Quan trắc sự mở rộng bề mặt không thấm bằng dữ liệu ảnh Spot-5 và Sentinel-2 ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất Tập 59, Kỳ 2 (2018) 69-76  
69  
Quan trắc sự mở rộng bề mặt không thấm bằng dữ liệu ảnh  
Spot-5 và Sentinel-2 ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh  
Phạm Văn Tùng 1, Nguyễn Văn Trung 2, *, Nguyễn Hữu Long 3, Nguyễn Đức Hùng 4  
1 Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
2 Khoa Trắc địa - Bản đồ và Quản lý đất đai, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Việt Nam  
3 Trường Đại học Đồng Tháp, Việt Nam  
4 Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh Thái Bình, Việt Nam  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
TÓM TẮT  
Quá trình:  
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn có tốc độ đô thị hóa nhanh ở nước ta.  
Theo đó, bề mặt không thấm được coi là chìa khóa để xác định quá trình đô  
thị hóa, sự phát triển bền vững, và phục vụ quy hoạch và quản lý đô thị. Quan  
trắc sự mở rộng bề mặt không thấm sử dụng ảnh vệ tinh là phương pháp  
hiệu quả cho phạm vi rộng lớn và đảm bảo độ tin cậy. Trong nghiên cứu này,  
dữ liệu ảnh SPOT-5 và Sentinel-2 thu được trong các năm 2002, 2009 và  
2016 đã đượcsử dụng để phân loại thành bốnlớp phủ bề mặt bao gồm nước,  
thực vật, đất trống và bề mặt không thấm sử dụng thuật toán phân loại KNN  
(fuzzy K-Nearest Neighbors) trên phần mềm eCognition. Kết quả của nghiên  
cứu cho thấy rằng dựa vào thông tin về bề mặt không thấm có thể xác định  
được việc mở rộng khu vực đô thị. Đặc biệt diện tích bề mặt không thấm của  
Thành phố Hồ Chí Minh tăng nhanh từ năm 2002 đến năm 2016. Kết quả cho  
thấy 2615,86 ha chiếm 36,88% tổng diện tích thực vật được chuyển đổi  
thành diện tích bề mặt không thấm. Việc xác định sự mở rộng bề mặt không  
thấm cung cấp thông tin có giá trị giúp cho các nhà qui hoạch thành phố đưa  
ra các chính sách qui hoạch phát triển bền vững đô thị.  
Nhận bài 25/02/2018  
Chấp nhận 03/4/2018  
Đăng online 27/4/2018  
Từ khóa:  
Bề mặt không thấm  
Đô thị hóa  
SPOT-5  
Sentinel-2  
© 2018 Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Tất cả các quyền được bảo đảm.  
nghiên cứu trước đây cho thấy sự thay đổi diện  
tích bề mặt không thấm (BMKT) có liên quan đến  
sự ảnh hưởng đến thuỷ văn, cấu trúc sinh cảnh,  
chất lượng nước và đa dạng sinh học của hệ thống  
thủy sinh (Schueler, 1994).  
Trong những năm gần đây có nhiều kỹ thuật  
chiết tách bề mặt không thấm đã được phát triển,  
từ các phương pháp phân loại theo hướng đối  
tượng sử dụng các hình ảnh có độ phân giải không  
gian cao đến kỹ thuật dưới điểm ảnh (Sub-pixel),  
phân tích mô hình phân tích hỗn hợp phổ (SMA-  
1. Mở đầu  
Bề mặt không thấm nước là các vật liệu ngăn  
cản sự thâm nhập của nước vào đất như hệ thống  
giao thông, mái nhà, bãi đậu xe, v.v….Bề mặt không  
thấm là một chỉ số quan trọng sử dụng đánh giá  
mức độ đô thị hóa và các tác động của các hệ sinh  
thái (Schueler, 1994; Arnold, 1996). Một số  
_____________________  
*Tác giả liên hệ  
70  
Phạm Văn Tùng và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (2), 69-76  
Spectral Mixture Analyze model family) và mô  
hình hồi quy sử dụng ảnh có độ phân giải không  
gian trung bình hoặc thấp. Việc lập bản đồ bề mặt  
không thấm nước đã được áp dụng ở các quy mô  
khác nhau từ địa phương, khu vực đến quốc gia  
hoặc toàn cầu (Lu, 2013). Hầu như các nghiên cứu  
trước đây đã áp dụng thành công cho khu vực  
thành thị (Lu, 2013). Nếu các phương pháp phân  
loại truyền thống trên mỗi điểm ảnh chẳng hạn  
như phân loại xác xuất cực đại có khả năng phân  
loại các lớp sử dụng đất / lớp phủ mặt đất (LULC-  
Land Use/Land Cover), kết quả phân loại nhận  
được thường có độ chính xác rất thấp đối với các  
vùng đô thị. Bởi vậy, phương pháp phân loại mềm  
có chính xác cao hơn được lựa chọn để phục vụ  
chiết tách bề mặt không thấm cho khu vực nghiên  
cứu đô thị.  
Việc nâng cao độ chính xác phân loại đất đô  
thị là một vấn đề quan trọng trong các nghiên cứu  
trước đây về viễn thám (Liu và Wen, 2004). Các  
phương pháp tiếpcậnkhác nhau đã được ápdụng,  
bao gồm cả việc kết hợp dữ liệu địa lý, dữ liệu điều  
tradânsố và đặc trưngcấu trúc hoặc thông tin phổ  
của ảnh viễn thám. Ngoài ra để nâng cao độ chính  
xác của quá trình phân loại ảnh, các kiến thức  
chuyên gia, phương pháp phân loại mờ và sự kết  
hợp dữ liệu ảnh đa bộ cảm đã được sử dụng trong  
các nghiên cứu. Tuy nhiên, việc phân loại đất đô  
thị vẫn là một khó khăn trong trường hợp các dữ  
liệu viễn thám có độ phân giải trung bình và thấp  
do sự lẫn phổ trong một điểm ảnh và lẫn phổ giữa  
các loại lớp phủ trên mặt đất khác nhau.  
Phương pháp phân loại điểm ảnh (Per-pixel)  
chỉ xử lý thuần túy hình ảnh từng điểm ảnh cụ thể,  
trong khi đó phương pháp phân loại dưới điểm  
ảnh xử lý định lượng nhiều lớp đối tượng trong  
mỗi điểm ảnh đơn. Phương pháp phân loại dưới  
điểm ảnh tạo ra các ảnh thành phần với các giá trị  
pixel lấy từ phần nguyên hoặc phần dư của điểm  
ảnh có chứa thành phần mỗi lớp đối tượng  
(Quintano, 2012). Đối với các điểm ảnh không bị  
lẫn phổ, phân tích hỗn hợp phổ (SMA) cho đến nay  
là phương pháp phổ biến nhất trong số các  
phương pháp phân loại dưới điểm ảnh. Việc phân  
tích hỗn hợp phổ tuyến tính (LSMA-Linear  
Spectral Mixture Analysis) và phân tích hỗn hợp  
phổ đa mẫu (MESMA-Multiple End-member  
Spectral Mixture Analysis) đã được chứng minh là  
phương pháp hữu hiệu được sử dụng để chiết  
xuất thông tin bề mặt không thấm từ các ảnh vệ  
tinh Landsat. Tuy nhiên, việc lựa chọn các thành  
phần mẫu đồng nhất phù hợp vẫn là thách thức  
lớn nhất trong phương pháp LSMA (Weng, 2008,  
Lu, 2011, Wu, 2003). Zadeh (1965) đã giới thiệu  
khái niệm phân loại mờ để mô tả và định lượng sự  
không chính xác. Phương pháp phân loại mờ đã  
thu hút được sự quan tâm ngày càng tăng đối với  
việc phân loại dưới điểm ảnh, và trong chiết tách  
thông tin bề mặt không thấm (Tang, 2007;  
Lizarazo, 2010; Hu, 2011; Cao, 2012). Phương  
pháp phân loại mờ tạo ra kết quả chính xác hơn so  
với phương pháp LSMA đối với khu vực có mật độ  
dân cư cao và mật độ dân cư thấp (Tang, 2007).  
Phương pháp phân loại fuzzy-SMA đã được đề  
xuất trong các nghiên cứu trước đó, trong đó giá  
trị trung bình mờ và hiệp phương sai mờ được lấy  
từ các mẫu giám định thông qua phân tích hỗn  
hợp phổ (SMA), trong khi giá trị các hằng số được  
sử dụng trong phân loại mờ truyền thống (Tang,  
2007, Xinyu, 2014).  
Ngoài ra, chỉ số IBI (Index Based Built-up  
Index) lấy từ ảnh Landsat được tính toán từ chỉ số  
SAVI (Soil Adjusted Vegetation Index),MNDWI  
(Modified Normalized Difference Wate Index) và  
NDBI (Normalized Difference Built-up Index)  
(Linh, 2011). Chỉ số bề mặt không thấm ISI  
(Impervious Surface Index) được tính toán từ 4  
kênh phổ của ảnh SPOT-5 (Pairman, 2010). Đây là  
một vài nghiên cứu tính toán chỉ số đất xây dựng  
và bề mặt không thấm trực tiếp từ ảnh nhưng độ  
chính xác phụ thuộc hoàn toàn vào ngưỡng được  
chọn để chiết tách được bề mặt không thấm. Do  
vậy phân loại hướng đối tượng KNN với vùng mẫu  
trực tiếp sẽ khắc phục được sự lựa chọn ngưỡng  
chưa hợp lý của các phương pháp nêu trên.  
Trong nghiên cứu này, dữ liệu ảnh SPOT và  
Sentinel-2 được sử dụng để phân loại các lớp phủ  
đất bao gồm các bề mặt không thấm, thực vật,  
nước mặt và đất trống bằng thuật toánKNN (fuzzy  
K-Nearest Neighbors) và tính toán sự thay đổi bề  
mặt không thấm trong các giai đoạn ở thành phố  
Hồ Chí Minh, Việt Nam.  
2. Khu vực nghiên cứu và dữ liệu sử dụng  
2.1. Khu vực nghiên cứu  
Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở miền Nam của  
Việt Nam (10046' vĩ độ Bắc và 106042' kinh độ  
Đông) là trung tâm kinh tế, dịch vụ, du lịch, văn  
hoá và cảnh quan thiên nhiên. Đây là khu vực  
Phạm Văn Tùng và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (2), 69-76  
71  
Hình 1. Bản đồ 24 quận, huyện của TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam (Oanh và nnk., 2015).  
Bảng 1. Danh sách dữ liệu SPOT-5 và Sentinel-2 của khu vực nghiên cứu.  
Vệ tinh  
SPOT-5  
SPOT-5  
Bộ cảm  
HRG  
HRG  
Cột/Hàng  
276/329  
276/329  
Ngày chụp  
14/12/2002  
19/04/2009  
29/11/2016  
Độ phân giải không gian (m)  
10  
10  
10  
Sentinel-2  
MSI  
nằm bên sông Sài Gòn (Hình 1) với tổng diện tích  
khoảng 2.096 km2 có dân số 8,426 triệu người  
vào năm 2016. Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ đã  
thúc đẩy việc mở rộng các khu công nghiệp, các  
khu đô thị, hệ thống giao thông, và cơ sở hạ tầng.  
Đây là nguyên nhân chính gây ra sự gia tăng bề  
mặt không thấm ở khu vực này.  
2.2. Dữ liệu sử dụng  
Bản đồ và các ảnh vệ tinh là dữ liệu cần thiết  
cho nghiên cứu này. Để chuẩn bị các dữ liệu, chúng  
tôi sử dụng ba bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỷ lệ  
1/10000 được thành lập năm 2000, 2010 và 2015  
của Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và  
Môi trường cung cấp. Các ảnh vệ tinh được sử  
dụng đểchiết xuất bềmặt không thấm bao gồm dữ  
liệu SPOT-5 và Sentinel-2. Bảng 1 cho thấy các  
thông số chi tiết của ảnh vệ tinh đã được sử dụng.  
Hình 2. Sơ đồ quy trình thực nghiệm phân tích bề  
mặt không thấm.  
ảnh vệ tinh SPOT-5 và Sentinel-2 sử dụng phương  
pháp phân loại K-Nearest Neighbors (KNN). Kết  
quả phân loại các ảnh vệ tinh sẽ được sử dụng để  
phân tích các thay đổi về bề mặt không thấm bằng  
3. Phương pháp nghiên cứu.  
Bốn loại lớp phủ bề mặt được phân loại từ các  
72  
Phạm Văn Tùng và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (2), 69-76  
các công cụ GIS. Toàn bộ quy trình thực nghiệm  
cho nghiên cứu này được thể hiện trong Hình 2.  
phân loại mờ KNN tỷ lệ phần trăm của mỗi nhóm  
trong số k-láng giềng gần nhất được gán cho điểm  
ảnh như là một mức độ của thành viên đối với  
nhóm đó. Theo quy tắc phân loại mờ KNN, mức độ  
thành viên của mẫu kiểm tra x đến lớp c được tính  
3.1. Tiền xử lý ảnh  
Hai ảnh SPOT-5 và một ảnh Sentinel-2 có độ  
phân giải không gian 10m đã được hiệu chỉnh khí  
quyển và chuẩn hóa ảnh do sự khác nhau về bộ  
cảm và thời gian chụp ảnh và nắn chỉnh về lưới  
chiếu UTM. Sau đó, chúng được cắt theo ranh giới  
của khu vực nghiên cứu (Hình 3). Các tấm ảnh đã  
được cắt này được nâng cao chất lượng bằng cách  
kéo giãn độ tương phản và sử dụng các phép lọc  
không gian để phục vụ cho việc phân loại thành  
bốn lớp đối tượng.  
như công thức (1).  
푘
푗=1 휇푖푗푑2(푥 − 푥푗)  
∑
( )  
휇푖 푥 =  
(1)  
푘
푗=1 푑2(푥 − 푥푗)  
∑
Trong đó i=1,2,3,…C (số lớp cần phân loại), và  
j=1,2,3…,k (số láng giềng gần nhất). ij là thành  
viên của mẫu xj từ tập hợp mẫu đến lớp i, trong số  
k láng giềng gần nhất của x. Giá trị của k được giới  
hạn trong lớp dữ liệu mẫu nhỏ nhất (Zhu, 2005).  
Để thu thập các vùng mẫu, chúng tôi sử dụng  
các chỉ số SI, SAVI, NDWI, và ISI để tham khảo.  
Trong quá trình chọn mẫu các ngưỡng đối với mỗi  
chỉ số được đưa ra đối với bề mặt không thấm và  
các lớp phủ khác. Các điểm ảnh với dải giá trị dữ  
liệu SI, SAVI, NDWI và ISI nằm trong ngưỡng được  
phân loại cho mỗi lớp, tương ứng bề mặt không  
thấm , thảm thực vật, đất trống, nước mặt và đất  
khác. Các khu vực bị mấy che được bổ sung thông  
tin từ các bản đồ hiện trạng hoặc bản đồ lớp phủ  
bề mặt gần thời điểm chụp ảnh nhất (năm 2000,  
2010 và 2015) vào kết quả phân loại ảnh.  
3.2. Phương pháp phân loại mờ người láng  
giềng gần nhất  
Phương pháp phân loại mờ người láng giềng  
gần nhất (Fuzzy KNN) là phương pháp phân loại  
có giám định dùng để phân loại bề mặt không  
thấm, đây là một phương pháp tốt để phân lớp các  
lớp đối tượng bề mặt ở cấp độ pixel (Keller, 1985).  
Phân loại KNN có thể thực hiện cả phân loại cứng  
và mềm. KNN dùng tập hợp con của tất cả các dữ  
liệu mẫu để xác định một lớp của điểm ảnh hoặc  
các thành viên của một lớp. Trong phương pháp  
Hình 3. Ba ảnh cắt ở ba thời kỳ của khu vực nghiên cứu.  
Bảng 2. Diện tích lớp phủ bề mặt được chiết xuất từ dữ liệu SPOT-5 và Sentinel-2.  
2002  
2009  
2016  
Lớp phủ  
Ha  
%
Ha  
%
Ha  
%
Đất trống  
Bề mặt không thấm  
Nước mặt  
Thực vật  
Đối tượng khác  
903.68  
28773.85  
14411.21  
70935.38  
945.8  
0.78  
24.81  
12.43 14285.69  
61.17 49047.62  
8351.97  
43890.6  
7.20  
5007.94  
48256.55  
15209.8  
47401.21  
94.42  
4.32  
37.85  
12.32  
42.29  
0.34  
41.61  
13.12  
40.87  
0.08  
0.82  
394.04  
Phạm Văn Tùng và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (2), 69-76  
73  
Hình 5. Bản đồ lớp phủ bề mặt và bề mặt không  
thấm năm 2009.  
Hình 4. Bản đồ lớp phủ bề mặt và bề mặt không  
thấm năm 2002.  
Hình 6. Bản đồ lớp phủ bề mặt và bề mặt không  
thấm năm 2016.  
Hình 7. Bản đồ lớp phủ mặt đất chuyển đổi sang  
bề mặt không thấm từ năm 2002 đến 2016.  
74  
Phạm Văn Tùng và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (2), 69-76  
73  
và 2016, phần mềm GIS được sử dụng để chồng  
xếp nhằm xây dựng được bản đồ thay đổi bề mặt  
không thấm nước. Bản đồ này cho thấy các lớp bổ  
sung như: “Nước mặt - Bề mặt không thấm”, “Đất  
trống - Bề mặt không thấm”, “Thực vật - Bề mặt  
không thấm” , và “Đối tượng khác - Bề mặt không  
thấm”. Mỗi lớp thay đổi được sử dụng một màu  
khác nhau để phân biệt giữa lớp này và lớp khác  
(Hình 7).  
Từ Hình 8, ta thấy đã có rất nhiều sự biến  
động trong số các loại lớp phủ mặt đất từ năm  
2002 đến năm 2016, nhưng chúng ta chỉ quan tâm  
tới diện tích bề mặt không thấm tăng lên do sự  
thay đổi từ thực vật, mặt nước, đất trống và các  
loại khác. Sự thay đổi thực vật, đất trống, mặt nước  
và các đối tượng khác tương ứng với diện tích bề  
mặt không thấm tăng khoảng 36,88% tổng diện  
tích thực vật, 65,93% tổng diện tích đất trống,  
17,23% tổng diện tích mặt nước và 8,81% tổng  
diện tích các loại khác (Hình 9). Điều này có nghĩa  
là sự thay đổi từ thực vật sang bề mặt không thấm  
là sự thay đổi lớn nhất trong quá trình đô thị hóa  
ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Có thể giải  
thích điều này rằng do chính sách quy hoạch sử  
dụng đất cho đô thị trong giai đoạn này là chuyển  
đổi đất nông nghiệp sang các loại hình sử dụng đất  
khác.  
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
Từ dữ liệu SPOT-5 và Sentinel-2 khu vực thành  
phố Hồ Chí Minh, phương pháp phân loại mờ KNN  
được sử dụng để phân loại các lớp phủ phục vụ  
thành lập bản đồ các lớp phủ bề mặt vào năm  
2002, 2009 và 2016 (Hình 4, 5 và 6).  
Theo những bản đồ lớp phủ bề mặt này, diện  
tích nước mặt, thực vật, đất trống và bề mặt không  
thấm được tính toán và đưa ra trong Bảng 2. Các  
kết quả này cho thấy diện tích bề mặt không thấm  
tăng dần (28773,85 ha (24,81%), 43890,6 ha  
(37,85%) và 48256,55 ha (41,61%) trong năm  
2002, 2009 và 2016). Trong khi đó, diện tích thực  
vật giảm từ 70935,38 ha (61,17%) xuống  
47401,21 ha (40,87%) trong giai đoạn 2002 -  
2016 như thể hiện trong Hình 8.  
Độ chính xác của kết quả phân loại theo thuật  
toán KNN nhận được bao gồm độ chính xác toàn  
bộ và chỉ số Kappa lần lượt (0.84; 0.78), (0.82;  
0.81), và (0.87,0.83) cho ảnh đã phân loại các năm  
2002, 2009, và 2016. Các chỉ số Kappa này được  
tính toán trong quá trình đánh giá độ chính xác kết  
quả phân loại dựa vào các vùng mẫu kiểm tra lấy  
từ ba bản đồ hiện trạng hoặc bản đồ lớp phủ bề  
mặt gần thời điểm chụp ảnh nhất (năm 2000,  
2010 và 2015). Theo các kết quả đánh giá này, các  
bản đồ lớp phủ bề mặt xây dựng từ các kết quả  
phân loại có thể đảm bảo để phân tích các biến  
động của bề mặt không thấm trong các giai đoạn  
mà ảnh vệ tinh đã cung cấp.  
5. Kết luận  
Trong nghiên cứu này, hai ảnh vệ tinh SPOT-  
5 và một ảnh Sentinel-2 thu được trong các năm  
2002, 2009 và 2016 đã được sử dụng để chiết tách  
Dựa vào bản đồ lớp phủ bề mặt các năm 2002  
Hình 9. Tỷ lệ phần trăm các lớp phủ bề mặt chuyển  
thành bề mặt không thấm giai đoạn 2002 - 2016.  
Hình 8. Sự thay đổi diện tích của lớp phủ bề mặt và  
bề mặt không thấm.  
Phạm Văn Tùng và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (2), 69-76  
75  
các lớp phủ mặt đất bao gồm thực vật, đất trống,  
nước mặt và bề mặt không thấm. Để thực hiện  
nhiệm vụ này, phương pháp phân loại KNN được  
sử dụng để xây dựng ba bản đồ lớp phủ bề mặt ở  
ba thời điểm. Kết quả cho thấy diện tích bề mặt  
không thấm tăng từ 28773,85 ha lên 48256,55  
(16,8% tổng diện tích toàn thành phố), nhưng  
diện tích thảm thực vật giảm do quá trình đô thị  
hóa (20,3% tổng diện tích toàn thành phố). Dựa  
vào bản đồ biến động lớp phủ bề mặt giữa năm  
2002 và năm 2016 cho thấy 2615,86 ha (36,88%)  
tổng diện tích thực vật đã được chuyển đổi thành  
bề mặt không thấm. Sự chuyển đổi từ lớp thực vật  
sang bề mặt không thấm xảy ra ở các khu vực ven  
đô thị (vùng gần ranh giới giữa các quận và huyện  
của Thành phố Hồ Chí Minh) Những thay đổi về  
lớp phủ mặt đất này cho thấy xu hướng chuyển  
đổi mục đích sử dụng đất do chính sách quy hoạch  
sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa của Thành  
phố Hồ Chí Minh.  
Huete, A., Justice, C., and Liu, H., 1994.  
Development of Vegetation and Soil Indexes  
for MODIS-EOS. Remote Sensing of  
Environment 49(3), 224-234.  
Keller, J. M., Gray, M. R., and Givens, J. A., 1985. A  
Fuzzy K-Nearest Neighbor Algorithm. IEEE  
Transactions On Systems Man and Cybernetics  
15(4), 580-585.  
Lizarazo, I., 2010. Fuzzy image regions for  
estimation of impervious surface areas.  
Remote Sensing Letters 1(1), 19-27.  
Lu, D., Li, G., Kuang, W., and Moran E., 2013.  
Methods to extract impervious surface areas  
from satellite images. International Journal of  
Digital Earth 7(2), 93-112.  
Lu, D., Moran, E., and Hetrick, S., 2011. Detection  
of impervious surface change with  
multitemporal Landsat images in an urban-  
rural  
frontier.  
ISPRS  
Journal  
of  
Photogrammetry and Remote Sensing 66(3),  
298-306.  
Lời cảm ơn  
Các tác giả xin cảm ơn Cơ quan hàng không  
Vũ trụ châu Âu đã cung cấp dữ liệu ảnh Sentinel-2  
và Cục Viễn thám Quốc gia thuộc Bộ Tài nguyên và  
Môi trường đã cung cấp dữ liệu ảnh SPOT-5. Tác  
giả cũng xin cảm ơn Tổng cục đất đai của Bộ Tài  
nguyên và Môi trường đã cung cấp bản đồ hiện  
trạng sử dụng đất của khu vực nghiên cứu.  
Lu, D., and Weng, Q., 2004. Spectral mixture  
analysis of the urban landscape in Indianapolis  
city  
with  
Landsat  
ETM+  
imagery.  
Photogrammetric Engineering  
&
Remote  
Sensing 70(9), 1053- 1062.  
Oanh, L., Bloemhof-Ruwaard J. M., Van Buuren J.C.,  
Van der Vorst J.G., and Rulkens, W.H., 2015.  
Modelling and evaluating municipal solid  
waste management strategies in a mega-city:  
The case of Ho Chi Minh City. Waste  
Management & Research 33(4), 370-380  
Tài liệu tham khảo  
Arnold, C. L., and Gibbons, C. J., 1996. Impervious  
surface coverage: the emergence of a key  
environmental indicator. Journal of the  
American Planning Association 62(2), 243-258.  
Pairman, D., McNeill, S., and Belliss, S., 2010.  
Impervious Surface Mapping for the Auckland  
Region. Prepared by Landcare Research for  
Auckland Regional Council. Auckland Regional  
Council Technical Report 2010/037.  
Cao, L., Li, P., Zhang, L., and Xu, X., 2012. Estimating  
Impervious Surfaces Using theFuzzy ARTMAP.  
Geomatics and Information Science of Wuhan  
University 37(10), 1236-1239.  
Hanqiu, X., 2006. Modification of normalized  
difference water index(NDWI) to enhance  
open water feature in remotely sensed  
imagery. International Journal of Remote  
Sensing 27(14), 3025-3033.  
Quintano, C., Fernández-Manso, A., Shimabukuro,  
Y.E., and Pereira, G., 2012. Spectral unmixing.  
International Journal of Remote Sensing  
33(17), 5307-5340.  
Schueler, R, T., 1994. The importance of  
Hu, X. F., and Weng, Q. H., 2011. Impervious  
surface area extraction from IKONOS imagery  
using an object-based fuzzy method. Geocarto  
International 26(1), 3-20.  
imperviousness.  
Techniques 1, 100-111.  
Watershed  
Protection  
Tang, J., Wang, L., and Myint, S. W., 2007.  
Improving urban classification through fuzzy  
76  
Phạm Văn Tùng và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (2), 69-76  
75  
supervised classification and spectral mixture  
Environment 117, 34-49.  
analysis. International Journal of Remote  
Sensing 28(18), 4047-4063.  
Wu, C., Murray, A. T., 2003. Estimating impervious  
surface distribution by spectral mixture  
analysis. Remote Sensing of Environment 84(4),  
493-505.  
Weng, Q. H., and Lu, D. S., 2008. A sub-pixel  
analysis of urbanization effect on land surface  
temperature and its interplay with impervious  
surface and vegetation coverage in  
Indianapolis, United States. International  
Journal of Applied Earth Observation and  
Geoinformation 10(1), 68-83.  
Xinyu Z., Zhoulu, Y., Weijiu, A., Youfu, W., Amir, R.  
T., Shucheng, Y., Jinsong, D., Ke, W., 2014. Rural  
impervious surfaces extraction from Landsat 8  
imagery and rural impervioussurface index.  
Proc. SPIE. 9260, Land Surface Remote Sensing  
II 926030.  
Weng, Q., and Hu, X., 2008. Medium spatial  
resolution satellite imagery for estimating and  
mapping urban impervious surfaces using  
LSMA and ANN. IEEE Transactions On  
Geoscience and Remote Sensing 46(8), 2397-  
2406.  
Zadeh, L.A., 1965. Fuzzy Sets. Information and  
Control 8(3), 338.  
Zhu, H.W., and Basir, O., 2005. An adaptive fuzzy  
evidential nearest neighbor formulation for  
classifying remote sensing images. IEEE  
Transactions On Geoscience and Remote  
Sensing 43(8), 1874-1889.  
Weng, Q.H., 2012. Remote sensing of impervious  
surfaces in the urban areas: Requirements,  
methods, and trends. Remote Sensing of  
ABSTRACT  
Detection of the impervious surfaces expansion using SPOT-5 and  
Sentinel-2 data: a case study in Ho Chi Minh city  
Tung Van Pham 1, Trung Van Nguyen 2, Long Huu Nguyen 3, Hung Duc Nguyen 4  
1 University of Natural Resources and Environment of Ho Chi Minh City, Vietnam  
2 University of Mining and Geology, Vietnam  
3 Dong Thap University, Vietnam  
4 Department of Natural resources and Environment of Thai Binh Province, Vietnam  
Ho Chi Minh city is known as a quick urbanization area of Vietnam. Meanwhile, impervious surfaces  
to be known as the key to identify the urbanization and urban sustainable development as well as  
planning of natural resources. Using satellite data for detecting the impervious surfaces expansion is  
effective mothod and assurance of reliability for large areas. In this study, temporal SPOT-5 and Sentinel-  
2 data acquired in 2002, 2009 and 2016 were classified for four classes including open water, vegetation,  
barren and impervious surface area using KNN classifier algorithm by eCognition software. Results of the  
study showed that information of the impervious surfaces can determine the urban area expansion. In  
particular, the impervious surfaces area of Ho chi Minh City, Vietnam increased rapidly between 2002  
and 2016. The results showed that 2615.86 ha (36.88%) of total vegetation area was converted to  
impervious surfaces area. The extraction of the impervious surfaces using remote sensing data is to  
provide valuable information to the local city planners for understanding the impacts of urban planning  
policy to urban sustainable development.  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 23320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quan trắc sự mở rộng bề mặt không thấm bằng dữ liệu ảnh Spot-5 và Sentinel-2 ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_trac_su_mo_rong_be_mat_khong_tham_bang_du_lieu_anh_spot.pdf