngưỡng thờ mẫu được phụng thờ ở các di tích mà dân gian
gọi là phủ, đền, điện. Gắn với các nhân vật phụng thờ và các di tích này là một lễ
hội. Lễ hội của tín ngưỡng thờ Mẫu giống như các lễ hội khác trên những nét cơ
bản.
1.3.4 Lễ hội
Cư dân Việt và cư dân các dân tộc ít người ở Việt Nam là những cư dân
nông nghiệp sống bằng nghề trồng lúa nước. Vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ
tạo ra trong họ những nhu cầu tâm linh. Khoảng thời gian nghỉ ngơi này là dịp để
người dân vừa cảm ơn thần linh đã phù hộ cho họ một mùa màng đã qua, vừa cầu
xin thần linh phù hộ cho một mùa màng sắp tới. Dần dà, biến thiên thời gian đã
lắng đọng nhiều phù sa văn hoá trong lễ hội. Sinh hoạt văn hoá ấy của cư dân được
gọi là lễ hội.
Lễ hội bao giờ cũng được gắn bó với một cộng đồng dân cư nhất định.
Nếu Tết âm lịch là sinh hoạt của cả cộng đồng thì ngày hội là ngày Tết của một
cộng đồng dân cư nhất định nào đó. Lễ hội gắn bó với từng làng quê, các làng quê
khác nhau thì ngày hội làng cũng khác nhau. Mặt khác, lễ hội mang tính tộc người
rất rõ. Các dân tộc khác nhau sẽ có những lễ hội khác nhau.
Nhân vật trung tâm được thờ phụng của cộng đồng là nhân vật chính của
ngày lễ hội.
19
Giá trị của lễ hội chính là giá trị cộng cảm và cộng mệnh. Ngày lễ hội là thời
gian cư dân tụ họp để tưởng nhớ vị thánh của làng. Vì thế, đây là “ một sinh hoạt
tập thể long trọng, thường đem lại niềm phấn chấn cho tất cả mọi người, cho mỗi
một con người.
Mặt khác, lễ hội còn là một bảo tàng văn hoá, một thứ bảo tàng tâm
thức lưu giữ các giá trị văn hoá, các sinh hoạt văn hoá. Đó có thể là các trò chơi,
các tín ngưỡng, các hình thức diễn xướng dân gian v.v… Trong văn hoá làng, lễ
hội là một thành tố có tiềm năng to lớn.
Tuy nhiên, cũng cần thấy trong lễ hội có cả các yếu tố phi văn hoá,phản
văn hoá được lưu giữ. Đó là những yếu tố mê tín dị đoan cần loại bỏ khi kế thừa
kho tang lễ hội cổ truyền để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc.
1.4. Chức năng của văn hoá
-Chức năng giáo dục:
Là chức năng mà văn hoá thông qua các hoạt động, các sản phẩm của mình
nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con
người, làm cho con người dần dần có những phẩm chất và năng lực theo những
chuẩn mực xã hội đề ra. Văn hoá thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng
những giá trị đã ổn định là truyền thống văn hoá mà còn bằng cả những giá trị đang
hình thành. Các giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng
tới. Nhờ vậy, văn hoá đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở
con người, trong việc "trồng người ". Với chức năng giáo dục, văn hoá tạo nên sự
phát triển liên tục của lịch sử mỗi dân tộc cũng như lịch sử nhân loại. Văn hoá duy
trì và phát triển bản sắc dân tộc và là cầu nối hữu nghị gắn bó các dân tộc, gắn kết
các thế hệ trong mục tiêu hướng đến cái Chân- Thiện- Mỹ. Văn hoá là "gien" xã
hội di truyền phẩm chất cộng đồng người lại cho các thế hệ sau.
-Chức năng nhận thức
Là chức năng đầu tiên, tồn tại trong mọi hoạt động văn hoá. Bởi, con người
không có nhận thức thì không thể có bất cứ một hành động văn hoá nào. Nhưng
quá trình nhận thức này của con người trong các hoạt động văn hóa lại được thông
qua đặc trưng, đặc thù của văn hóa. Nâng cao trình độ nhận thức của con người
chính là phát huy những tiềm năng ở con người.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn Cơ sở văn hóa Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_mon_co_so_van_hoa_viet_nam.docx

