Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng di cư việc làm của hộ gia đình tại Việt Nam

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ NĂNG DI CƯ VIỆC LÀM  
CỦA HỘ GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM  
DETERMINANTS OF THE MIGRATION FOR EMPLOYEMENT  
AMONG FAMILIES IN VIETNAM  
NCS. Nguyễn Thị Phương Thảo  
ThS. Nguyễn Ngọc Nam  
ThS. Nguyễn Thị Thúy Đạt  
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế  
Tóm tắt  
Từ khóa: Di cư việc làm, Đặc trưng nhân khẩu  
Abstract  
Migration is an element of the development, especially in deveping countries. A  
number of researches confirmed that the major reason why people want to move from one  
place to another might be economic and this type of migration mainly is for employment.  
In Vietnam, since Doi Moi, along with the fast economic growing the migration has been  
increasing and has only a great contribution to the development but also brings more  
challenges for the society. This study uses Logit regression method for the panel data of  
VHLSS in order to estimate the migration probability of the household. The result shows  
that demographic characteristics of the head of a household (gender, age, marital status),  
household characteristics (family size, average years of schooling, dependency ratio,  
living place) and economic situation (per capita income, debt, especially remittance)  
impact significantly the migration trend. It is suggested that it is necessary to collect a  
complete and accurate data about the migration, to manage the free migration well and to  
have a proper policies for people left behind a migration as well as create more jobs for  
people in their hometown.  
Keywords: Migration for employment, Demographic characteristics  
822  
1. Giới thiệu  
Cũng giống như nhiều quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam trong quá trình phát  
triển kinh tế hơn 30 năm qua đã chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của làn sóng di cư  
(trong nước và ra nước ngoài) mạnh mẽ. Trong bốn xu hướng di cư nội địa bao gồm nông  
thôn - thành thị; nông thôn - nông thôn, thành thị - thành thị và thành thị - nông thôn thì  
chiều hướng di cư từ nông thôn thành thị là chủ yếu và nguyên nhân chính khiến người dân  
di cư là vì việc làm.  
Di cư lao động đặc biệt là di cư trong nước là hiện tượng phổ biến ở hầu hết các quốc  
gia đang phát triển. Theo số liệu công bố trong một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (World  
Bank, 2016), trong khi thế giới có khoảng 250 triệu người di cư quốc tế thì số người di cư nội  
địa cao gấp ba lần với 763 triệu người. Di cư vừa là động lực thúc đẩy, vừa là kết quả của sự  
phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Ở Việt Nam, quá trình phát triển kinh tế xã hội đã  
tạo điều kiện thuận lợi cho người di cư (đặc biệt là di cư trong nước) di chuyển tới các nơi khác  
để sinh sống, làm việc, và sự khác biệt về điều kiện sống giữa các vùng cũng là động lực khiến  
người dân di cư. Theo kết quả nghiên cứu từ Điều tra di cư nội địa quốc gia 2015 do Tổng cục  
thống kê tiến hành (2016) cho thấy, cả nước có trên 12 triệu người di cư, tương đương 13,6%  
dân số và trong 4 nhóm lý do chính, nhóm lý do liên quan đến công việc/kinh tế chiếm tỷ lệ  
cao nhất với 34,7%. Di cư đã góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội thông qua quá trình  
dịch chuyển lao động nhằm đáp ứng nhu cầu lao động trong các khu công nghiệp và trong các  
khu vực có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Di cư không chỉ góp phần tăng phúc lợi và an  
sinh cho người di cư thông qua việc tạo thu nhập cao và đa dạng hóa các nguồn thu nhập, mà  
nó còn mang lại lợi ích cho các hộ gia đình và cộng đồng có người di cư thông qua việc nhận  
được các khoản tiền gửi về quê hương của người di cư. Di cư được đánh giá là một phương kế  
có thể đóng góp nhiều hơn cho sự tăng trưởng kinh tế cả ở cấp quốc gia và hộ gia đình và có  
thể thúc đẩy mối quan hệ giữa nơi đi và nơi đến từ đó góp phần làm giảm sự khác biệt giữa các  
vùng. Bài viết này được thực hiện nhằm đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “Yếu tố nào thúc đẩy hộ  
gia đình tại Việt Nam gửi thành viên di cư làm việc?”. Điều mà rất ít các nghiên cứu thực hiện  
cho tới thời điểm này tại Việt Nam.  
2. Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Khái niệm di cư  
Từ “migration”, có nguồn gốc từ tiếng Latin “migrate”, có nghĩa là thay đổi một nơi cư  
trú. Encyclopaedia Americana định nghĩa thuật ngữ này là một sự di chuyển tự nguyện của  
một số lượng đáng kể những người từ một môi trường quen thuộc đến một môi trường mới.  
Bách khoa toàn thư về khoa học xã hội đã định nghĩa nó là sự di chuyển tương đối lâu dài của  
những người ở một khoảng cách đáng kể. Trong bách khoa toàn thư về dân số quốc tế, 'di cư'  
được định nghĩa là sự di chuyển theo địa lý liên quan đến sự thay đổi nơi cư trú thông thường  
giữa các khu vực chính trị hoặc thống kê được xác định hoặc giữa các khu vực cư trú khác  
nhau (Trích trong tài liệu “Chapter 2: Approaches and theories of migration”)  
Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM, 2018) xác định một người di cư là bất kỳ người nào  
đang di chuyển hoặc đã di chuyển qua biên giới quốc tế hoặc trong một quốc gia cách xa  
nơi cư trú thường xuyên của họ, bất kể (1) người có tư cách pháp nhân hay không; (2) di  
823  
cư là tự nguyện hay không tự nguyện; (3) nguyên nhân của di cư là gì; hoặc (4) thời gian  
lưu trú là bao nhiêu.  
Trong khi đó, theo Ngân hàng thế giới (2016) “Người di cư nội địa là những người  
đã di chuyển qua các ranh giới hành chính trong phạm vi biên giới một quốc gia”. Liên  
Hợp Quốc cung cấp một hướng dẫn cho việc đo lường di cư nội địa trong đó xác định di cư  
nội địa là sự dịch chuyển từ một khu vực xác định sang khu vực khác được thực hiện trong  
một khoảng thời gian nhất định và liên quan đến việc thay đổi nơi cư trú (UN, 1970: 2).  
Măt khác, dựa vào các cuộc khảo sát dân số, khảo sát di cư, khảo sát hộ gia đình mà đinh  
nghĩa về di cư, người di cư cũng khác nhau.  
Như vậy, di cư thường được xác định là sự dịch chuyển của cá nhân ra khỏi vùng sinh  
sống trong một khoảng thời gian nhất định. Hay nói cách khác, các nghiên cứu khi xác định  
người di cư thường dựa vào thời gian và không gian di chuyển cũng như mức độ sẵn có của dữ  
liệu. Khoảng thời gian di chuyển được các nghiên cứu sử dụng là từ 1 tháng trở lên. Các lý do di  
chuyển thường được xác định là để tìm kiếm việc làm/học tập/lý do khác (kết hôn, tách hộ,...).  
Đối với nước ta thì người di cư là người thay đổi nơi cư trú từ đơn vị hành chính này  
sang đơn vị hành chính khác trong khoảng thời gian xác định. Hiện nay các nhà quản lý và  
nghiên cứu cũng đã có sự thống nhất rằng những người di chuyển ra khỏi địa bàn với thời  
gian 6 tháng trở lên gọi là di cư (Theo Phạm Tấn Nhật và Huỳnh Hiền Hải, 2014)  
2.2. Tổng quan nghiên cứu  
Ravenstein (1885) là người đặt nền móng cho nghiên cứu các lý thuyết về di cư trong  
cuốn “Laws of migration” khi sử dụng dữ liệu điều tra tại Anh và xứ Wales. Ông cho rằng di  
cư được kết nối chặt chẽ với các yếu tố "đẩy - kéo" (push - pull). Yếu tố đẩy như tiền lương  
thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao, thiếu các yếu tố chăm sóc sức khỏe và yếu tố kéo như: lương cao,  
thất nghiệp thấp khiến mọi người phải rời bỏ nơi cư trú. Nói cách khác, nguyên nhân chính  
để di cư là cơ hội kinh tế bên ngoài tốt hơn. Ông chỉ rằng, di cư không những có mối liên  
quan với “qui mô, mật độ dân số” mà còn ở “khoảng cách di chuyển”. Ravenstein cũng phát  
hiện rằng, người dân di cư thường có xu hướng dịch chuyển đến các đô thị, người dân nông  
thôn di cư nhiều hơn người dân thành thị, phụ nữ di cư nhiều hơn nam giới, nam giới thường  
di cư xa hơn và hầu hết người di cư là người trưởng thành. Hơn nữa, di cư tăng lên cùng với  
sự phát triển kinh tế. Chính sự phát triển của thương mại, công nghiệp và sự cải thiện điều  
kiện giao thông làm gia tăng người di cư. Đồng thời, ông cũng nhận thấy rằng, các thị trấn  
lớn phát triển do di cư nhiều hơn là do tăng trưởng tự nhiên và mục đích chủ yếu của di cư là  
do các yếu tố kinh tế. Đây là lý thuyết nền tảng cho các lý thuyết sau này như: Lý thuyết  
kinh tế tân cổ điển, Lý thuyết kinh tế mới của người di cư, Lý thuyết thị trường lao động kép,  
Lý thuyết lịch sử - cấu trúc và Lý thuyết hệ thống thế giới. Lý thuyết vốn xã hội là một mô  
hình lý thuyết giải thích sự vĩnh cửu của di chuyển quốc tế.  
Các nghiên cứu sau này kế thừa những nội dung của Ravenstein xác định các nhân tố  
thúc đẩy di cư. Theo đó, nhân tố đẩy liên quan tới nơi đi (nơi xuất cư) của người di cư. Yếu tố  
này bao gồm tiền lương thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao, thiếu các yếu tố chăm sóc sức khỏe tại nơi  
đi, yếu tố chính trị (xung đột chính trị, sắc tộc, quốc gia), kinh tế, văn hóa (Lee, 1966), năng  
suất lao động thấp và tình trạng dư thừa lao động trong khu vực nông nghiệp (Lee 1966, Lewis  
824  
1954). Ngoài ra, do áp lực nợ nần của gia đình, hệ thống giáo dục và y tế nghèo nàn hay nói  
cách khác điều kiện sống tại nơi đi kém phát triển cũng như mong muốn đoàn tụ gia đình cũng  
là một trong những nhân tố “đẩy” người dân di cư (Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm  
2011, Luu và cộng sự 2017). Theo Ngân hàng thế giới 2014, Luu c và cộng sự 2017, mong  
muốn rời khỏi khu vực nông nghiệp và rời bỏ quê hương cùng với những thách thức của điều  
kiện sống và sản xuất dưới tác động của thảm họa thiên nhiên (Lee 1966 gọi là lực đẩy tiềm  
năng từ hiểm họa thiên nhiên) cũng là một lực đẩy của di cư. Trong khi đó các nhân tố kéo  
thường liên quan tới nơi đến của người di cư bao gồm sự chênh lệch mức lương kì vọng giữa  
khu vực nông thôn và thành thị (Harris và Todaro, 1970), cơ hội việc làm, chênh lệch mức  
sống và điều kiện sống, lối sống đô thị (mong ước được trở thành công dân đô thị, và thành  
phố hấp dẫn người di cư đặc biệt là người di cư trẻ tuổi ) (Lee 1966, Luu và cộng sự 2017),  
quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa (Lewis 1954); mạng lưới xã hội của người di cư (Đặng  
Nguyên Anh 1998); khả năng dễ dàng đăng kí hộ khẩu (Luu và cộng sự 2017).  
Lý thuyết thị trường lao động kép (Đại diện là Oberg 1997 trích trong Đoàn Minh  
Huấn và Nguyễn Đức Hùng 2016) cho rằng, hoạt động di cư chủ yếu do yếu tố "kéo" ở các  
nước phát triển hơn là yếu tố “đẩy” từ các nước đang phát triển. Lý thuyết này giả định rằng  
các thị trường lao động tại các quốc gia phát triển bao gồm hai giai đoạn: sơ cấp (đòi hỏi lao  
động có tay nghề cao) và thứ cấp (đòi hỏi người lao động có tay nghề thấp). Lý thuyết này giả  
định di cư từ các nước kém phát triển vào các nước đang phát triển hơn là một kết quả của một  
lực "kéo" được tạo ra bởi một nhu cầu cho lao động ở các nước phát triển trong thị trường thứ  
cấp của họ. Lao động nhập cư là cần thiết để điền vào bậc thấp nhất của thị trường lao động  
bởi vì người lao động bản địa không muốn làm những công việc trong thị trường thứ cấp. Điều  
này tạo ra một nhu cầu cho người lao động di cư. Hơn nữa, sự thiếu hụt ban đầu trong lao động  
sẵn có đẩy tiền lương tăng lên, làm cho di chuyển thậm chí còn hấp dẫn hơn.  
Lý thuyết kinh tế mới về di cư lao động do Stark là người khởi xướng (NELM - New  
Economics of Labor Migration) cho rằng quyết định di cư phụ thuộc vào đặc điểm của cả người di  
cư và gia đình của họ (Stark và Bloom, 1985; Stark và Taylor, 1991 trích trong Coxhead và cộng  
sự 2015). Theo đó, lý thuyết này cho rằng, di cư tại các nước đang phát triển của các hộ gia đình  
như một chiến lược nhằm đa dạng hóa (thay vì tối đa hóa) thu nhập thông qua phân tán rủi ro. Di  
cư chịu tác động của các yếu tố cá nhân như độ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân cũng  
như các điều kiện kinh tế của hộ. Các điều kiện và đặc điểm cộng nơi đi và nơi đến cũng được coi  
là những yếu tố quan trọng tác động lực lượng 'đẩy' và 'kéo' đối với người di cư (Mayda, 2007;  
Kim và Cohen, 2010; Ackah và Medvedev 2012 trích trong Coxhead và cộng sự 2015).  
Tuy nhiên, Lee (1966), Waddington and Sabates-Wheeler (2003), cũng chỉ ra yếu  
tố trung gian chính là các rào cản khiến người dân muốn di cư nhưng không thể di cư như  
chi phí di chuyển (di cư không thực sự sẵn có cho người nghèo đặc biệt là người nghèo  
kinh niên và nghèo trầm trọng), sự chia cắt về tình cảm người thân/bạn bè/láng giềng và  
“các yếu tố cá nhân” như tuổi tác, giới tính, tình trạng hôn nhân, số con cái. Mỗi người đều  
có những hoàn cảnh sống và nhận thức khác nhau, dẫn đến thái độ khác nhau đối với  
những quyết định chuyển cư. Khả năng chấp nhận di cư như một chiến lược sinh kế bị ảnh  
hưởng bởi mức độ hòa nhập/loại trừ xã hội, được phản ánh trong việc tiếp cận và kiểm soát  
các tài nguyên. Điều này cũng góp phần giải thích tại sao trong cùng một hoàn cảnh và  
825  
điều kiện sống như nhau, có người di cư nhưng có người lựa chọn ở lại.  
Như vậy các lý thuyết về di cư tập trung lý giải lý do vì sao người dân di cư (trong  
nước hoặc quốc tế) cũng như chỉ ra đặc điểm của người di cư. Các nghiên cứu cũng thống  
nhất rằng, lý do chủ yếu dẫn đến hiện tượng di cư là vì kinh tế (là một chuyến lược đa dạng  
hóa thu nhập của hộ) và tình trạng di cư phụ thuộc vào các đặc điểm của chủ hộ cũng như  
đặc điểm của hộ. Đây cũng là những yếu tố tác động đến quyết định di cư của cá nhân  
trong hộ được sử dụng cho mô hình nghiên cứu của bài viết này.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu bảng từ bộ số liệuKhảo sát mức sống (VHLSS)  
2014 và 2016 do Tổng cục thống kê tiến hành. Phương pháp phân tích được sử dụng cho  
bài viết này là hồi quy Logistic (hay còn gọi là hồi quy Logit).Phân tích hồi qui logistic là  
một kỹ thuật thống kê để xem xét mối liên hệ giữa biến độc lập (biến số hoặc biến phân  
loại) với biến phụ thuộc là biến nhị phân. Trong hồi qui tuyến tính đơn, các biến kiểm soát  
Xi và phụ thuộc Y là biến số liên tục liên hệ qua phương trình:  
Y = + Xi + (1)  
Với Xi là các biến kiểm soát  
Trong hồi qui logistic, biến phụ thuộc Y là biến nhị phân với hai trạng thái 1 (ví dụ  
hộ di cư) và 0 (hộ không di cư). Muốn đổi ra biến số liên tục người ta tính xác suất của 2 trạng  
thái này. Khi đó phương trình (1) trở thành:  
Pr(Yi)= Pr(Yi|Xi)=α+βXi + +ui (2)  
Nếu gọi p là xác suất để một hộ có ít nhất 1 thành viên di cư ( 0 p 1), thì 1-p là  
xác suất một hộ không di cư. Ta có:  
p
eX  
i
1p  
eX  
i
p   
1eX  
i
(3)  
p
eX  
i
Khi đó: odds (p) =  
1p  
(4)  
Lấy loga (tự nhiên của (20) ta có kết quả như sau:  
log (p/1-p) = log(odds) = + Xi+ (5)  
Phương trình (5) phát biểu rằng log của tỷ số odds là một hàm tuyến tính của các  
biến số cũng như các biến xác suất. Như vậy, mô hình logit giả định rằng log của tỷ số  
odds có quan hệ tuyến tính với Xi.  
OR = egọi là odds ratio (tỷ số odds) tạm dịch là tỷ số khả năng hay tỷ số khả dĩ.  
Phương pháp để tính các hệ số trong mô hình (5) là phương pháp hợp lí cực đại MLE -  
Maximum likelihood Estimation).  
826  
Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này được rút ra từ Khảo sát mức sống dân  
cư Việt Nam (VHLSS - Vietnam Household Living Standards Survey) gọi tắt là Khảo sát  
mức sống (KSMS) 2014 và 2016 do Tổng cục Thống kê tiến hành (TCTK). KSMS là một  
cuộc khảo sát theo lát cắt ngang đại diện cho người dân Việt Nam. VHLSS 2014 và 2016  
được triển khai trên phạm vi 63 tỉnh/thành phố bao phủ 9399 hộ đại diện cho quốc gia, khu  
vực (thành thị/nông thôn), vùng. Dưới sự hỗ trợ về mặt kĩ thuật của Ngân hàng thế giới, bộ  
dữ liệu này được đánh giá là cuộc điều tra được thiết kế tốt, theo chuẩn quốc tế, có độ tin cậy  
cao và dữ liệu mang tính đại diện cho cả nước, vùng, khu vực và địa phương với hai cấp độ  
mẫu là cấp hộ và cấp xã. Cuộc khảo sát bao phủ cả thông tin về cấp xã gồm thông tin chung về  
điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng cũng như thông tin ở cấp hộ gồm thông tin nhân  
khẩu, việc làm, giáo dục, sức khỏe, sở hữu tài sản, tiền gửi, chi tiêu và thu nhập.  
Để xác định một hộ có thành viên di cư cần có tiêu chí về thời gian di chuyển, mục  
đích di chuyển và nơi đến của người di cư (nếu có). Tuy nhiên, trong VHLSS không có  
thông tin về nơi đến của người di cư vì vậy chỉ căn cứ vào hai tiêu chí còn lại để xác định  
hộ di cư. Trong VHLSS 2014 và 2016 không có câu hỏi rõ ràng về di cư nhưng có thông tin về  
thời gian ở trong hộ. Có rất nhiều lý do cho sự di chuyển của các thành viên hộ như di chuyển để  
làm việc, học tập, kết hôn, tách hộ, chuyển đến/đi theo gia đình, mới sinh và các nguyên nhân  
khác. Để phù hợp hơn với mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu chỉ sử dụng lý do di chuyển vì  
mục đích làm việc. Thông tin này được trích xuất từ câu 10 mục 1A trong bộ dữ liệu Khảo  
sát mức sống từng năm (2014 và 2016) dành cho chủ hộ đi làm ăn xa và câu 4 mục 1B cho  
các thành viên khác của hộ đi làm ăn xa. Thời gian một thành viên được coi là di cư khi  
thành viên đó không ở trong hộ trên 6 tháng để làm kinh tế cho hộ. Trong nghiên cứu này,  
hộ di cư được xác định là hộ có ít nhất một thành viên không ở trong hộ trên 6 tháng với  
mục đích di chuyển là vì việc làm.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Dữ liệu và thống kê mô tả  
Bảng sau đây sẽ cho thấy số hộ theo từng loại hình di cư được thu thập từ bộ dữ  
liệu Khảo sát mức sống (KSMS) 2014 và 2016 và số liệu sau khi ghép hai bộ dữ liệu với  
nhau. Với dữ liệu ghép nối từ hai bộ dữ liệu, có 3587 hộ có thông tin ở cả hai cuộc khảo  
sát. Trong phân tích, nghiên cứu sử dụng dữ liệu mảng được ghép nối từ hai bộ dữ liệu  
KSMS 2014 và 2016. Sau khi ghép hai bộ dữ liệu với nhau, tổng số quan sát có được là  
7174 với số liệu cho từng nhóm hộ được thể hiện như trong bảng 1.  
Bảng 1: Quy mô hộ trong dữ liệu khảo sát  
Tình trạng di cư  
Năm 2014  
Năm 2016  
Dữ liệu mảng (Panel data)  
Số hộ Tỷ lệ (%) Số hộ Tỷ lệ (%) Tổng  
Năm  
2014  
377  
Năm  
2016  
399  
1002  
8397  
9399  
10,66  
89,34  
100  
989  
9410  
9399  
10,52  
89,48  
100  
776  
6398  
7174  
Di cư  
3210  
3587  
3188  
3587  
Không di cư  
Tổng số  
(Nguồn: Tác giả tính toán từ bộ dữ liệu VHLSS 2014 và 2016)  
827  
Hạn chế của bộ dữ liệu này khi sử dụng thông tin liên quan đến người di cư đó là  
chỉ có các thông tin liên quan đến nơi người di cư đi (nơi xuất cư) (các thông tin về đặc  
trưng nhân khẩu của chủ hộ và các thành viên trong hộ cũng như điều kiện sống của hộ tại  
nơi xuất cư) mà không có thông tin liên quan đến nơi thành viên hộ di cư đến (nơi nhận  
cư). Đồng thời, đơn vị phân tích trong điều tra mức sống là “hộ gia đình” do bộ số liệu  
không thể hiện đầy đủ thông tin cá nhân theo từng thành viên trong hộ.  
Thông tin về sự di chuyển của 3587 hộ có thông tin ở cả hai cuộc khảo sát cho thấy  
có 5,55% số hộ không có thành viên nào di chuyển trong năm 2014 nhưng lại có thông tin  
về thành viên di chuyển trong năm 2016. Trong khi đó một tỷ lệ thấp hơn (4,93%) số hộ  
gia đình có thành viên di chuyển trong năm 2014 nhưng không có bất kì thành viên nào di  
chuyển trong năm 2016. Tỷ lệ hộ có ít nhất một thành viên di chuyển ở cả hai cuộc khảo sát  
với gần 6% (chi tiết xem ở bảng 2 dưới đây)  
Bảng 2: Thông tin di chuyển của hộ qua hai cuộc khảo sát  
Thông tin di chuyển  
Số hộ  
3.011  
Tỷ lệ  
83,94  
Không di chuyển  
Không di chuyển năm 2014, có di chuyển năm 2016  
Di chuyển năm 2014, không di chuyển năm 2016  
Di chuyển ở cả hai cuộc KS  
Tổng  
199  
177  
5,55  
4,93  
5,58  
100  
200  
3.587  
(Nguồn: Tác giả tính toán từ bộ dữ liệu VHLSS 2014 và 2016)  
3.2. Đặc trưng nhân khẩu của mẫu khảo sát  
Bảng 3: Thống kê mô tả cho hộ di cư và không di cư  
Đặc điểm  
Kí  
ĐVT  
Hộ  
Hộ di Sai số  
Chênh  
hiệu  
KDC  
cư  
chuẩn  
lệch  
(1)  
(2)  
(4)  
(5)  
(6)  
(7)=(4)-  
(5)  
(3)  
Chủ hộ là nam giới  
Chủ hộ là người DTTS  
Độ tuổi của chủ hộ  
X1  
X2  
X3  
%
%
76,3  
18  
78,6  
9,5  
0,016  
0,014  
0,52  
-2,4  
8,5***  
-1,212*  
Tuổi  
51,23  
52,44  
Tuổi  
bình  
phươn  
g
Độ tuổi bình phương của chủ  
hộ  
X4  
2817,8 2858,33 57,18  
-40,53  
Chủ hộ đang có vợ/chồng  
X5  
X6  
%
81,1  
24,3  
86,3  
21,3  
0,015  
0,016  
-5,3***  
3,1  
Chủ hộ chưa hoàn thành cấp  
học nào  
%
828  
Chủ hộ hoàn thành bậc tiểu  
học  
X7  
X8  
%
%
%
%
25,6  
28,6  
14,1  
25,4  
36  
0,017  
0,017  
0,013  
0,010  
0,2  
-7,3***  
-0,1  
Chủ hộ hoàn thành bậc  
THCS  
Chủ hộ hoàn thành bậc  
THPT  
X9  
14,2  
Chủ hộ hoàn thành bậc trên  
THPT  
X10  
7,3  
3,2  
4,1***  
Quy mô hộ  
X11 Người  
3,871  
7,041  
3,394  
6,912  
0,056 0,477***  
0,122 0,129  
0,025 -0,129***  
Số năm đi học trung bình  
của các thành viên hộ  
X12  
Năm  
TNBQ đầu người (log)  
X13  
X14  
7,613  
43,8  
7,742  
37,2  
Tỷ lệ thành viên hộ <15 tuổi  
%
%
0,019  
0,016  
6,6**  
-1,5  
Tỷ lệ TV hộ từ 60 tuổi trở  
lên  
X15  
X16  
X17  
19,6  
21,9  
30,6  
21,1  
64  
Hộ nhận được tiền gửi từ  
trong nước  
%
%
0,016  
0,018  
-42,1***  
-7,2***  
Hộ có các khoản vay chưa  
trả  
37,8  
Tỷ lệ thành viên hộ hoạt  
động trong lĩnh vực nông -  
lâm-thủy sản  
X18  
%
37,7  
47,3  
0,013  
-9,5***  
Tỷ lệ chi tiêu phi lương  
thực/thực phẩm của hộ  
X19  
X20  
%
%
40,6  
19,8  
40,9  
22,4  
0,009  
0,015  
-0,3  
-2,7  
Hộ sống ở Đồng bằng sông  
Hồng  
Hộ sống ở vùng Đông Bắc  
Bộ  
X21  
X22  
X23  
%
%
%
16,5  
5,2  
16,9  
1,8  
0,014  
0,008  
0,012  
-0,4  
Hộ sống ở vùng Tây Bắc  
3,4***  
-5,5***  
Hộ sống ở vùng Bắc Trung  
Bộ  
9,7  
15,2  
Hộ sống ở vùng Nam Trung  
Bộ  
X24  
%
%
%
%
9,8  
7,6  
9
0,011  
0,01  
0,8  
Hộ sống ở vùng Tây Nguyên X25  
3,4  
7,2  
24,1  
4,2***  
7***  
Hộ sống ở vùng Đông Nam  
Bộ  
X26  
14,2  
17,2  
0,013  
0,015  
Hộ sống ở vùng ĐBSCL  
X27  
- 6,9***  
829  
Hộ ở vùng thành thị  
X28  
%
29,7  
18,8  
0,017  
10,9***  
Số quan sát  
6398  
776  
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ bộ dữ liệu VHLSS 2014, 2016)  
Ghi chú: ***, **, *: Có ý nghĩa thống kê tương ứng ở mức 1*, 5%, 10%  
DTTS - Dân tộc thiểu số; ĐBSCL- Đồng bằng sông Cửu Long  
Kết quả thống kê mô tả ở bảng 3 cho thấy một số đặc trưng nhân khẩu của chủ hộ và của  
hộ trong mẫu khảo sát. Theo đó, chủ hộ đa phần là nam giới và chủ yếu là người Kinh/Hoa và  
hiện đang trong tình trạng hôn nhân là có vợ/chồng. Thêm vào đó, các tỷ lệ này ở hộ di cư cao  
hơn hộ KDC. Về độ tuổi trung bình của chủ hộ cũng bắt gặp xu hướng tương tự khi so sánh  
giữa hộ di cư và không di cư. Về trình độ học vấn của chủ hộ cho thấy, có sự khác biệt đáng kể  
ở chủ hộ di cư và không di cư ở bậc THCS. Theo đó, chủ hộ di cư có tỷ lệ hoàn thành bậc THCS  
vượt trội so với chủ hộ không di cư. Tuy nhiên ở bậc trên THPT, tỷ lệ hộ hoàn thành bậc học này  
ở hộ không di cư lại cao hơn so với hộ di cư. Đồng thời, số năm đi học trung bình của các thành  
viên hộ (kể cả chủ hộ) ở hộ không di cư cao hơn so với hộ di cư. Điều này được giải thích một  
phần là do tác động của cơ cấu tuổi trẻ hơn của nhóm di cư so với nhóm không di cư. Trong thực  
tế nhiều người trẻ đã di cư tới thành thị nơi có nhiều cơ sở đào tạo để tiếp tục học ở các bậc học  
cao hơn. Còn các bậc học khác không có sự khác biệt nào đáng kể. Mặt khác, quy mô hộ ở nhóm  
hộ không di cư cao hơn so với hộ di cư. Những kết quả này tương tự như các nghiên cứu trước  
đã chỉ ra. .  
Về thu nhập bình quân đầu người chứng kiến sự vượt trội ở nhóm hộ di cư. Kết quả  
khảo sát cho thấy, chỉ có 1,55% hộ nghèo theo chuẩn nghèo đơn chiều và 4,13% hộ nghèo  
theo chuẩn nghèo chi tiêu có thành viên di cư. Điều này cho thấy, di cư không dành cho  
những hộ nghèo. Ở hộ di cư cũng chứng kiến tỷ lệ thấp hơn đáng kể về người phụ thuộc là  
trẻ dưới 15 tuổi nhưng lại cao hơn về người phụ thuộc là người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên)  
so với hộ không di cư. Tỷ lệ trẻ ít hơn ở hộ di cư có thể là do trẻ đã đi theo bố mẹ trong các  
cuộc di cư trong khi người già thì ở lại quê nhà. Đây là một vấn đề xã hội cần được quan  
tâm trong nghiên cứu đánh giá tác động của di cư đối với những người bị bỏ lại sau mỗi  
cuộc di cư. Một đặc điểm khác biệt nữa ở hai nhóm hộ này đó là tỷ lệ thành viên hộ làm  
việc trong các ngành liên quan đến nông - lâm- thủy sản cũng như hộ vẫn còn các khoản vay  
chưa trả hết ở hộ di cư cao hơn so với hộ không di cư. Đây cũng là một phần nguyên nhân thúc đẩy  
thành viên hộ di cư. Sự chuyên môn hóa và ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ trong các  
ngành nông-lâm-thủy sản đã làm cho lao động trong những ngành này dư thừa khiến lao động phải  
di chuyển để tìm kiếm các cơ hội việc làm ở các ngành khác, hoặc học tập để nâng cao trình độ từ  
đó chuyển đổi sang các ngành nghề khác cần lao động hơn.  
Ba vùng tập trung đông dân cư của cả nước đó là Đồng bằng sông Hồng, vùng  
Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Bắc Bộ và Đông Nam Bộ. Trong đó, vùng tập trung hộ  
có người di cư cao nhất lần lượt là Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng,  
Đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Đây cũng là vùng di cư trọng điểm của cả nước. Bên cạnh  
đó, người di cư chủ yếu đến từ các vùng nông thôn đặc biệt là ở nhóm di cư vì việc làm.  
Điều này cho thấy, tình trạng “nông thôn hóa di cư” vẫn còn Những đặc điểm này trong  
mẫu điều tra phản ánh đúng những gì đang xảy ra về hiện trạng di cư tại Việt Nam đã được  
830  
nêu trong các nghiên cứu trước đây.  
3.3 .Các nhân tố của di cư việc làm tại Việt Nam  
Kết quả của ước lượng là tính toán được xác suất một hộ có ít nhất một thành viên  
di cư trong giai đoạn 2014 - 2016 do các yếu tố tác động. Quyết định có bao nhiêu biến để  
đưa vào mô hình nhị phân để tính toán xác suất di cư là một vấn đề được thảo luận rộng rãi  
trong nhiều nghiên cứu. Bryson, Dorsett và Purdon (2002 trích trong Arata, L., & Sckokai,  
P. 2016) cho rằng đưa quá nhiều biến trong mô hình nhị phân là không đáng vì nó có thể  
làm tăng phương sai của công cụ ước tính. Thêm vào đó, theo Rubin và Thomas (1996  
trích trong Arata, L., & Sckokai, P. 2016), công cụ ước tính nên bao gồm tất cả các biến  
ngay cả khi chúng không có ý nghĩa thống kê, ngoại trừ biến có tương quan cao với các  
biến đã có trong mô hình.  
Lý thuyết kinh tế về di cư cho rằng, quyết định di cư phụ thuộc vào đặc trưng nhân  
khẩu của hộ và chủ hộ bao gồm tài sản vật chất và tài sản con người của hộ (theo Stark,  
1991; Mora and Taylor, 1994 trích trong Nguyen và cộng sự, 2009). Vì vậy, các nhân tố  
thuộc về đặc trưng nhân khẩu của hộ và chủ hộ được đưa vào mô hình di cư ở bảng 3 bao  
gồm toàn bộ tập biến là các nhân tố tác động đến khả năng di cư đưa vào nghiên cứu (từ  
X1 đến X26). Các biến đưa vào mô hình ước lượng gồm 2 nhóm yếu tố đặc trưng đó là đặc  
trưng nhân khẩu của chủ hộ (Gồm các biến từ X1 đến X9), cũng như đặc trưng nhân khẩu  
và điều kiện kinh tế của hộ (các biến còn lại).  
Kết quả ước lượng được trình bày trong bảng dưới đây. Trong đó, mô hình 1 là mô hình  
đầy đủ, mô hình 2 là mô hình chỉ với các biến có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, 5% và 10% được rút  
ra từ mô hình 1. Vì vậy mô hình 2 là mô hình được sử dụng để giải thích tác động của các yếu tố  
đến khả năng di cư của hộ.  
Bảng 4: Mô hình hồi quy logit về xác suất di cư của hộ  
Biến giải thích  
Giới tính chủ hộ (Nam=1)  
Dân tộc chủ hộ (Khác=1)  
Độ tuổi của chủ hộ  
Kí hiệu Mô hình 1  
Mô hình 2  
Hệ số  
Hệ số  
Tác động biên  
X1  
X2  
X3  
-0,402**  
(0,164)  
-0,226  
-0,356**  
(0,161)  
-0,029  
(0,170)  
0,275***  
(0,0490)  
0,281***  
(0,0483)  
0,023  
0,000  
-
Độ tuổi bình phương của chủ hộ  
X4  
-0,002***  
(0,000480)  
0,002***  
(0,00047  
7)  
Hôn nhân chủ hộ (Đang có vợ/chồng=1)  
Chủ hộ không có bằng cấp (*)  
X5  
X6  
X7  
1,109***  
(0,216)  
-0,272  
1,136***  
(0,211)  
0,093  
(0,365)  
-0,031  
Chủ hộ hoàn thành bậc tiểu học(*)  
831  
(0,318)  
0,342  
Chủ hộ hoàn thành bậc THCS (*)  
X8  
X9  
(0,288)  
0,220  
Chủ hộ hoàn thành bậc THPT (*)  
(0,279)  
-
Quy mô hộ  
X10  
X11  
-0,411***  
(0,053)  
-0,034  
-0,008  
0,417***  
(0,056)  
-
Số năm đi học trung bình của hộ  
-0,147***  
(0,031)  
0,101***  
(0,019)  
TNBQ đầu người (loga) (1000đ/tháng)  
Tỷ lệ người phụ thuộc là trẻ em (<15 tuổi)  
X12  
X13  
0,582***  
(0,096)  
0,579***  
(0,089)  
0,048  
0,059  
0,616***  
(0,157)  
0,714***  
(0,149)  
Tỷ lệ người phụ thuộc là người già (>=60  
tuổi)  
X14  
-0,320*  
(0,171)  
-0,328*  
(0,173)  
-0,027  
Hộ nhận được tiền gửi từ trong nước  
(Có=1)  
X15  
X16  
X17  
1,725***  
1,720***  
0,141  
0,028  
(0,101)  
0,334***  
(0,106)  
(0,101)  
0,340***  
(0,107)  
Hộ có khoản vay chưa trả (Có=1)  
Tỷ lệ TV hộ hoạt động trong lĩnh vực  
Nông - lâm - Thủy sản  
0,00612  
(0,213)  
0,158  
Tỷ lệ chi tiêu cho các mặt hàng phi lương  
thực - thực phẩm  
X18  
(0,217)  
0,361**  
(0,168)  
0,776  
Hộ sống ở Đông Bắc Bộ (**)  
Hộ sống ở Tây Bắc (**)  
X19  
X20  
X21  
(0,473)  
0,545***  
(0,176)  
Hộ sống ở Bắc Trung Bộ (**)  
0,377**  
(0,153)  
0,031  
Hộ sống ở Nam Trung Bộ (**)  
Hộ sống ở Tây Nguyên (**)  
X22  
X23  
0,151  
(0,180)  
-
-0,466*  
(0,248)  
-0,055  
-0,105  
0,671***  
(0,222)  
-
Hộ sống ở Đông Nam Bộ (**)  
X24  
832  
-1,066***  
1,271***  
(0,207)  
0,204  
(0,174)  
Hộ sống ở ĐBSCL (**)  
Hộ sống ở thành thị  
X25  
X26  
(0,153)  
-
-0,699***  
(0,147)  
-0,059  
0,714***  
(0,127)  
-
Hằng số  
-13,51***  
13,69***  
(1,473)  
(1,353)  
Số quan sát  
7174  
7174  
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ dữ liệu mảng của bộ dữ liệu VHLSS 2014, 2016)  
Chú thích: Giá trị trong ngoặc đơn là sai số chuẩn đã được robust  
***, **, *: Có ý nghĩa thống kê tương ứng ở mức 1*, 5%, 10%  
(*) Chủ hộ hoàn thành bậc trên THPT làm giá trị tham chiếu; (**) Hộ sống ở  
ĐBSH làm giá trị tham chiếu  
Kết quả ước lượng cho thấy, từ mô hình di cư ban đầu có một số biến giải thích ảnh  
hưởng có ý nghĩa thống kê đến khả năng di cư của hộ. Theo đó, độ tuổi chủ hộ, độ tuổi  
bình phương của chủ hộ, chủ hộ đang có vợ/chồng, quy mô hộ, số năm đi học trung bình  
của hộ, thu nhập bình quân đầu người, hộ nhận được tiền gửi từ thành viên hộ đi làm ăn xa  
trong nước, hộ có khoản vay chưa trả, hộ sống ở thành thị và biến vùng là những yếu tố tác  
động đến khả năng hộ gửi thành viên di cư. Cụ thể, tuổi chủ hộ càng tăng thì khả năng hộ  
có thành viên di cư càng tăng (nhưng tăng với tốc độ giảm dần). Thêm vào đó, khả năng di  
cư thường cao hơn ở những hộ có chủ hộ đang có vợ/chồng. Thu nhập bình quân đầu  
người của có tác động thúc đẩy hộ gửi thành viên di cư. Điều này được lý giải một phần do  
hộ di cư thường là hộ có mức thu nhập trung bình trở lên (chiếm khoảng 70% số quan sát).  
Như đã đề cập ở trên, di cư không có sẵn cho những người nghèo vì vậy với những hộ có  
điều kiện kinh tế là hộ có khả năng di cư cao hơn so với những hộ thuộc nhóm nghèo.  
Tiền gửi cũng là một động lực thúc đẩy hộ gửi thành viên di cư. Cần lưu ý rằng tiền  
gửi hộ nhận được từ trong nước như được định nghĩa trong VHLSS bao gồm các khoản  
tiền và hiện vật (được quy đổi thành tiền) được gửi từ các cá nhân trong nước mà các hộ  
gia đình nhận được. Chúng có thể được trao cho các hộ gia đình không chỉ bởi người thân  
mà còn bởi bạn bè, hàng xóm, v.v. Do đó, việc nhận tiền gửi trong nước của một hộ gia  
đình có thể là một chỉ số không chỉ cho người di cư mà còn cho mối quan hệ với các hộ gia  
đình khác. Các hộ gia đình có mạng lưới rộng có thể có xác suất di cư cao hơn. Điều này  
cho thấy, tác động lan tỏa của mạng lưới di cư như phát hiện của Đặng Nguyên Anh (1998).  
Đối với những hộ đang có khoản vay chưa trả thì khả năng di cư ở những hộ này  
cao hơn. Điều này là hợp lý khi mà hộ cần khoản chi phí để trang trải cho các khoản vay  
nợ mà hộ đang nắm giữ. Đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến khả năng di cư của hộ. Khác  
với một số nghiên cứu trước đây được thực hiện bởi Nguyen và cộng sự 2009, kết quả  
trong nghiên cứu này cho thấy, quy mô hộ có tác động tiêu cực đến xu hướng di cư. Điều  
này đã được Tran và cộng sự khẳng định trong bài nghiên cứu được thực hiện 2012, theo  
833  
đó, tác giả cũng đã chỉ ra xu hướng tương tự. Kết quả phân tích chỉ ra rằng, hiện tượng di  
cư thường xảy ra đối với những hộ có dưới 5 thành viên (chiếm khoảng 80%, trong đó có  
hơn một nửa là hộ có quy mô từ 1-3 người), còn lại là ở quy mô hộ lớn hơn. Điều này chứng tỏ  
quy mô hộ càng lớn thì khả năng hộ đó là hộ di cư càng thấp. Điều này một phần là do điều  
kiện kinh tế ở những hộ có nhiều thành viên thường thấp hơn so với những hộ có ít thành viên.  
Với những chi phí cho di chuyển đáng kể chính là rào cản đối với hộ có nhiều thành viên.  
Thêm vào đó, hộ có đông thành viên thường được tìm thấy ở nhóm hộ có thu nhập dưới  
trung bình (theo dữ liệu khảo sát cho thấy quy mô hộ trung bình cho nhóm thu nhập thấp  
nhất là 4.13 người, cho nhóm có thu nhập dưới trung bình là 3.96 người trong phân phối  
thu nhập (như hình 1 dưới đây). Điều này cho thấy, đối với những hộ có đông thành viên  
thì ít có khả năng di cư hơn so với hộ có số thành viên ít hơn. Mặt khác, hộ có thu nhập  
bình quân đầu người càng cao, càng khuyến khích hộ gửi thành viên di cư làm việc. Bằng  
chứng từ cuộc khảo sát cho thấy, có gần 70% số hộ di cư có thu nhập từ trung bình trở lên.  
Thêm vào đó, đa phần những nhà khá giả thường gửi người thân/con cái đi học tại các  
trường đại học/cao đẳng chủ yếu tập trung tại khu vực thành thị. Sau khi học xong những  
người này không trở về quê hương mà ở lại thành phố hoặc di chuyển tới các nơi khác làm  
việc làm gia tăng tỷ lệ di cư ở nhóm hộ này.  
Hình 1: Phân phối quy mô hộ theo phân vị về thu nhập bình quân đầu người  
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ bộ dữ liệu VHLSS 2014, 2016)  
Kết quả trong Bảng 4 cũng cho thấy các hộ gia đình thành thị ít có khả năng di cư  
hơn so với các hộ gia đình nông thôn. Lý giải cho điều này là do người di cư vì việc làm  
được đại diện quá mức trong mẫu và phần lớn các hộ gia đình di cư vì việc làm này nằm ở  
khu vực nông thôn. Ngoại trừ vùng Đông Nam Bộ được coi là vùng nhận cư có đông  
834  
người di cư đến nhất cả nước, các vùng khác xu hướng di cư ngày càng gia tăng, đặc biệt  
là vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và ĐBSCL (tuy nhiên, vùng Tây Bắc,  
Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long không thực sự có ý nghĩa thống kê). Một  
phần do điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, dân cư đông, thiếu việc làm vì vậy người dân  
ở các vùng này có xu hướng di chuyển rất cao ra các vùng khác để tìm kiếm việc làm, cải  
thiện thu nhập cho bản thân và gia đình. Tây Nguyên thường được xem là vùng nhận cư  
khi mà theo số liệu thống kê, giai đoạn 2005 đến 2017, các tỉnh Tây Nguyên có tới 58.846  
hộ di dân tự do với khoảng 220.000 nhân khẩu, cao gấp nhiều lần so với các khu vực còn  
lại trong cả nước. Di dân tự do đã gây nên nhiều hệ lụy nghiêm trọng, đe dọa tới môi  
trường, đói nghèo, an sinh xã hội...cho khu vực Tây Nguyên, mặc dù Chính phủ và các địa  
phương đã có nhiều nỗ lực để khắc phục tình trạng này (trích Báo điện tử Công an nhân  
dân, 2019).  
Một điểm lưu ý từ kết quả ước lượng cho thấy, hộ với chủ hộ là nữ có xu hướng di  
cư cao hơn so với hộ có chủ hộ là nam. Điều này được lý giải một phần là do ở hộ có chủ  
hộ là nữ, trụ cột gia đình không còn (thường là người chồng với nhiều lý do như chồng  
mất, ly hôn, hoặc do chế độ mẫu hệ) khiến họ phải cáng đáng trách nhiệm đối với gia đình,  
và để cải thiện cuộc sống họ bắt buộc phải gửi thành viên hộ di cư hoặc chính họ cũng sẽ là  
người di cư để làm việc.  
Yếu tố tỷ lệ người phụ thuộc tác động rõ rệt đến xu hướng di cư của hộ. Theo đó,  
hộ có tỷ lệ người phụ thuộc là trẻ em (dưới 16 tuổi) càng cao thì khả năng di cư càng tăng  
trong khi, với tỷ lệ người phụ thuộc là người già thì xu hướng di cư càng giảm (vì nhóm  
này cần người chăm sóc). Đối với hộ có người phụ thuộc là trẻ em, hộ có thể để những đối  
tượng này cho bố/mẹ/người thân coi sóc để di cư hoặc có thể đã đi theo bố/mẹ trong các cuộc  
di cư vì vậy khuynh hướng di cư của nhóm này cao hơn. Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả  
năng di cư của các thành viên hộ, yếu tố tiền gửi có tác động khuyến khích hộ di cư mạnh nhất.  
4. Kết luận và hàm ý chính sách  
4.1. Kết luận  
Với những kết quả phân tích ở trên cho thấy, quyết định di cư phụ thuộc nhiều vào  
đặc điểm của chủ hộ cũng như đặc điểm của hộ và nơi sinh sống của hộ. Kết quả phân tích  
còn chỉ ra rằng, di cư chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, vào những hộ có chủ hộ là  
nữ, hộ có các vấn đề về kinh tế (như có khoản vay chưa trả được) đồng thời cho thấy tác  
động lan tỏa của mạng lưới xã hội đến quyết định di cư của hộ thông qua tiền gửi. Tuy  
nhiên, kết quả cũng cho thấy những vấn đề đặt ra như di cư không có sẵn cho hộ nghèo, hộ  
có đông thành viên và làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo ở những nhóm hộ này.  
Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế như chỉ tập trung khai thác các  
đặc điểm của hộ mà chưa kết hợp với các đặc điểm nơi hộ sinh sống (như đặc điểm của xã,  
của tỉnh) cũng như các yếu tố văn hóa. Vì vậy, các nghiên cứu tiếp theo cần bổ sung các  
yếu tố này để nghiên cứu được sâu sắc và đầy đủ hơn các khía cạnh di cư của các hộ gia  
đình tại Việt Nam.  
4.2. Hàm ý chính sách  
835  
Từ thực trạng nêu trên, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:  
Số liệu về di cư tại Việt Nam đang rất hạn chế và mỗi bộ dữ liệu khảo sát lại đưa ra  
một cách định nghĩa khác nhau về di cư gây khó cho quá trình phân tích, đánh giá. Hạn chế  
về các số liệu sẵn có về di cư phản ánh các khó khăn trong việc thu thập thông tin về một  
bộ phận dân số lưu động. Tuy nhiên, những người di cư vì việc làm là những người dễ bị  
bỏ qua trong các cuộc Tổng điều tra dân số và trong các số liệu điều tra khác, chính là  
những người yếu thế, là những người ít được thụ hưởng các chương trình bảo trợ xã hội và  
thường chưa được tính đến nhiều trong các hoạt động xây dựng kế hoạch của quốc gia.  
Cần có đầy đủ các số liệu về di cư để có thể hoạch định các chính sách dựa trên các bằng  
chứng nhằm giải quyết thỏa đáng các nhu cầu còn chưa được đáp ứng của người di cư. Các  
chính sách này cũng cho phép Việt Nam gặt hái được các lợi ích trong phát triển do di cư  
mang lại  
Bên cạnh đó, cần có chính sách quản lý chặt chẽ với nhóm dân di cư tự do đặc biệt  
là ở Vùng Tây Nguyên. Nhóm dân di cư tự do ở vùng này chủ yếu là người yếu thế như  
nhóm người dân tộc thiểu số, người nghèo, thiếu đất sản xuất,.... Vì vậy, cần thiết kế chính  
sách đảm bảo an sinh xã hội cho nhóm người di cư này để “không còn ai bị bỏ lại phía  
sau” trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.  
Hiện tượng “nữ hóa di cư” đang diễn ra mạnh mẽ trong những người di cư tại Việt  
Nam những năm gần đây. Khu vực làm việc chủ yếu của những người này là khu vực “phi  
chính thức” với các công việc nhạy cảm, nặng nhọc, được trả lương không tương xứng  
thậm chí thấp hơn rất nhiều so với “khu vực chính thức” và việc tiếp cận các dịch vụ xã hội rất  
khó khăn. Vì vậy, rất cần sự hỗ trợ từ Chính phủ trong việc thiết kế các chính sách liên quan  
đến các đối tượng này để đảm bảo họ được bảo vệ và dễ dàng hơn trong tiếp cận các dịch vụ  
xã hội tại nơi đến.  
Sau mỗi cuộc di cư, người thân của họ (con cái/ông bà/cha mẹ) bị bỏ lại quê nhà  
gây ra những hệ lụy hết sức phức tạp (ông bà/cha mẹ không được chăm sóc, con cái bỏ bê  
học hành,...). Vì vậy, địa phương nơi có đông người di cư đi cần quan tâm hơn nữa đến  
những đối tượng này nhằm tránh những hệ lụy đằng sau mỗi cuộc di cư. Đồng thời địa  
phương cần có các chính sách tạo thêm nhiều việc làm hơn tại địa phương để thu hút lao  
động ở lại địa phương, tránh áp lực quá tải cho khu vực đô thị nơi tập trung đông người  
dân nhập cư từ nông thôn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Arata, L., & Sckokai, P. (2016), ‘The Impact of Agri-environmental Schemes on Farm  
Performance in Five E.U. Member States: A DID-Matching Approach’, Land  
Economics, 92(1), 167-186. doi:10.3368/le.92.1.167.  
2. Coxhead, I. A.; Nguyen, C. V., and Vu, L. H., (2015), ‘Migration in Vietnam: New  
evidence from recent surveys’, Vietnam development economics discussion paper. No.  
2. World Bank Group, accessed on 20 December 2019. Available from  
3. Báo điện táo điện cuments.wn (21/3/2019), ‘Tây Nguyên “gnts.wn (21/3/2019),  
836  
rated/en/9694114681’, truy cên “gnts.wn (21/3/20 http://cand.com.vn/Phong-su-tu-  
4. Đặng Nguyên Anh (1998), ‘Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư’, Tạp chí xã hội  
học số 2 (62): 16-23  
5. Đoàn Minh Hu hội học số 2 (62): 16-23uá trình di cưg-minh-ganh-dan-di-cu-tu-do-  
537450tu-do-537450" m-recent  
6. Harris, J. R., and Todaro, M. P., (1970), ‘Migration, Unemployment and Development:  
A
Two-Sector Analysis’, accessed on  
9
April 2017. Available from  
7. IOM (2018), ‘Migration and 2030 Agenda: A guider for Practioners’, accessed on 14  
November  
2019  
Available  
from  
8. Lê Bê s://pu và Nguyễn Thanh Liêm (chủ biên) (2011), ‘Tvà Nguyễn Thanh Liêm  
(chủ biên)pdf/sdg_en.pdff/sdg_en.pdf" essed on 14 November 2019 Available  
f22/03/2017  
từ  
9. Lee, E. S., (1966), ‘A Theory of Migration. Population Association of America’,  
Demography. 3(1): 47-57, accesed on 20 July 2019. Available from  
10. Luu, B. N, Luu, T. H., and Ha, T. A., (2017), ‘Internal Migration to the Southeast  
Region of Vietnam: Trend and Motivations’, Journal of Population and Social Studies.  
25(4): 298 - 311  
11. Mark, V., M. và Fleischer, K., (2010), “Di cư trong nư 311 ơ hk, V., M. và Fleischerới  
sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam’, truy cập 20/3/2016 từ  
12. Nguyen, V. C; Marrit, Van den Berg, and Lensink, R., (2009), ‘The Impact of Work  
Migration and Non-Work Migration on Household Welfare, Poverty and Inequality:  
New Evidence from Vietnam’, Economics of Transition. 19(4): 771-79, accessed on 5  
December 2017. Available from  
13. Phạh3Tấn  
Nhật  
và  
Huỳnh  
HiTấn  
Nhật  
và  
Huỳnhontent/  
uploads/2016/06/2009_theImpactOfMigrationOnHouseholdWelfareInVietnamnguyen  
VietCuong.pdfietCuong.pdf" Available fromfro[14] Ranis, G., (2004), ‘Arthur Lewis:  
contribution to development thinking and policy’, The Manchester School. Vol 72 No.  
837  
6
1463-6786: 712-723, ccessed on  
9
April 2019. Available from  
14. Ravenstein, E. G., (1885), ‘The Laws of Migration’, Journal of the Statistical Society  
of London. 48(2): 167-235 Published by: Blackwell Publishing for the Royal  
Statistical Society, accessed on 15 February 2017. Available from  
15. T16] ://cla.umn.ed(2016), ‘Đi.umn.edu/sites/cla.umn.edu/ia 2015: Các kết quả chủ  
yếu’, NXB Thông tấn, Hà N, ‘Đ[17] Tran, T.B., Nguyen, H. C., Nguyen, T. X. M.,  
Ngo, T. P.T, (2012), ‘A propensity score matching analysis on the impact of  
international migration on entrepreneurship in Vietnam’, Journal of the Asia Pacific  
Economy. 17(4): 653-669, accessed on 30 January 2019. Available from  
16. UN (1970), ‘Methods of measuring internal migrantion’ (Manual VI, Chapter 1), accessed on  
15 March 2019. Available from  
17. Waddington, H., and Sabates-Wheeler, R., (2003), ‘How Does Poverty Affect  
Migration Choice? A Review of Literature’, Working Paper T3 Institute of  
Development Studies, Sussex, accessed on 30 May 2016. Available from  
18. [20] World Bank (2016), ‘Migrations and Development: A Role for the World Bank’,  
Report of the World Bank, No.108105, accessed on 5 March 2019. Available from  
19. Chapter 2: Approaches and Theories of Migration (online), truy cập 10/5/2019 từ  
838  
pdf 17 trang baolam 22320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng di cư việc làm của hộ gia đình tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_toi_kha_nang_di_cu_viec_lam_cua_ho_gia.pdf