Thực trạng nhận thức của sinh viên trường Đại học Đồng Tháp về người đồng tính

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC  
ĐỒNG THÁP VỀ NGƢỜI ĐỒNG TÍNH  
SV. Hồ Hoàng Kiên  
Lớp: ĐHCTXH14A  
GVHD: ThS. Trần Kim Ngọc  
Tóm tắt: Trong xã hội ngày nay người đồng tính phần lớn được thừa nhận và  
sống phổ biến ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam nhưng không phải ai cũng có  
được nhận thức đúng và đầy đủ về họ kể cả tầng lớp tri thức trẻ - sinh viên. Bên  
cạnh những sinh viên chấp nhận và xem người đồng tính như là một phần của xã  
hội thì vẫn còn một bộ phận sinh viên có những nhận thức sai lệch về người đồng  
tính. Qua việc khảo sát bằng bảng hỏi với số lượng 100 sinh viên, để tìm hiểu nhận  
thức của sinh viên về người đồng tính, từ đó đánh giá nhận thức về vấn đề đồng tính  
của sinh viên, qua đó cũng đề ra một số giải pháp giúp sinh viên có cái nhìn thoáng  
hơn đối vói người đồng tính cũng như vấn đề liên quan đến người đồng tính trong  
xã hội và các vấn đề xã hội khác đang tồn tại hiện nay. Thông qua bài viết này  
chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về thực trạng nhận thức của sinh viên trường Đại học Đồng  
Tháp về người đồng tính.  
Từ khóa: LGBT, nhận thức, đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính, chuyển giới  
1. Giới thiệu  
Trong xã hội ngày nay nhận thức về ngƣời đồng tính của bộ phận ngƣời dân  
còn nhiều hạn chế trong đó có cả tầng lớp trí thức trẻ - sinh viên. Một số ngƣời vẫn  
có quan niệm ngƣời đồng tính có thể thay đổi đƣợc xu hƣớng tính dục, bằng các  
biện pháp y học hay tâm lý; còn một số ngƣời lại nghĩ rằng, nguyên nhân của hiện  
tƣợng đồng tính là do các tác động về mặt tâm lý, tinh thần nên đã tìm mọi cách  
thuyết phục, ép buộc ngƣời đồng tính kết hôn với ngƣời khác giới để thay đổi xu  
hƣớng tính dục. Theo lời của Ths. Hoàng Tú Anh, Giám đốc Trung tâm Sáng kiến  
Sức khỏe và Dân số: “ông đã từng chứng kiến trường hợp, người cha thuê thầy  
cúng hóa giải duyên âm đến nhẫn tâm đánh thuốc ngủ rồi cho người hiếp dâm con  
gái để chữa bệnh đồng tính cho con gái của mình”[5].  
Do đó, việc nhận thức về ngƣời đồng tính một cách đúng đắn là điều cần thiết.  
Những ảnh hƣởng của định kiến, kỳ thị, phân biệt đối xử đối với ngƣời đồng tính  
75  
trong nhiều trƣờng hợp khiến họ bị rối loạn tâm lý, thậm chí gây nên trầm cảm hay  
những tổn thƣơng tinh thần.  
Sinh viên là một tầng lớp xã hội đặc thù, đại diện cho tầng lớp tri thức trẻ. Nhƣng  
không phải ai trong số họ cũng có đƣợc sự nhận thức đúng và đầy đủ về ngƣời đồng  
tính. Bài viết dựa trên kết quả cuộc khảo sát về “Nhận thức, thái ðộ của sinh viên  
trýờng Ðại học Ðồng Tháp về ngýời ðồng tính” ðýợc thực hiện vào tháng 01/2017  
bằng phýõng pháp nghiên cứu ðịnh lýợng với dung lýợng mẫu 100 kết hợp với  
phýõng pháp nghiên cứu ðịnh tính, khách thể nghiên cứu là sinh viên ðang theo học  
tại trýờng lựa chọn theo phýõng pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Bài viết, cung cấp cho  
ðọc giả cái nhìn cụ thể, khách quan về trạng nhận thức của sinh viên trƣờng Đại học  
Đồng Tháp về ngƣời đồng tính.  
2. Nội dung  
2.1. Khái quát về nhận thức của xã hội đối với người đồng tính qua các thời kỳ  
Ở phƣơng Tây, theo các nhà khảo cổ học thì ngƣời đồng tính xuất hiện cách  
đây khoảng 6000 năm, đó là bộ hài cốt đƣợc tìm thấy tại ngôi làng Prague, Cộng  
hòa Czech[8] . Qua các tài liệu văn học, mỹ thuật, … thì ở thời cổ đại Hy Lạp có  
quan điểm khá thông thoáng đối với chuyện đồng tính luyến ái. Quan hệ đồng tính  
nam không chỉ là sở thích mà đƣợc xem nhƣ là một thể chế trong xã hội. Plato một  
nhà triết học thời cổ đại đã viết rằng, chuyện đồng tính trong quân đội đƣợc khuyến  
khích vì “tình yêu sẽ biến đổi một kẻ nhát gan nhất trở thành một ngƣời hùng đầy  
năng lực”[7], và đội quân gồm 150 cặp đồng tính nam trong lịch sử Hy Lạp chính là  
minh chứng cho điều đó. Bên cạnh đó, nữ thi sĩ Sappho sống trên hòn đảo thơ mộng  
Lesbos của thời Hy Lạp xƣa vào khoảng năm 625 đến 570 Trƣớc Công Nguyên, đã  
viết nhiều tác phẩm hầu hết là những bài thơ tình về ngƣời phụ nữ mà bà yêu.  
Nhƣng đến thời kỳ Trung cổ, Châu Âu bị thống trị bởi tôn giáo và nhà thờ, vì  
thế đồng tính luyến ái ở giai đoạn này đƣợc xem là “hành vi chống lại tự nhiên” do  
đó bị cấm đoán triệt để. Sau đó đến giai đoan Phục Hƣng Châu Âu, ngƣời đồng tính  
đã phải chịu nhiều sự đàn áp, bị phạt và khởi tố. Cũng chính vì thế vào những năm  
cuối 1860, đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ sự ngăn cấm đối với hành vi  
đồng tính, đầu tiên ở Đức và dần dần lan ra các nƣớc khác, đặc biệt phải kể đến  
“Bạo loạn Stonewall”, sự kiện này đánh dấu sự bắt đầu của cuộc đấu tranh cho  
76  
quyền lợi của ngƣời đồng tính ở Hoa Kỳ và trên toàn thế giới.. Ngày nay, một số  
nƣớc đã chấp nhận hôn nhân đồng giới, đi đầu là quốc gia Illinois (tiểu bang Hoa  
Kỳ) đã hợp thức hóa hành vi đồng tính vào năm 1961.  
Phƣơng Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, thì đồng tính đƣợc xem đã tồn  
tại từ lâu đời vào trong khoảng thế kỷ XVI và thế kỷ XVII, có một vài vua chúa có  
thê thiếp là đàn ông. Ngoài ra, sách sử còn ghi chép rằng vua Khải Định tuy có tất  
cả 12 bà vợ nhƣng không thích đàn bà, chỉ thích đàn ông[6].Luật pháp trong thời  
kỳ phong kiến Việt Nam, các vua chúa cũng không đƣa ra luật về quan hệ đồng  
tính, do đó không có ghi nhận nào về cấm đoán hay trừng phạt đối với tình dục  
đồng tính.  
Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX văn hóa phƣơng Tây bắt đầu du nhập  
vào Việt Nam, đây đƣợc coi là sự mở màn cho lĩnh vực sáng tác nghệ thuật liên  
quan đến đồng tính, nhƣng mãi về sau mới biết đó là tác phẩm nói về vấn đề ngƣời  
đồng tính. Chính quyền thực dân Pháp cũng không có quy định nào cấm đoán các  
hành vi tình dục đồng tính trong các thuộc địa.  
Từ 1986 đến nay, kinh tế, chính trị và văn hóa ở Việt Nam đã có những bƣớc  
chuyển mình mới, quan niệm của xã hội về vấn đề ngƣời đồng tính cũng có nhiều  
biến đổi, những khái niệm về đồng tính, quyền của ngƣời đồng tính cũng dần dần lộ  
diện.Ngày 7/4/1997 đám cƣới đồng tính đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh đƣợc  
diễn ra, giới truyền thông đƣa tin cùng với các thông điệp mang tính định kiến, phân  
biệt, lên án về ngƣời đồng tính, ngƣời dân cả nƣớc bắt đầu tiếp cận đến những khái  
niệm “đồng tính”, “đồng giới”, “gay”,...Quốc Hội thông qua Luật Hôn nhân và Gia  
đình 2000 có điều khoản “cấm hôn nhân giữa những người cùng giới tính” thay thế  
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 vốn không có điều khoản này.  
Cùng với đó, tỷ lệ ngƣời đồng tính nam bị nhiễm HIV/AIDS tăng cao càng  
khiến xã hội có cái nhìn không thiện cảm cho nhóm ngƣời này. Năm 2002, Bộ Lao  
động, Thƣơng binh và Xã hội kêu gọi liệt kê đồng tính luyến ái trong các “tệ nạn xã  
hội” cần phải bài trừ nhƣ ma túy và mại dâm. Trong Chiến lƣợc quốc gia về phòng  
chống HIV/AIDS năm 2004 Nhà nƣớc ta đã đƣa nhóm ngƣời đồng tính là một trong  
những nhóm đối tƣợng cần giám sát trọng điểm.  
77  
Ở khía cạnh văn học - nghệ thuật, năm 2000 lần đầu tiên ngƣời đồng tính nam  
đƣợc đƣa vào tác phẩm “Một thế giới không có đàn bà” của Bùi Anh Tấn và cuốn  
tự truyện đầu tiên của một ngƣời đồng tính với nhan đề “Bóng” đƣợc xuất bản 2008  
đã đƣợc đọc giả chào đón khá nồng nhiệt và nhanh chóng mở ra hƣớng mới đối với  
những ngƣời đồng tính. Các tác phẩm này đã khắc họa đƣợc phần nào thế giới của  
ngƣời đồng tính: họ phải che giấu sở thích tình dục thực sự của mình, tự giầy vò,  
ngay bản thân cũng không chấp nhận sự thực đó, … qua đó, xã hội cũng bắt đầu  
hiểu hơn, thông cảm hơn với ngƣời đồng tính.  
Sự cởi mở trong nhận thức xã hội về các vấn đề tình dục, ý thức sự tự do cá  
nhân, ngày càng có nhiều các nghiên cứu khoa học về tình dục đồng giới, nhiều các  
tổ chức xã hội hình thành để đấu tranh vì quyền của nhóm ngƣời đồng tính. Với  
quan điểm trên, pháp luật Việt Nam cũng có những thay đổi đáng kể. Luật Hôn  
nhân và Gia đình sửa đổi năm 2014, bỏ quy định "cấm kết hôn giữa những người  
cùng giới tính" từ ngày 1 tháng 1 năm 2015.  
Tuy nhiên, Luật 2014 vẫn quy định "không thừa nhận hôn nhân giữa những  
người cùng giới tính" (khoản 2 Điều 8). Quốc Hội thông qua Bộ luật Dân sự (sửa  
đổi) ngày 24 tháng 11 năm 2015, trong đó có quy định về chuyển đổi giới tính và  
các quyền, nghĩa vụ liên quan. Luật có hiệu lực thi hành từ đầu năm 2017. Điều 37,  
Bộ luật này quy định: "Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của  
luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch  
theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới  
tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan".  
Tất cả những điều trên cho thấy, về mặt thể chế, ngƣời đồng tính trong xã hội  
Việt Nam phần nào đã đƣợc thừa nhận. Tuy nhiên, đâu đó trong xã hội ta vẫn còn  
nhiều ngƣời có nhận thức sai lệch vềngƣời đồng tính, họ vẫn giữ thái độ kỳ thị, định  
kiến khi tiếp xúc với ngƣời đồng tính, … trong đó có cả giới trẻ, đặc biệt là sinh viên.  
2.2. Sinh viên hiểu về khái niệm, tính chất của người đồng tính  
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đồng tính là “quan hệ luyến ái, tình dục  
giữa những người cùng giới, đều có bộ phận sinh dục phát triển bình thường”[4].  
Tuy nhiên, theoViện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trƣờng (iSEE) thì khái  
niệm cộng đồng ngƣời đồng tính gọi tắt là LGBT gồm có đồng tính nữ (lesbian ),  
78  
đồng tính nam( gay), song tính (bisexual) và chuyển giới ( transgender) những thuật  
ngữ này còn khá mới mẻ tại Việt Nam và thực sự không có nhiều ngƣời biết hay  
hiểu chúng. Tuy nhiên, nếu không xuất phát từ những thuật ngữ này thì không thể  
hiểu đúng và đầy đủ về LGBT vì từ trƣớc đến nay, đa số ngƣời dân trong xã hội kể  
cả sinh viên đề chỉ biết đến các kkhái niệm về giới tính nam, giới tính nữ,v.v... Do  
đó, trong cuộc sống đời thƣờng nhiều ngƣời vẫn còn cách hiểu khá mơ hồ về những  
ngƣời mà họ gọi là đồng tính.  
Biểu đồ1. Người đồng tính theo cách hiểu của sinh viên  
Series 1, Đồng tính  
Series 1, Đồng tính  
nam , 72%  
nữ , 68%  
Series 1, Chuyển  
giới, 39%  
Series 1, Song tính ,  
33%  
Series 1, Không biết  
, 9%  
Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn sinh viên hiểu khá rõ về những ngƣời mà  
họ gọi là đồng tính nhƣng sự hiểu biết ấy không đầy đủ và sự hiểu biết cũng nhƣ  
kiến thức của sinh viên về ngƣời đồng tính chƣa có sự đồng điều. Cụ thể khi đƣợc  
hỏi “Theo bạn người đồng tính là những người nào trong bảng liệt kê dưới đây?”,  
thì có 72% sinh viên cho rằng những ngƣời đồng tính là đồng tính nam, 68% cũng  
cho rằng những ngƣời đồng tính là đồng tính nữ, 39% sinh viên chọn ngƣời chuyển  
giới là những ngƣời đồng tính, 33% sinh viên chọn ngƣời song tính và đáng nói hơn  
là có đến 9% sinh viên đƣợc hỏi chọn phƣơng án “không biết”.  
Từ kết quả trên cho thấy khi nói về ngƣời đồng tính nhiều sinh viên chỉ biết  
đồng tính nam hoặc đồng tính nữ còn những ngƣời nhƣ chuyển giới, song giới hay  
liên giới hầu nhƣ rất ít sinh viên biết đến, đáng ngại hơn hết là có một bộ phận  
không nhỏ sinh viên không biết rõ về khái niệm ngƣời đồng tính mà họ hay dùng  
trong đời thƣờng. Chính việc không biết và biết không đầy đủ về ngƣời đồng tính  
đã đƣa đến những nhận thức sai lệch về ngƣời đồng tính.  
79  
Ngày nay dù y học chƣa tìm ra nguyên nhân chính xác dẫn đến việc đồng tính  
ở ngƣời nhƣng nhiều nhà khoa học đã chứng minh đƣợc rằng đồng tính là một  
khuynh hƣớng tự nhiên của tình cảm con ngƣời, do các yếu tố sinh học đƣợc kể tới  
nhƣ yếu tố di truyền, hooc-môn, phát triển con ngƣời, về gen, hệ thần kinh,..Năm  
1973 Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ đã tổ chức một cuộc bỏ phiếu loại đồng tính ra  
khỏi danh sách bệnh. Năm 1975 Hiệp hội tâm lý học Hoa kỳ và đến năm 1990 Tổ  
chức Y tế thế giới cũng đã loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh tâm thần. Điều đó  
cho thấy, đồng tính hoàn toàn không phải là bệnh, nó nằm ngoài mong muốn của cá  
nhân và không có khả năng lây truyền.  
Biểu đồ 2. Hiểu biết về nguyên nhân dẫn đến đồng tính của sinh viên  
Series 1, Đồng  
tính không phải là  
căn bệnh mà là  
sự khác biệt trong  
Series 1, Đồng  
tính là kết quả  
giới tính, 53%  
của việc chăm  
sóc và giáo dục  
của gia đình, 41%  
Series 1, Đồng  
tính là do lối sống  
buông thả/đua đòi  
của bản thân,  
27%  
Series 1, Đồng  
tính có thể bị lây  
truyền khi chung  
sống với người  
đồng tính, 24%  
Series 1, Đồng  
tính là do nghiệp  
báo từ kiếp trước,  
7%  
Tuy nhiên, kết quả khảo sát cũng cho thấy có nhiều sinh viên có suy nghĩ sai  
lệch và vẫn còn khá hạn chế khi chỉ có 53% số ngƣời đƣợc hỏi đồng ý với phƣơng  
án“đồng tính không phải là căn bệnh mà là sự khác biệt trong giới tính”; 41%  
quan niệm“đồng tính là kết quả của việc chăm sóc và giáo dục của gia đình”; 27%  
nghĩ rằng “đồng tính là do lối sống buông thả/đua đòi của bản thân”; 24% quan  
niệm “đồng tính có thể bị lây truyền khi chung sống với người đồng tính”; đặc biệt  
có 7% sinh viên có quan niệm lạc hâu mang tính dị đoan khi nghĩ “Đồng tính là do  
nghiệp báo từ kiếp trước”; …  
80  
Kết quả này cho thấy kiến thức của sinh viên về ngƣời đồng tính vẫn còn khá  
hạn chế và cũng chính sự thiếu hiểu biết này đã đƣa đến sự nhận thức sai lệch, có  
suy nghĩ méo mó và thái độ kỳ thị khi giao tiếp với ngƣời đồng tính.  
2.3. Sinh viên hiểu về khuynh hướng, nguyên nhân của vấn đề luyến ái,  
tình dục của người đồng tính.  
Cộng đồng ngƣời đồng tính gọi tắt là LGBT gồm có đồng tính nữ (lesbian),  
đồng tính nam (gay) , song tính (bisexual) và chuyển giới (transgender), trong mỗi  
loại đồng tính có một khuynh hƣớng tình dục khác nhau. Tuy có sự khác biệt về xu  
hƣớng tính dục nhƣng ngƣời đồng tính vẫn có cơ thể phát triển nhƣ ngƣời bình  
thƣờng và do có sự biến đổi về hoocmon trong cơ thể nên ngƣời đồng tính thƣờng  
có quan hệ với nhau,và đồng tính không phải là một căn bệnh về tâm lý và nó cũng  
không phải là lối sống lệch lạc trong xã hội cần phải loại trừ. Tuy nhiên do thiếu  
kiến thức về ngƣời đồng tính nên nhiều sinh viên có suy nghĩ sai lệch về khuynh  
hƣớng tính dục của ngƣời đồng tính.  
Biểu đồ 3. Quan niệm về khuynh hướng tình dục người đồng tính của sinh viên  
Series 1, Do  
biến đổi  
hormone giới  
tính nên có  
khuynh hướng  
quan hệ tình dục  
đồng giới, 60%  
Series 1, Người  
đồng tính có  
khuynh hướng  
tình dục với  
đồng giới lẫn  
khác giới, 45%  
Series 1, Đồng  
tính là căn bệnh  
về tâm lý có thể  
chữa trị được,  
30%  
Series 1, Người  
đồng tính có lối  
sống lệch lạc  
cần phải loại trừ,  
5%  
Kết quả khảo sát cho thấy, có đến 45% ngƣời đƣợc hỏi cho rằng “người đồng  
tính có khuynh hướng tình dục với đồng giới lẫn khác giới” trong khi đó chỉ có  
ngƣời song tính mới có khuynh hƣớng tình dục với cả nam lẫn nữ. Đồng thời chỉ có  
81  
60% số sinh viên đƣợc khảo sát đồng ý với quan niệm “do biến đổi hormone giới  
tính nên có khuynh hướng quan hệ tình dục đồng giới” số còn lại không đồng ý  
hoặc không biết. Chính sự hiểu biết hạn chế và thiếu đầy đủ về khuynh hƣớng tình  
dục của ngƣời đồng tính nên có đến 30% sinh viên đƣợc hỏi có nhận thức sai lệch  
khi cho rằng “đồng tính là căn bệnh về tâm lý có thể chữa trị được” và một bộ phận  
không nhiều nhƣng đáng quan tâm 5% sinh viên đƣợc hỏi có suy nghĩ cực đoan  
rằng “người đồng tính có lối sống lệch lạc cần phải loại trừ”.  
2.4. Cảm nhận từ người trong cuộc  
Khi không đƣợc mọi ngƣời xung quanh thừa nhận, ngƣời đồng tính sẽ cảm  
thấy cô đơn, lạc lõng, thiếu tự tin và luôn dằn vặt trong suy nghĩ đau khổ:“Mình cô  
đơn và cảm giác giống như mình là một người bình thường mà người khác cứ nghĩ  
mình là một “quái vật”” (PVS 3 – đồng tính nữ). Ngƣợc lại, nếu đƣợc thừa nhận và  
sống thật với bản thân mình họ mới cảm nhận đƣợc hạnh phúc, tự tin vào bản thân,  
cố gắng phấn đấu để thành công và cống hiến. “Mình cảm thấy rất vui, có thể thoải  
mái làm chuyện mà mình thích, mọi thứ mình muốn làm, muốn thể hiện chứ không  
phải gò bó, gượng ép trong một cái vỏ bọc dưới cái nhìn của người khác”( PVS1 –  
đồng tính nữ).“ Khi có những người bạn chấp nhận giới tính của mình, thì lúc đó  
cuộc sống của mình cảm thấy nhẹ nhàng hơn và những buồn phiền của mình có thể  
kể cho những người đó nghe, lúc đó cuộc sống của mình cảm thấy đỡ cô đơn và bớt  
khó khăn hơn”( PVS2 – song tính nam).  
Kết quả trên cho thấy việc nâng cao nhận thức của sinh viên về ngƣời đồng  
tính là hết sức cần thiết, bên cạnh việc trang bị thêm kiến thức là trả lại sự công  
bằng trong cách nhìn nhận, đánh giá về ngƣời đồng tính và hơn hết là trả lại cho họ  
cuộc sống mà họ vốn có.  
3. Một số giải pháp nâng cao nhận thức cho sinh viên về ngƣời đồng tính  
Từ kết quả nghiên cứu trên, để giảm thiểu việc nhận thức sai lệch và để giảm  
thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử của sinh viên với ngƣời đồng tính trong quá trình  
ngƣời đồng tính đang hòa nhập với xã hội và để nâng cao nhận thức, thái độ cho  
sinh viên, nhóm nghiên cứu đã đƣa ra một sộ khuyến nghị nhƣ sau:  
Bản thân sinh viên: Sinh viên cần bồi đắp kiến thức, phải chủ động tìm hiểu và  
có nhận thức đúng về các vấn đề xã hội nhất là vấn đề về ngƣời đồng tính. Sinh viên  
82  
nên có ý thức tôn trọng sự đa dạng của các cá nhân trong xã hội cũng nhƣ tôn  
trọng ngƣời đồng tính và con ngƣời thật của họ. Cần có cái nhìn thấu hiếu đối với  
các vấn đề có liên quan đến ngƣời đồng tính, tránh phán xét vá quy kết, cần đặt  
mình vào hoàn cảnh của ngƣời đồng tính để có đƣợc cái nhìn từ ngƣời trong cuộc  
về những rào cản mà họ đang gặp phải. Cần xóa bỏ định kiến của bản thân và phải  
biết hƣớng đến một xã hội tƣ do, bình đẳng nơi mà những ngƣời đồng tính đƣợc  
đối xử công bằng.  
Gia đình: Cần có kiến thức đúng về ngƣời đồng tính, song tính và chuyển giới  
nhƣ là các thể hiện xu hƣớng tình dục và tình dục đa dạng của con ngƣời. Tham gia  
các buổi tuyên truyền, các chƣơng trình về vấn đề khuynh hƣớng tình dục và bảng  
dạng giới. Tham gia các buổi tƣ vấn nhằm giúp giải tỏa các thắc mắc về ngƣời đồng  
tính. Thành lập các nhóm tƣơng trợ cho các gia đình có con em là ngƣời đồng tính.  
Vận động cho việc xây dựng bộ luật về ngƣời đồng tính. Từ đó nâng cao kiến thức  
ngƣời đồng tính cho gia đình và cũng giúp gia đình có các nhìn đúng hơn về ngƣời  
đồng tính nhằm để giáo dục con em mình cũng có cái nhìn đúng về vấn đề này.  
Nhà trƣờng: Cần có các mô hình tƣ vấn cho sinh viên về vấn đề đồng tính  
nhằm đƣa ra những hỗ trợ và giáo dục kịp thời khi sinh viên có nhận thức không  
đúng về ngƣời đồng tính. Thực hiện lấy ý kiến, thắc mắc của sinh viên để xây dựng  
các chƣơng trình, chuyên đề phù hợp. Đội ngũ thầy cô cần đƣợc cập nhật kiến thức  
về cộng đồng ngƣời đồng tính hoặc ngay cả khi chƣa hiểu rõ về ngƣời đồng tính,  
cũng không áp đặt sự định kiến hay những thái độ tiêu cực, kỳ thị, phân biệt đối xử  
với ngƣời đồng tính lên sinh viên.  
Xã hội: Cần có các buổi truyền thông cho toàn xã hội về sự đa dạng tính dục  
nhằm thay đổi nhận thức của xã hội đối với ngƣời đồng tính. Thực hiện các hoạt  
động làm giảm kỳ thị liên quan đến ngƣời đồng tính, đặc biệt là với các gia đình của  
ngƣời đồng tính. Cần xây dựng luật bảo vệ cộng đồng ngƣời đồng tính, truyền  
thông, và xây dựng cộng đồng ngƣời đồng tính,tổ chức các hỗ trợ nhƣ: trợ giúp  
pháp lý, tham vấn pháp lý hoặc phòng chống bạo lực cho cộng đồng ngƣời đồng  
tính là điều cần thiết. Phối hợp với nhà trƣờng để đƣa nội dung đa dạng tính dục vào  
trƣờng học cũng nhƣ các chƣơng trình ngoại khóa cho học sinh, sinh viên tham gia.  
83  
Nhóm nghiên cứu hy vọng báo cáo đánh giá này sẽ gợi mở các hƣớng nghiên  
cứu thực tiễn về chủ đề đồng tính của sinh viên cũng nhƣ những ai mong muốn thực  
hiện nghiên cứu khoa học trong thời gian sắp tới.  
4. Kết luận  
Qua việc phân tích các số liệu khảo sát, ta thấy rằng việc hiểu biết về khái  
niệm ngƣời đồng tính trong sinh viên còn nhiều hạn chế và còn có một bộ phận  
không nhỏ sinh viên không biết rõ về khái niệm ngƣời đồng tính mà họ hay dùng  
trong đời thƣờng. Do cách hiểu sai về ngƣời đồng tính đã dẫn đến việc sinh viên  
cũng có những nhận thức sai về nguyên nhân dẫn đến đồng tính và những suy nghĩ  
tiêu cực và thái độ kỳ thị cũng làm ảnh hƣởng nặng nề đến tâm lý của ngƣời đồng  
tính. Trong mỗi loại đồng tính có một khuynh hƣớng tình dục khác nhau, tuy nhiên  
do thiếu kiến thức về ngƣời đồng tính nên nhiều sinh viên có suy nghĩ sai lệch về  
khuynh hƣớng tính dục của ngƣời đồng tính. Song song với những hạn chế, suy  
nghĩ tiêu cực về ngƣời đồng tính thì vẫn có một số sinh viên có cái nhìn tích cực,  
cũng nhƣ có cách nhìn nhận đúng đắn về con ngƣời của ngƣời đồng tính. Thông qua  
kết quả nghiên cứu trên, từ đó có thể mở rộng về phạm vi và nội dung nghiên cứu  
để tiến tới việc đánh giá sâu hơn nhận thức của sinh viên về ngƣời đồng tính, để đƣa  
ra các giải pháp nhằm tạo cho sinh viên có thể hiểu rõ hơn về ngƣời đồng tính và  
xóa bỏ sự phân biệt đối xử đối ngƣời đồng tính đã tồn tại rất lâu trong xã hội.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Nguyễn Thị Bích Hằng, “ Đồng tính luyến ái trong giới trẻ hiện nay”, Tạp chí  
Khoa học Xã hội Việt Nam, số 5(78), 2014.  
[2]. Nguyễn thị Minh Tâm, “Quyền của ngƣời đồng tính: Lý luận và Thực tiễn”, Hà  
Nội, 2013.  
[3]. Phạm Thị Hoa và Đồng Thị Yến, “Định kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử đối với  
ngƣời đồng tính và chuyển giới ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, số  
5(70-79), 2015  
[5]. Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Đồng tính luyến ái”, Trung tâm biên soạn Tử  
điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1995  
84  
pdf 11 trang baolam 20020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng nhận thức của sinh viên trường Đại học Đồng Tháp về người đồng tính", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_nhan_thuc_cua_sinh_vien_truong_dai_hoc_dong_thap.pdf