Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghệ thông tin trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
KỶ YẾU  
HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG  
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH  
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THỜI KỲ  
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Khánh Hòa, 01/2018  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
TRONG THỜI KỲ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Trường Đại học Nha Trang, ngày 16/01/2018  
BAN TỔ CHỨC  
TS. Khổng Trung Thắng  
P.Hiệu trưởng ĐH Nha Trang  
Viện Hàn lâm KH&CN VN  
Trưởng BM HTTT-ĐHNT  
Trưởng Khoa CNTT-ĐHNT  
PGS. TS. Nguyễn Xuân Huy  
TS. Nguyễn Đức Thuần  
TS. Phạm Thị Thu Thúy  
Ô. Nguyễn Tri Huy  
Phó Chủ Tịch kiêm Tổng Thư Ký  
Hội Tin Học Khánh Hòa  
Ô. Đỗ Khắc Duy  
GĐ Công ty TNHH CO2  
MỤC TIÊU CỦA HỘI THẢO  
Trao đổi, thảo luận, chia sẻ những thuận lợi, khó khăn trong đào tạo nguồn  
nhân lực ngành CNTT; Những điểm mạnh, điểm yếu của các chương trình đào  
tạo nhân lực ngành CNTT hiện nay; Những tác động từ nhu cầu thị trường lên  
công tác đào tạo nguồn nhân lực CNTT,… Trên cơ sở đó xây dựng những luận  
cứ khoa học, định hướng và đề xuất cơ chế, chính sách quản lý, các biện pháp  
nâng cao số lượng và chất lượng nguồn nhân lực CNTT, đáp ứng nhu cầu nhân  
lực trong nước và quốc tế.  
Ô. Dương Văn Ca  
GĐ Công ty CP Sen Quốc tế  
CÁC CHỦ ĐỀ CỦA HỘI THẢO  
-
-
-
-
Thực trạng nguồn nhân lực CNTT, các chính sách về quản lý và phát triển  
nguồn nhân lực CNTT.  
Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực CNTT của nước  
ta nói chung và Khánh Hòa nói riêng.  
Đánh giá tổng quan về những điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức  
đối với nguồn nhân lực CNTT trong tỉnh, trong nước cũng như quốc tế.  
Dự báo cung – cầu nguồn nhân lực CNTT trong thời gian tới và những  
nhân tố tác động đến dự báo nguồn nhân lực CNTT trong khu vực Nam  
Trung Bộ và cả nước.  
-
-
Vai trò đóng góp của nguồn nhân lực CNTT trong việc phục vụ phát triển  
kinh tế - xã hội của đất nước.  
Phân tích các mô hình đào tạo nhân lực CNTT gắn với ứng dụng (POHE)  
trong nước và đề xuất giải pháp phù hợp cho ngành CNTT, Đại học Nha  
Trang.  
-
-
Các giải pháp chiến lược, các chính sách và nội dung đổi mới, nâng cao  
chất lượng đào tạo nguồn nhân lực CNTT; các giải pháp thu hút và nâng  
cao chất lượng sinh viên đầu vào.  
Kết hợp giữa Nhà trường và Doanh nghiệp trong việc đào tạo cũng như  
giải pháp nâng cao hiệu quả của sinh viên trong các đợt di thực tập tại  
doanh nghiệp.  
-
-
Phát triển các kỹ năng cần thiết cho sinh viên ngành CNTT trong thời kỳ  
hội nhập.  
Một số chủ đề khác liên quan đến Hội thảo.  
LIÊN HỆ  
Khoa Công nghệ Thông tin – Trường Đại học Nha Trang, Nhà G6, số 2  
Nguyễn Đình Chiểu, Nha Trang. Email: [email protected]  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 2  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
MỤC LỤC  
Hà Thị Thanh Ngà1, Nguyễn Thị Lan2 .....................................................................................................................65  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 3  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ  
Nguyễn Xuân Huy  
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
MB: 0903203800, [email protected]  
ABSTRACT: Báo cáo phân tích các đặc trưng cơ bản của thời đại và xã hội tin học hoá,  
các đặc điểm của con người hiện đại, trên cơ sở đó đề xuất và thảo luận một số tiêu chí  
có ảnh hưởng đến nhận thức, phương pháp dạy và học trong nhà trường trong khung  
cảnh công nghệ đang thay đổi hàng ngày.  
Từ khóa: giáo dục, đào tạo, thời đại công nghệ thông tin, phẩm chất, học viên, con người hiện đại.  
0 LỊCH SỬ CÁC CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP  
Nói đến cách mạng công nghiệp là nói đến sự thay đổi lớn lao mà được mang lại trong  
các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, và xã hội. Nhìn lại lịch sử, con người đã trải qua nhiều cuộc cách  
mạng khoa học kỹ thuật lớn. Mỗi cuộc cách mạng đều đặc trưng bằng sự thay đổi về bản chất của  
sản xuất và sự thay đổi này được tạo ra bởi các đột phá của khoa học và công nghệ.  
Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất  
Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trên thế giới được bắt đầu ở nước Anh vào cuối thế  
kỷ 18 đầu thế kỷ 19, mở đầu với sự cơ giới hóa ngành dệt may.  
Năm 1784, James Watt phát minh ra máy hơi nước đặt mốc đầu tiên cho quá trình cơ giới  
hoá. Năm 1785, Edmund Cartwright cho ra đời một phát minh quan trọng trong ngành dệt là máy  
dệt vải. Máy này đã tăng năng suất dệt lên tới 40 lần.  
Trong thời gian này, ngành luyện kim cũng có những bước tiến lớn. Năm 1784, Henry  
Cort đã tìm ra cách luyện sắt “puddling”. Mặc dù phương pháp của Henry Cort đã luyện được sắt  
có chất lượng hơn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về độ bền của máy móc. Năm 1885,  
Henry Bessemer đã phát minh ra lò cao có khả năng luyện gang lỏng thành thép, khắc phục được  
những nhược điểm của chiếc máy trước đó.  
Bước tiến của ngành giao thông vận tải đánh dấu bằng sự ra đời của chiếc đầu máy xe lửa  
đầu tiên chạy bằng hơi nước vào năm 1804. Đến năm 1829, vận tốc xe lửa đã lên tới 14 dặm/giờ.  
Thành công này đã làm bùng nổ hệ thống đường sắt ở Châu Âu và Mỹ. Năm 1807, Robert Fulton  
đã chế ra tàu thủy chạy bằng hơi nước thay thế cho những mái chèo hay những cánh buồm.  
Cách mạng công nghiệp lần thứ hai  
Cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai được khởi xướng từ cuối thế kỷ 19, kéo dài đến đầu  
thế kỷ 20. Một trong những đặc điểm đáng lưu ý trong nền đại công nghiệp là dây chuyền sản  
xuất hàng loạt - áp dụng nguyên lý quản trị của F.W.Taylor (đề xuất năm 1909, ứng dụng vào  
thực tiễn năm 1913 - hãng Ford đi tiên phong).  
Các nhà khoa học đã có những phát minh lớn về những công cụ sản xuất mới: máy tính,  
máy tự động và hệ thống máy tự động, người máy, hệ điều khiển tự động. Các nhà sáng chế thời  
kỳ này cũng nghiên cứu, tạo ra những vật liệu mới như chất polymer với độ bền và sức chịu nhiệt  
cao, được sử dụng rộng rãi trong đời sống, và trong các ngành công nghiệp.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 4  
   
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
Trong thời gian này, những nguồn năng lượng mới hết sức phong phú và vô tận như năng  
lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy triều… cũng được tìm ra  
để thay thế cho nguồn năng lượng cũ. Những tiến bộ thần kì trong giao thông vận tải và thông tin  
liên lạc như máy bay với vận tốc siêu âm khổng lồ, tàu hỏa tốc độ cao và những phương tiện  
thông tin liên lạc, phát sóng vô tuyến qua hệ thống vệ tinh nhân tạo, những thành tựu kỳ diệu  
trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ như phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất, bay  
vào vũ trụ và đặt chân lên mặt trăng là những thành tựu đi vào lịch sử của cuộc cách mạng công  
nghiệp lần hai này.  
Bên cạnh đó, cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp với những tiến bộ nhảy vọt trong  
cơ khí hóa, thủy lợi hóa, phương pháp lai tạo giống, chống sâu bệnh… giúp nhiều nước có thể  
khắc phục nạn thiếu lương thực, đói ăn kéo dài.  
Cách mạng công nghiệp lần thứ ba  
Cuộc cách mạng công nghiệp lần 3 diễn ra vào những năm 1970 với sự ra đời của sản  
xuất tự động dựa vào máy tính, thiết bị điện tử và Internet, tạo nên một thế giới kết nối (phẳng và  
nhanh, T. L., Friedman).  
Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba diễn ra khi có các tiến bộ về hạ tầng điện tử, máy tính  
và số hoá vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960),  
máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990).  
Cho đến cuối thế kỷ 20, quá trình này cơ bản hoàn thành nhờ những thành tựu khoa học  
công nghệ cao. Vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, Internet… là những công nghệ hiện nay  
chúng ta thụ hưởng là từ cuộc cách mạng này.  
Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư  
Năm 2013, một từ khóa mới là “Công nghiệp 4.0” bắt đầu nổi lên xuất phát từ một báo  
cáo của chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược công nghệ cao, điện toán  
hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người. Đây được gọi là cuộc cách mạng  
số, thông qua các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR),  
tương tác thực tại ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn  
(SMAC)… để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số [10], [11].  
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, với sự  
xuất hiện của robot có trí tuệ nhân tạo mang lại nhiều ứng dụng trong xã hội. Nhờ công nghệ AI,  
người máy làm việc càng thông minh, có khả năng ghi nhớ, học hỏi vô biên, trong khi khả năng  
đó ở con người càng già càng yếu đi.  
Trong lĩnh vực Giao thông, thế hệ xe không người lái sẽ phát triển nhờ đảm bảo an toàn  
cao gấp nhiều lần vì không có tình trạng say rượu bia, vượt đèn đỏ, phóng nhanh vượt ẩu.  
Trong lĩnh vực Y tế, cỗ máy IBM Watson có biệt danh “Bác sĩ biết tuốt” có thể lướt duyệt  
cùng lúc hàng triệu hồ sơ bệnh án để cung cấp cho các bác sĩ những lựa chọn điều trị dựa trên  
bằng chứng chỉ trong vòng vài giây nhờ khả năng tổng hợp dữ liệu khổng lồ và tốc độ xử lý  
mạnh mẽ. “Bác sĩ biết tuốt” này còn cho phép con người tra thông tin về tình hình sức khỏe của  
mình. Các bác sĩ chỉ cần nhập dữ liệu người bệnh để được phân tích, so sánh với kho dữ liệu  
khổng lồ có sẵn và đưa ra gợi ý hướng điều trị chính xác.  
Trong lĩnh vực Giáo dục, công nghệ thực tế ảo sẽ thay đổi cách dạy và học. Sinh viên có  
thể đeo kính VR và có cảm giác như đang ngồi trong lớp nghe bài giảng, hay nhập vai để chứng  
kiến những trận đánh giả lập, ngắm nhìn di tích, mang lại cảm xúc và sự ghi nhớ sâu sắc, giúp bài  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 5  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
học thấm thía hơn. Hoặc khi đào tạo nghề phi công, học viên đeo kính và thấy phía trước là cabin  
và học lái máy bay như thật để thực hành giúp giảm thiểu rủi ro trong quá trình bay thật. Trong  
tương lai, số lượng giáo viên ảo có thể nhiều hơn giáo viên thực rất nhiều.  
(Nguồn: TechInsigh)  
Công cụ  
Tổ chức Năng  
Vật liệu  
Hiệu quả  
Hậu quả  
lượng  
sản xuất  
1
Máy  
hơi Cơ giới Hơi nước  
Thép  
Sản xuât  
Thất nghiệp  
nước  
hóa  
Cuối  
Giao thông  
Bom  
mìn  
XVIII  
Chiến tranh  
2
Máy  
động cơ  
điện, Dây  
chuyền  
Điện, Dầu, Polyme  
Liên lạc, Thám Bom A,  
hiểm không gian,  
đại dương, Kinh  
tế, Y tế, Giáo  
dục,Cách mạng  
xanh  
Cuối  
XIX  
Nguyên tử Hợp chất  
hữu cơ  
đốt  
Máy bay  
trong, Vận trù  
3
MTĐT,  
Internet  
Tự động nt, Laze  
hóa cao  
nt  
nt  
Tôn giáo,  
Dân tộc  
1970s  
Bất  
bình  
đẳng  
4
Số hóa, IoT, Tự động Sạch, Mặt Nano  
Ảo hóa, AI hóa rộng trời, Thiên  
khắp nhiên  
Mọi hoạt động ?  
của xã hội  
Hiện  
nay  
1 CÔNG NGHỆ  
Công nghệ do con người sáng tạo, nhằm mục đích làm cho cuộc sống nhẹ nhàng và tươi  
đẹp hơn. Người ta phân biệt hai dạng thức cơ bản của công nghệ là công nghệ “cứng” và công  
nghệ “mềm”: công nghệ chế tạo, công nghệ vật liệu là những công nghệ "cứng", công nghệ dạy −  
học, công nghệ kết bạn là những công nghệ "mềm", công nghệ thông tin bao gồm cả hai loại hình  
"cứng" và "mềm" [8], [9].  
1.1 Bốn cuộc cách mạng trong ICT  
(Xem chi tiết trong [7], [8], [9], [10])  
CM1. Sáng tạo ra ngôn ngữ khái niệm (conceptual language)  
Nhờ ngôn ngữ khái niệm chúng ta có thể mô tả hệ thống một cách chính xác, biểu đạt cái  
vào, cái ra, hành vi của hệ thống, kỳ vọng và ngữ cảnh. Thí dụ, ontology (bản thể học) là một  
dòng trong ngôn ngữ khái niệm được sử dụng rộng rãi khi mô tả các hệ thống đào tạo điện tử.  
Ontology giúp cho người thiết kế hệ thống thiết lập các mối quan hệ giữa các khái niệm, các  
mảng và các đơn vị tri thức, sắp xếp các đơn vị tri thức theo một trật tự topo để người học biết  
được rằng muốn hoàn thành học phần B thì trước đó cần phải học các đơn vị tri thức nào.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 6  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
CM2. Sáng tạo ra phương tiện biểu diễn và viết chữ cái (alphabetical writing)  
Chữ viết ra đời, sau đó là nghề in với các con chữ đúc sẵn và tái sử dụng được coi là những  
cuộc cách mạng kỹ thuật vĩ đại. Tiếp đến, nhờ công nghệ thông tin (CNTT) chữ viết được mã hóa  
toàn cầu theo nghĩa: mọi kí tự của mọi dân tộc đều được nhận một mã số duy nhất. Mọi bảng mã  
đều được biểu diễn trên màn hình máy tính và trên máy in với mọi kiểu dáng và kích thước, màu  
sắc đúng theo yêu cầu chuẩn hóa của từng quốc gia, từng dân tộc (Unicode).  
CM3. Sáng tạo ra kiểu in di động (movable type printing)  
Nhờ công nghệ này ta có thể soạn thảo đa phương tiện ở một nơi, tức là xây dựng một bản  
đa phương tiện, trong đó có lồng ghép văn bản, hình ảnh, âm thanh… rồi gửi đi nhân bản đồng  
thời ở nhiều địa điểm khác nhau. Thậm chí văn bản đó có thể được soạn thảo bằng một công cụ  
di động như điện thoại, máy tính bảng. Công nghệ in 3D cho phép sản xuất mềm theo đơn đặt  
hàng và tái tạo được các bộ phận trong cơ thể sinh vật.  
CM4. Sáng tạo ra kỹ thuật số (digital technology)  
Mọi phương tiện như văn bản, âm thanh, đồ họa, phim ảnh đều có thể số hóa, tức là biểu  
diễn dưới dạng các bit 0/1, nhờ đó có thể sử dụng các công cụ toán học để xử lý, thực hiện các  
phép biến đổi, lưu trữ, truyền dẫn và hiển thị với chi phí thấp và an toàn. Các khái niệm như chữ  
ký số, đánh dấu bản quyền, mã hóa với khóa công khai được ra đời trên cơ sở số hóa các loại  
hình thông tin.  
1.2 Cách mạng công nghệ thông tin  
Cách mạng Công nghệ thông tin hay Công nghệ số khởi đầu bằng sự ra đời của các máy tính cá  
nhân vào những năm tám mươi của thế kỉ trước và bùng nổ, đạt cao trào vào thời điểm ra đời của  
Internet. Hơn ba mươi năm qua công nghệ số đã làm thay đổi ghê gớm các phương thức truy cập  
thông tin, học tập, liên lạc, mua bán, giao dịch, làm việc, kết bạn, hôn nhân, giải trí và quản lý  
cuộc sống …[6], [7].  
2 NHÀ TRƯỜNG  
2.1 Các phẩm chất của con người hiện đại  
Vì mục tiêu của chúng ta là đào tạo một thế hệ mới, nên việc xác định những tiêu chí cho  
thế hệ này là điều nên làm. Có thể tạm liệt kê bốn tiêu chí sau đây như bốn phẩm chất cho con  
người - thành viên năng động của xã hội hiện đại [5]:  
1. Biết xác định mục tiêu hành động;  
2. Biết vạch kế hoạch hành động và lôi cuốn, tổ chức mọi người cùng tham gia thực hiện  
kế hoạch đề ra;  
3. Có xu thế mời chào mọi người dùng sản phẩm, kết quả lao động do mình làm ra;  
4. Quan tâm đến những vấn đề bức thiết của xã hội.  
Hai phẩm chất đầu thể hiện năng lực giải quyết vấn đề. Phẩm chất thứ ba là cơ sở để tạo ra  
những đóng góp hữu ích cho xã hội và tạo điều kiện để tiếp tục phát triển, hoàn thiện các kết quả  
đã có. Phẩm chất thứ tư được coi như một yếu tố khách quan trong quá trình phát triển của xã  
hội.  
Điều đáng nói là công nghệ thông tin là một trong những ngành có thể tạo điều kiện thuận  
lợi cho việc hình thành và phát triển các phẩm chất nói trên.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 7  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
2.2 Một số tiêu chí thể hiện năng lực về công nghệ thông tin  
Khả năng tiếp thu và làm chủ các tri thức về công nghệ thông tin của con người được thể  
hiện rõ nét hơn cả qua những năng lực sau đây [2], [3], [5]:  
Năng lực tiếp thu kiến thức: Học viên luôn hào hứng trong các tiết học, đặc biệt là trong  
bài học mới. Có ý thức tự bổ sung, hoàn thiện những tri thức đã thu được ngay từ dạng sơ  
khởi, nguyên thuỷ.  
Năng lực suy luận lôgic: Biết phân tích các sự vật và hiện tượng thông qua các dấu hiệu  
đặc trưng của chúng; Biết thay đổi góc nhìn khi xem xét một sự vật, hiện tượng; Biết cách  
tìm con đường ngắn để sớm đi đến kết luận cần thiết; Biết xét đủ các điều kiện cần thiết  
để đạt được kết luận mong muốn; Biết xây dựng các phản ví dụ để loại bỏ một số miền  
tìm kiếm vô ích; Biết quay lại điểm xuất phát để tìm đường đi mới; Biết suy xét đúng sai  
từ một loạt sự kiện cho trước.  
Năng lực lao động sáng tạo: Biết tổ hợp các yếu tố, các thao tác để thiết kế một dãy hành  
động nhằm đạt đến kết quả mong muốn; Tiếp thu nhanh chóng những góp ý, thậm chí gay  
gắt và nặng nề; Ham muốn nâng cấp, phát triển liên tục sản phẩm đã có; Không thích đi  
lại lối mòn hoặc bắt chước các sản phẩm hiện hành.  
Năng lực đặc tả: Biết diễn đạt chính xác điều mình muốn; Sử dụng thành thạo các hệ  
thống kí hiệu, các quy ước để diễn tả vấn đề; Phân biệt thành thục hai lượng tử: mọi ()  
và tồn tại (); Biết thu gọn các đặc tả và trật tự hoá các đặc tả để dùng khái niệm trước mô  
tả cho các khái niệm sau.  
Năng lực kiểm chứng: Biết xây dựng các ví dụ, phản ví dụ nhằm khẳng định hoặc bác  
bỏ một đặc trưng nào đó của sản phẩm do mình hoặc người khác làm ra.  
Ba năng lực đầu tiên trong số năm năng lực đã liệt kê, theo chúng tôi, là những đặc trưng  
chung cho việc xác định năng khiếu của người lao động.  
2.3 Kỹ thuật số và giáo dục  
Điều trớ trêu là toàn bộ những đổi thay của kỹ thuật số hình như không làm thay đổi giáo  
dục và đào tạo. Có cảm giác là giáo dục và đào tạo "trơ" với công nghệ, chí ít là tại một số quốc  
gia. Hơn thế nữa, những hoạch định đưa công nghệ vào nhà trường cũng không đặt ra mục tiêu  
thay đổi nhà trường mà chỉ đơn thuần là trang bị (cơ sở vật chất, phương tiện, phòng học,…).  
Theo Scharffenberge công nghệ chỉ có thể tạo ra sự thay đổi sau khi tư tưởng, nhận thức và tư  
duy được thay đổi. Công nghệ có thể đưa vào một lĩnh vực nào đó nói chung, hoặc vào nhà  
trường, nói riêng nhằm mục đích [8]:  
Sustain: kế thừa những gì thực sự đã làm được,  
Supplement: bổ sung / thay thế giá trị cho những gì đã làm được,  
Subvert: phá bỏ những gì cũ kỹ, lạc hậu.  
Tác động của công nghệ phụ thuộc vào việc chúng ta định cải tạo, đổi mới hay làm cách  
mạng. Tiêu điểm của cải cách giáo dục nhằm theo kịp và đáp ứng với sự tiến bộ của cách mạng  
công nghệ bao gồm ba yếu tố, thường được gọi là ba R sau đây:  
Nhận thức lại (reconceive) triết lí giáo dục  
Định nghĩa lại (redefine) khái niệm học  
Tái thiết lại (reinvent) nhà trường  
Dưới đây sẽ phân tích ngắn gọn ba yếu tố nói trên.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 8  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
2.4 Nhận thức lại triết lí giáo dục  
Về bản chất, giáo dục và đào tạo có thể được xem là quá trình chuyển giao từ thế hệ trước  
sang thế hệ kế tục ba mảng tri thức sau đây:  
Phương thức nhận thức sự vật và hiện tượng (tri thức, khoa học).  
Phương thức chế tác sự vật (công nghệ).  
Phương thức đánh giá (giá trị).  
Quan niệm trên là đúng đắn trong mọi thời đại. Khác biệt duy nhất có lẽ nằm trong các  
quan niệm về thực thi qui trình trên ra sao.  
Trong các nhà trường cũ, qui trình dạy và học tập trung vào các trọng điểm sau đây:  
Tập trung vào nội dung cần truyền đạt (các học trình được tổ chức theo lớp học, cấp học,  
năm học);  
Tập trung vào những đại diện đảm nhiệm việc truyền thụ nội dung (giáo viên);  
Tập trung vào các phương pháp truyền thụ (dạy học).  
Như vậy, trong nhà trường cũ, người thày là trung tâm. Người thày chuẩn bị tri thức như  
những người đầu bếp tài năng sau đó "nhồi", "bón" cho học sinh. Nghệ thuật của người thày được  
hiểu như nghệ thuật rao giảng, truyền đạt. Học sinh được xem là đồng nhất, là những đối tượng  
thụ động, cần được chăm bón, vun trồng một cách đồng loạt. Khi đánh giá qui trình này, người ta  
chỉ xăm soi người thày theo các tiêu chí: giảng có dễ hiểu không, có sử dụng thiết bị không, lớp  
học có trật tự không... mà không hề xét đến kết quả, đến đầu ra là học viên học được gì, trưởng  
thành ra sao? Hỏi có ích gì khi khen một người cắt cỏ, tát nước duyên dáng, dẻo tay nhưng cây  
lúa lại không hề lớn lên, không trổ bông... hoặc là ki kiểm đếm năng suất và chất lượng thì lại  
dùng các hạt thóc mượn.  
Nhà trường mới xem giáo dục là quá trình phát triển con người. Con người sinh ra đã không  
hoàn thiện và bị ràng buộc. Nhưng những sợi dây trói buộc con người chỉ là tối thiểu và rất mở.  
Và con người có năng lực nhận thức để có thể học tập. Do đó, mỗi thành viên trong xã hội hiện  
đại cần và có thể tự xác định được là mình muốn trưởng thành ra sao. Đây chính là một nhu cầu  
tự nhiên của con người: trở nên hoàn thiện và độc lập [1], [2], [3], [4].  
Chúng ta sẽ trở nên hoàn thiện nếu chúng ta có khả năng xác định được một cách thoải mái  
một dự án cho cuộc sống của mình. Chúng ta sẽ trở nên hoàn thiện nếu chúng ta có khả năng biến  
dự án đó thành hiện thực.  
Giáo dục chính là “phần mềm” giúp chúng ta trở nên hoàn thiện và độc lập.  
Theo tiền đề trên thì giáo dục phải luôn luôn hiện hữu trong suốt quá trình phát triển của mỗi  
thành viên trong xã hội (học suốt đời). Để giúp mỗi học viên trưởng thành một cá thể hoàn thiện,  
độc lập và hữu ích trong xã hội hiện đại, nhà trường mới tập trung vào các quan niệm sau đây:  
Lấy học viên làm trung tâm: Học viên chính là đối tượng cần được phát triển thành một  
người hoàn thiện và độc lập. Học viên là đa dạng về năng lực, về sở thích,...  
Về tri thức, dựa trên nhu cầu của xã hội hiện đại. Các nhu cầu về kỹ năng và kỹ xảo được  
bố trí thành một “ma trận các điểm trội” mà chúng ta muốn hướng tới trên cơ sở thừa  
nhận những sự khác biệt của mọi người;  
Tập trung vào quá trình học tập – tức là quá trình hình thành và phát triển các phầm chất,  
năng lực và chỉnh thể.  
2.5 Định nghĩa lại khái niệm học  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 9  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
Theo quan điểm của Peter Senge thì học không giống như quá trình hấp thụ và lưu giữ  
thông tin [8] mà người có học tức là người có khả năng tạo ra những sản phẩm trước đó chưa thể  
làm được [2], [3].  
Chúng ta học để tạo ra sản phẩm bằng cách làm thử, mắc sai lầm, nhận được sự hướng  
dẫn và trợ giúp, thử lại cho đến khi ta có đủ khả năng tự làm được (thử và sai).  
Học là một quá trình tích cực: nó lôi cuốn chúng ta làm ra sản phẩm (ngay cả khi việc làm  
đó chỉ là trừu tượng)  
Và học mang tính hợp tác: collaborative = co-labor-active (cùng lao động tích cực).  
Những người khác có thể giúp chúng ta học, nhưng việc học phải là một quá trình tự thân vận  
động. Như vậy, những người khác cần tham gia vào hoạt động giáo dục và đào tạo, nhưng sẽ  
không giống như là “nhà giáo”:  
Không ai dạy ai cả… Nhưng cũng không có ai tự dạy mình… Nếu coi đó là dạy thì người này  
dạy người kia theo nghĩa: cả hai cùng cộng tác học cách sống tốt nhất trong một thế giới phức  
hợp và thường là không thuận ý (Paulo Freire [8].  
2.6 Tái thiết nhà trường  
Trong nhà trường cũ, dạy và học là một quy trình buồn chán vì những lí do sau đây:  
Chương trình giảng dạy bao gồm những thông tin cơ bản cho mỗi môn học cần nhồi cho  
học viên;  
Giáo viên chuyển tải nội dung đến học viên (giảng dạy);  
Học viên lĩnh hội thông tin (học);  
Đánh giá học viên bằng cách kiểm tra học viên đó có lĩnh hội được thông tin đó không  
(đánh giá, thi cử).  
Trong nhà trường cũ, công nghệ thường được sử dụng sai mục tiêu: Công nghệ trong nhà  
trường cũ trợ giúp giáo viên dạy, truyền thụ nội dung. Công nghệ được sử dụng như làm trò ảo  
thuật. Công nghệ sẽ thật sự quan trọng nếu nó trợ giúp học viên tiếp cận thông tin chứ không  
phải là để truyền thụ và trình diễn thông tin.  
Trong nhà trường cũ, thông tin là hiếm hoi: khó tiếp cận, giá trị của thông tin được xem là bất  
biến dẫn đến tình trạng là giáo viên không ham cập nhật tri thức. Hết năm này qua năm khác họ sử  
dụng một bộ sách giáo khoa, lên lớp nói lại những điều ngày một "cũ hoá" trong sách đó và bắt học  
trò thuộc lòng những điều đó để rồi khi kiểm tra, bắt học trò nói lại nguyên văn những điều đó.  
Trong nhà trường mới, học viên tích cực và chủ động học tập. Họ muốn sử dụng công  
nghệ để học vào mọi lúc, tại mọi nơi. Nhưng họ muốn học những gì liên quan đến sở thích, tức là  
có chủ đích. Sự học của họ cần phục vụ trực tiếp cho việc hình thành và giải quyết dự án cuộc  
sống của họ. Chính vì hoạt động có chủ đích này nên học trong nhà trường mới hòa nhập trong  
cuộc sống, mang tính tích cực, theo ngữ cảnh (đúng lúc), theo module (vừa đủ), mang tính thực  
tiễn (do học viên tự làm được) và được cá thể hóa, tức là đáp ứng nhu cầu của mỗi cá thể học  
viên.  
Chương trình trong nhà trường mới không phải là một mạng nhằng nhịt các nhóm đối  
tượng và chuỗi kiến thức, mà là một ma trận hội tụ một cách linh hoạt và phong phú các điểm  
trội, từ đó tổ hợp được các nhóm chỉnh thể khác nhau giúp cho mỗi học viên hiện thực hóa được  
dự án của mình. Không lí do nào có thể biện minh cho việc đồng nhất các chương trình học tập  
cho mọi học viên: học viên là đa dạng. Mỗi học viên không nhất thiết phải phát triển mọi chỉnh  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 10  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
thể (điểm trội) trong nội dung chương trình, mà trái lại, họ được quyền theo đuổi chỉnh thể nào là  
cần thiết và quan trọng cho việc hiện thực hóa dự án của riêng họ.  
Giáo viên trong nhà trường mới không dạy theo nghĩa cũ. Chức năng của giáo viên là  
hướng dẫn, định hướng, huấn luyện, chỉ đạo và khuyến khích (bằng cách quan sát và lắng nghe,  
cho thông tin phản hồi, đặt các câu hỏi khảo cứu, lưu ý, cảnh báo học viên, lý giải và khắc phục  
những khả năng và phương hướng sai lệch, động viên việc mở rộng và phát huy kiến thức…)  
Trong nhà trường truyền thống giáo viên biết trước đáp án và trình bày lại cho học viên.  
Trong nhà trường tương lai, giáo viên và học viên cùng đặt ra các câu hỏi định hướng và cùng  
tìm kiếm giải pháp.  
Đây chính là điểm căn bản trong lí luận học tập dựa trên vấn đề / chủ đề / dự án.  
Nhà trường mới, theo nhiều phương thức, được tích hợp với gia đình và xã hội, vì bản  
chất của việc học là đòi hỏi và huy động toàn bộ thời gian và không có ràng buộc cơ sở đào tạo  
phải chủ đạo ấn định việc khuyến học. Nhưng nhà trường mới cần có các tiêu điểm rộng và đủ  
bao trùm, vì nhịp độ toàn cầu hóa diễn ra hàng ngày: về kinh tế, văn hóa và xã hội. Học viên của  
mỗi trường có thể sống và làm việc tại nhiều quốc gia khác nhau. Đây cũng là lí do để phát triển  
hai hình thức dạy và học với sự trợ giúp của công nghệ là E-Learning = Electronic Learning (Đào  
tạo điện tử) và U-Learning = Ubiquitous Learning (Học mọi nơi).  
Tóm lại mục tiêu của đào tạo không phải là nhồi nhét kiến thức mà là qui trình giúp học viên  
tự đào tạo mình thành một người tự chủ, có ý chí và biết cách tư duy độc lập. Đất nước có giáo dục  
chính là đất nước của những con người trung thực, tự chủ và tự do. Dưới đây xin trích dẫn các quan  
điểm của các nhà giáo dục sớm nhận thức được nhu cầu phải đổi mới quá trình dạy và học:  
Về phương pháp dạy và học, cần phải rũ bỏ mọi hình thức áp đặt, thay vào đó, hết sức coi trọng  
việc bồi dưỡng năng lực tư duy độc lập, sáng tạo cho học sinh [1], [4].  
Nguyên tắc vàng của nền giáo dục mới là: Mỗi cá nhân tự làm ra sản phẩm giáo dục cho chính  
mình, tự trở thành chính mình.  
Theo nguyên tắc vàng ấy, thày giáo hiện đại không giảng giải những cái làm sẵn, không dùng lời  
nói thuyết phục học sinh chấp nhận cái có sẵn mà là người tổ chức quá trình học, để cho học  
sinh tự mình làm ra sản phẩm giáo dục cho chính mình [2], [3].  
3 KẾT LUẬN  
Không chỉ riêng ở nước ta, Việt Nam, mà tại nhiều quốc gia tiên tiến, đang phát triển, cũng  
luôn luôn trăn trở về giáo dục và đào tạo. Người Nga, người Pháp đã vài lần làm cải cách giáo  
dục, rồi người Mĩ, người Nhật, người Anh, người Malai, người Indo thường xuyên tự xỉ vả mình  
là bất tài trong lĩnh vực đó. Điểm khác biệt duy nhất giữa họ và chúng ta, có lẽ, là họ dũng cảm  
thừa nhận thất bại trong những lần cải cách trước. Chẳng hạn, trong Hội nghị về giảng dạy Toán  
học tại Budapest năm 1990 các nhà sư phạm Pháp đã nói đại ý rằng hai mươi năm qua họ làm cải  
cách giáo dục, hết mô hình này đến mô hình khác, đến nay họ lại "đằng sau quay", nghĩa là lại  
phải quay về con đường cũ.  
Tuy nhiên, hầu như tất cả các nhà sư phạm đều nhất trí với nhau ở mấy điểm sau đây:  
Về tri thức: lấy người học làm trung tâm. Mỗi học viên sẽ tự xác định xem họ cần gì.  
Giáo viên cần chỉ ra, hướng dẫn học viên tự tìm và thu nhận được các tri thước đó.  
Về phương pháp: Giáo viên không làm thay. Giảng dạy tiên tiến không bao giờ và không  
thể chỉ là kiểu lên lớp với các thiết bị trình chiếu triền miên theo nghĩa nhìn − chép hoặc  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 11  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
đọc – chép. Từ bao đời nay, các buổi lên lớp luôn luôn được hiểu là những giây phút làm  
việc giữa thày và trò sống động, đầy tính thực tiễn với biết bao điều mới mẻ, hấp dẫn và  
bổ ích.  
LỜI CẢM ƠN  
Báo cáo viên xin trân trọng cảm ơn  
•
•
•
•
Trường Đại học Nha Trang,  
Khoa Công nghệ Thông tin ĐH NT  
Quí vị đại biểu  
Ban tổ chức Hội thảo  
đã tạo điều kiện trao đổi khoa học với các đồng nghiệp trong Trường và các quí vị đại biểu  
tại Hội thảo.  
THAM KHẢO CHÍNH  
[1] Nguyễn Thị Bình, Nhất thiết phải thay đổi cách nghĩ, cách làm giáo dục, Tia sáng, 06/10/2011.  
Tác giả: Nguyên phó chủ tịch nước.  
[2] Hồ Ngọc Đại, Các bài đăng trong tuần báo Văn nghệ và An ninh Thế giới cuối tháng, 1995-  
2000.  
[3] Hồ Ngọc Đại, Công nghệ học, TC Tia Sáng, Số 7, 4/2007, tr. 44.  
Tác giả: GS TSKH Nhà sáng lập và lãnh đạo Trung tâm Thực nghiệm Giáo dục 1978-2001.  
[4] Nguyên Ngọc, Làm điều mình tin và chịu trách nhiệm về điều đó, Báo Thanh Niên, Chủ Nhật,  
3/9/2006.  
Tác giả: Nhà văn  
Những tác phẩm nổi tiếng:  
Đất nước đứng lên  
Đường chúng ta đi  
[5] Nguyễn Xuân Huy, Giáo trình phương pháp nghiên cứu khoa học, NXB Đại học Thái  
Nguyên, 2015.  
[6] Bloom B.S. (ed) (1956), Taxonomy of Educational Objectives. Handbook I: Cognitive  
Domain, Longman Group, London.  
[7] Nicholas Carr, The Big Switch, (Chuyển đổi lớn, Vũ Duy Mẫn dịch, NXB Trẻ, 2010.)  
[8] Eduardo O. C. Chaves, Dealing with Educational Change: The Faces of the School of the  
Future, The Microsoft PIL Regional Advisory Council 06’ Meeting, Sydney, 16th-19th Aug.  
2006.  
Author: Coordinator, UNESCO Chair of Education and Human Development at the  
Ayrton Senna Foundation (São Paulo, Brazil), Member, International Advisory Council for  
Partners in Learning (Microsoft.)  
[9] Victor Mayer - Schönberger, Kenneth Cukier, Big Data (Dữ liệu lớn, Vũ Duy Mẫn dịch, NXB  
Trẻ, 2014.)  
[10]  
Russell Stuart J., Norvig Peter (2003), Artificial Intelligence: A Modern Approach (2nd  
ed.), Upper Saddle River, New Jersey: Prentice Hall, ISBN 0-13-790395-2.  
[11]  
Turing Alan (1950), Computing Machinery and Intelligence, Mind LIX(236), 433-460,  
doi:10.1093/mind/LIX.236.433,ISSN 0026-4423, retrieved 2008-08-18.  
Địa chỉ liên hệ:  
Nguyễn Xuân Huy  
MB: 0903203800, [email protected]  
NXH, 2-1-2018  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 12  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN  
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 CHO ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Hồ Thị Thu Sa  
BM Kỹ Thuật Phần mềm  
I.  
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 LÀ GÌ?  
Đây là khái niệm lần đầu tiên được nhắc đến vào năm 2013 tại Đức trong một báo cáo của  
chính phủ, Theo Gartner, Cách mạng Công nghiệp 4.0 (hay Cách mạng Công nghiệp lần thứ  
Tư). Lịch sử đã ghi nhận 3 cuộc cách mạng công nghiệp chính thức, làm thay đổi toàn bộ nền  
sản xuất và các điều kiện kinh tế - xã hội của thế giới. Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất  
được đánh dấu bằng sự ra đời của máy hơi nước. Cuộc cách mạng thứ 2 là sự xuất hiện của điện  
năng, và lần thứ  
3 là sự bùng nổ của tin học và tự động hóa. Vậy cách mạng lần thứ 4 được dự đoán sẽ là gì, và  
còn bao lâu nữa thì thực sự xảy đến?  
Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là xu hướng tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công  
nghệ sản xuất. Bản chất của CMCN lần thứ 4 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất  
cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất; nhấn mạnh những  
công nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là công nghệ in 3D, công nghệ sinh học, công nghệ  
vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, người máy,...Nó bao gồm các hệ thống không gian mạng,  
Internet vạn vật và điện toán đám mây. Qua đó, người ta tạo ra những nhà máy thông minh với  
hệ thống máy móc tự kết nối với nhau, tự tổ chức và quản lí. Đây còn được gọi là cuộc cách  
mạng số, vì chúng ta sẽ được chứng kiến công cuộc "số hóa" thế giới thực thành thế giới ảo.  
Điều khác biệt giữa CMCN 4.0 với ba cuộc cách mạng trước đó là CMCN 4.0 không gắn với  
sự ra đời của một công nghệ nào cụ thể mà là kết quả hội tụ của nhiều công nghệ khác nhau,  
trong đó trọng tâm là công nghệ nano, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin - truyền thông.  
Cuộc cách mạng này trực tiếp nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với  
nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học". Nó sẽ diễn ra trên 3 lĩnh vực chính  
gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý. Những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong  
CMCN 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn  
(Big Data).  
Cuộc cách mạng 4.0 không còn là dự đoán, hiện nay với sự ra đời liên tiếp của những robot  
tự động mang trí tuệ nhân tạo, xe hơi tự lái, mạng xã hội… chúng ta đã cảm nhận được sự tác  
động của kỉ nguyên 4.0 đang rất rõ nét.  
II.  
TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG 4.0 ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC  
Theo các chuyên gia trong ngành giáo dục, trong thời đại mới, người ta sẽ không còn quá  
quan trọng đến một tấm bằng một cách hình thức, đến nguồn gốc xuất thân hay những mối quan  
hệ, vấn đề là kiến thức, trình độ chuyên môn, kỹ năng... Trong cuộc CMCN 4.0, cơ hội dành  
cho tất cả mọi người là như nhau. Ai có năng lực thực sự, có trình độ chuyên môn tốt, có kỹ  
năng và có thể tạo ra nhiều giá trị cho xã hội, người đó sẽ thành công.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 13  
   
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
Đối với các trường đại học, CMCN 4.0 đòi hỏi phải đào tạo ra nguồn nhân lực có các kỹ năng  
mới và trình độ giáo dục cao hơn so với 10 năm trước, bởi thị trường đòi hỏi lao động có trình  
độ giáo dục và đào tạo cao hơn.  
Thực tế hiện nay, giáo dục đại học về tổng thể vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển  
dụng.Theo một nghiên cứu năm 2013 của Lumina Foundation/Gallup phát hiện rằng chỉ 11 %  
lãnh đạo kinh doanh cho rằng sinh viên tốt nghiệp Đại học theo ngành nghề họ đang tìm kiếm  
là làm việc được. Con số này khác xa với 96% cán bộ phụ trách đào tạo ở các Đại học, Cao  
đẳng lại rất tự tin cho rằng trường của họ đang đào tạo sinh viên cho các nghề nghiệp tương lai.  
Quy mô thiếu hụt kỹ năng khác nhau tùy theo lĩnh vực ngành nghề. Khảo sát điều tra của Học  
viện chế tạo và Hãng Deloitte với 450 giám đốc điều hành sản xuất cho thấy những lĩnh vực  
mà nhân công thiếu kỹ năng nhất là: Công nghệ và máy tính (70 %), Giải quyêt vấn đề (69%),  
đào tạo kỹ thuật cơ bản (67%) và kỹ năng tính toán (60 %).  
Cuộc CMCN 4.0 có ảnh hưởng trực tiếp, lớn nhất đến giáo dục - nơi trực tiếp đào tạo nguồn  
nhân lực phục vụ cho công nghiệp 4.0. Để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền công nghiệp mới  
và đồng thời tận dụng thế mạnh của công nghệ thông tin (CNTT), nhiều trường đại học trên thế  
giới đã và đang đổi mới toàn diện và theo đó Giáo dục 4.0 đang được đánh giá là mô hình phù  
hợp.  
III. GIÁO DỤC TRONG CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Giáo dục trong công nghiệp 4.0 (gọi tắt là Giáo dục 4.0) là một mô hình giáo dục thông minh,  
liên kết chủ yếu giữa các yếu tố nhà trường - nhà quản lý - nhà doanh nghiệp, tạo điều kiện cho  
việc đổi mới, sáng tạo và năng suất lao động trong xã hội tri thức.  
Mô hình này cũng thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của giảng viên, sinh viên; tạo điều kiện cho  
hợp tác giữa giáo dục đại học và sản xuất công nghiệp; gắn kết cùng các nỗ lực phát triển kinh  
tế khu vực và địa phương… Giáo dục 4.0 giúp hoạt động dạy và học diễn ra mọi lúc và mọi  
nơi, giúp người học có thể cá nhân hóa, hoàn toàn quyết định việc học tập theo nhu cầu của bản  
thân.  
Bên cạnh đó, Giáo dục 4.0 sẽ giúp thay đổi tư duy và cách tiếp cận về mô hình đại học.  
Trường đại học không chỉ là nơi đào tạo, nghiên cứu mà còn là trung tâm đổi mới sáng tạo, giải  
quyết các vấn đề thực tiễn, mang giá trị cho xã hội. Trường không chỉ đóng khung trong các  
bức tường của giảng đường, lớp học hay phòng thí nghiệm, mà phải mở rộng kết hợp với các  
doanh nghiệp, với thị trường lao động để trở thành một hệ sinh thái giáo dục.  
Qua nghiên cứu sâu về các đặc điểm của Giáo dục hàn lâm 4.0 các nhà khoa học giáo dục Tây  
Âu có một số gợi ý đề xuất nhằm đạt thành công trong thử nghiệm đào tạo sinh viên cho tương  
lai như:  
Một là, độ phức tạp của thế giới "bên ngoài" phải được phản ánh trong mọi bình diện công tác  
đào tạo bằng xây dựng chuẩn hóa, và chuẩn hóa phải đi đôi với đơn giản hóa.  
Hai là, để tạo ra sự khác nhau cần thiết của quá trình học đại học, phải dựa trên các năng lực tự  
tổ chức của cả cá nhân lẫn tập thể sinh viên (tổ, nhóm, lớp); mà điều kiện tiên quyết cho phát  
triển năng lực đó là sinh viên phải xác định được mục đích học của riêng họ.  
Giáo viên có thể hỗ trợ quá trình này bằng cách khuyến khích sinh viên tập trung vào 2 tiêu  
chí: tài năng và mục đích riêng để họ cam kết và thỏa mãn với việc học.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 14  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
Ba là, các thách thức tương lai là tính liên môn và xuyên suốt các môn học tăng lên. Phải thấy  
rằng hàng loạt môn học, ngành học ngày càng trở nên lỗi thời. Cái mà sinh viên cần là cách  
nhìn cấu trúc tổng quan về việc học để tích hợp kiến thức được thường xuyên tích lũy.  
Bốn là, quá trình học cá nhân cần có cách đánh giá cá  
nhân.  
Năm là, thông tin cần cho sinh viên đang có sẵn rất nhiều ở khắp nơi (sách, bài báo, tạp chí,  
blogs, MOOCS …). Thách thức là làm sao giúp họ sử dụng các khả năng mới này.  
Sáu là, đặc biệt, Học (learning) là một hoạt động xã hội. Khái niệm E-learning đang chết và  
được thay thế bằng "Chúng ta học suốt đời" (Long live WE-learning).  
Phải mở toang khuôn viên nhà trường để mời mọi sinh viên sử dụng không gian này làm chỗ  
gặp mặt, đọ sức, thảo luận và giao lưu.  
Cần tạo ra các bối cảnh xã hội thích hợp và dân chủ hơn để sinh viên tranh luận về các vấn đề  
có thực trong cuộc sống liên quan đến họ.  
Bảy là, việc chuyển giao kiến thức theo cách độc thoại giữa thầy với trò không tạo ra được giá  
trị gia tăng.  
Cách giảng bài truyền thống kém hiệu quả hơn so với các hình thức học tích  
cực.  
Môi trường xung quanh rất quan trọng cho các quá trình nhận thức nên khả năng thiết kế và bố  
trí các không gian làm việc riêng cho sinh viên sẽ mở ra lối thoát cho phong cách tư duy mới.  
IV. GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐỒNG HÀNH VỚI CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Thứ nhất, nền tảng của CMCN 4.0 là sự kết nối giữa thế giới thật và ảo thông qua phần mềm  
công nghệ thông tin, kỹ thuật số và kết nối mạng, do vậy kiến thức và kỹ năng về công nghệ  
thông tin và kỹ thuật số có vai trò rất quan trọng đối với nhà trường cũng như người học. Nhiệm  
vụ của các trường đại học trong giai đoạn tới phải đào tạo đủ chuyên gia công nghệ thông tin;  
tích cực trang bị cho các em sinh viên các kiến thức kỹ thuật số và kỹ năng có liên quan để đáp  
ứng nhu cầu xã hội trong nền công nghiệp 4.0. trang bị trình độ ngoại ngữ đủ để có thể làm  
việc ở mọi nơi trong tư cách của công dân toàn cầu.  
Thứ hai, vấn đề việc làm và thất nghiệp là hiện tượng phổ biến của quá trình công nghiệp 4.0  
và nhất là thời kỳ đầu khi lực lượng lao động chưa thích ứng với điều kiện mới của công  
nghiệp và sự chuyển dịch mạnh cơ cấu lao động giữa các lĩnh vực. Thực tế đã có những thay  
đổi việc làm trên thị trường lao động, người máy bắt đầu thực hiện các công việc phổ thông thay  
cho con người. Người máy với nguồn học liệu vô tận có thể thực hiện tốt các bài giảng ở một số  
môn học như địa lý, lịch sử... và có thể hoàn toàn thay thế đội ngũ giáo viên hiện nay. Việc làm  
ở các lĩnh vực như tư vấn pháp luật, kế toán và tư vấn thuế cũng có thể bị thay thế hoàn toàn  
bởi các rô-bốt thông minh. Do vậy, vấn đề đặt ra đối với các trường đại học là định hướng đào  
tạo đáp ứng yêu cầu ngành nghề của cuộc CMCN 4.0 và đào tạo lại để thích ứng với ngành  
nghề mới.  
Thứ ba, chương trình đào tạo hiện nay vẫn chưa được linh hoạt, nội dung chưa phù hợp với  
nhu cầu và xu thế thị trường lao động CMCN 4.0. Giáo dục và huấn luyện là một trong 9 lĩnh  
vực có nhiều thay đổi, hệ thống giáo dục nghề nghiệp sẽ bị tác động rất mạnh và toàn diện,  
danh mục nghề đào tạo và chương trình đào tạo sẽ phải điều chỉnh, cập nhật liên tục vì ranh  
giới giữa các lĩnh vực rất mỏng manh. Các trường đại học thực hiện hoạt động đào tạo theo hai  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 15  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
hướng: một mặt phải đáp ứng tính định hướng xã hội, mặt khác đào tạo cung cấp nguồn nhân  
lực đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Tuy nhiên, áp lực đối với các trường đại học càng  
lớn khi chương trình đào tạo vừa đáp ứng tính chuyên môn cao trong lĩnh vực nhất định, vừa  
đáp ứng tính liên ngành (công nghệ thông tin, kỹ thuật số, mạng, kiến thức chuyên ngành) và  
các kỹ năng khác không thể thiếu, như: khả năng suy nghĩ có hệ thống, khả năng tổng hợp, khả  
năng liên kết giữa thế giới thực và ảo, khả năng sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng hợp  
tác liên ngành… Trong bối cảnh kiến thức về công nghệ thay đổi rất nhanh, việc trang bị cách  
thức tự học và ý thức học tập suốt đời càng quan trọng hơn kiến thức của chương trình đào  
tạo. Như vậy, CMCN 4.0 đã tạo áp lực lớn trong hoạt động đào tạo đối với các trường đại học,  
từ xây dựng chương trình đào tạo, cập nhật nội dung chương trình cho đến đào tạo kỹ năng cho  
người học để đáp ứng yêu cầu công nghiệp.  
Thứ tư, một vấn đề khác đặt ra cho các cơ sở đào tạo bậc cao là cách thức tổ chức để chuyển  
tải nội dung chương trình đào tạo đến người học. Cách mạng 4.0 đòi hỏi phương thức và phương  
pháp đào tạo thay đổi với sự ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật  
số và hệ thống mạng. Các hình thức đào tạo online, đào tạo ảo, mô phỏng, số hóa bài giảng…  
sẽ là xu hướng đào tạo nghề nghiệp trong tương lai. Điều này đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải có  
sự chuẩn bị tốt nguồn lực tổ chức giảng dạy, đặc biệt là đội ngũ giảng viên, xây dựng không  
gian học tập, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học….  
Tóm lại, như vậy với khâu đầu tiên mang tính đột phá là công nghệ thông tin, Cách mạng công  
nghiệp 4.0 đã tác động to lớn mạnh mẽ, tạo nên những bước ngoặt lớn lao với nên giáo dục thế  
giới nói chung, Việt Nam nói riêng. Để làm được điều đó thì giáo dục đóng vai trò nòng cốt...  
Phó thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng: Vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải thay đổi căn bản,  
không chỉ đổi mới trên phương diện đào tạo ngành nghề hay giáo dục ở bậc đại học, mà cần  
thay đổi từ giáo dục bậc phổ thông, mẫu giáo; yêu cầu đặc biệt hiện nay là giáo dục ý thức và  
kỹ năng của một công dân toàn cầu. (Đối thoại chính sách cao cấp về phát triển nguồn nhân lực  
trong kỷ nguyên số ngày 15/5 /2017 tại Hà Nội)  
V.  
MỘT VÀI KIẾN NGHỊ TIẾP CẬN CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP CHO  
ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Với việc cho phép tổ chức hội thảo này cho thấy lãnh đạo nhà trường đã nhận thức rất rõ vai  
trò, tác động của cuộc cách mạng 4.0. Trường đã có những bước đi ban đầu trong việc thay đổi  
để tiếp cận và đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng 4.0 trong tương lai không xa.  
Về chương trình đào tạo: Trường thành lập Hội đồng khoa học tại các Khoa, Viện, trong đó  
mời một số chuyên gia, nhà khoa học và đại diện doanh nghiệp lớn tham gia hội đồng để tư vấn,  
góp ý xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến, phù hợp với nhu cầu thực tiễn, nhu cầu của doanh  
nghiệp; Nhà trường cũng tăng cường đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tích hợp, giảm tải  
kiến thức hàn lâm, tăng cường học ngoại khóa, thực hành, thực tập tạo sự hứng thú và rèn luyện  
các kỹ năng đối với người học.  
Cụ thể là xây dựng lại và bổ sung chương trình đào tạo của hai ngành Công nghệ thông tin, Du  
lịch lữ hành theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục & Đào tạo. Nhà trường đã có các cơ chế đặc thù  
chuẩn bị cơ sở vật chất, cũng như giao trách nhiệm chủ động liên kết đào tạo với các doanh  
nghiệp cho các Khoa.  
Trong chiến lược đào tạo, nhà trường đã chú ý việc nâng cao năng lực tiếng Anh cho sinh viên  
bằng cách đưa học phần Tiếng Anh chuyên ngành là học phần bắt buộc. Khuyến khích giảng  
viên đăng ký giảng dạy một số học phần bằng Tiếng Anh.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 16  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
Nhà trường đã sớm xây dựng kế hoạch E-learning, mời các chuyên gia nước ngoài phổ biến  
kiến thức, cũng như tổ chức nhiều đợt tập huấn cho cán bộ giảng dạy trong toàn trường.  
Nhà trường cũng xây dựng đề án đầu tư trang thiết bị học tập, máy móc thực hành. Hiện tại  
Trường đã ứng dụng các phần mềm tiến tiến vào trong công tác quản lý, giảng dạy với một kinh  
phí khá lớn.  
Nhà trường đã có cơ chế thu hút nhân tài về công tác tại trường, cũng như tạo điều kiện học  
tập nâng cao trình độ cho giảng viên trẻ.  
Bên cạnh những chiến lược nhà trường đã triển khai, tôi xin đề nghị:  
Nhiệm vụ sắp tới của Trường là tiến hành thành lập ban nghiên cứu mô hình giáo dục 4.0. Chú  
trọng đầu tư phát triển cơ sở vật chất, xây dựng trung tâm phát triển công nghệ, trung tâm đào  
tạo, trung tâm nghiên cứu, cơ sở sản xuất ứng dụng thực nghiệm tạo môi trường hiện đại, thuận  
lợi cho việc nghiên cứu và hoàn thiện các sản phẩm công nghệ mới theo mô hình giáo dục 4.0,  
gắn kết thành công giữa nhà trường với doanh nghiệp. Trường cũng cần tích cực hoàn tất các  
thủ tục tiến hành đánh giá ngoài và đạt chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục của Bộ  
GD&ĐTcũng như các tổ chức Kiểm định quốc tế.  
Hợp tác liên kết đào tạo theo chương trình đạo tạo với các Trường nước ngoài, hoặc liên kết  
mua chương trình, giáo trình đào tạo của các đại học tiên tiến (như ĐH Duy Tân đã làm).  
Có chế độ tuyển dụng hay làm việc bán thời gian cho các chuyên gia trình độ  
cao.  
Tiếp tục đề án nâng cao trình độ Tin học, Ngoại ngữ, Nghiệp vụ cho cán bộ giảng viên nhằm  
hoàn thành tốt các yêu cầu giảng dạy trong giai đoạn mới.  
Bên cạnh đó cần sự thay đổi trong quản trị nhà trường. Cách mạng 4.0 đòi hỏi phương thức và  
phương pháp đào tạo thay đổi với sự ứng dụng mạnh mẽ của Công nghệ thông tin. Xây dựng  
các phòng thực hành hiện đại, tiên tiến phục vụ đào tạo ảo, mô phỏng, số hóa bài giảng sẽ là xu  
hướng đào tạo nghề nghiệp trong tương lai. Điều này tác động đến bố trí cán bộ quản lý, phục  
vụ và đội ngũ giáo viên trong toàn trường.  
Chúng ta bắt đầu tiếp cận CMCN 4.0, mọi thứ còn quá mới. Vì vậy, mặc dù chưa làm được  
nhiều, nhưng điều quan trọng là lãnh đạo Trường Đại học Nha Trang đã nhận thức, truyền tải  
đến toàn thể cán bộ, giảng viên, nhân viên nhà trường cuộc Cách mạng 4.0. Với sự chuẩn bị đó  
và truyền thống vượt khó của Nhà trường, cùng với trí tuệ, tính đoàn kết của cán bộ viên chức  
trong toàn trường, hy vọng rằng chúng ta sẽ đạt được những kết quả khả quan trong những chặng  
đường đồng hành cùng Cách mạng Công nghiệp 4.0.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Cách mạng Công nghiệp 4.0 là gì? Báo điện tử news.zing.vn/cach-mang-cong-nghiep-40-  
la- gi-post750267.html  
2. Giáo dục Việt Nam trước yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0 -  
hoc-Cong-nghe/Giao-duc-Viet-Nam-truoc-yeu-cau-cua-cach-  
mang-cong-nghiep-40/308970.vgp.  
3. Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam  
và gợi ý chính sách cho Việt Nam - PGS, TS. Nguyễn Cúc- Học viện Chính trị khu vực I – Báo  
điện tử baomoi.com, ngày 27/8/2017.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 17  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
4. Giáo dục đại học phải làm gì trước thách thức của cách mạng công nghiệp 4.0? TS Phan  
Quang Trung – Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội các trường Đại học và Cao đẳng, Báo điện  
tử giaoduc.net.vn số ra ngày 22/07/2017.  
5.  
Ngành giáo dục "đón đầu" cuộc Cách mạng 4.0 ra sao? GS Phan Văn Trường, cố vấn  
của  
Chính phủ Pháp về thương mại quốc tế - Báo điện tử baoquocte.vn, ngày  
14/4/2017.  
6. Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam  
và gợi ý chính sách cho Việt Nam – Báo điện tử baomoi.com.vn, ngày 27/08/2017.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 18  
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
ĐI TẮT ĐÓN ĐẦU CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4 TRONG  
ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN:  
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC  
Nguyễn Đình Hoàng Sơn  
Bộ môn HTTT - Khoa Công nghệ thông tin, Đại học Nha Trang  
Tóm tắt: Giáo dục nói chung và giáo dục đại học công nghệ thông tin nói riêng là một trong  
những lĩnh vực chịu sự tác động của CMCN 4.0 nhanh hơn cả bởi chính giáo dục cũng sẽ tạo ra  
những phiên bản mới của các cuộc CMCN tiếp theo. Công nghiệp 4.0 hứa hẹn những bước đột  
phá mới trong hoạt động đào tạo, thay đổi mục tiêu đào tạo, mô hình đào tạo truyền thống bằng  
cách chuyển tải và đào tạo kiến thức hoàn toàn mới. Sự phát triển công nghệ thông tin, công cụ  
kỹ thuật số, hệ thống mạng kết nối và siêu dữ liệu sẽ là những công cụ và phương tiện tốt để thay  
đổi cách thức tổ chức, quản lý và phương pháp giảng dạy [1]  
1. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và vai trò của công nghệ thông tin  
Khái niệm "Công nghiệp 4.0" được sử dụng lần đầu năm 2011 tại hội chợ Hannover - hội chợ  
hàng đầu thế giới về công nghệ và công nghiệp - được tổ chức thường niên tại Đức. Năm 2012,  
thuật ngữ "Công nghiệp 4.0" được đề cập trong một tài liệu đệ trình cho Chính phủ Liên bang  
Đức tổng hợp các khuyến nghị để triển khai sáng kiến chiến lược "Công nghiệp 4.0" nhằm đảm  
bảo cho tương lai của ngành công nghiệp chế tạo của Đức do nhóm công tác công nghiệp 4.0  
thực hiện với sự tài trợ của Bộ Giáo dục và Khoa học liên bang. [1]  
Khái niệm "Cách mạng công nghiệp 4.0" (hay Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư) được đề cập  
lần đầu tiên và cũng là chủ đề của Diễn đàn kinh tế thế giới lần thứ 46 tổ chức ngày 20/01/2016  
tại thành phố Davos, Thụy Sĩ. Theo ông Klaus Schwab, người sáng lập và chủ tịch điều hành  
Diễn đàn kinh tế thế giới mang đến cái nhìn đơn giản hơn về "Cách mạng công nghiệp 4.0" như  
sau:  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 19  
   
KỶ YẾU HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CNTT TRONG THỜI KỲ CMCN 4.0”  
"Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất.  
Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng  
lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Bây giờ, cuộc Cách mạng  
công nghiệp thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau,  
làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học".  
Nhìn lại các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, có thể nhận thấy đó là sự hội tụ của các  
công nghệ mới, khi đạt đến ngưỡng phát triển sẽ tạo sức bật, nền tảng sản xuất mới. Tuy vậy, tác  
động của cuộc CMCN 4.0 đã bắt đầu được "cảm nhận", đặc biệt là tại các nước phát triển vào  
những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Khác với các cuộc CMCN trước đây, CMCN 4.0  
không gắn với sự ra đời của một công nghệ nào cụ thể mà là kết quả hội tụ của nhiều công nghệ  
khác nhau, trong đó cốt lõi có công nghệ thông tin với sự phát triển không ngừng của công nghệ  
Internet từ thời kỳ kết nối nội dung như email đến mạng xã hội, Internet vạn vật, Internet kết nối  
thiết bị máy móc kết nối quá trình vận hành của các nhà máy. Ngoài công nghệ cốt lõi còn có sự  
hội tụ của công nghệ in 3D, công nghệ vật liệu tiên tiến, công nghệ lưu trữ [2]. Minh chứng sinh  
động cho sự hội tụ của các công nghệ này và những tiến bộ mang tính cách mạng mà chúng mang  
lại được thể hiện qua dự án đầy tham vọng có tên gọi NEURALINK. Dự án do tỷ phú người Mỹ  
Elon Musk tài trợ nhằm kết nối não người với máy tính để tạo ra một siêu trí tuệ vượt trội so với  
trí tuệ con người. Nhà tương lai học, doanh nhân và tác giả người Mỹ Raymond Kurzweil dự báo  
đến năm 2030, các rô-bốt có kích thước nano được cấy ghép vào bộ não người sẽ làm cho con  
người có năng lực của Chúa. Nếu dự báo của Raymond Kurzweil là đúng, nếu dự án tham vọng  
NEURALINK của Elon Musk thành công thì viễn cảnh loài người "bị thống trị" bởi rô-bốt có  
nguy cơ trở thành hiện thực, đó là khi như sự tiến bộ của công nghệ không được sử dụng đúng  
cách. [1]  
Giáo dục nói chung và giáo dục đại học công nghệ thông tin nói riêng là một trong những lĩnh  
vực chịu sự tác động của CMCN 4.0 nhanh hơn cả bởi chính giáo dục cũng sẽ tạo ra những phiên  
bản mới của các cuộc CMCN tiếp theo. Công nghiệp 4.0 hứa hẹn những bước đột phá mới trong  
hoạt động đào tạo, thay đổi mục tiêu đào tạo, mô hình đào tạo truyền thống bằng cách chuyển tải  
và đào tạo kiến thức hoàn toàn mới. Sự phát triển công nghệ thông tin, công cụ kỹ thuật số, hệ  
thống mạng kết nối và siêu dữ liệu sẽ là những công cụ và phương tiện tốt để thay đổi cách thức  
tổ chức, quản lý và phương pháp giảng dạy [1]  
2. Cơ hội đi tắt đón đầu CMCN 4.0 trong đào tạo đại học công nghệ thông tin  
Việt Nam đang bắt đầu bước vào một giai đoạn phát triển và hội nhập mới. Trong giai đoạn  
2016-2020, công nghiệp hóa theo hướng hiện đại hóa đã được xác định là trọng tâm của chiến  
lược phát triển quốc gia trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò cốt lõi, từ đó đã mở ra những  
cơ hội có thể tranh thủ để thúc đẩy sự phát triển của đào tạo đại học công nghệ thông tin ở Việt  
Nam nhằm "đón đầu" CMCN 4.0. Cụ thể:  
-
Việt Nam đã và đang tham gia 16 hiệp định thương mại tự do [3], trong đó có nhiều hiệp  
định hợp tác, chuyển giao công nghệ. Hội nhập giúp lĩnh vực khoa học và công nghệ Việt Nam  
từng bước giao lưu với nền khoa học và công nghệ thế giới, tạo thuận lợi cho sự phát triển nhanh  
cũng như bền vững của doanh nghiệp Việt Nam. Trong đó, sự tham gia liên doanh, liên kết trong  
hoạt động khoa học và công nghệ với các đối tác nước ngoài mang lại cơ hội tiếp cận với khoa  
học và công nghệ cao. Đồng thời, từng bước thu hẹp khoảng cách về kiến thức, kỹ năng nghiên  
cứu phát triển cũng như nâng cao năng lực sáng tạo, áp dụng khoa học và công nghệ, góp phần  
không nhỏ vào công tác đào tạo, bồi dưỡng, tiếp cận trình độ quản lý chất lượng cao trong nhiều  
lĩnh vực.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Trang 20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 76 trang baolam 23980 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghệ thông tin trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_nguon_nhan_luc_nganh_cong_nghe_thong_tin_trong_th.pdf