So sánh hiệu quả kinh tế của các hộ dân tham gia tổ chức kinh tế tập thể trên vùng đất chuyển đổi từ đất trồng lúa sang cây ăn quả ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC HỘ DÂN THAM GIA TỔ CHỨC
KINHTẾTẬPTHỂTRÊNVÙNGĐẤTCHUYỂNĐỔITỪĐẤTTRỒNGLÚA
SANG CÂY ĂN QUẢ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Nguyễn Tuấn Anh
Viện Kinh tế và Quản lý Thủy lợi
Thái Việt Anh
Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn
Tóm tắt: Hiệu quả kinh tế của nông hộ được xác định từ hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên biên
Cobb-Douglas dựa trên kết quả khảo sát 60 hộ dân thuộc 3 tỉnh Long An, Vĩnh Long và Hậu Giang
của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi nhuận của nhóm nông hộ
tham gia cao gấp 1,156 lần so với các hộ không tham gia tổ chức kinh tế tập thể trên vùng đất đã
chuyển đổi từ cây lúa sang cây ăn quả. Sự khác biệt này sẽ gia tăng khi phát triển tổ chức kinh tế
tập thể, thu hút được các thành viên tham gia trong dài hạn. Tổ chức kinh tế tập thể mang lại nhiều
lợi ích như nâng cao trình độ, áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, có sản phẩm gắn với
chuỗi giá trị, phát triển bền vững. Đồng thời, giúp xây dựng thương hiệu tập thể sản xuất, liên kết
với doanh nghiệp, tổ chức hợp tác kinh tế khác.
Từ khóa: kinh tế nông hộ, tổ chức kinh tế tập thể, chuyển đổi đất lúa, đồng bằng sông Cửu Long.
Summary: The economic efficiency of the household is determined from Cobb-Douglas stochastic
profit frontier function based on the survey results of 60 farms in 3 provinces of Long An, Vinh Long
and Hau Giang in the Mekong River Delta. As a result, the profit of the group of participating farmers
is 1.156 times higher than that of the households not participating in the collective economic
organization on the land that has been converted from rice-based to fruit trees. This difference will
increase when developing a collective economic organization, attracting members to participate in the
long term. Collective economic organizations bring many benefits such as improving qualifications,
applying science and technology to production, having products associated with the value chain, and
developing sustainably. It helps build a collective brand of production, link with other businesses and
economic cooperation organizations.
Keywords: household economy, collective economic organization, conversion of rice land, the
Mekong River Delta.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ*
thôn mới [10], [18], [22], [35]. Hình thức hợp
tác sản xuất trong nông nghiệp đã trở nên khá
phổ biến ở vùng và đã có những đóng góp tích
cực góp phần tháo gỡ những khó khăn trong sản
xuất kinh doanh của nông hộ trong nền1kinh tế
thị trường [12]. Theo luật Hợp tác xã số
23/2012/QH13 thì HTX là tổ chức kinh tế tập
thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít
Tổ chức kinh tế tập thể bao gồm hợp tác xã, liên
hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác(1). Loại hình hợp tác
xã (HTX) và tổ hợp tác (THT) đóng vai trò quan
trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp [12]
và nâng cao thu nhập cho nông hộ ở khu vực
nông thôn, cũng như góp phần xây dựng nông
(1)
Ngày nhận bài: 31/8/2021
Theo Quyết định số 1804/QĐ-TTg ngày
Ngày thông qua phản biện: 29/9/2021
Ngày duyệt đăng: 12/10/2021
13/11/2020 của Thủ tướng Chính Phủ.
1
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 68 - 2011
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp phát triển bền vững vùng ĐBSCL, Chính phủ
tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất,
kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu
chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu
trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản
lý HTX. THT là tổ chức thuộc loại hình kinh tế
tập thể đang được khuyến khích phát triển tại
các nước đang phát triển, tổ chức có từ hai cá
nhân trở lên cùng tự nguyện thành lập [35].
đã có Nghị Quyết số 120/NĐ-CP năm 2017 và
Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số
324/QĐ-TTg năm 2020 phê duyệt chương trình
tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững thích
ứng với biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL đến năm
2030, tầm nhìn đến 2045. Định hướng chuyển
đổi, sử dụng linh hoạt giữa đất trồng lúa, đất
trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, tạo
điều kiện thuận lợi để người sử dụng đất nông
nghiệp được chuyển đổi mục đích sản xuất cây
trồng. Việc chuyển đổi đất trồng lúa sang các
cây trồng có giá trị kinh tế cao thực hiện theo
các quy định tại Nghị định số 35/2015/NĐ-CP
năm 2015, và được thay thế bởi Nghị định số
62/2019/NĐ-CP và Nghị định số 94/2019/NĐ-
CP. Từ góc độ người dân, chuyển đổi cơ cấu
cây trồng từ lúa sang cây ăn quả giúp nâng cao
thu nhập cho người dân và đời sống của người
dân [16], [19]. Tuy nhiên, nhiều hộ dân chuyển
đổi theo nhu cầu thị trường, manh mún, nhỏ lẻ
dẫn đến hiệu quả không cao. Một số nơi các hộ
dân chuyển đổi theo quy hoạch và tổng thể đồng
thời tham gia tổ chức kinh tế hợp tác giúp cải
Các HTX cho phép nông dân sở hữu và kiểm
soát, trên một cơ sở dân chủ, công việc kinh
doanh để mua sắm vật tư và dịch vụ đầu vào của
họ, và tiếp thị sản phẩm đầu ra [36]. Tham gia
HTX giúp tăng thu nhập cho nông dân, giảm
thiểu rủi ro trong sản xuất và tiếp thị, cuối cùng
là nâng cao cơ hội mở rộng thị trường và nâng
cao thu nhập của các hộ dân [29]. Khi tham gia
các thành viên trong tổ chức kinh tế hợp tác sẽ
giúp cải thiện năng suất, tăng thu nhập và giảm
nghèo đói năng tiếp cận hỗ trợ về thông tin, vốn
và công nghệ, tiếp cận các yếu tố đầu vào của
trang trại, tiếp cận tín dụng dễ dàng, giáo dục
và đào tạo, cải thiện điều kiện sống và việc làm
[5], [6], [7], [13], [32]. Theo Bùi Văn Trịnh và
Nguyễn Hữu Tâm (2010) có 88% số nông hộ thiện thu nhập của người dân, thị trường tiêu thụ
cho là có nhu cầu hợp tác trong quá trình sản bền vững. Các nghiên cứu đã chỉ ra tham gia
xuất nông nghiệp. Nếu chỉ xét riêng các nông
hộ trồng cây ăn quả thì có 84% có nhu cầu hợp
tác. Các nhu cầu hợp tác của nông hộ tập trung
về mua vật tư, dịch vụ sản xuất, nhu cầu về
giống, tín dụng là tiêu thụ đầu ra. Hợp tác sản
xuất là giúp tăng thu nhập do có thể giảm chi
phí đầu vào, nâng cao năng suất, chất lượng
nông sản và bán được giá cao. HTX có thể đóng
một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương và ngày
càng có nhiều loại hình tổ hợp tác hoặc hợp tác
xa thành lập [4].
HTX giúp cho nông hộ bán lúa với giá cao và
có lợi nhuận cao hơn khi không tham gia HTX,
đồng thời có vai trò chính trong việc nâng cao
trình độ sản xuất, việc liên kết tìm đầu ra ổn
định cho xã viên [33], [34]. Việc tham gia HTX
giúp nông hộ tăng thu nhập thông qua sự giảm
các khoản chi phí như chi phí nhân công, chi
phí bơm tưới, chi phí vật tư và hỗ trợ trong hợp
tác sản xuất, tiêu thụ đầu ra [21]. Thu nhập giữa
các hộ tham gia và không tham gia tổ chức kinh
tế có sự khác nhau, các hộ tham gia HTX có thu
nhập cao hơn, giảm chi phí sản xuất so với các
hộ không phải là xã viên [17], [34]. Năm 2020,
Chính Phủ cũng đã ban hành Nghị Quyết số
134/NQ-CP về Chương trình hành động của
Chính phủ thực hiện Kết luận số 70-KL/TW
ngày 09/3/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục
thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 Khóa IX về
Trong những năm qua vùng đồng bằng sông
Cửu Long (ĐBSCL) bị ảnh hạn hán, xâm nhập
mặn và lũ, ngập lụt, úng tại khu vực có những
thay đổi đáng kể về quy luật và mức độ do biến
đổi khí hậu, nước biển dâng, phát triển thượng
nguồn và phát triển nội tại của vùng [24]. Để
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 68 - 2011
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả mềm STATA để phân tích và xử lý.
kinh tế tập thể. Thủ tướng Chính phủ cũng đã
2.2. Mô hình nghiên cứu
có Quyết định số 1804/QĐ-TTg ngày
Để phân tích và đánh giá ảnh hưởng của giá cả
13/11/2020 về Phê duyệt Chương trình hỗ trợ
đầu vào đến năng suất đạt được, mô hình Mô
phát triển kinh tế tập thể, HTX giai đoạn 2021
hình hàm lợi nhuận biên Cobb-Douglas được sử
– 2025. Với quan điểm ưu tiên hỗ trợ phát triển
dụng. Hàm lợi nhuận Cobb-Douglas nhằm xem
tổ chức kinh tế tập thể, HTX gắn với chuỗi giá
xét sự khác biệt giữa thu nhập với canh tác theo
trị, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và có
nhóm và theo cá nhân [1], và giữa các nông hộ
tác động lớn tới thành viên, cộng đồng. Với mục
trong và ngoài hội nông dân [6], khác biệt giữa
tiêu tăng cường năng lực của các tổ chức kinh
lợi nhuận của nông dân các vụ mùa với nhau
tế tập thể, HTX nhằm phát huy hơn nữa vai trò
liên kết, hợp tác, hỗ trợ thành viên và cộng đồng
khu vực.
[26]. Các tác giả Philip Garcia và cộng sự
(1982) đã sử dụng mô hình này để xác định hiệu
quả kinh tế của các trang trại ứng với quy mô
Trong bài báo này sẽ ước lượng sự khác biệt về khác nhau. Trong bài báo này, các tác giả so
thu nhập giữa các hộ tham gia tổ chức kinh tế
tập thể với hộ không tham gia khi thực hiện
sánh giữa hai nhóm nông hộ tham gia và nhóm
nông hộ không tham gia tổ chức kinh tế tập thể.
chuyển đổi từ đất trồng lúa sang cây ăn quả ở Mô hình hồi quy có dạng như sau:
vùng ĐBSCL.
푙푛휋푖 = 훽0 + 훽1푙푛푃푝푖 + 훽2푙푛푇 + 훽3푙푛푃퐺푖
푖
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mẫu nghiên cứu
+ 훽4푙푛퐿푖 + 훽5 푙푛퐼푖 + 훽6 퐷 + 휀푖
Trong đó:
i là lợi nhuận chuẩn hóa của nông hộ thứ i,
Mẫu điều tra được chọn theo phương pháp ngẫu
nhiên phân tầng phân thành 2 nhóm các hộ tham được tính bằng tổng doanh thu trừ các khoản chi
phí biến đổi như chi phí phân bón, thuốc trừ sâu
và giống, tưới tiêu tất cả được chia cho giá của
cây ăn quả.
gia tổ chức kinh tế tập thể bao gồm HTX, THT
và các hộ không tham gia tổ chức kinh tế trên
vùng đất chuyển đổi từ lúa sang cây ăn quả.
Trong nghiên cứu này, nhằm đánh giá so sánh
giữa hai nhóm nông hộ trong nghiên cứu lựa
chọn các loại cây ăn quả lựa chọn khảo sát là
cây có múi như cây cam, cây bưởi và cây quýt.
Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi của 60
hộ thuộc hai nhóm nông hộ có và không tham
gia tổ chức kinh tế tập thể tại 3 tỉnh Long An,
Vĩnh Long và Hậu Giang chuyển đổi cơ cấu cây
trồng từ trồng lúa sang cây ăn quả. Tương ứng
với mỗi tỉnh, lựa chọn 1 xã khảo sát, trong đó
có 35 hộ tham gia tổ chức kinh tế tập thể (thuộc
xã Tân Hiệp, huyện Thạnh Hoá, tỉnh Long An
và xã Long Trị, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu
Giang) và 25 hộ dân thuộc (xã Thới Hoà, huyện
Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long) không tham gia tổ
chức kinh tế tập thể. Số liệu được thu thập từ
tháng 1 – 5/2021. Số liệu thu thập được mã hóa
nhập vào phần mềm EXCEL và sử dụng phần
k là các hệ số cần được ước lượng trong mô
hình với k=1,2…,6.
PPi là giá chuẩn hóa của 1 kg phân bón nguyên
chất, được tính bằng giá 1 kg phân nguyên chất
chia cho giá 1kg trái cây đầu ra.
Ti là chi phí thuốc trừ sâu, đơn vị tính là
(tr.đồng/ha).
PGi là giá chuẩn hóa của 1 cây giống, được tính
bằng giá 1 kg giống chia cho giá 1kg trái cây
đầu ra.
Li là khoản chi phí nhân công, đơn vị tính là
(tr.đồng/ha);
Ii là chi phí cho tưới tiêu, đơn vị tính là
(tr.đồng/ha).
D là biến giả chỉ việc tham gia tổ chức kinh tế
tập thể, giá trị bằng 1 nếu các hộ tham gia HTX
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 68 - 2011
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
hoặc tổ hợp tác, và bằng 0 nếu không tham gia cây, chăm nom giai đoạn đầu và trong quá trình
tổ hợp tác.
chăm sóc để thu hoạch. Chi phí tưới tiêu và chi
phí thuốc trừ sâu chiếm tỷ trọng ít nhất lần lượt
là 3,45% và 2,39%. Thêm vào đó, chi phí đầu
tư ban đầu cho chuyển đổi từ cây lúa sang cây
ăn quả (cây có múi) bao gồm chi phí lên liếp
(làm đất) và chi phí đầu tư hệ thống tưới, tiêu.
Chi phí lên liếp làm đất tính trung bình khoảng
40 triệu/ha và chi phí đầu tư hệ thống tưới tiêu
khoảng 15 – 40 triệu đồng/ha tùy thuộc vào biện
pháp tưới (tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt),
khoảng 5-10 triệu đồng/ha so với tưới bằng ống
mềm cầm tay và thuyền bơm di động. Tuổi thọ
trung bình của các loại cây có múi khoảng từ
25-30 năm, có quả sau khi trồng khoảng 3-4
năm [25]. Tương ứng, chi phí đầu tư ban đầu
phân bổ đều cho các năm xấp xỉ khoảng 3 triệu
đồng/ha-năm.
휀푖 là sai số ngẫu nhiên của mô hình.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thực trạng về kinh tế nông hộ trên vùng
đất chuyển đổi từ lúa sang cây ăn quả
Kết quả doanh thu và chi phí của nông hộ cho
một ha, tính trung bình cho 1 năm như trong
Bảng 1. Tổng chi phí sản xuất là 182,353 triệu
đồng, trong đó chi phân bón chiếm tỷ trọng lớn
nhất khoảng 51,92%, tiếp đến là chi phí nhân
công chiếm tỷ trọng 35,61%. Chi phí nhân công
trồng cây ăn quả lớn hơn so với cây lúa, tính
trung bình chung đối với các loại cây ăn quả cao
gấp 2,2 lần so với cây lúa [19]. Cây trồng ăn trái
cần được chăm sóc từ các khâu xới đất, trồng
Bảng 1: Doanh thu và chi phí sản xuất cây ăn quả (cây có múi)
Đơn vị tính: Triệu đồng/ha
Khoản mục
Doanh thu
Chi phí
+ Chi phí cây giống
+ Chi phí phân bón
+ Chi phí thuốc bảo vệ thực vật
+ Chi phí nhân công
+ Chi phí tưới tiêu
Lợi nhuận
Số hộ
60
60
60
60
60
60
60
60
Trung bình
Độ lệch chuẩn
152,444
106,774
9,696
402,609
182,353
12,086
94,684
4,359
64,933
6,291
220,256
69,492
2,094
43,930
3,245
79,329
Nguồn: Phân tích của các tác giả (2021)
Doanh thu trung bình cho mỗi ha trong 1 năm với cây quýt khoảng cách trồng là 2,5x3m hoặc
khoảng 402,609 triệu đồng/ha-năm (ước tính 3x3m, với mật độ từ 1100-1300 cây/ha [31], đối
với năng suất và giá bán trung bình 3 năm gần với cây bưởi tương ứng với khoảng cách 5-6x5-
nhất). Tương ứng, lợi nhuận trung bình đạt 6 m thì mật độ giao động khoảng 280 đến 400
được trong một vụ của nông hộ là 220,256 triệu cây/ha [15]. Tuy nhiên, thực tế nhiều hộ dân
đồng/ha-năm. Nhìn chung doanh thu và chi phí chạy theo lợi nhuận ngắn hạn, thâm canh tối đa,
có độ lệch chuẩn lớn do mật độ trồng cây có khai thác triệt để nên trồng với mật độ dày hơn
múi của các hộ dân khác nhau, chạy theo thị so với khuyến cáo, mật độ của hộ dân trồng cam
trường và ngắn hạn. Theo khuyến cáo mật độ sành khoảng 4.000 cây/ha, có những nơi mật độ
trồng cây cam với khoảng cách là 3-5m x 4-5m các hộ trồng đến 5.000 cây/ha. Việc canh tác
tương ứng mật độ từ 400-833 cây/ha [30], đối với mật độ dày trên mỗi đơn vị diện tích sẽ cho
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 68 - 2011
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
lợi nhuận cao nhưng không bền vững, đồng thời thống kê ở mức 10%, 5% và 1%
kéo theo các chi phí đầu vào tăng theo như chi
phí phân bón, chi phí nhân công, chi phí tưới Khi các yếu tố chi phí đầu vào không thay đổi,
tiêu và thuốc bảo vệ thực vật. Thêm vào đó, mật những hộ tham gia vào tổ chức kinh tế tập thể thì
độ lớn sẽ ảnh hưởng đến chi phí tưới tiêu và chi lợi nhuận trung bình khi trồng cây ăn quả trên
phí nhân công đi kèm do đặc điểm của cây có vùng đất đã chuyển đổi cao hơn so với các hộ
múi có nhu cầu về nước rất lớn, nhất là trong nông dân không tham gia là (e0,1450-1) lần tương
thời kỳ cây ra hoa và kết quả, đồng thời cũng đương 15,60%. Lợi nhuận của các hộ dân trong
rất mẫn cảm với điều kiện ngập nước. Trong HTX, THT cao hơn so với các hộ dân ở ngoài là
mùa mưa, nếu mực nước ngầm trong đất cao và do nông dân học hỏi lẫn nhau về kỹ thuật chăm
không thoát nước kịp, cây sẽ bị thối rễ, vàng lá sóc đúng quy chuẩn, cũng như khắc phục được
và chết.
nhiều trở ngại trong hiểu biết khoa học kỹ thuật
đến chất lượng trái đồng đều, giá trị được nâng
cao. Về tiêu thụ, các HTX và THT liên kết được
với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tập thể khác
dẫn đến giảm các khâu thông qua thương lái nên
bán được giá cao. Đồng thời, về mặt dài hạn dần
hình thành nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý cho
sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất. Thực tế
hiện nay, diện tích được chuyển đổi manh mún,
nhỏ lẻ, hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng
được yêu cầu trong việc đưa các cây trồng hàng
hóa vào sản xuất quy mô lớn. Về mặt dài hạn,
cần hình thành các khu chuyển đổi tập trung
đồng thời thành lập HTX hoặc THT trồng cây ăn
quả nhằm giảm chi phí đầu vào đồng thời nâng
cao thu nhập người nông dân thông qua hợp tác
sản xuất, và tiêu thụ đầu ra thu hút doanh nghiệp
liên kết sản xuất. Việc hình thành khu vực
chuyển đổi tập trung sẽ giúp ứng dụng công nghệ
cao, có sản phẩm ứng với chuỗi giá trị, phát triển
bền vững ở khu vực nông thôn vùng ĐBSCL.
Đây cũng là giải pháp nhằm ứng phó với các
thách thức liên quan đến biến đổi khí hậu, cải
thiện sinh kế của người dân góp phần xây dựng
nông thôn mới.
3.2. So sánh hiệu quả kinh tế của nông hộ
tham gia và không tham gia tổ chức kinh tế
tập thể trên vùng đất đã chuyển đổi từ lúa
sang cây ăn trái
Kết quả ước lượng bằng phương pháp bình
phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hồi quy có hệ
số Prob (F-statistic) = 0,0000 vì thế hàm lợi
nhuận có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra hệ số R2
trong mô hình cao, giải thích được 86,48% mối
quan hệ giữa đầu vào và lợi nhuận (xem Bảng
2). Hầu hết các hệ số ước lượng đều có ý nghĩa
thống kê với mức ý nghĩa là 1%. Các hệ số trong
mô hình đều âm, nghĩa là chi phí đầu vào tăng
lên thì lợi nhuận sẽ giảm.
Bảng 2: Kết quả ước lượng hàm lợi nhuận
của các hộ chuyển đổi cơ cấu
cây trồng từ lúa sang cây ăn quả
Biến số
lnPp
lnT
lnPg
Hệ số
Sai số chuẩn
0,0236
-0,1345***
-0,1580***
-0,3390***
0,5460***
-0,1994***
0,1450***
-29,2650*
60
0,0408
0,1242
0,0375
0,0503
0,0414
0,4849
lnL
lnI
D
Ngoài ra, khi hộ dân tham gia tổ chức kinh tế
HTX và THT sẽ giúp cho cơ quan quản lý nhà
nước hỗ trợ về liên kết sản xuất, khuyến nông,
thủy lợi, và quy trình kỹ thuật sản xuất nông
nghiệp, nâng cao nhận thức, xúc tiến thương mại
và mở rộng thị trường. Có những chính sách khó
được triển khai hỗ trợ cho các hộ nông dân như
chính sách hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi
Hằng số
Số quan sát
R2
Prob > F
F (6,53)
0,8648
0,0000
56,52
*, **, *** lần lượt biểu diễn các mức ý nghĩa
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 68 - 2011
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
nội đồng và tưới tiên tiến tiết kiệm nước theo dẫn địa lý phát triển thương hiệu khi hình thành
Nghị định số 77/2018/NĐ-CP khó triển khai nhãn hiệu tập thể. Đồng thời, giúp cơ quan quản
thực hiện do các hỗ trợ này thông qua tổ chức lý nhà nước sẽ hỗ trợ các chính sách liên quan
thủy lợi cơ sở (HTX và THT).
đến liên kết, thủy lợi, khuyến nông cũng như
chuyển giao khoa học kỹ thuật góp phần nâng
cao chất lượng sản phẩm. Từng bước áp dụng
ứng dụng công nghệ cao, có sản phẩm gắn với
chuỗi giá trị, phát triển bền vững nhằm giải
quyết các vấn đề nội tại của vùng. Đồng thời,
các tổ chức kinh tế tập thể liên kết với các doanh
nghiệp đảm bảo tiêu thụ sản phẩm đầu ra, ổn
định giá cả của sản phẩm từ đó cải thiện thu
nhập cho người dân trong khu vực.
4. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu dựa trên số liệu 60 hộ dân
thuộc 3 tỉnh Long An, Vĩnh Long và Hậu Giang
của vùng ĐBSCL. Vùng đang đứng trước thách
thức liên quan đến nguồn nước do biến đổi khí
hậu, nước biển dâng và phát triển kinh tế - xã
hội. Định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ
đất trồng lúa kém hiệu quả nhằm sang cây ăn
quả nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, cải
thiện sinh kế của người dân. Kết quả nghiên cứu
cho thấy các hộ tham gia HTX, THT có lợi
nhuận cao hơn 15,60% so với các hộ không
tham gia. Trong thời gian tới, khi hình thành
chuyển đổi đất lúa sang trồng cây ăn quả tập
trung sản xuất ổn định, cần củng cố thành lập
HTX và THT. Với việc thành lập HTX và THT
sẽ giúp các hộ dân nâng cao trình độ sản xuất,
giảm chi phí sản xuất đầu vào và xây dựng chỉ
Lời cảm ơn: Kết quả nghiên cứu từ đề tài
“Nghiên cứu đề xuất mô hình đầu tư xây dựng
và quản lý khai thác hệ thống thủy lợi nội đồng
khi chuyển đổi đất trồng lúa sang các cây trồng
có giá trị kinh tế cao, nhằm thích ứng với biến
đổi khí hậu, phục vụ xây dựng nông thôn mới ở
đồng bằng sông Cửu Long” thuộc Chương
trình Khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 (Đợt 5).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bina Agarwal (2018), “Can group farms outperform individual family farms? Empirical
insights from India”, World Development, vol. 108(C), tr.57-73.
[2]. Bùi Văn Trịnh và Nguyễn Hữu Tâm (2010), “Nhu cầu hợp tác của nông hộ trong sản xuất
nông nghiệp ở huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần
Thơ số 15b, tr. 254-263.
[3]. David S. Chesnick and E. Eldon Eversull (1994), Analysis of Income Statements of Local
Farm Supply and Marketing Cooperatives, “Cooperative Services Research Report 134”,
tr.1-33.
[4]. Elena Garnevska , Guozhong Liu và Nicola Mary Shadbolt (2011), “Factors for Successful
Development of Farmer cooperatives in Northwest China”, International Food and
Agribusiness Management Review, Volume 14, Issue 4, tr.69-84.
[5]. Ellen Verhofstadt và Miet Maertens (2014), “Can Agricultural Cooperatives Reduce
Poverty? Heterogeneous Impact of Cooperative Membership on Farmers’ Welfare in
Rwanda”, Applied Economic Perspectives and Policy, volume 37, number 1, tr. 86–106.
[6]. Hung Van Vu, Huong Ho và Quoc Hoi Le (2020), “Impact of Farmers’ Associations on
Household Income: Evidence from Tea Farms in Vietnam”, Economies 8, 92, tr. 1-16.
[7]. Ibitoye và Stephen Jimoh (2012), “Survey of the performance of agricultural cooperative societies in
kogi state, Nigeria”, European Scientific Journal, October edition vol. 8, No.24, tr. 98-114.
[8]. Johnston Birchall và Richard Simmons (2004), “What motivates members to participate in
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 68 - 2011
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
co-operative and mutual businesses? A theoretical model and some findings”, Annals of
Public and Cooperative Economics, số 75:3 2004, tr. 465–495.
[9]. Koos Neejess (2003), Môi trường và sinh kế, NXB Chính trị quốc gia, 2003.
[10]. Lê Bảo (2014), “Thực trạng và giải pháp phát triển hợp tác xã ở Việt Nam”, Tạp chí khoa
học Kinh tế, số 4 (08), tr. 1-9.
[11]. Lê Xuân Thái (2014), “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trong các mô hình
sản xuất lúa tại tỉnh Vĩnh Long”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 35 (2014),
tr. 79-86.
[12]. Mai Văn Nam (2005), “Kinh tế hợp tác và vai trò của kinh tế hợp tác và hợp tác xã đối với
phát triển sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long”. Tạp chí Nghiên cứu Khoa
học, số 2005:3, tr. 128-137.
[13]. Martinson Ankrah Twumasi, Yuansheng Jiang, Bismark Addai, Zhao Ding, Abbas Ali
Chandio, Prince Fosu, Dennis Asante, Anthony Siaw, Frank Osei Danquah, Bright Asiamah
Korankye, Gideon Ntim-Amo, Stephen Ansah và Wonder Agbenyo (2021), “The Impact of
Cooperative Membership on Fish Farm Households’ Income: The Case of Ghana”,
Sustainability, 13, tr. 1-16.
[14]. Nghị quyết số 134/NQ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ Ban hành Chương trình hành động
của Chính phủ thực hiện Kết luận số 70-KL/TW ngày 09/3/2020 của Bộ Chính trị về tiếp
tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 Khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao
hiệu quả kinh tế tập thể.
[15]. Nguyễn Đức Cường (2010), Kỹ thuật trồng cam, quýt, bưởi, NXB khoa học tự nhiên và công
nghệ.
[16]. Nguyễn Duy Cần và Nguyễn Văn Khang (2009), “Phân tích và đánh giá sự thay đổi về sản
xuất và đời sống của nông dân ở vùng ngọt hóa Gò Công, Tiền Giang”, Tạp chí Khoa học
2009:12, tr. 365-374
Duyên (2015), “Hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất lúa 1 phải 5 giảm của hai nhóm hộ trong
và ngoài hợp tác xã ở Kiên Giang và An Giang”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần
Thơ Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 37 (2015)(2), tr.76-85.
[18]. Nguyễn Ngọc Bảo (2020), “Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã trong xây dựng nông thôn
mới ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi”, Tạp chí Chiến lược và chính sách dân tộc, tập 9
số 4, tr.1-6.
[19]. Nguyễn Ngọc Ngân, Trần Thị Lệ Hằng, Nguyễn Xuân Thịnh và Văn Phạm Đăng Trí (2017),
“Đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong vùng đê bao khép kín - Trường hợp
nghiên cứu tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ.
Số chuyên đề: Môi trường và Biến đổi khí hậu (2), tr. 78-86.
[20]. Nguyễn Quốc Nghi, Trần Quế Anh và Bùi Văn Trịnh (2011), “Các nhân tố ảnh hưởng đến
thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long”, Tạp chí Khoa
học kinh tế, số 5 (23), tr. 30-36.
[21]. Nguyễn Thị Thu An và Võ Thanh Lộc (2017), “Phân tích hiệu quả tài chính của nông hộ
trồng ớt vùng đồng bằng Sông Cửu Long”, Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ. Số
48 năm 2017, tr. 87-95.
[22]. Nguyễn Thị Thu Hà (2014), “Vai trò của Chính phủ và đầu tư đối với sự phát triển của hợp tác xã:
Ý nghĩa lý luận và bài học kinh nghiệm”, Tạp chí khoa học kinh tế, số 4 (08), tr.10-18.
[23]. Nguyễn Tiến Dũng và Lê Ninh Khương (2015), “Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 68 - 2011
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học
Cần Thơ năm 2015 số 36, tr. 116-125.
[24]. Nguyễn Văn Tỉnh (2020), “Định hướng hiện đại hóa hệ thống thủy lợi phục vụ chuyển đổi,
phát triển nông nghiệp bền vững tại các tiểu vùng sinh thái vùng đồng bằng sông Cửu Long”,
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi số 61-2020, tr. 1-9.
[25]. Nguyễn Văn Tuất, Nguyễn Hoàng Long, Nguyễn Trần Hiếu và Lê Thị Kim Thoa (2018),
Hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cam an toàn theo VietGap, tr. 1-59.
[26]. Phạm Lê Thông, Huỳnh Thị Đan Xuân, Trần Thị Thu Duyên (2011), “So sánh hiệu quả kinh
tế của vụ lúa hè thu và thu đông ở đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Khoa học 2011:18a,
tr. 267-276
[27]. Philip Garcia, Steven T. Sonka và Man Sik Yoo (1982), "Farm Size, Tenure, and Economic
Efficiency in a Sample of Illinois Grain Farms," American Journal of Agricultural Economics,
Agricultural and Applied Economics Association, vol. 64(1), tr. 119-123.
[28]. Quyết định số 1804/QĐ-TTg ngày 13/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021 – 2025.
[29]. Shi Zheng, Zhigang Wang, và Titus O. Awokuse (2012), “Determinants of Producers’
Participation in Agricultural Cooperatives: Evidence from Northern China”, Applied
Economic Perspectives and Policy, volume 34, number 1, tr. 167–186.
[30]. Sở NN&PTNT tỉnh Đồng Tháp (2019), Kỹ thuật trồng và chăm sóc cam xoàn, “Tài liệu lưu
hành nội bộ”, tr. 1-16.
[31]. Sở NN&PTNT tỉnh Hậu Giang (2017), Tài liệu Kỹ thuật trồng và chăm sóc quýt đường, “Tài
liệu hướng dẫn”, tr. 1-17.
[32]. Sokchea An và Richard J. Culas (2015), “Impact of Contract Farming with Farmer
Organizations on Farmers’ Income: A Case Study of Reasmey Stung Sen Agricultural
Development Cooperative in Cambodia”, Australasian Agribusiness Review, Vol. 23, tr.1-11.
[33]. Trần Quốc Nhân (2020), “Ứng dụng phương pháp ghép điểm xu hướng (PSM) đánh giá tác
động của việc tham gia hợp tác xã đến hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ ở huyện Cờ Đỏ, thành
phố Cần Thơ”, Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020 số 18(2), tr.138-146.
[34]. Trần Quốc Nhân, Đỗ Văn Hoàng, Nguyễn Duy Cần và Lê Duy (2012), “Phân tích lợi ích do
hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới mang lại cho người dân: trường hợp nghiên cứu hợp tác xã
Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ”, Tạp chí Khoa học, số 2012:22b, tr. 283-
293.
[35]. Trương Quang Hoàng, Hoàng Gia Hùng, Võ Chí Tiến (2020), “Thực trạng và vai trò của tổ
hợp tác trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới tại Thừa Thiên Huế”, Tạp chí Khoa học Đại
học Huế: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tập 129, Số 3A, 2020, tr. 57–71.
[36]. United States Department of Agriculture Rural Business - Cooperative Service (1994),
Cooperative Benefits and Limitations - Farmer Cooperatives in the United States,
“Cooperative Information Report 1 Section 3”, tr. 1-22.
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 68 - 2011
Bạn đang xem tài liệu "So sánh hiệu quả kinh tế của các hộ dân tham gia tổ chức kinh tế tập thể trên vùng đất chuyển đổi từ đất trồng lúa sang cây ăn quả ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
so_sanh_hieu_qua_kinh_te_cua_cac_ho_dan_tham_gia_to_chuc_kin.pdf

