Một số vấn đề về an ninh việc làm đối với người lao động tại các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
Một số vấn đề về an ninh việc làm đối với
người lao động tại các khu công nghiệp
ở tỉnh Bắc Ninh1
Nguyễn Thị Bích Liên(*)
Lương Thùy Dương(**)
Nguyễn Thị Thanh Hương(***)
Tóm tắt: Bài viết phân tích một số vấn đề về an ninh việc làm (ANVL) đối với người lao
động (NLĐ) tại các khu công nghiệp (KCN) ở tỉnh Bắc Ninh, như: (i) chính sách tuyển
dụng lao động; (ii) chính sách việc làm; (iii) chính sách tiền lương, thu nhập; (iv) sa
thải người lao động; (v) điều kiện lao động; (vi) cơ sở vật chất phục vụ đời sống cho
công nhân lao động; (vii) nâng cao trình độ chuyên môn và phúc lợi; đồng thời chỉ ra
một số khó khăn trong công việc của NLĐ ở khu vực này. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất
một số giải pháp đảm bảo an ninh việc làm đối với NLĐ tại các KCN trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh.
Từ khóa: An ninh việc làm, Người lao động, Khu công nghiệp, Tỉnh Bắc Ninh
Abstract: The paper analyzes such issues related to job security in industrial zones in Bac
Ninh province including: (i) recruitment policies; (ii) employment policies; (iii) salary
and income policies; (iv) layoff policies; (v) working conditions; (vi) accommodation and
amenities for workers; (vii) professional training and welfare policies. At the same time,
it points out some difficulties faced by employees at work in this zone. On that basis, the
paper proposes a number of solutions to ensure job security in industrial zones in Bac
Ninh province.
Keywords: Job Security, Employee, Industrial Zones, Bac Ninh Province
1 Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học cấp Nhà nước “An ninh việc làm đối với người lao động tại các
khu công nghiệp trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (mã số KX.01.39/16-20) do TS.
Nguyễn Thị Thanh Hương chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững Vùng chủ trì, thuộc Chương
trình khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu những vấn đề trọng yếu về khoa học xã hội và nhân văn phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội” (mã số KX.01/16-20).
(**) ThS., Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững Vùng, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam;
Email: [email protected]
(***) TS., Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững Vùng, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam;
Một số vấn đề về…
13
Mở đầu
thêm giờ, nhà ở, tiền lương, bảo hiểm xã
hội, nơi sinh hoạt văn hóa,…
Điều 23 Tuyên ngôn phổ quát về Quyền
con người năm 1948 đã xác lập quyền mọi
người được làm việc, được tự do lựa chọn
công việc, làm việc trong môi trường công
bằng và thuận lợi và được bảo vệ khi thất
nghiệp (Đại hội đồng Liên Hợp Quốc,
1948). Khái niệm ANVL đã được nhiều
nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trong
nhiều năm qua với các cách tiếp cận khác
nhau. Trong phạm vi bài viết này, ANVL
được hiểu là đảm bảo việc làm liên tục và
ổn định cho người lao động. Việc đảm bảo
ANVL mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh
tế và sự ổn định xã hội bởi đó là phương
tiện chính để có thể ổn định thu nhập và
thúc đẩy phúc lợi cho người lao động. Đây
cũng là cách đảm bảo nhân quyền khi các
tuyên ngôn quốc tế về quyền con người
đều thừa nhận quyền được bảo vệ khi mất
việc làm.
Việc đảm bảo ANVL cho NLĐ sẽ góp
phần đảm bảo cân bằng trong quan hệ lao
động giữa NLĐ và chủ sử dụng lao động.
Làm thế nào để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa
các bên trong quan hệ lao động là câu hỏi
mà nhiều nhà hoạch định chính sách, giới
nghiên cứu quan tâm. Dựa trên Báo cáo kết
quả khảo sát xây dựng Đề án “Đảm bảo
một số chính sách an ninh xã hội đối với
người lao động trong các khu công nghiệp
Bắc Ninh” theo Quyết định số 782/QĐ-
UBND ngày 24/12/2018 của Ủy ban nhân
dân tỉnh Bắc Ninh (gọi tắt là Đề án 2018)
và một số tài liệu thứ cấp, bài viết tập trung
phân tích một số khía cạnh ANVL đối với
NLĐ tại các KCN ở tỉnh Bắc Ninh.
1. Thực trạng đảm bảo việc làm đối với
người lao động tại các khu công nghiệp
trên trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Ở Việt Nam trong những năm qua, cơ
cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng
tỷ trọng về ngành công nghiệp - dịch vụ
cả về giá trị kinh tế lẫn quy mô lao động.
Tính đến cuối tháng 3/2020, có khoảng
3,7 triệu lao động đang làm việc tại các
KCN, khu kinh tế trên cả nước, trong đó
số lao động nữ chiếm gần 60% (Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, 2020). Đối với KCN tỉnh
Bắc Ninh, hiện có gần 1.000 doanh nghiệp
với 284.470 lao động; trong đó lao động
địa phương chiếm 26% (Ban quản lý các
KCN tỉnh Bắc Ninh, 2019).
Trình độ, tay nghề của NLĐ đã từng
bước được nâng cao, tác phong công
nghiệp đang dần đi vào nề nếp; tiền lương,
thu nhập từng bước được cải thiện. Tuy
nhiên, vấn đề đảm bảo ANVL đối với
NLĐ ở các KCN của cả nước nói chung,
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng còn
nhiều tồn tại, chẳng hạn như vấn đề làm
1.1. Chính sách tuyển dụng lao động
Giải quyết việc làm có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng nhằm phát triển kinh tế - xã hội
nhanh và bền vững, do đó, tỉnh Bắc Ninh
đã có Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh
Bắc Ninh giai đoạn 2011-2015 định hướng
đến năm 2020 và nhiều đề án, chương trình,
chính sách về giải quyết việc làm. Bên cạnh
đó, Bắc Ninh đã đạt được những kết quả
đáng kể trong việc thu hút đầu tư vào các
KCN, góp phần quan trọng đối với việc
tạo việc làm cho NLĐ. Đặc biệt từ năm
2008, bắt đầu là Công ty TNHH Samsung
Electronics Việt Nam (SEV) đầu tư vào,
tỉnh Bắc Ninh đã thu hút thêm nhiều doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI)
khác đầu tư vào các KCN của tỉnh này và
nhu cầu sử dụng lao động tăng nhanh. Bình
quân mỗi năm, các KCN ở tỉnh giải quyết
việc làm cho 27.000 lao động. Theo định
hướng phát triển nhân lực tại các KCN trên
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2020
14
địa bàn tỉnh, đến năm 2020, nhu cầu sử
Một vấn đề r ất đáng quan tâm là, lực
dụng lao động khoảng 330.000 người, đào lượng lao động làm việc tại các KCN ở tỉnh
tạo mới là 114.500 người (trong đó đào tạo Bắc Ninh có trình độ chuyên môn kỹ thuật
lại khoảng 54.000 người) (Ủy ban nhân dân khá thấp, lao động có trình độ t ừ đại học trở
tỉnh Bắc Ninh, 2017, mục 1, phần II).
lên chỉ chiếm 0,14%; cao đẳng là 20,3%;
Theo Báo cáo kết quả khảo sát của Đề trung cấp là 18,1%; sơ cấp là 17,7%. Đặc
án 2018 (Mục 1, Chương II), NLĐ đăng biệt, lao động không có trình độ chuyên
ký tuyển dụng vào các doanh nghiệp ở các môn kỹ thuật chiếm chủ y ếu với 43,7%.
KCN tỉnh Bắc Ninh qua hình thức phổ biến Điều này dẫn đến thực tế là lao động trong
nhất là tự nộp đơn xin việc, chiếm 72,5%; doanh nghiệp tại các KCN trên địa bàn tỉnh
tiếp đến là qua các thông báo tuyển dụng tại Bắc Ninh chủ y ếu làm các công việc đơn
doanh nghiệp là 14,9%; qua các kênh báo, giản (chiếm 72,8%), chỉ 21,9% làm công
đài là 2%; qua môi giới là 0,6%; còn thông việc đòi hỏi có kỹ thuật (Ban quản lý các
qua các trung tâm dịch vụ tư vấn và giới khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh, 2019).
thiệu việc làm cho NLĐ chỉ chiếm 0,5%.
Về bảo đảm việc làm, tỷ lệ đánh giá
Trong khi đó, các doanh nghiệp tuyển thực hiện ở mức tốt tại các doanh nghiệp
dụng lao động vào làm việc thường ưu tiên trong nước cao hơn doanh nghiệp FDI là
lao động có trình độ cao, có tay nghề; lao 16 điểm phần trăm, trong khi đó, tỷ lệ đánh
động nữ và lao động trẻ tuổi. Nhóm có độ giá ở mức khá của doanh nghiệp FDI lại
tuổi dưới 25 tuổi được tuyển dụng nhiều cao hơn doanh nghiệp trong nước 16 điểm
nhất với 40,6%.
phần trăm. Doanh nghiệp FDI tự đánh giá
Như vậy, cùng với nhu cầu tuyển dụng ở mức khá tốt là 27% (Cục Thống kê tỉnh
NLĐ tại các KCN, đã có nhiều kênh tuyển Bắc Ninh, 2018).
dụng được mở ra tại đây (trực tiếp, gián
Trên thực tế, NLĐ luôn có nhu cầu
tiếp). Điều này cho thấy cơ hội tìm việc làm việc làm ổn định và có cơ hội phát triển
của NLĐ tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc nghề nghiệp tốt… Báo cáo kết quả khảo
Ninh khá cao.
1.2. Chính sách việc làm
sát của Đề án 2018 (Mục 3.2/3, Chương
I và Mục 3, Chương II) cho thấy, 97,8%
Bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng NLĐ có nhu cầu có việc làm và thu nhập
sâu rộng và cuộc Cách mạng Công nghiệp ổn định. Khi đề cập đến vấn đề việc làm
lần thứ tư đã tác động mạnh mẽ đến tất cả của NLĐ tại các KCN ở tỉnh Bắc Ninh, có
các lĩnh vực trong đời sống xã hội, mang đến 32,1% NLĐ ở đây cho rằng việc làm
đến nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không của họ đôi lúc không ổn định và 4,2% NLĐ
ít thách thức cho thị trường lao động của cho biết việc làm của mình thường xuyên
Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói không ổn định. Số lao động này có nguy cơ
riêng. Trong đó, thách thức lớn nhất đối với thất nghiệp cao nếu doanh nghiệp thu hẹp
lĩnh vực lao động việc làm hiện nay của sản xuất hoặc phá sản khi chịu tác động
Việt Nam là cơ cấu lao động lạc hậu, trình của khủng hoảng kinh tế trong nước và thế
độ thấp, nhân lực có chuyên môn kỹ thuật giới. Trong khi đó, các doanh nghiệp cũng
chất lượng cao chiếm số lượng ít, chưa đáp cố gắng để duy trì ổn định nhân sự bằng
ứng kịp những thay đổi nhanh chóng của cách hài hòa lợi ích giữa các bên. Điều này
công nghệ hiện đại.
được thực hiện thông qua các biện pháp
Một số vấn đề về…
15
như cải thiện tiền lương và phúc lợi, quan lực trong quản lý ngân quỹ nhưng lại gây
tâm đến đời sống NLĐ...
một số bất lợi cho NLĐ, bởi nếu muốn biết
thông tin về thu nhập của mình thì họ buộc
1.3. Chính sách tiền lương, thu nhập
Đảm bảo thu nhập tối thiểu cho NLĐ phải đến bộ phận tài vụ để truy vấn cách
(hay còn gọi là mức lương tối thiểu) là vấn thức tính lương. Trong khi đó, với quy trình
đề tương đối nhạy cảm. Mục đích của việc quản lý doanh nghiệp trong KCN thì họ
xem xét tăng lương cho NLĐ là nhằm đảm dường như không có thời gian thích hợp để
bảo cho NLĐ có mức thu nhập đủ sống, làm việc này. Đây cũng là một trong những
gắn bó với doanh nghiệp tốt hơn, làm việc vấn đề khiến nhiều NLĐ còn băn khoăn.
chăm chỉ và phấn đấu có năng suất lao động
cao hơn.
1.4. Về sa thải người lao động
Sa thải là hình thức kỷ luật lao động
Báo cáo kết quả khảo sát của Đề án được quy định tại khoản 3 Điều 125 Bộ luật
2018 (Mục 6, Chương 2) cho thấy, thu nhập Lao động năm 2012 và cũng là một trong
bình quân của NLĐ tại địa bàn nghiên cứu những trường hợp chấm dứt hợp đồng lao
là 6.362.100 đ/người/tháng. Trong đó, NLĐ động quy định tại khoản 8 Điều 36 của bộ
có thu nhập thấp nhất là 3.000.000 đ/tháng luật này. Theo đó, hình thức kỷ luật sa thải
(là NLĐ thử việc); mức thu nhập cao nhất chỉ được áp dụng: (i) trong những trường
cao gấp con số này 8 lần, với 24.000.000 đ/ hợp do pháp luật quy định; (ii) khi còn thời
tháng (NLĐ thuộc loại hình doanh nghiệp hiệu xử lý kỷ luật sa thải; và (iii) phải tuân
FDI). Bên cạnh đó, xét theo giới tính, lao thủ các quy định về trình tự, thủ tục luật
động nam có mức thu nhập bình quân cao định. Nếu vi phạm một trong các yếu tố
hơn lao động nữ 10,5%. Điều này cho thấy, này thì việc sa thải được xem là trái luật
sự chênh lệch về thu nhập được thể hiện ở và người sử dụng lao động phải gánh chịu
cả khía cạnh loại hình doanh nghiệp và yếu những hậu quả pháp lý do việc này gây ra.
tố giới.
Tuy nhiên, trên thực tế v ẫn có một số doanh
Mặc dù tiền lương, thu nhập tại các nghiệp tiến hành sa thải NLĐ một cách vô
KCN của tỉnh Bắc Ninh đã được cải thiện, căn cứ. Báo cáo kết quả khảo sát của Đề
nhưng do tiền lương được trả theo hình thức án 2018 (Mục 7.7/7, Chương II) cho thấy,
chuyển khoản qua hệ thống ngân hàng nên có 1,2% NLĐ cho rằng nơi họ làm việc có
một bộ phận NLĐ không biết chi tiết các thể sa thải NLĐ bất cứ lúc nào và nguy cơ
khoản được lĩnh (mức trích nộp bảo hiểm, này xảy ra ở m ức thường xuyên; tỷ lệ NLĐ
các khoản hỗ trợ,…). Theo Báo cáo kết quả cho rằng nơi họ làm việc thỉnh thoảng vẫn
khảo sát của Đề án 2018 (mục 7.1, 7.2, 7.4, sa thải NLĐ bất cứ lúc nào chiếm 7,4%.
Chương II), có 7,4% NLĐ cho rằng doanh Trên thực tế, doanh nghiệp tại các KCN
nghiệp không công khai, minh bạch trong có hai hình thức sử dụng lao động là: (i)
việc trả l ương ở m ức thường xuyên và 3,7% ký hợp đồng trực tiếp với NLĐ; và (ii) ký
cho rằng việc này thỉnh thoảng diễn ra. Có hợp đồng với đơn vị cung ứng NLĐ. Ở loại
thể nói, NLĐ phần lớn không nắm được hình thứ hai, doanh nghiệp có thể linh hoạt
đầy đủ thông tin về các khoản thu nhập của hơn trong việc sử dụng NLĐ; nếu doanh
họ, trong khi họ có quyền được biết. Hình nghiệp không thỏa mãn về NLĐ, đơn vị
thức trả lương qua tài khoản ngân hàng tuy cung ứng sẽ rút NLĐ không đáp ứng được
giúp tiết kiệm được chi phí, thời gian, nhân yêu cầu của doanh nghiệp và thay thế lao
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2020
16
động khác để giữ hợp đồng với bên sử nhiên, chất lượng khám sức khỏe định kỳ,
dụng lao động. Do đó, khi xem xét NLĐ bị khám chuyên khoa phụ sản nhìn chung
sa thải không có lý do, cần có thông tin cụ chưa tốt. Tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã
thể hơn về hình thức tuyển dụng/sử dụng hội, bảo hiểm y tế của các doanh nghiệp tại
lao động này. Nếu NLĐ trực tiếp ký hợp các KCN còn kéo dài gây ảnh hưởng đến
đồng với doanh nghiệp mà bị sa thải không việc chi trả các chế độ ốm đau, thai sản,
có lý do thì doanh nghiệp đã vi phạm hợp chốt sổ bảo hiểm xã hội cho NLĐ. Tính
đồng lao động.
1.5. Điều kiện lao động
đến cuối năm 2018, số doanh nghiệp nợ
bảo hiểm xã hội là 1.956 đơn vị với số tiền
Tại các KCN ở tỉnh Bắc Ninh, việc nợ phải tính lãi hơn 268 tỷ đồng. Riêng đối
đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, phòng với doanh nghiệp FDI, xảy ra một trường
chống cháy nổ, cải thiện điều kiện và môi hợp chủ doanh nghiệp bỏ trốn đã để lại số
trường làm việc cho NLĐ đã được quan tiền nợ bảo hiểm xã hội với lãi suất hơn 4
tâm; hệ thống an toàn vệ sinh lao động tỷ đồng, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của
ngày càng tiến bộ; ý thức của người sử khoảng 359 NLĐ, trong đó có 30 trường
dụng lao động và NLĐ trong thực thi các hợp thai sản và mang thai (Bảo hiểm xã hội
quy định về an toàn vệ sinh lao động được tỉnh Bắc Ninh, 2018).
nâng lên, giảm thiểu tối đa tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp.
1.6. Cơ sở vật chất phục vụ đời sống
cho người lao động
Các quy định về chính sách đặc thù đối
với lao động nữ cơ bản được tuân thủ, tuy
* Nhà ở
Nhà ở là điều kiện để NLĐ tái sản xuất
mức độ áp dụng có khác nhau tùy thuộc sức lao động. Tuy nhiên, với những NLĐ
vào điều kiện thực tế của mỗi địa phương, có thu nhập thấp thì chất lượng nhà ở nhìn
doanh nghiệp. Đối với các ngành nghề, chung kém, điều này đồng nghĩa với vấn đề
công việc nặng nhọc, độc hại, các doanh vệ sinh môi trường, điện, nước không đảm
nghiệp hầu như không bố trí lao động nữ bảo an toàn. Phần lớn công nhân là NLĐ
đảm nhiệm. Việc khám sức khỏe định kỳ ngoại tỉnh, thu nhập thấp nên họ phải ở nhà
gắn với khám chuyên khoa phụ sản hằng thuê, ở ghép. Với nhà của doanh nghiệp cho
năm được thực hiện khá nghiêm túc. Chế thuê, yêu cầu về giờ giấc, nội quy, quy định
độ thai sản và quy định lao động nữ được chặt chẽ, giao lưu không phù hợp với tâm lý
nghỉ mỗi ngày 30 phút trong những ngày tự do, thoải mái của nhiều lao động di cư, do
kinh nguyệt, 60 phút trong thời gian nuôi vậy không thu hút được NLĐ đến sinh sống.
con dưới 12 tháng tuổi đã được thực hiện
Trong bối cảnh đó, tại Bắc Ninh, các
tương đối tốt (Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc giải pháp, chính sách trong việc hỗ trợ,
Ninh, 2019). Trong Thỏa ước lao động tập khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh
thể của một số doanh nghiệp đã có những nghiệp xây dựng nhà ở cho công nhân đã
quy định có lợi hơn cho lao động nữ so với được triển khai đồng bộ. Đến nay, trên địa
quy định pháp luật hiện hành như hỗ trợ phụ bàn toàn tỉnh có 44 dự án nhà ở xã hội cho
nữ mang thai, nuôi con nhỏ dưới 36 tháng người thu nhập thấp và nhà ở để bán cho
tuổi; lắp đặt phòng vắt trữ sữa cho lao động công nhân, nhà cho công nhân thuê, trong
nữ nuôi con nhỏ; tặng quà hỗ trợ những dịp đó có 25 dự án nhà ở cho công nhân với
lễ, tết, thăm hỏi ốm đau, thai sản,… Tuy quy mô 119,22 ha. Trong số các dự án nêu
Một số vấn đề về…
17
trên, mới có 05 dự án đã được đưa vào sử có hơn 10% NLĐ cho biết nơi họ ở có nhà
dụng, đáp ứng 17.000 chỗ ở cho công nhân. trẻ, trường/lớp mẫu giáo, có cơ sở y tế, nhà
Hiện tại có khoảng 90.000 NLĐ đang phải văn hóa…; trên 50% NLĐ cho biết nơi họ
thuê nhà trọ trong các khu dân cư với giá ở chưa có khu thể thao, khu công viên. Như
bình quân từ 600.000-1.200.000 đồng/ vậy, cơ sở h ạ t ầng phục vụ đời sống văn
tháng. Số doanh nghiệp xây dựng nhà ở cho hóa, tinh thần của NLĐ đã có sự đầu tư,
NLĐ hoặc có chính sách hỗ trợ kinh phí phần nào đáp ứng nhu cầu cuộc sống của
thuê nhà cho NLĐ rất ít (Sở Xây dựng tỉnh NLĐ ngày một tốt hơn, song vẫn chưa đủ.
Bắc Ninh, 2019). * Các cơ sở giáo dục mầm non (công
Theo Báo cáo kết quả khảo sát của Đề lập và ngoài công lập)
án 2018 (Mục 1.2, Chương II), NLĐ trong
Trong những năm qua, UBND tỉnh Bắc
doanh nghiệp FDI có nhu cầu về nhà ở Ninh đã đầu tư mở rộng quy mô trường lớp
cao hơn NLĐ làm việc ở loại hình doanh đối với các xã giáp các KCN đáp ứng nhu
nghiệp trong nước. Ngoài ra, một số lao cầu tăng dân số cơ học. Theo Sở Giáo dục
động ở địa phương cũng có nhu cầu về nhà và Đào tạo tỉnh Bắc Ninh (2019), quy mô số
ở để thuận tiện hơn trong quá trình làm việc học sinh, số lớp bậc học mầm non công lập
tại các KCN.
* Cơ sở hạ tầng vui chơi, giải trí
tại các xã giáp các KCN thời gian qua đã gia
tăng. Năm học 2018-2019, số lớp nhà trẻ, mẫu
Các KCN ở tỉnh Bắc Ninh vẫn còn giáo là 2.209 với 71.503 học sinh (tăng 267
thiếu những thiết chế văn hóa - thể thao lớp với 4.379 học sinh so với năm học 2015-
nhằm xây dựng đời sống văn hóa tinh thần 2016). Tuy nhiên, con số này vẫn chưa đáp
phong phú cho NLĐ. Đa số các doanh ứng được nhu cầu học tập của số trẻ ở đây.
nghiệp chỉ chú trọng tập trung cho sản xuất,
Có thể nói, các cơ sở giáo dục mầm
rất ít quan tâm đến nhu cầu sinh hoạt, giải non được đảm bảo sẽ đem lại sự an toàn
trí cho NLĐ. Chỉ một số ít doanh nghiệp cho con cái của NLĐ. Điều này không chỉ
có sân bóng chuyền, sân cầu lông cho công giúp NLĐ yên tâm làm việc mà còn có thể
nhân hoặc tổ chức hội thao nội bộ, tổ chức tăng hiệu quả công việc của họ, góp phần
các trò chơi, sinh hoạt văn nghệ vào các cho sự phát triển của doanh nghiệp. Cuối
ngày kỷ niệm thành lập doanh nghiệp, ngày năm 2018, có hơn 71 nhà trẻ độc lập đang
lễ, cuối năm,... Cơ sở vật chất phục vụ các trông giữ hơn 2.000 trẻ là con NLĐ tại
hoạt động văn hóa - thể thao gần như không các KCN ở tỉnh Bắc Ninh với học phí từ
có hoặc mang nặng tính chất dịch vụ, dành 800.000-1.300.000 đ/trẻ/tháng. Tuy nhiên,
cho đối tượng có thu nhập cao. Bên cạnh số trẻ trong độ tuổi nhà trẻ, mầm non là
đó, điều kiện bố trí thời gian để công nhân con NLĐ tại các KCN là 18.400 trẻ. Theo
tham gia vui chơi, giải trí còn rất hạn chế. kết quả khảo sát của Liên đoàn Lao động
Đây là những vấn đề được chính những tỉnh Bắc Ninh (2018), NLĐ nhận được các
NLĐ nêu lên trong thời gian vừa qua. Báo khoản hỗ trợ còn hết sức khiêm tốn. Cụ thể,
cáo kết quả khảo sát của Đề án 2018 (Mục chỉ có 29,5% NLĐ cho biết có nhận được
1.4/1, Chương III) cho thấy, hiện có 86,8% hỗ trợ khi có con gửi tại các cơ sở giáo dục
NLĐ tại các KCN có nhu cầu về nhà văn mầm non. Con số này ở doanh nghiệp FDI
hóa, sân chơi thể thao. Cơ sở h ạ t ầng nơi là 32%, trong khi ở doanh nghiệp trong
NLĐ sinh sống đã có sự tiến bộ, song chỉ nước chỉ có 3,9%. Nhìn chung cơ sở hạ
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2020
18
tầng hướng đến phục vụ chất lượng cuộc cho NLĐ tại các KCN nhân các ngày lễ,
sống thể chất và tinh thần của công nhân tết, như: Chương trình “Tết sum vầy”,
làm việc tại các KCN ở tỉnh Bắc Ninh còn Tháng Công nhân... Trong giai đoạn 2016-
hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của 2019, Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Ninh và
họ. Đặc biệt, cơ sở giáo dục mầm non cho công đoàn các KCN của tỉnh đã tổ chức
con cái của NLĐ vẫn là vấn đề cấp bách trao 11.053 suất quà cho NLĐ nghèo, có
cần giải quyết để NLĐ có thể an tâm và gắn hoàn cảnh khó khăn, bị tai nạn lao động; hỗ
bó với công việc.
trợ 57.679 vé xe và tổ chức xe đưa 54.090
1.7. Nâng cao trình độ, tay nghề và trợ NLĐ về quê đón Tết, tổng trị giá trên 24 tỷ
cấp phúc lợi đối với người lao động tại các đồng; hỗ trợ 642.000.000 đồng từ Quỹ mái
khu công nghiệp
ấm Công đoàn cho 24 đoàn viên công đoàn
Đối với NLĐ không có trình độ, thu tại các KCN xây dựng và sửa chữa nhà ở
nhập thấp, họ phải đối mặt với những thách (Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Ninh, 2019).
thức trong việc nâng cao trình độ, tay nghề 2. Một số giải pháp nhằm đảm bảo an ninh
của bản thân. Trước yêu cầu ngày càng cao việc làm cho người lao động tại các khu
của chủ sử dụng lao động về chuyên môn công nghiệp ở Bắc Ninh
tay nghề, bậc thợ, một bộ phận NLĐ đang
Ở Việt Nam, Luật Lao động được ban
làm việc tại các KCN đã đăng ký tham gia hành và điều chỉnh qua các năm (1994,
các khóa đào tạo trung cấp, cao đẳng ngoài 2012, 2019) là văn bản pháp luật bao quát
giờ để nâng cao trình độ, tay nghề nhằm có nhất quy định vai trò của các bên liên quan
được việc làm ổn định, tăng thu nhập. Song trong quan hệ lao động. Chế độ bảo hiểm
việc tham gia khóa học vừa chiếm thời gian y tế, bảo hiểm xã hội được xem như là
nghỉ ngơi lại tốn kém về kinh phí khiến cho mạng lưới an sinh xã hội cơ bản và quan
NLĐ gặp không ít khó khăn. Kết quả khảo trọng nhất cho NLĐ. Tuy nhiên, trên thực
sát NLĐ tại các KCN của Liên đoàn Lao tế không phải NLĐ nào cũng nắm rõ được
động tỉnh Bắc Ninh (2018) cho thấy, có cách thức tính hai loại hình bảo hiểm này
đến 66,8% NLĐ có nhu cầu được nâng cao cũng như những quyền lợi khác của họ như
trình độ, tay nghề.
chế độ tiền công, tiền lương, vấn đề ổn định
Doanh nghiệp cần chia sẻ trách nhiệm việc làm… Với thực trạng phân tích ở trên,
để có được nguồn nhân lực ổn định, thông chúng tôi đưa ra một số giải pháp nhằm
qua chính sách phân bổ phúc lợi. Một số đảm bảo ANVL đối với NLĐ tại các khu
công đoàn cơ sở đã thương lượng với người KCN ở tỉnh Bắc Ninh như sau:
sử dụng lao động đưa một số chính sách
Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức của
phúc lợi vào Thỏa ước lao động tập thể như NLĐ về quyền lợi và trách nhiệm của họ
tổ chức cho tham quan, nghỉ mát; hỗ trợ trong quan hệ lao động thông qua việc
tiền tàu xe hoặc phối hợp với công đoàn tuyên truyền và phổ biến Luật Lao động,
đưa NLĐ về quê đón Tết; hỗ trợ tiền gửi Luật Việc làm, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật
con, tiền thuê nhà, tiền xăng xe; tặng quà Bảo hiểm y tế, các thông tư hướng dẫn đi
nhân dịp lễ, tết;...
kèm. Hoạt động này nên được thực hiện bởi
Những năm qua, công đoàn các cấp tổ chức công đoàn thông qua các buổi sinh
tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức các hoạt động hoạt định kỳ, diễn đàn trên mạng xã hội, có
chăm lo đời sống vật chất và tinh thần thể dưới hình thức hỏi đáp trên trang điện
Một số vấn đề về…
19
tử Liên đoàn Lao động tỉnh giúp đoàn viên, đó, điều kiện sống (nhà ở, đời sống văn hóa
NLĐ củng cố kiến thức để có thể tự bảo tinh thần…) của NLĐ tại các KCN trên
vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế do thu nhập
mình trong quan hệ lao động.
thấp, thời gian eo hẹp lẫn cơ sở hạ tầng cho
Thứ hai, trước thực trạng điều kiện nhà các hoạt động văn hóa tinh thần cũng như
ở và đời sống văn hóa tinh thần của phần quan tâm đến nâng cao chất lượng đời sống
lớn NLĐ tại các KCN còn nghèo nàn, cần của họ. Chính vì vậy, để thu hút NLĐ gắn
triển khai có hiệu quả Nghị quyết của Ban bó với doanh nghiệp, ổn định việc làm, cần
Thường vụTỉnh ủy tỉnh Bắc Ninh khóa XIX tạo môi trường để họ ổn định gia đình như
về “Bảo đảm một số chính sách an sinh xã phát triển hệ thống cơ sở giáo dục mầm non
hội cơ bản và nhu cầu dịch vụ xã hội thiết cho con em của họ.
yếu đối với người lao động trong các khu
Việc đảm bảo việc làm, đời sống cho
công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”. công nhân lao động, đặc biệt là lao động
Theo đó, các doanh nghiệp cần quan tâm nữ tại các KCN khi kết thúc công việc do
hơn nữa đến đời sống của NLĐ; có cơ chế tuổi cao, sức khỏe giảm sút, khó tìm việc
khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện làm mới, khó xây dựng gia đình,... đang
tốt công tác đóng bảo hiểm, có chế độ phúc đặt ra nhiều vấn đề bức thiết. Điều này đòi
lợi tốt cho NLĐ, thực hiện trách nhiệm xã hỏi về phân công vai trò và huy động trách
hội và ngược lại cần có chế tài phạt đối với nhiệm của Nhà nước, xã hội, cộng đồng,
những doanh nghiệp thực hiện những công doanh nghiệp và trách nhiệm của bản thân
tác này chưa tốt.
NLĐ. Tính hiệu quả, tính thiết thực, tính
Thứ ba, vấn đề cơ sở giáo dục mầm bền vững của chính sách về việc làm và đời
non (nhất là các cơ sở công lập) cho con sống của công nhân lao động cần được tiếp
em của NLĐ ngoại tỉnh làm việc trong các tục quan tâm
KCN cần được quan tâm hơn nữa để họ yên
tâm làm việc. Cơ sở hạ tầng của KCN cần Tài liệu tham khảo
được đưa thêm tiểu khu chức năng là cơ sở 1. Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh
giáo dục mầm non.
Thứ tư, cần nâng cao hiệu quả của Thỏa
ước lao động tập thể. Có thể nói thỏa ước
Bắc Ninh (2019), Báo cáo 6 tháng
đầu năm của các khu công nghiệp
Bắc Ninh.
này là cơ hội để NLĐ được bày tỏ những 2. Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh (2018).
tâm tư nguyện vọng của mình đối với chủ
sử dụng lao động.
Kết luận
Nhìn chung, phần lớn NLĐ tại các
KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh không có
trình độ chuyên môn, đây cũng là nhóm
Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2018.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020), Báo cáo
tình hình thành lập và phát triển KCN,
gov.vn/Pages/tinbai.aspx?idTin=45726
&idcm=207, truy cập ngày 15/4/2020.
lao động ít có khả năng chống chịu rủi ro 4. Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2019),
do mất việc làm, bởi khả năng cạnh tranh
trong tuyển dụng việc làm ở khu vực kinh
tế chính thức của nhóm này kém hơn nhóm
lao động có trình độ chuyên môn. Bên cạnh
Báo cáo phân tích kết quả khảo sát cán
bộ quản lý doanh nghiệp năm 2018.
(xem tiếp trang 27)
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề về an ninh việc làm đối với người lao động tại các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_van_de_ve_an_ninh_viec_lam_doi_voi_nguoi_lao_dong_tai.pdf

