Sự cần thiết hình thành thị trường Các-bon tại Việt Nam

SỰ CẦN THIẾT HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CÁC-BON TẠI VIỆT NAM  
Nguyễn Thị Liễu(1), Nguyễn Trung Anh(1), Vũ Đình Nam(2)  
(1)Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu  
(2)Văn phòng Bộ Tài nguyên và Môi trường  
Ngày nhận bài 16/5/2018; ngày chuyển phản biện 17/5/2018; ngày chấp nhận đăng 27/6/2018  
Tóm tắt: Hiện nay, việc phát triển thị trường các-bon được xem là yêu cầu cấp thiết, vừa góp phần những  
giá trị kinh tế nhất định, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước, đồng thời là sự kết nối hợp  
tác để mở rộng quan hệ ngoại giao thông qua việc đầu tư khoa học, công nghệ và tài chính giữa các quốc  
gia. Nghiên cứu chỉ ra một số mô hình thị trường các-bon tự nguyện điển hình trên thế giới, đồng thời đưa  
ra những phân ꢀch và nhận định về ꢁềm năng cho việc hình thành và phát triển thị trường các-bon tại Việt  
Nam. Việc phân ꢀch và đánh giá tổng quan về bối cảnh cấp thiết của quốc tế về thị trường các-bon cũng  
như ꢂnh hình thực hiện và triển khai thị trường các-bon trong nước tại các quốc gia điển hình trên thế giới  
kết hợp với những phân ꢀch và nhận định về những điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển  
thị trường các-bon tại Việt Nam sẽ là cơ sở quan trọng cho việc phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam.  
Từ khóa: Thị trường các-bon, Nghị định thư Kyoto, Thỏa thuận Paris về BĐKH.  
1. Mở đầu  
Theo Điều 17 của Nghị định thư Kyoto, thị  
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều  
lợi thế cho phát triển thị trường các-bon tự  
nguyện, trước hết là việc Việt Nam đã thể hiện  
sự cam kết của mình về việc cắt giảm KNK trong  
NDC lên Ban thư ký Công ước khung của Liên  
hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) với  
lượng phát thải KNK khoảng 8% vào năm 2030  
so với kịch bản phát triển thông thường bằng  
nguồn lực trong nước và có thể lên đến 25% nếu  
nhận được hỗ trợ quốc tế. Ngoài ra, trong hợp  
tác quốc tế liên quan đến giảm nhẹ, Việt Nam  
cũng đã nhận được một số hỗ trợ trực ꢀếp từ  
các tổ chức quốc tế như ADP, WB, GZ, UNDP.  
Một vấn đề quan trọng nữa là hiện nay Chính  
phủ Việt Nam cũng đang có chủ trương chuyển  
đổi nền kinh tế theo hướng bền vững, phát triển  
các-bon thấp sẽ là ꢀền đề quan trọng để hỗ trợ  
cho việc phát triển thị trường các-bon. Việt Nam  
tham gia vào việc phát triển thị trường các-bon  
nội địa sẽ góp phần chung tay với thế giới trong  
mục ꢀêu giảm KNK và phát triển kinh tế đất  
nước theo hướng xanh và bền vững.  
trường các-bon được hiểu là việc cho phép các  
quốc gia có dư thừa quyền phát thải được bán  
cho hoặc mua từ các quốc gia phát thải nhiều  
hơn/ít hơn mục ꢀêu cam kết. Do đó, trên thế  
giới đã xuất hiện một loại hàng hóa mới, được  
tạo ra dưới dạng chứng chỉ giảm/hấp thụ phát  
thải khí nhà kính. Do CO2 là khí nhà kính (KNK)  
qui đổi tương đương của mọi KNK nên mọi  
người thường gọi đơn giản là mua bán, trao đổi  
các-bon. Việc mua bán các-bon hình thành nên  
thị trường các-bon (carbon market).  
Từ khi Nghị định thư Kyoto ra đời, thị trường  
các-bon đã phát triển mạnh tại các quốc gia  
Châu Âu, Châu Mỹ và cả Châu Á với hai loại thị  
trường chính là thị trường các-bon bắt buộc và  
thị trường các-bon tự nguyện. Hiện nay, trong  
xu thế BĐKH toàn cầu, các quốc gia thông qua  
thỏa thuận Paris phải đệ trình Báo cáo Đóng góp  
do quốc gia tự quyết định(NDC), từ đó sẽ mở  
ra cơ hội lớn cho sự hình thành và phát triển  
thị trường các-bon trên thế giới nói chung cũng  
như thị trường các-bon tự nguyện nói riêng.  
2. Tổng quan về thị trường các-bon trên thế giới  
Từ việc nhận định về thị trường các-bon trên  
thế giới, có thể hình dung rằng thị trường các-bon  
là một loại hình thị trường đặc thù, với hàng hóa  
được mua/bán trong thị trường là các đơn vị/  
Liên hệ tác giả: Nguyễn Thị Liễu  
Email: lieuminh2011@gmail.com  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
71  
Số 6 - Tháng 6/2018  
chứng chỉ giảm/hấp thụ phát thải KNK theo các  
cơ chế khác nhau. Các đối tượng tham gia mua/  
bán có thể là các doanh nghiệp và các quốc gia  
hoặc cũng có thể các tổ chức tài chính.  
i. Thị trường bắt buộc (mandatory carbon  
market): là thị trường mà ở đó việc buôn bán  
các-bon dựa trên cam kết của các quốc gia trong  
UNFCCC để đạt được mục ꢀêu cắt giảm khí nhà  
kính. Thị trường này mang ꢁnh bắt buộc và chủ  
yếu dành cho các dự án trong cơ chế phát triển  
sạch (CDM) hoặc đồng thực hiện (JI)  
thế giới đã giảm đi nhiều. Nguyên nhân chủ yếu  
do Bản sửa đổi, bổ sung Doha vào Nghị định thư  
Kyoto chưa có hiệu lực thi hành. Các nước phát  
triển (các quốc gia mua ꢁn chỉ các-bon từ CDM)  
chưa bị bắt buộc giảm phát thải theo quy định.  
Mặc dù, đã có một số cơ chế mới được xây dựng  
và triển khai như JCM giữa Nhật Bản và một số  
đối tác nhưng các hoạt động mới chỉ ở giai đoạn  
thí điểm và ꢁn chỉ các-bon thu được chưa thể  
giao dịch trên thị trường các-bon.  
Tại COP21, các nước đã thông qua quy định  
về một cơ chế mới, cơ chế góp phần giảm nhẹ  
phát thải KNK và hỗ trợ phát triển bền vững.  
Theo đó, thị trường các-bon đang xu hướng  
phát triển mạnh mẽ toàn cầu và có nhiều đóng  
góp cho mục ꢀêu giảm phát thải của các quốc  
gia. Tính đến cuối năm 2016, thị trường các-bon  
(ETS) đã và đang được vận hành qua 4 lục địa,  
40 quốc gia, 13 bang/tỉnh,7 thành phố chiếm  
khoảng 40% GDP và ¼ phát thải toàn cầu. Tính  
đến thời điểm hiện tại đang có 17 hệ thống ETS  
đang được vận hành, đóng góp khoảng ½ tổng  
lượng phát thải, tương đương với 7 GtCO2tđ  
(chiếm 12% tổng lượng phát thải toàn cầu).  
Trong đó, Châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn  
Quốc là những quốc gia đi đầu trên thế giới về  
việc thành lập thị trường các-bon, và xem đây là  
chính sách chủ đạo về biến đổi khí hậu của quốc  
gia. Hiện nay Việt Nam đang nằm trong nhóm  
15 quốc gia trên thế giới đang xem xét, cân nhắc  
để xây dựng ETS. Chính vì vậy, việc nghiên cứu  
kinh nghiệm của các quốc gia đã và đang xây  
dựng, vận hành ETS sẽ rất quan trọng cung cấp  
các cơ sở thực ꢀễn trong việc nhìn nhận, đánh  
giá vài trò của ETS, cũng như nhận ra được các  
lỗ hổng về mặt lý thuyết và thực ꢀễn để làm căn  
cứ hoàn thiện cơ sở khoa học về ETS.  
ii. Thị trường tự nguyện (voluntary carbon  
market): thị trường này dựa trên cơ sở hợp tác  
thỏa thuận song phương hoặc đa phương giữa  
các tổ chức, công ty hoặc quốc gia  
Nghị định thư Kyoto là đưa ra các mục ꢀêu  
mang ꢁnh bắt buộc đối với 37 nước công nghiệp  
trên thế giới và Liên minh Châu Âu (EU) về việc  
giảm lượng KNK. Theo đó, các nước này đến năm  
2012 phải giảm lượng phát thải KNK, chủ yếu là  
carbon dioxide, ít nhất 5% so với mức phát thải  
năm 1990. Mức giảm cụ thể áp dụng cho từng  
quốc gia thay đổi khác nhau. Ví dụ, các nước EU  
là 8%, Mỹ 7%, Nhật Bản 6%, Australia 8%, trong  
khi New Zealand, Nga và Ucraina được duy trì  
mức phát thải hiện tại. Riêng một số quốc gia  
vốn có lượng phát thải KNK thấp được phép  
tăng lượng phát thải, như Na Uy được tăng 1%  
hay Iceland 10%.  
Các nước tham gia vào Nghị định thư Kyoto  
phải chịu sự giám sát và quản lý bởi các nguyên  
tắc của Liên Hiệp Quốc về lượng khí thải cắt  
giảm. Các quốc gia được chia làm hai nhóm:  
nhóm các nước phát triển thuộc Phụ lục I  
(Annex I) theo phân loại của UNFCCC, buộc phải  
có bản đệ trình thường niên về các hành động  
cắt giảm khí thải; và nhóm các nước đang phát  
triển không thuộc Phụ lục I (Non-Annex I) của  
UNFCCC, bao gồm đa số các nước đang phát  
triển và cả một số nền kinh tế lớn mới nổi như  
Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil. Những nước này ít  
chịu ràng buộc hơn so với các nước thuộc nhóm  
Annex I.  
3. Tổng quan về thị trường các-bon tự nguyện  
tại một số quốc gia điền hình trên thế giới  
Trên thế giới đã có nhiều quốc gia đã xây  
dựng và phát triển thị trường các-bon điển hình  
phải kể đến như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn  
Quốc và đã mang lại một số thành công nhất  
định trong việc cắt giảm lượng phát thải khí nhà  
kính và những lợi ích kinh tế nói chung.  
Trong giai đoạn cam kết đầu của Nghị định  
thư Kyoto, từ năm 2008 - 2012, thị trường cácbon  
hoạt động rất sôi nổi với Cơ chế ꢁn chỉ chung  
(JCM). Tuy nhiên, trong giai đoạn từ 2013 -  
2020, số lượng các dự án CDM đăng ký mới trên  
3.1. Thị trường các-bon của Trung Quốc  
Vào năm 2011, sau khi các quy định về thị  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
Số 6 - Tháng 6/2018  
72  
trường các-bon theo Nghị định thư Kyoto được  
công bố, Trung Quốc công bố 7 thị trường các-bon  
thử nghiệm, bao gồm Bắc Kinh, Thượng Hải,  
Quảng Đông, Trùng Khánh, Thiên Tân, Hồ Bắc,  
và Quảng Tây. Các thị trường chịu sự quản lý vận  
hành của Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia  
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (NDRC) và được  
xây dựng bởi việc liên kết và phối hợp giữa các  
cơ quan cấp tỉnh, thành phố và thành lập các  
sàn giao dịch phát thải địa phương, cùng các  
lãnh đạo, chuyên gia tại các trường đại học và  
các viện nghiên cứu và có sự tham vấn ý kiến  
lãnh đạo cấp cao tại Bắc Kinh.  
NDRC đã đưa ra một quy trình phát triển  
các thị trường thử nghiệm, bao gồm ba giai  
đoạn: bắt đầu với việc xây dựng các trụ cột của  
hệ thống như hệ thống đăng ký, nền tảng giao  
dịch và hệ thống giám sát, báo cáo và thẩm  
định (MRV); giai đoạn hai là giai đoạn vận hành  
thử nghiệm và cuối cùng là thực hiện giao dịch  
chính thức. Cả 7 tỉnh thành đều thiết lập mục  
ꢀêu giảm cường độ phát thải trong các nhà máy  
từ 15-20% trong các giai đoạn với năm gốc 2010  
với mức độ giao động từ 17-20% so với năm gốc  
2010. Kể từ lúc bắt đầu thiết lập 7 thị trường thí  
điểm vào tháng 6/2013 đến nay, đã có 94 triệu  
tấn các-bon đã được mua bán. Tính đến quý  
2/2016, tổng giá trị giao dịch của thị trường đã  
lên tới 349 triệu USD với mức giá ꢁn chỉ các-bon  
trung bình là 3,72 USD/tấn. Các giao dịch qua  
thị trường trực tuyến và OTC chiếm tỷ trọng lần  
lượt là 57% và 43% với giá trị giao dịch tương  
đương 56,7% và 34,3%.  
Lựa chọn mô hình thiết kế các ETS thí điểm:  
Mỗi ETS được thiết kế khác nhau, tùy thuộc vào  
đặc điểm cụ thể của từng địa phương và được  
xây dựng bởi chính quyền địa phương với việc  
tư vấn thường xuyên với chính quyền trung  
ương ở Bắc Kinh.  
Thiết lập hạn mức và phân bổ hạn mức phát  
thải cho phép: Các ETS ở Trung Quốc áp dụng kết  
hợp phân bổ hạn ngạch miễn phí và một phần  
được đưa ra đấu giá cho các doanh nghiệp tham  
gia dựa trên quá khứ phát thải của doanh nghiệp  
(giao động từ 3-10% tại các ETS và qua các năm  
khác nhau trong thời kỳ thực hiện). Sau đó, cho  
phép các doanh nghiệp đấu giá các hạn mức dư  
thừa/thiếu hụt của mình trên thị trường để có  
được hạn mức phát thải mong muốn bổ sung.  
Hạn ngạch phát thải là mức tuyệt đối được thiết  
lập cho cả thời kỳ.  
Đấu giá và cơ chế kiểm soát giá: Việc đấu giá  
được thực hiện tại sàn giao dịch chứng khoán  
địa phương, trong khi cơ quan chịu trách nhiệm  
quản lý thuộc về Hội đồng phát triển và cải cách  
tại mỗi địa phương.  
MRV và kiểm soát thị trường: Với mức độ  
phức tạp của các ETS khác nhau và nhiều ngành,  
loại doanh nghiệp được đưa vào hệ thống, tuy  
nhiên MRV của Trung Quốc hoạt động rất thành  
công với sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới và  
Chính quyền trung ương. Việc kiểm soát sẽ  
được thực hiện bởi chính các doanh nghiệp và  
được gửi đến hệ thống MRV của quốc gia, các  
chi phí kiểm soát và các phương pháp được xây  
dựng để kiểm roát là một trong những ưu ꢀên  
quan trọng của chính phủ. Các báo cáo của doanh  
nghiệp được thực hiện bởi doanh nghiệp và  
được xác nhận bởi một bên thứ ba độc lập, các  
báo cáo phải được đính kèm các tài liệu, dữ liệu  
và phải theo một quy trình nghiêm ngặt về thời  
gian thực hiện. Các doanh nghiệp không hoàn  
thành mục ꢀêu được quy định khác nhau giữa  
các hệ thống ETS, chủ yếu tập trung vào hình  
phạt ꢀền, với mức giao động từ €1.500 đến  
€7.000/mỗi lần vi phạm, trong một số trường  
hợp có thể gia hạn thời gian hoàn thành. Một  
số các trừng phạt vi phạm khác cũng được ban  
hành đối với các doanh nghiệp vi pham. Ví dụ  
ETS - Thượng hải sẽ cắt giảm các hỗ trợ ưu đãi,  
không cấp phép cho việc xây dựng dự án mới, bị  
tăng cường kiểm soát bởi cơ quan trung ương,…  
Thiết lập các điều khoản linh hoạt và cơ chế  
hỗ trợ thực hiện: Một số ETS đã cho phép doanh  
nghiệp sử dụng cơ chế gửi ngân hàng một lượng  
phát thải nhất định để sử dụng trong tương lai.  
Việc thiết lập các can thiệp về giá giao động rất  
lớn ở các ETS. Trong một số trường hợp, các can  
thiệp giá chỉ được sử dụng khi có biến động lớn  
về giá trên thị trường. Trung Quốc chỉ chấp nhận  
các ꢁn chỉ phát thải chỉ được hình thành ở Trung  
Quốc (CCERs) từ năm 2015 với một mức giới  
hạn nhất định.  
3.2. Thị trường các-bon của Thái Lan  
Trong INDC của Thái Lan có đề cập đến mục  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
73  
Số 6 - Tháng 6/2018  
ꢀêu cắt giảm phát thải khí nhà kính với mức 20%  
trong đóng góp dự kiến cho phép vào năm 2030,  
mức đóng góp này có thể tăng lên đến 25% tùy  
thuộc vào sự hỗ trợ tăng cường và phù hợp Thái  
Lan có được thông qua hiện định cân bằng toàn  
cầu. Thái Lan công nhận vai trò quan trọng của  
cơ chế thị trường nhằm tăng cường hiệu quả chi  
phí của các hành động giảm thiểu nên ꢀếp tục  
được khai phá ꢀềm năng và hiện nay ETS của  
Thái Lan và các cơ chế thị trường khác hiện vẫn  
chưa được đưa vào INDC.  
trong tương lai.  
- Chương trình thành phố các-bon thấp  
(LCC): Cơ chế ꢁn chỉKNK sẽ là một phần trong  
chương trình T-VER nhằm đạt được phát thải  
KNK do các thành phố và cộng đồng địa phương  
cùng thực hiện.  
Kế hoạch thực hiện và triển khai Chương  
trình V-ETS của Thái Lan trải qua các giai đoạn  
như sau: (1) Năm 2010: Tập trung nghiên cứu  
báo cáo KNK và MRV, ꢀềm năng giảm phát thải;  
(2) Năm 2011: Nghiên cứu và xác định các ngành  
công nghiệp; cách ꢀếp cận quy định mức trần và  
phân bổ cho phép; (3) Năm 2012: Nghiên cứu và  
đề xuất khung thể chế, nguyên tắc hoạt động,  
khuyến khích các hoạt động trao đổi phát thải  
tự nguyện; (4) Năm 2013 - 2014: Phát triển hệ  
thống MRV; nghiên cứu các nguyên tắc báo cáo  
KNK và khả năng kết nối; (5) Năm 2015: Nghiên  
cứu đánh giá tác động của hệ thống ETS và đánh  
giá tác động của BĐKH; (6) Năm 2018 - 2020: Cải  
thiện và phát triển các nguyên tắc hoạt động,  
bao gồm cả hệ thống đăng ký và đề xuất lộ trình  
và kiến nghị về chính sách.  
Theo cơ quan Quản lý KNK Thái Lan (2017),  
tại Thái Lan, một số công cụ tạo động lực cho thị  
trường các-bon hiện nay phải kể đến:  
- Chương trình giảm phát thải tự nguyện của  
Thái Lan (T-VER): Chương trình này được khởi  
công từ tháng 10/2013, hiện có 65 dự án, đây là  
cơ chế tạo ꢁn chỉcác-bon trong nước dựa trên  
cách ꢀếp cận phát triển các dự án, sử dụng các  
phương pháp CDM, J-VER. Chương trình này có  
mục ꢀêu: (1) Khuyến khích phát triển các dự  
án giảm phát thải KNK với các khoản đồng lợi  
ích bằng các chứng chỉ ꢁn chỉ các-bon; (2) Thúc  
đẩy thị trường các-bon nội địa của Thái Lan; (3)  
Nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu (BĐKH)  
và khuyến khích sự tham gia của khu vực Nhà  
nước và tư nhân.  
- Chương trình trao đổi phát thải tự nguyện  
của Thái Lan (Thailand V-ETS): quy định về hệ  
thống mức trần và trao đổi tự nguyện được thử  
nghiệm nhằm kiểm tra hệ thống MRV và chu kỳ  
hoạt động từ tháng 10/2014;  
- Chương trình cân đối bù trừ các-bon của  
Thái Lan (T-COP): được khởi động tháng 3/2013,  
nhằm sử dụng mức đóng góp của các bên tham  
gia hỗ trợ các hoạt động giảm phát thải khí nhà  
kính trong nước, đặc biệt là các dự án thuộc  
chương trình T-VER;  
- Các dự án giảm phát thải tự nguyện (VER):  
ꢀêu chuẩn quốc tế.  
Một số công cụ đề xuất khác hỗ trợ cho PMR  
của Thái Lan đó là:  
- Chương trình chứng nhận hoạt động năng  
lượng (EPC): Chương trình nhằm mục ꢀêu  
đạt được hiệu suất năng lượng trong các tòa  
nhà và tòa nhà sử dụng nhiều năng lượng và  
nhằm xây dựng sự sẵn sàng của các hợp phần  
thị trường cốt lõi tạo nền móng xây dựng ETS  
Hệ thống MRV của Thái Lan được xây dựng  
trên ISO 1464-1, 14064-3 và 14065 với nền tảng  
trực tuyến, các nhà máy được lựa chọn thí điểm  
tập trung vào sản xuất điện, hóa dầu, xi măng,  
sắt, thép, bột giấy và giấy, lọc dầu, sản xuất kính,  
nhựa, gốm và thực phẩm - thức ăn.  
- Về cơ chế giao dịch: Thái Lan áp dụng cơ  
chế giao dịch thường dùng trong các hệ thống  
giao dịch phát thải “Cap and Trade”. Cụ thể, các  
cơ sở tham gia vào TVETS thử nghiệm sẽ phải  
nhận một mức trần phát thải KNK nhất định  
và mức trần này được quy định bởi Nhà nước,  
phân bổ dựa theo lượng phát thải KNK của cơ  
sở được báo cáo lại vào cuối mỗi năm. Nếu cơ  
sở phát thải vượt quá mức trần cho phép, cơ sở  
này sẽ phải mua thêm ꢁn chỉ phát thải từ các cơ  
sở khác trong TVETS; hoặc ꢁn chỉ từ các dự án  
giảm nhẹ KNK để bù vào lượng phát thải KNK  
đã vượt quá. Ngược lại, nếu một cơ sở sản xuất  
kinh doanh có mức phát thải ít hơn so với mức  
trần, cơ sở có thể “ꢀết kiệm” lượng ꢁn chỉ phát  
thải đó cho năm sau, hoặc bán cho các cơ sở  
khác trong TVETS. Giá thành ꢁn chỉ phát thải sẽ  
thay đổi tùy thuộc vào nguồn cung và cầu trên  
thị trường.  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
Số 6 - Tháng 6/2018  
74  
Hình 1: Hệ thống đăng ký, báo cáo phát thải của Thái Lan  
Nguồn: Cơ quan Quản lý khí nhà kính Thái Lan (2013)  
- Về Chế tài xử phạt: Theo PMR (2014) nhận  
định chế tài xử phạt là một con dao hai lưỡi trong  
thị trường tự nguyện Thái Lan. Cụ thể, chế tài xử  
phạt có thể giúp các cơ sở tham gia đúng theo  
quy định, tuy nhiên chế tài xử phạt cũng có thể  
ảnh hưởng tới mức độ tham gia của thị trường  
tự nguyện. Ngoài ra, e ngại xử phạt có thể khiến  
các doanh nghiệp đặt mục ꢀêu giảm thải “nhẹ  
nhàng”. Hiện nay, ở dự án thử nghiệm TVETS  
vẫn chưa có chế tài xử phạt nào được áp dụng:  
các cơ sở tham gia chỉ bị nhắc nhở để rút kinh  
nghiệm nhằm chuẩn bị tham gia hệ thống giao  
dịch phát thải bắt buộc vào năm 2020. Dù vậy,  
chế tài xử phạt được đề xuất hiện tại ở TVETS  
Thái Lan sẽ dựa theo Đạo luật Bảo tồn Năng  
lượng - đặt ra ꢀêu chuẩn và phương pháp hoạt  
động cũng như chế tài xử phạt cho các cơ sở sử  
dụng một lượng lớn năng lượng. Các cơ sởcó sai  
phạm trong báo cáo ꢀêu thụ năng lượng hoặc  
các quy trình liên quan tới sử dụng năng lượng.  
Tuy nhiên, khó khăn hiện tại Thái Lan đang gặp  
phải trong việc xây dựng mục ꢀêu và quy chuẩn  
bắt buộc là thiếu số lượng và hệ thống thông ꢀn,  
cũng như một ꢀêu chuẩn thẩm định các dữ liệu  
thu được.  
cho các cơ sở. Ngoài ra, nhà nước còn chịu trách  
nhiệm kiểm soát giá như trần giá và giá sàn. Do  
TVETS 2014 là dự án thử nghiệm, nhà nước Thái  
Lan hiện chưa có động thái kiểm soát các cơ sở  
tham gia hoặc xử phạt các trường hợp vi phạm  
hay can thiệp sâu vào giá thành. Nhà nước Thái  
Lan còn tổ chức một số hoạt động hỗ trợ TVETS  
như: Chương trình Đền bù các-bon Thái Lan  
(T-COP): trong đó mỗi cơ sở có thể tự nguyện  
tham gia. Đây được coi là một nền tảng giúp  
các cơ sở đền bù lượng phát thải KNK bằng cách  
đóng góp tài chính để thu lại ꢁn chỉ các-bon; Chứng  
chỉ Sử dụng Năng lượng (EPC): một chương trình  
theo cơ chế mức trần và giao dịch nhằm giúp  
các nhà máy và tòa nhà thương mại nâng cao  
hiệu quả sử dụng năng lượng. Đối tượng tham  
gia bao gồm các cơ sở, nhà máy và tòa nhà có  
cường độ ꢀêu thụ năng lượng cao. Các cơ chế  
MRV hay thông ꢀn dữ liệu hoặc hệ thống đăng  
ký tại EPC sẽ được sử dụng trong Hệ thống Giao  
dịch Phát thải Chính thức trong tương lai.  
3.3. Thị trường các-bon Hàn Quốc  
Năm 2011, Hàn Quốc phát hành thông ꢀn về  
mức phát thải sử dụng làm kịch bản cơ sở Năm  
2011, Hàn Quốc phát hành thông ꢀn về mức phát  
thải sử dụng làm kịch bản cơ sở và các mục ꢀêu  
giảm thải KNK cho mỗi lĩnh vực (GIR, 2011). Theo  
sau đó là Luật phân bổ và giao dịch hạn mức phát  
thải KNK vào năm 2012 (GIR, 2015) cho phép xây  
dựng và thực hiện thị trường các-bon. Năm 2014,  
Kế hoạch Chỉ đạo Xây dựng Hệ thống Giao dịch  
Phát thải và Pha 1 - Kế hoạch Phân phối Hạn ngạch  
- Về những chính sách của Nhà nước đối với thị  
trường: Theo PMR (2013) và Sumetchoengprachaya  
(2014), nhà nước Thái Lan - thông qua Tổ chức  
Quản lý KNK Thái Lan (TGO) đã có những động  
thái hỗ trợ quá trình phát triển thị trường như sau:  
Ngoài việc tổ chức các hoạt động nghiên cứu và vận  
hành thử nghiệm TVETS, năm 2014 nhà nước Thái  
Lan ꢀến hành áp mức trần phát thải tuyệt đối  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
75  
Số 6 - Tháng 6/2018  
Quốc gia, cùng với Lộ trình Thực hiện Mục ꢀêu  
Giảm thiểu KNK Quốc gia (GIR, 2015). Dưới đây là  
một số mốc thời điểm quan trọng trong bối cảnh  
chính sách dẫn tới sự thành lập thị trường các-bon  
tại Hàn Quốc. Theo EDF (2015):  
Năm 2009: Hàn Quốc tuyên thệ giảm 30%  
KNK so với mức của quốc gia năm 2020; Năm  
2010: Khung luật pháp về Phát triển xanh và  
các-bon thấp đi vào hoạt động; Năm 2011: Tuyên  
bố về mức phát thải trong kịch bản cơ sở; Năm  
2012: Đạo luật về Phân bố và giao dịch quyền  
phát thải KNK đi vào hoạt động; Năm 2014:  
Tuyên bố về kế hoạch phân bổ hạn mức cho  
phép phát thải quốc gia; Năm 2015: Thị trường  
giao dịch phát thải KNK đi vào hoạt động.  
Theo EDF (2015), các cơ sở có lượng phát  
thải thường niên cao hơn 125.000 tấn CO2tđ,  
hoặc sở hữu cơ sở phát thải thường niên cao  
hơn 25.000 tấn CO tđ phải tham gia Hệ thống  
giao dịch phát thải 2và nhập hạn ngạch của mỗi  
tấn CO2tđ sản xuất được. Đặc biệt, các cơ sở với  
mức phát thải cỡ trung và nhỏ được quyền tự  
nguyện tham gia Hệ thống giao dịch phát thải.  
Các loại khí nhà kính được phép giao dịch bao  
gồm CO2, N O, HFC, PFC và SF6. Cũng theo ꢁnh  
toán của ED2F (2015), pha hoạt động đầu ꢀên của  
Hệ thống Giao dịch Phát thải Hàn Quốc (2017 -  
2019) sẽ nhận được sự tham gia của 525 cơ sở  
ở 23 lĩnh vực nhỏ từ sản xuất thép, xi măng, hóa  
dầu, lọc dầu, năng lượng,…  
Cũng giống như các quốc gia khác, thị trường  
các-bon Hàn Quốc giao dịch theo mô hình “cap  
and trade”, các cơ sở tham gia hệ thống có  
quyền mua và bán ꢁn chỉ phát thải trong trường  
hợp thừa hoặc thiếu ꢁn chỉ phát thải. Các cơ sở  
tại Hàn Quốc cũng có quyền lấy ꢁn chỉ từ các  
dự án Phát triển sạch (GIR, 2015). Ngoài ra, hệ  
thống giao dịch phát thải Hàn Quốc còn cho  
phép các cơ sở tham gia được quyền vay mượn  
ꢁn chỉ từ cơ sở khác; tuy nhiên hiệu lực của việc  
vay mượn chỉ tồn tại trong 1 pha hoạt động  
(hiện nay là pha 1: 2017 - 2019). Từ 15/1/2014,  
sàn giao dịch Korea Exchange là cơ quan điều  
phối thị trường các-bon Hàn Quốc (KME, 2014).  
Các cơ sở tham gia được yêu cầu thực hiện kiểm  
kê KNK. Sau khi hoàn thành báo cáo kiểm kê  
do bên thứ 3 kiểm chứng và báo cáo chính phủ  
(Republic of Korea, 2012). Một khi báo cáo được  
cấp phép, các cơ sở được sắp xếp vào danh sách  
đăng ký hạn mức cho phép phát thải theo quy  
định của chính phủ (Republic of Korea, 2012).  
Ngoài ra các cơ sở tham gia cũng phải trừ hạn  
mức tương ứng với mức phát thải của năm  
trước đó (Republic of Korea, 2012). Cơ sở không  
tuân theo quy định của thị trường các-bon Hàn  
Quốc sẽ bị xử phạt không quá 3 lần mức giá mỗi  
tCO  
2tđ. Mức phạt tối đa là 10.000 won mỗi tấn  
CO2tđ, hoặc khoảng 91 USD/tCO2tđ (Republic of  
Korea, 2015).  
Các doanh nghiệp sẽ nằm trong danh sách  
quản lý của Hệ thống quản lý mục ꢀêu khí nhà  
kính (TMS) nếu vượt qua các giới hạn sau đây:  
phát thải từ 50.000 tCO2tđ hoặc hơn mỗi năm và  
ꢀêu thụ hơn 200TJ năng lượng mỗi năm (đối với  
công ty), phát thải từ 15.000 tCO2tđ hoặc hơn  
mỗi năm và ꢀêu thụ hơn 80TJ năng lượng mỗi  
năm (đối với cơ sở) (Republic of Korea, 2011).  
Công ty hay cơ sở đủ chuẩn trong danh sách ETS  
sẽ không nằm trong danh sách của TMS (Republic  
of Korea, 2012).  
Đối với các chính sách hỗ trợ thị trường: Trong  
quá khứ, Hàn Quốc từng ban hành chính sách hỗ  
trợ thuế và tài chính cho một số hoạt động giảm  
thiểu phát thải như chính sách khuyến khích giá  
năng lượng tái tạo từ năm 2002 và 2011. Vào  
năm 2012, mục ꢀêu phát triển năng lượng tái  
tạo được thay thế chính sách khuyến khích, trên  
14 ngành sản xuất năng lượng của Hàn Quốc  
có trách nhiệm gia tăng tỉ lệ năng lượng tái tạo,  
bao gồm năng lượng gió và mặt trời. Cũng trong  
năm 2012, mục ꢀêu phát triển năng lượng tái  
tạo chỉ ở mức 2%, sẽ tăng lên 10% vào năm 2022  
(Han, 2012). Hàn Quốc có kế hoạch xây dựng  
ꢀêu chuẩn kinh tế xăng dầu cho các phương ꢀện  
hạng nhẹ. Vào năm 2020, các ꢀêu chuẩn này sẽ  
giúp giảm 31,1% lượng KNK phát thải từ xe cộ,  
và 15,2% phát thải từ xe tải, so với mức phát  
thải năm 2013. Ngoài các chiến lược nêu trên,  
chính phủ Hàn Quốc còn xây dựng các mục ꢀêu  
giảm thiểu theo lĩnh vực, để đảm bảo đạt mục  
ꢀêu giảm thiểu chung và ở riêng từng lĩnh vực.  
4. Những thuận lợi của Việt Nam khi tham gia  
phát triển thị trường các-bon nội địa  
Đối với Việt Nam, khi tham gia vào các thỏa  
thuận và hiệp ước quốc tế trong ứng phó với  
BĐKH toàn cầu sẽ có điều kiện thúc đẩy hoạt  
động mua bán và trao đổi ꢁn chỉ các-bon trong  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
Số 6 - Tháng 6/2018  
76  
nước và quốc tế, do đó cùng với việc thực hiện  
CDM, tháng 11/2012, Thủ tướng Chính phủ  
đã ký Quyết định số 1775/QĐ-TTg phê duyệt  
Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà  
kính; quản lý các hoạt động kinh doanh ꢁn chỉ  
các-bon ra thị trường thế giới với mục ꢀêu là  
quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính  
và quản lý các hoạt động kinh doanh ꢁn chỉ  
các-bon ra thế giới. Trong NDC đệ trình Ban  
Thư ký UNFCCC, Việt Nam đã cam kết đến năm  
2030 sẽ giảm 8% lượng phát thải KNK so với kịch  
bản phát triển thông thường và có thể giảm đến  
25% nếu nhận được hỗ trợ quốc tế. Đây là một  
hành động thiết thực của Việt Nam trong việc  
chung tay với thế giới để giảm lượng phát thải  
KNK, góp phần xây dựng Thỏa thuận Khí hậu  
toàn cầu mới, nhằm giữ cho nhiệt độ trái đất  
tăng dưới 2 độ C vào cuối thế kỷ 21 so với thời  
kỳ ꢀền công nghiệp, đồng thời là điều kiện quan  
trọng để thúc đẩy sự phát triển của thị trường  
các-bon tại Việt Nam.  
Ngoài ra, Việt Nam cũng có thế mạnh đối  
với tạo ꢁn chỉ các-bon, điều này được thể hiện  
trong ꢀềm năng về giảm phát thải khí nhà kính  
của Việt Nam trong NDC đó là việc ước ꢁnh ꢀềm  
năng giảm phát thải đối với lĩnh vực như: lĩnh  
vực năng lượng ꢀềm năng giảm phát thải từ  
các phương án (khoảng 76 triệu tấn CO2 tương  
đương); lĩnh vực nông nghiệp (khoảng 45 triệu  
tấn CO2 tương đương); lĩnh vực sử dụng đất,  
thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (khoảng 66  
triệu tấn CO tương đương); đối với lĩnh vực chất  
thải (khoản2g 24 triệu tấn CO2 tương đương).  
Bên cạnh đó, các dự án về trồng rừng làm tăng  
khả năng hấp thụ khí nhà kính, các dự án CDM  
hay các các hành động giảm nhẹ BĐKH phù hợp  
với điều kiện quốc gia (NAMAs) khi được thực  
hiện cũng sẽ tạo một nguồn ꢁn chỉ các-bon để  
thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong và  
ngoài nước.  
trong nước và tham gia thị trường các-bon quốc  
tế; Thí điểm xây dựng thiết kế tạo ꢁn chỉ các-bon  
trong lĩnh vực sản xuất thép và quản lý chất thải  
rắn; Nghiên cứu và tăng cường năng lực. Dự án  
do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì với sự  
tham gia của các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài  
chính, Công Thương, Xây dựng và một số doanh  
nghiệp trong lĩnh vực sản xuất thép và quản lý  
chất thải rắn. Đây là một dự án thí điểm nhằm  
hướng tới phát triển của thị trường các-bon tại  
Việt Nam. Tuy nhiên, dự án đang triển khai ở giai  
đoạn đầu và hướng tới các dự án cụ thể, chưa đi  
sâu nghiên cứu và phân ꢁch về cơ sở khoa học  
cho việc hình thành một thị trường các-bon nội  
địa tại Việt Nam.  
Ở Việt Nam, trong quá trình phát triển, các  
ngành kinh tế vẫn chủ yếu sử dụng các công  
nghệ tương đối lạc hậu so với thế giới nên khả  
năng cải ꢀến công nghệ để giảm thiểu phát  
thải KNK cũng rất lớn (chi phí giảm 1 tấn KNK  
sẽ thấp), đặc điểm này vừa tạo điều kiện cho  
thị trường các-bon vừa thúc đẩy hoạt động đầu  
tư với các doanh nghiệp nước ngoài. Ngoài ra,  
Chính phủ đang có chủ trương chuyển đổi cơ  
cấu kính tế theo hướng bền vững, có chú ý đến  
phát triển các ngành kinh tế ít các-bon cũng  
là yếu tố có lợi cho việc tham gia thị trường  
các-bon của Việt Nam.  
Như vậy, có thể thấy việc xây dựng thị trường  
các-bon tại Việt Nam có ý nghĩa thực ꢀễn rất  
lớn, sẽ góp phần giúp Việt Nam cùng với thế giới  
đạt được mục ꢀêu giảm khí nhà kính. Bên cạnh  
đó sẽ tranh thủ sự huy động nguồn tài chính  
quốc tế, trong nước, các doanh nghiệp, các nhà  
đầu tư tư nhân vào lĩnh vực này, song song với  
nó là mục ꢀêu bảo vệ môi trường và phát triển  
bền vững. Tuy nhiên để thị trường các-bon hoạt  
động được một cách hiệu quả trước hết phải  
lưu ý một số điểm đó là: cần phải xác định được  
những ngành/lĩnh vực cụ thể có ꢀềm năng và dễ  
dàng sau này cho hệ thống MRV, một hệ thống  
bắt buộc để đảm bảo ETS có thể vận hành một  
cách minh bạch, rõ ràng. Bên cạnh đó, cần phải  
huy động mọi nguồn lực tham gia, đặc biêt là  
tạo ra động lực cho doanh nghiệp giảm phát  
thải và tạo ra cơ chế đồng có lợi cho các bên  
tham gia vào thị trường. Cơ chế tuân thủ cần  
phải có để đảm bảo ꢁnh công bằng cho sự hoạt  
động của thị trường,…  
Những nỗ lực trong việc cam kết cắt giảm  
phát thải KNK của Việt Nam đã nhận được sự  
quan tâm của các đối tác phát triển, trong đó  
có sự hỗ trợ ꢁch cực của 2 nhà tài trợ như Ngân  
hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á  
thông qua Dự án “Sẵn sàng tham gia thị trường  
các-bon” (PMR) triển khai trong 3 năm (2015 -  
2018). Dự án bao gồm 3 hợp phần: Xây dựng  
chính sách cho việc xây dựng thị trường các-bon  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
77  
Số 6 - Tháng 6/2018  
5. Kết luận  
Từ những phân ꢁch ở trên có thể nhận thấy,  
đã thử nghiệm và vận hành mang lại một số hiệu  
quả nhất định phải kể đến như Trung Quốc, Thái  
Lan, Hàn Quốc. Tại Việt Nam. Việc phát triển thị  
trường các-bon nội địa sẽ góp phần mang lại  
một số thành tựu nhất định không chỉ ở mục  
ꢀêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính mà còn tận  
dụng được các cơ hội tài chính để phát triển  
kinh tế phục vụ mục ꢀêu bảo vệ mội trường và  
phát triển bền vững.  
trên thế giới nhu cầu về mua bán ꢁn chỉ các-bon  
đã trở nên cấp thiết và bắt buộc khi có Nghị định  
thư Kyoto với việc hình thị trường các-bon bắt  
buộc và thị trường các-bon tự nguyện, đặc biệt  
hiện nay, trong xu thế BĐKH toàn cầu, với việc  
phải đệ trình và thực hiện NDC, đây được xem  
là một yếu tố cơ bản và quyết định đối với hoạt  
động của thị trường các-bon trên thế giới cũng  
như thị trường các-bon nội địa. Một số quốc gia  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định, Nhà xuất bản  
Tài nguyên, Môi trường và Bản đồ Việt Nam, Hà Nội.  
2. Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2013), Hướng dẫn kỹ thuật xây dựng các các hành động giảm nhẹ  
biến đổi khí hậu phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA), Nhà xuất bản Tài nguyên, Môi trường và  
Bản đồ Việt Nam, Hà Nội.  
3. Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2014), Dự án VNPMR của Chương trình “Hợp tác chuẩn bị sẵn sàng  
cho xây dựng thị trường các-bon” quốc tế.  
4. Thủ tướng Chính phủ (2012), Đề án “Quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; quản lý các hoạt  
động kinh doanh ꢀn chỉ các bon ra thị trường thế giới” theo Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 21  
tháng 11 năm 2012.  
5. hꢂp://tapchimoitruong.vn  
6. Y.G. Wang, China’s carbon emission trading scheme design research, Economic Management Press,  
Beijing (2011).  
THE NEED FOR CARBON MARKET IN VIETNAM  
Nguyen Thi Lieu(1), Nguyen Trung Anh(1), Vu Dinh Nam(2)  
(1)Viet Nam Insꢁtute of Meteorology, Hydrology and Climate Change  
(2)Ministry office, Ministry of Natural Resources and Environment  
Received: 15 May 2018; Accepted: 26 June 2018  
Abstract: Nowadays, development of carbon markets has been marked as an urgent need due to  
its corresponding economic gains, environmental protecꢁon merits, sustainable development goal, internaꢁonal  
relaꢁonship establishment via scienꢁꢃc, technology and ꢃnancial investment acꢁviꢁes. This research  
discusses voluntary carbon market model and its potenꢁal of applicaꢁon in Viet Nam. In addiꢁon, its  
general analysis and assessment of the internaꢁonal needs for carbon market, the current status of countries’  
carbon market development, analysis and opinion on the advantages of Viet Nam’s context shall lend a  
strong ground for the country’s carbon market development.  
Keywords: Carbon market, emission trading system, Kyoto Protocol, Paris Agreement.  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
Số 6 - Tháng 6/2018  
78  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 18140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự cần thiết hình thành thị trường Các-bon tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_can_thiet_hinh_thanh_thi_truong_cac_bon_tai_viet_nam.pdf