Tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của cư dân Vạn Đò tại khu tái định cư phường Hương Sơ, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
TIẾP CẬN DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA CƢ DÂN VẠN ĐÒ  
TẠI KHU TÁI ĐỊNH CƢ PHƢỜNG HƢƠNG SƠ, THÀNH PHỐ HUẾ,  
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
Trƣơng Thị Yến  
Khoa Công tác xã hội, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
Ngày nhận bài: 9/11/2018; ngày hoàn thành phản biện: 4/12/2018; ngày duyệt đăng: 02/7/2019  
TÓM TẮT  
Sau bố trí tái định cư, công tác triển khai thực hiện các hoạt động hậu tái định cư  
cho cộng đồng cũng luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm. Tuy nhiên,  
trong thực tế, việc tiếp cận các chính sách xã hội, nhất là các dịch vụ xã hội cơ bản  
của nhóm cư dân tái định cư vẫn còn gặp khó khăn, tồn tại nhiều rào cản trong  
việc tham gia và thụ hưởng các chính sách.  
Bài viết dưới đây sẽ phân tích thực trạng tiếp cận an sinh xã hội của cộng đồng vạn  
đò tái định cư – một trong những nhóm dân cư dễ bị tổn thương tại thành phố  
Huế, về việc sử dụng một số dịch vụ xã hội cơ bản như nhà ở, giáo dục, y tế và  
nước sạch, với mong muốn chỉ ra những bất cập trong việc thực hiện và thụ hưởng  
chính sách. Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm  
tăng tính hiệu quả tiếp cận chính sách và đảm bảo cuộc sống an sinh cho người  
dân tại nơi ở mới.  
Từ khóa: Cư dân vạn đò; Dịch vụ xã hội cơ bản, Tái định cư.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Dịch vụ xã hội cơ bản được xác định là một trong bốn thành tố chính của hệ  
thống an sinh xã hội Việt Nam hiện nay, bên cạnh các trụ cột về Chính sách việc làm,  
đảm bảo thu nhập tối thiểu; Bảo hiểm xã hội và Trợ giúp xã hội. “Tiếp cận dịch vụ xã  
hội cơ bản được coi là những hoạt động đầu tiên và ở tầng thấp nhất trong hệ thống an  
sinh xã hội” [4, tr.24]. Đối với người dân, việc đánh giá chất lượng xã hội chính là  
thông qua mức độ sử dụng các dịch vụ xã hội. Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày  
01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã đề ra mục tiêu “bảo đảm  
mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là người nghèo,  
người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số”*1, tr.2].  
213  
Tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của cư dân vạn đò tại khu tái định cư phường Hương Sơ, thành phố Huế, …  
Cư dân vạn đò tại thành phố Huế là một trong những nhóm dân cư yếu thế.  
Một số nghiên cứu liên quan đến nhóm đối tượng dân cư này của tác giả Nguyễn Xuân  
Hồng (2012) “Cư dân vạn đò của thành phố Huế ở các khu định cư, tái định cư” và Trương  
Thị Yến (2017) “Đánh giá nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu của phụ nữ vạn đò tại khu tái  
định cư Hương Sơ, thành phố Huế” đã cho thấy mức độ dễ bị tổn thương, chịu nhiều  
thiệt thòi trong việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội. Bài viết dưới đây sẽ mô tả  
thực trạng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của cư dân vạn đò tái định cư dựa trên khảo  
sát thực tế của nhóm nghiên cứu thuộc Khoa Công tác xã hội, Trường Đại học Khoa  
học, Đại học Huế, với công cụ khảo sát là bảng hỏi cấu trúc trên dung lượng mẫu  
nghiên cứu 183/543 hộ gia đình tại khu tái định cư Hương Sơ, thành phố Huế. Căn cứ  
vào kết quả khảo sát, chúng tôi phân tích chất lượng thực hiện an sinh xã hội thông  
qua việc tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của nhóm này. Đồng thời, đề xuất một số giải  
pháp nhằm tăng tính hiệu quả tiếp cận an sinh xã hội của cư dân vạn đò nói riêng và  
nhóm di dân nói chung.  
1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CƢ DÂN VẠN ĐÒ TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU  
1.1. Đặc điểm của cƣ dân vạn đò trƣớc khi lên tái định cƣ  
Trong quan niệm của nhiều người Huế trên đất liền, cư dân vạn đò là tầng lớp  
dân cư nghèo khổ, ít học và phức tạp. Nhóm dân cư này vì sự phân biệt đó nên cũng  
thường sống khép kín và thiếu cởi mở trong tiếp xúc đối với dân trên bộ. Do cuộc sống  
lênh đênh nay đây mai đó, ít có chữ nghĩa, nên cư dân thủy diện thường mang những  
nét đặc trưng riêng, phản ánh rất rõ cuộc sống gắn liền với sông nước. Trước khi diễn  
ra những đợt tái định cư, cộng đồng dân cư này mang các đặc điểm:  
Về không gian cư trú: Có không gian cư trú biệt lập so với không gian trên bờ.  
Họ lấy thuyền làm nhà, làm phương tiện sinh hoạt, sản xuất. Mặt tích cực của đặc  
điểm này là sự linh hoạt và khả năng chịu đựng áp lực về môi trường sống và sản xuất,  
nhưng lại tạo ra sự bất ổn và thiếu bền vững trong phát triển.  
Về mặt dân cư: Cơ cấu dân cư phức tạp và đa dạng, không thuần nhất. Tỷ lệ  
sinh đẻ cao, phổ biến gia đình có quy mô lớn, đông con, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù  
chữ, thất học cao, <  
Về kinh tế: Là cộng đồng nghèo cơ sở vật chất, đồ dùng sinh hoạt, phương tiện  
sống cũng như nhu cầu về thông tin và các mối quan hệ xã hội; Không có đất sản xuất,  
đất ở hay các loại khác; Cơ cấu nghề khá đơn giản nhưng lại rất đa dạng, nặng về lao  
động chân tay; Lao động theo mùa vụ, nguồn thu nhập không đủ tích lũy mà chỉ đủ  
chi tiêu hàng ngày.  
Về xã hội: Là cộng đồng chịu sự phân biệt đối xử khắt khe của những người  
trên bộ; có tâm lý tự ti, ngại tiếp xúc, mặc cảm về “kẻ nốc – dân chài”... Các thiết chế  
214  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
văn hóa, các sinh hoạt văn hóa hầu như không có *3, tr.80+.  
1.2. Đặc điểm nhân khẩu, lao động và việc làm của cƣ dân vạn đò tại khu tái định cƣ  
hiện nay  
Về nhân khẩu: Khu tái định cư Hương Sơ hiện có 543 hộ, trong đó số lao động  
ước tính khoảng 1120 người. Quy mô, số lượng nhân khẩu trong mỗi hộ gia đình khá  
đông, được thể hiện qua bảng dưới đây.  
Bảng 1. Tình hình nhân khẩu trong hộ gia đình ở khu Hương Sơ  
Tổ  
Tổng số hộ  
152  
Tổng số khẩu  
12  
13  
16  
862  
1053  
1128  
183  
208  
(Nguồn: Điều tra thực tế, 2017)  
Về lao động: Đa số lao động thuộc cộng đồng cư dân vạn đò có trình độ học  
vấn thấp là thực tế phổ biến tại địa bàn khảo sát, đây cũng chính là rào cản khiến lao  
động tại địa phương khó tiếp cận được cơ hội việc làm tốt. Biểu đồ dưới đây sẽ thể  
hiện phần nào trình độ dân trí của cư dân vạn đò qua việc khảo sát trình độ học vấn  
của các chủ hộ gia đình. Chủ hộ có độ tuổi nhỏ nhất là 22 tuổi và lớn nhất là 81 tuổi.  
51.9  
60  
40  
20  
0
30.1  
15.8  
2.2  
Mù chữ  
Tiểu học  
THCS  
THPT  
Hình 1. Trình độ học vấn của chủ hộ gia đình tại khu Hương Sơ  
(Nguồn: Điều tra thực tế, 2017)  
Điều đáng lưu ý về đặc điểm lao động thuộc cộng đồng này là hầu hết các gia  
đình vạn đò đều để trẻ em tham gia vào hoạt động kiếm tiền mặc dù các em đang ở lứa  
tuổi chưa được phép tham gia lao động theo quy định của Nhà nước. Các công việc mà  
trẻ em ở đây thường làm là đi bán dạo vào buổi tối tại các quán ăn, nhà hàng trên địa  
bàn thành phố Huế. Nguyên nhân của việc phải tham gia lao động ở độ tuổi còn quá  
nhỏ là do công việc của bố mẹ bấp bênh, thu nhập của gia đình không đủ trang trải chi  
phí hàng ngày và học tập của con cái, đời sống của người dân còn gặp vô vàn khó  
khăn. Nhiều hộ khi được hỏi đều mong muốn “có giấy hộ nghèo”<  
Về việc làm: Những ngành nghề chính của cư dân thủy diện trước và sau tái  
định cư cơ bản vẫn là những công việc lao động phổ thông, cần tới sức lao động từ  
chân tay. Cơ cấu nghề nghiệp được thể hiện qua hình 2.  
215  
Tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của cư dân vạn đò tại khu tái định cư phường Hương Sơ, thành phố Huế, …  
Không có việc làm  
20%  
Khác  
22%  
Cát sạn/đánh cá  
8%  
Xe ôm/xích lô  
18%  
Buôn bán nhỏ  
11%  
Phụ hồ, thợ nề  
21%  
Hình 2. Cơ cấu nghề nghiệp của chủ hộ  
(Nguồn: Điều tra thực tế, 2017)  
Hiện tại, bên cạnh các công việc lao động chân tay thì đã xuất hiện thêm một số  
công việc mang tính chất “văn phòng” như in ấn, photocoy, nhân viên bán hàng tại các  
siêu thị do nhiều thanh niên được hỗ trợ đào tạo nghề. Rất nhiều hộ tái định cư mong  
muốn thay đổi nghề nghiệp để cải thiện cuộc sống nhưng không dễ. Những lao động  
lớn tuổi và không có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp, phải tiếp tục với công việc  
truyền thống.  
2. THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA CƢ DÂN VẠN ĐÒ  
TÁI ĐỊNH CƢ  
Để đảm bảo cuộc sống ổn định hậu tái định cư, các cấp chính quyền của tỉnh  
Thừa Thiên Huế đã triển khai thực hiện nhiều chính sách an sinh xã hội cho cư dân  
vạn đò. Tuy nhiên, việc tiếp cận chính sách của nhóm này thường khó khăn hơn so với  
các nhóm dân cư khác. Điều này sẽ được mô tả cụ thể hơn qua việc tiếp cận các dịch vụ  
xã hội cơ bản của cư dân vạn đò tại khu tái định cư Hương Sơ hiện nay.  
2.1. Tiếp cận nhà ở  
Nhà ở là vấn đề chú ý nhất đối với các hộ tái định cư vốn là cư dân thủy diện.  
Mặc dù dự án tái định cư đã rất cố gắng tạo mọi điều kiện cho người dân có được nhà  
ở ổn định, vẫn không ít hộ gặp khó khăn về điều kiện nhà ở và không gian sinh hoạt  
cho gia đình.  
Bảng 2. Tỷ lệ hộ ở chung nhà với hộ khác  
Loại hộ  
Hộ có nhà ở  
Hộ ở chung nhà với hộ khác  
Số lƣợng (hộ)  
Tỷ lệ (%)  
161  
22  
88,0  
12,0  
(Nguồn: Điều tra thực tế, 2017)  
Một trong những khó khăn lớn nhất của người dân tại đây là chưa trả hết tiền  
cấp nhà. Tại thời điểm khảo sát, các hộ gia đình chỉ còn hơn vài năm nữa là phải trả hết  
216  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
tiền mua nhà nhưng hầu hết đều chưa có điều kiện để chi trả. Hơn nữa, do chưa trả hết  
tiền mua nhà cho nên các hộ gia đình ở đây chưa được cấp thẻ đỏ, do đó họ chưa có  
quyền sở hữu ngôi nhà mà mình đang ở. Vì chưa có quyền sở hữu nhà ở nên việc  
muốn cải tạo hay sửa sang căn nhà đều không được phép.  
2.2. Tiếp cận giáo dục  
Nhận thấy việc nâng cao dân trí cho nhóm cư dân thủy diện là điều vô cùng  
quan trọng nên sau khi ổn định chỗ ở, nhà nước và chính quyền địa phương, cũng như  
nhiều tổ chức và cá nhân đã chung tay hỗ trợ cho các em ở đây được đến trường, hoàn  
thiện các hoạt động hậu tái định cư. Các chính sách như miễn/giảm học phí cho con em  
hộ nghèo; hỗ trợ sách vở/đồ dùng học tập/tiền ăn cho trẻ em vạn đò, trợ cấp một phần  
học phí<đã thực sự khuyến khích và hỗ trợ cho các em tiếp tục đến trường. Tuy  
nhiên, vẫn chỉ có một bộ phận nhỏ hộ gia đình được tiếp cận đến các chương trình này.  
Điều này thể hiện ở biểu đồ 3  
Có  
Không  
90.7  
84.2  
87.2  
12.8  
15.8  
9.3  
Miễn giảm học phí  
Hỗ trợ tiền ăn  
Trợ cấp một phần chi phí  
Hình 3. Tỷ lệ hộ gia đình nhận được hỗ trợ về giáo dục  
(Nguồn: Điều tra thực tế, 2017)  
Tình trạng bỏ học giữa chừng của học sinh vẫn rất phổ biến, diễn ra ở cả 3 cấp,  
từ tiểu học cho đến trung học phổ thông. Các nguyên nhân chủ yếu được ghi nhận là  
do: Không có tiền nộp học phí (50,3%), không có người lao động (13,1%), không thích  
1
đi học 9,3%, hộ không còn người đi học (27,3%) . Có thể thấy rõ rào cản lớn nhất khiến  
người dân thủy diện tái định cư khó tiếp cận các cơ hội giáo dục là tình trạng nghèo  
đói và trình độ học vấn thấp. Vòng luẩn quẩn giữa việc nghèo đói - thất học – thất  
nghiệp không chỉ làm hạn chế cơ hội hòa nhập của cư dân mà còn ảnh hưởng tới sự  
phát triển của địa phương và xã hội.  
2.3. Tiếp cận y tế  
Tại địa bàn, chính quyền địa phương triển khai nhiều chính sách đảm bảo khả  
năng tiếp cận các dịch vụ y tế cho người dân, một số người dân thủy diện đã sử dụng  
thẻ bảo hiểm y tế, địa phương cũng đã tổ chức nhiều lớp tập huấn tuyên truyền về  
1
Nguồn từ Điều tra thực tế năm 2017  
217  
Tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của cư dân vạn đò tại khu tái định cư phường Hương Sơ, thành phố Huế, …  
chính sách kế hoạch hóa gia đình, khám chữa bệnh miễn phí. Dù vậy, vấn đề sử dụng  
các dịch vụ y tế của cư dân vạn đò vẫn gặp không ít rào cản. Nhu cầu khám chữa bệnh  
của họ thường cao hơn các đối tượng khác, nhưng khả năng sử dụng các dịch vụ y tế  
lại thấp hơn. Đánh giá việc tiếp cận y tế của cư dân vạn đò được nhóm nghiên cứu  
nhìn nhận qua các khía cạnh dưới đây:  
Thứ nhất, tỷ lệ hộ gia đình tìm đến cơ sở y tế để khám/chữa bệnh còn thấp  
Nhiều người có bệnh nhưng không đi chữa là thực tế phổ biến của cư dân thủy  
diện tại địa bàn nghiên cứu. Các nguyên nhân ghi nhận được thể hiện ở bảng 3 dưới  
đây  
Bảng 3. Nguyên nhân không tới cơ sở y tế khi người nhà bị bệnh  
Lý do không đi khám chữa bệnh  
Kinh tế khó khăn (không có tiền)  
Không có thẻ bảo hiểm y tế  
Bệnh chưa đến mức đi khám  
Để bệnh tự khỏi  
Tỷ lệ (%)  
49  
31  
15  
5
(Nguồn: Điều tra thực tế, 2017)  
Có thể thấy rằng, điều kiện kinh tế nghèo nàn là lý do lớn nhất khiến người dân  
không dám chi cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe. Rõ ràng đây là một rào cản lớn hạn chế  
người nghèo trong cộng đồng cư dân vạn đò tiếp cận các dịch vụ y tế.  
Thứ hai, sự tham gia bảo hiểm y tế của người dân  
Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân. Tại  
khu tái định cư Hương Sơ, mặc dù chính quyền địa phương đã rất quan tâm đến việc  
giảm thiểu tối đa tình trạng những người dân không có khả năng sử dụng dịch vụ y tế,  
thể hiện ở việc vận động người dân, nhất là cư dân vạn đò mua bảo hiểm y tế. Kết quả  
của sự nỗ lực đó là đa số hộ gia đình có thành viên trong nhà tham gia bảo hiểm y tế,  
đặc biệt là ở những gia đình có con cái đang đi học. Tuy nhiên, khi được hỏi “Bản thân  
ông/bà có thẻ bảo hiểm y tế không?” thì đa số các chủ hộ gia đình trả lời “Không”, bởi bản  
thân họ mặc dù rất muốn mua bảo hiểm, nhưng do không có điều kiện kinh tế nên  
cũng không thể tham gia. Đáng lo ngại hơn, những người không có điều kiện mua bảo  
hiểm y tế lại là những người có nhu cầu khám chữa bệnh khá cao. Bởi họ thường là lao  
động chính trong nhà, phải làm những công việc lao động nặng nhọc hàng ngày cho  
gia đình nên sức khỏe thường kém hơn.  
Thứ ba, mức độ nhận được hỗ trợ y tế trong vài năm trở lại đây của hộ gia đình  
Trước đây, khi ở dưới đò, việc tiếp cận với dịch vụ y tế của người dân vô cùng  
hạn chế và khó khăn. Bây giờ, khi đã ổn định tại khu tái định cư Hương Sơ, người dân  
đã bắt đầu có thói quen tìm đến trạm y tế để được hỗ trợ chăm sóc sức khỏe. Các hoạt  
218  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
động này được thực hiện chủ yếu bởi trạm y tế của phường. Kết quả khảo sát cho thấy,  
mặc dù trang thiết bị phục vụ cho hoạt động y tế tại trạm còn thiếu thốn, cán bộ kiêm  
nhiệm nhiều công việc nhưng đội ngũ cán bộ y tế tại đây vẫn ưu tiên nhiều hoạt động  
chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân. Các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu  
đã và đang được triển khai tại địa phương như: Giáo dục sức khỏe; Quản lý theo dõi  
bà mẹ mang thai và trẻ em suy dinh dưỡng; Khám và điều trị phụ khoa; Tiêm chủng  
cho trẻ em; Phòng chống các bệnh dịch tại địa phương< Tuy nhiên, rào cản tiếp cận  
dịch vụ lại xuất phát từ nhóm đối tượng thụ hưởng là cư dân vạn đò. Người dân ở đây  
không có thói quen tìm kiếm thông tin trong lĩnh vực y tế. Thái độ thụ động trong việc  
chăm sóc sức khỏe bản thân và gia đình đã khiến họ đánh mất nhiều cơ hội tham gia  
các dịch vụ cung cấp thông tin về chăm sóc sức khỏe diễn ra tại địa phương nói riêng  
và trên địa bàn thành phố Huế nói chung. Sự hạn chế về trình độ nhận thức và điều  
kiện kinh tế của cư dân vạn đò càng làm giãn rộng khoảng cách tiếp cận giữa nhóm  
này với các dịch vụ y tế tại địa phương.  
2.4. Tiếp cận nƣớc sạch  
Tại khu tái định cư, người dân được sử dụng nguồn nước sạch từ hệ thống  
cung cấp nước máy của thành phố Huế. Theo khảo sát, 100% hộ gia đình tại địa bàn  
nghiên cứu đều sử dụng nước máy trong ăn, uống và sinh hoạt hàng ngày. Nhiều  
người dân cảm thấy hài lòng với việc sử dụng nguồn nước hiện tại của hộ gia đình, tỷ  
lệ này chiếm 35%. Tuy nhiên, vẫn còn một số hộ dân chưa thật sự hài lòng với nguồn  
2
nước mà gia đình đang sử dụng (18%) . Lý do mà các hộ không hài lòng là do phí nước  
sạch quá cao so với việc sử dụng nước hàng ngày của họ. Ngoài ra, một số hộ gặp vấn  
đề với ống dẫn nước, nước chảy chậm và yếu, nhất là về mùa hè. Bên cạnh đó, khoản  
chi phí trả tiền nước hàng tháng cũng là một trong những khó khăn mà người dân ở  
đây phải lưu tâm . Nhiều gia đình đông người nên hàng tháng chi phí cho tiền nước rất  
lớn, vì thu nhập thấp nên hàng ngày họ cố gắng tiết kiệm tối đa việc sử dụng nước  
sạch. Một số hộ gia đình thường dùng lại nước rửa rau để rửa chén bát hoặc giặt quần  
áo, số khác thì dùng dụng cụ để tích trữ nước mưa< Người dân cũng không cảm thấy  
thoải mái với việc này nhưng họ không còn cách nào khác là phải tiết kiệm nước sạch.  
Họ cũng mong muốn Nhà nước có thể giảm phí tiền nước cho những cư dân vạn đò  
như họ.  
Như vậy, có thể thấy được chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực hỗ trợ  
cư dân thủy diện tái định cư tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Tuy nhiên, thực tế khảo sát  
cho thấy nhóm dân này vẫn thiếu khá nhiều cơ hội trong việc tiếp cận và sử dụng các  
dịch vụ về nhà ở, y tế, giáo dục, nước sạch. Việc thiếu hụt các cơ hội tiếp cận chính  
sách có thể được coi là hệ quả của tình trạng “nghèo đa chiều” ở nhóm này, cũng như  
bị tác động bởi những yếu tố cụ thể dưới đây.  
2
Nguồn từ điều tra thực tế năm 2017  
219  
Tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của cư dân vạn đò tại khu tái định cư phường Hương Sơ, thành phố Huế, …  
3. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ  
BẢN CỦA CƢ DÂN VẠN ĐÒ TẠI KHU TÁI ĐỊNH CƢ  
3.1. Trình độ dân trí thấp  
Tình trạng mù chữ, dân trí thấp của nhóm cư dân vạn đò tái định cư tại  
phường Hương Sơ là một thực tế. Đây cũng được coi là yếu tố đầu tiên khiến họ khó  
tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản. Hệ quả của mù chữ dẫn đến người dân vạn đò  
thiếu hiểu biết trong ứng xử, mâu thuẫn, xung đột trong gia đình và bất bình đẳng  
trong tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Mù chữ khiến cư dân vạn đò không chủ động  
trong việc tiếp cận thông tin dẫn đến sự thiệt thòi so với những nhóm cư dân khác.  
Điều này ảnh hưởng tiêu cực tới việc phổ biến chính sách của cán bộ địa phương.  
Nhiều phụ nữ do không biết đọc, biết viết nên không biết cách điền vào các mẫu xin  
vay vốn, các thủ tục học hành, làm giấy khai sinh cho con cái, các dịch vụ chăm sóc sức  
khỏe sinh sản, cũng như lập kế hoạch sản xuất hay chi tiêu trong gia đình... dẫn đến  
thiệt thòi, yếu thế và mất đi cơ hội tiếp cận các chính sách mà bản thân là đối tượng  
hưởng lợi. Họ cũng ít khi hỏi lại cán bộ địa phương về việc thụ hưởng các chính sách  
như thế nào bởi khả năng tiếp cận thông tin hạn chế và thái độ tự ti với bản thân. Do  
đó vô hình chung, bản thân họ tự loại mình ra khỏi sự hỗ trợ từ các chính sách an sinh  
xã hội.  
3.2. Sự hạn chế của hệ thống dịch vụ xã hội  
Không thể phủ nhận rằng dự án tái định cư đã đưa đến cho cư dân vạn đò cơ  
hội lớn được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Họ đã có nhà ở - điều mà bao thế hệ cư  
dân vạn đò trước đây chỉ có trong mơ ước và nay đã trở thành hiện thực. Họ cũng  
được tiếp cận với nguồn nước sạch và điều kiện vệ sinh môi trường tốt hơn rất nhiều  
so với khi ở những bến đò, con cái cũng có cơ hội được đến trường và không phải chịu  
cảnh mù chữ như thế hệ bố mẹ, ông bà trước đây< Tuy nhiên, mức độ tiếp cận với các  
dịch vụ xã hội cơ bản vẫn ở mức rất thấp, thậm chí nhiều hộ gia đình vẫn chưa thể sử  
dụng được các dịch vụ này. Những rào cản đối với họ không chỉ xuất phát từ phía bản  
thân người sử dụng dịch vụ (trình độ nhận thức quá hạn chế; điều kiện kinh tế nghèo  
nàn) mà còn từ cả phía hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội. Chẳng hạn như trong một số  
dịch vụ dưới đây:  
- Dịch vụ thông tin và truyền thông: Việc cung cấp thông tin ở địa phương còn  
mang tính đại trà, chưa có sự phân loại đối tượng người nhận thông tin. Đa phần cư  
dân vạn đò là người không biết chữ, nhận thức hạn hẹp, việc tiếp cận thông tin vô  
cùng hạn chế. Tuy nhiên, cách phổ biến thông tin của cán bộ địa phương vẫn đánh  
đồng như các nhóm cư dân có trình độ nhận thức khác. Do vậy mà người dân tiếp  
nhận thông tin chậm, thậm chí là không biết đến thông tin và có nhiều trường hợp bị  
kẻ xấu lợi dụng gây ảnh hưởng đến cuộc sống của họ. Trong quá trình chúng tôi khảo  
sát, một hộ dân cho biết: “Năm trước chính quyền phổ biến là chúng tôi mỗi tháng phải trả  
220  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
500 ngàn đồng tiền cấp nhà và sẽ có người đến thu hàng tháng. Nhưng mà nói không rõ ràng  
nên đợt vừa rồi nhiều hộ ở đây bị kẻ xấu lừa. Họ đến từng nhà, nói là người của ngân hàng và  
thu nợ của chúng tôi. Nhiều hộ nộp tiền lắm, đến khi có cán bộ trên phường xuống chúng tôi  
3
mới biết” .  
- Dịch vụ giáo dục: Các chương trình, chính sách an sinh trong lĩnh vực giáo  
dục mới chỉ tập trung vào nhóm đối tượng trẻ em trong bậc học mầm non đến trung  
học cơ sở. Việc phổ biến thông tin thông qua hình thức giáo dục nâng cao nhận thức  
đến các nhóm khác như thanh niên, người già, người lao động< chưa thật sự được  
chú trọng. Người dân ở đây cần nhiều lớp học với hình thức giáo dục cộng đồng về  
xóa mù chữ, cung cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe, sinh kế cho hộ gia đình,<  
- Dịch vụ y tế: Cơ sở cung cấp dịch vụ y tế tại địa bàn được thực hiện thông qua  
trạm y tế địa phương. Bao gồm các hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe  
ban đầu. Tuy nhiên, với cơ sở vật chất còn hạn hẹp, đội ngũ y bác sỹ chưa nhiều (01  
bác sỹ tại trạm) nên việc cung cấp dịch vụ chưa thật sự chuyên nghiệp. Chẳng hạn, các  
buổi tuyên truyền giáo dục sức khỏe mới chỉ là hoạt động lồng ghép trong các buổi  
họp, hay trong khám chữa bệnh cho bệnh nhân đến thăm khám tại trạm, ít/chưa có  
hoạt động thực hiện tại cộng đồng dành cho những đối tượng đặc thù như cư dân vạn  
đò.  
3.3. Sự trợ giúp của cộng đồng  
Sự trợ giúp của cộng đồng là một yếu tố quan trọng trong việc mở rộng cơ hội  
tham gia an sinh xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế, đặc biệt trong điều kiện nhà  
nước đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế như hiện nay. Tại địa bàn nghiên cứu, chính  
quyền địa phương luôn khuyến khích các cá nhân, tổ chức phi chính phủ, các doanh  
nghiệp< tham gia vào việc hỗ trợ cho cư dân vạn đò ổn định cuộc sống, tìm kiếm cơ  
hội việc làm. Các tổ chức xã hội trong và ngoài nước như Trung tâm Phát triển cộng  
đồng và Công tác xã hội Huế (CODES), Hội Phật giáo Huế, tổ chức SOS, tổ chức  
BRETAGNE (Pháp), tổ chức Zhi Shan (Đài Loan) đã hỗ trợ bằng nhiều hình thức khác  
nhau nhằm giúp cho cư dân vạn đò ổn định cuộc sống hậu tái định cư. “Chúng tôi xác  
định việc ổn định cuộc sống cho dân vạn đò sau tái định cư là việc phải làm nhanh chóng và cần  
đến nhiều chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số hộ chưa có nhà ở, đất ở do  
tách khẩu nhưng vì gia đình không nằm trong diện được cấp nên chúng tôi cũng rất khó khăn  
để giải quyết. Vì vậy, chúng tôi rất khuyến khích sự giúp đỡ của cộng đồng và xã hội, của các  
4
nhà hảo tâm để cư dân vạn đò sớm ổn định cuộc sống sau tái định cư .”  
3
Phỏng vấn sâu chủ hộ gia đình vạn đò tái định cư tại phường Hương Sơ, thành phố Huế.  
Phỏng vấn sâu cán bộ phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố Huế  
4
221  
Tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của cư dân vạn đò tại khu tái định cư phường Hương Sơ, thành phố Huế, …  
4. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TIẾP CẬN DỊCH VỤ  
XÃ HỘI CƠ BẢN CHO CƢ DÂN VẠN ĐÒ TẠI KHU TÁI ĐỊNH CƢ  
4.1. Giáo dục nâng cao nhận thức cho ngƣời dân  
Để thích ứng kịp với cuộc sống tại nơi ở mới, cư dân vạn đò cần có thêm nhiều  
kiến thức và kỹ năng xã hội. Do đó, việc tổ chức các hình thức giáo dục là điều hết sức  
cần thiết. Ngoài các hoạt động đã được triển khai tại địa phương như mở lớp xóa mù,  
lớp học tình thương dành cho trẻ em, hỗ trợ đào tạo nghề, thì giáo dục nâng cao nhận  
thức còn bao gồm cả việc truyền thông để nâng cao hiểu biết các chính sách an sinh xã  
hội của Đảng và Nhà nước, các chương trình trợ giúp của cộng đồng. Nhân viên công  
tác xã hội cần có những hình thức tuyên truyền phù hợp với khả năng nhận thức của  
cư dân vạn đò. Hình thức có thể là tiếp cận người dân và phổ biến trực tiếp, phát qua  
loa truyền thanh tại tổ dân phố, truyền thông bằng hình ảnh và các từ ngữ dễ hiểu<  
4.2. Hỗ trợ kết nối dịch vụ công tác xã hội  
Bên cạnh các dịch vụ xã hội cơ bản của hệ thống an sinh xã hội nhà nước, cư  
dân vạn đò cần được tạo điều kiện để kết nối tới các dịch vụ công tác xã hội nhằm đảm  
bảo cuộc sống hậu tái định cư. Dịch vụ công tác xã hội là những dịch vụ hướng đến  
nhóm đối tượng yếu thế để thực hiện quyền cơ bản của con người trong phát triển bền  
vững. Các dịch vụ công tác xã hội hoạt động dưới nhiều hình thức, cụ thể hóa các luật  
pháp, chính sách nhà nước về các lĩnh vực phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục, pháp lý<  
cung cấp trợ giúp cho các cá nhân, nhóm, cộng đồng khắc phục các khó khăn, giảm  
thiểu những rào cản và bất bình đẳng xã hội” *2, tr.59]. Những hạn chế trong việc tiếp  
cận dịch vụ xã hội cơ bản của cư dân thủy diện tái định cư phần lớn xuất phát từ năng  
lực sử dụng chính sách của người dân. Do vậy, việc kết nối họ tới các dịch vụ công tác  
xã hội như tham vấn gia đình, tư vấn hỗ trợ việc làm, tư vấn pháp luật, hướng nghiệp  
và đào tạo nghề< là điều quan trọng để tạo ra cơ hội tiếp cận hệ thống nguồn lực  
(chính thức và không chính thức) một cách hiệu quả hơn.  
5. KẾT LUẬN  
Dịch vụ xã hội cơ bản chiếm vai trò quan trọng trong đáp ứng những nhu cầu  
tối thiểu của người dân, đặc biệt là nhóm cư dân trong các vùng tái định cư. Khi những  
nhu cầu cơ bản được đáp ứng thì người dân sẽ yên tâm sinh sống lâu dài và phát triển  
cuộc sống tại nơi ở mới. Từ thực tế khảo sát, có thể thấy rằng, Nhà nước và chính  
quyền địa phương đã tính đến việc bao phủ dịch vụ xã hội cơ bản cho cư dân vạn đò  
tái định cư. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận và sử dụng chính sách của nhóm yếu thế này  
vẫn gặp rất nhiều rào cản, khiến họ ít có cơ hội tham gia và thụ hưởng chính sách. Do  
đó, thiết kế các chương trình tái định cư trong thời gian tới, cần thiết phải chú trọng tới  
yếu tố bao phủ mạng lưới dịch vụ xã hội cơ bản, đó cũng là yêu cầu cấp thiết không chỉ  
222  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
đối với người dân trong vùng tái định cư mà còn là yếu tố nhằm đảm bảo an sinh xã  
hội bền vững cho người dân.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2012), Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành  
Trung ương khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020, Hà Nội.  
[2]. Bùi Thị Thanh Hà (2015), Công tác xã hội trong đảm bảo mục tiêu an sinh xã hội ở Việt  
Nam, Tạp chí Xã hội học số 2 (130), tr.58 – 65.  
[3]. Nguyễn Xuân Hồng (2012), Cư dân vạn đò của thành phố Huế ở các khu định cư, tái định  
cư, Tạp chí Huế Xưa & Nay số 110 (3- 4/2012), tr. 78-91.  
[4]. Viện Khoa học Lao động và Xã hội, cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Cộng hòa Liên  
bang Đức (2013), Phát triển hệ thống An sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020.  
[5]. UBND phường Hương Sơ (2016), Báo cáo tình hình kinh tế xã hội, văn hóa và an ninh quốc  
phòng năm 2016.  
ACCESSING BASIC SOCIAL SERVICES OF BOAT COMMUNITY  
AT RESETTLEMENT AREA IN HUONG SO WARD, HUE CITY,  
THUA THIEN HUE PROVINCE  
Truong Thi Yen  
Faculty of Social Work, University of Sciences, Hue University  
ABSTRACT  
In addition to the resettlement activities, the post – resettlement actions for the  
community are always seriously taken by the Party and State of Vietnam.  
However, resettled residents still cope with serveral difficulties in approaching  
basic social services in fact. This paper focuses on analyzing the situation of  
assessing social welfare of resettlement of boat community who are vulnerable  
group in Hue city, relating to using some of social services such as housing,  
education, health and clean water. Finally, couples of effective solutions based on  
research findings will be proposed to ensuring better life for resettlement boat  
community at new accommodation.  
Keywords: Boat community; Basic social services; Resettlement.  
223  
Tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của cư dân vạn đò tại khu tái định cư phường Hương Sơ, thành phố Huế, …  
Trƣơng Thị Yến sinh ngày 17/07/1987 tại Nghệ An. Năm 2009, bà tốt  
nghiệp cử nhân chuyên ngành Công tác xã hội tại trường Đại học Khoa  
học, Đại học Huế. Năm 2017, bà nhận bằng thạc sỹ cùng chuyên ngành tại  
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Từ năm 2010 đến nay, bà công tác tại khoa Công tác xã hội, trường Đại  
học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Công tác xã hội; An sinh xã hội.  
224  
pdf 12 trang baolam 24920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của cư dân Vạn Đò tại khu tái định cư phường Hương Sơ, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftiep_can_dich_vu_xa_hoi_co_ban_cua_cu_dan_van_do_tai_khu_tai.pdf