Xu hướng khởi nghiệp tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

XU HƯỚNG KHỞI NGHIỆP TẠI VIỆT NAM  
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP  
Hoàng Thị Thúy, Võ Thị Phi Yến  
Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cươ   
TÓM TẮT  
Có thể nhận thấy rất rõ một điều tại Việt Nam hiện nay là: Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng  
tạo đang phát triển rất mạnh mẽ. Có tới hơn 3000 doanh nghiệp khởi nghiệp thành công. Cùng với  
sự hiện diện của nhiều nhà đầu tư quốc tế cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam. Chính xu  
hướng khởi nghiệp này đã mở ra sự tăng trưởng lớn trên thị trường điều này càng cho thấy sự phát  
triển mạnh mẽ của các mô hình kinh doanh sáng tạo của các doanh nghiệp.Bên cạnh đó thì các  
chỉ số về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam vẫn còn đứng sau nhiều nước trong khu vực  
như Singapore, Malaysia… Đi liền đó là cơ chế chính sách vẫn chưa thực sự tạo ra cú hích mạnh  
cho hoạt động khởi nghiệp. Nội dung chủ yếu của bài báo tập trung phân tích hiện trạng thúc đẩy  
khởi nghiệp đổi mới sáng tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những bất cập cũng như thách thức hiện  
nay. Cuối cùng, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp.  
Từ khóa: Đổi mới sáng tạo, kinh tế, khởi nghiệp, mô hình kinh doanh sáng tạo.  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Bối cảnh Việt Nam hiện nay theo số liệu của cục thống kê trong hội thảo kinh tế Việt Nam 2015”  
2035, thì GDP Việt Nam là 2052 USD chỉ bằng GDP của Malaysia năm 1988, GDP Thái Lan năm  
1993, chúng ta đang đầu tư vài những ngành có năng suất thấp một cách truyền thống giống như  
tài chính ngân hàng, bất động sản. Những điều này chứng tỏ ra rằng Việt nam đang thụt lùi so với  
thế giới và các khu vực khác, chúng ta chỉ đang đi theo những lối mòn kinh doanh truyền thống. Đi  
liền đó là cơ chế chính sách vẫn chưa thực sự tạo ra cú hích mạnh cho hoạt động khởi nghiệp,  
những mô hình kinh doanh sáng tạo, ví dụ như Mỹ một nền kinh tế đứng đầu thế giới họ rất khuyến  
khích những mô hình kinh doanh sáng tạo thúc đẩy sự đổi mới cho nền kinh tế đất nước.  
2 KHỞI NGHIỆP  
2.1 Khái niệm  
Khởi nghiệp là hành động bắt đầu một nghề nghiệp, mà hình thức thường thấy nhất đó là thành  
lập một doanh nghiệp để kinh doanh trong một lĩnh vực nào đó. Khái niệm ‚khởi nghiệp‛ đã tồn tại  
từ rất lâu và đã diễn ra ở nhiều quốc gia từ hàng trăm năm nay, trong khi đó khái niệm ‚startup‛ chỉ  
mới xuất hiện gần đây. Khởi nghiệp chính là một hình thức kinh doanh phải đảm bảo hai tính chất,  
một là tính đột phá là tạo ra những sản phẩm mới, những công nghệ mới hoặc là những thị trường  
2117  
mới,hai là tính tăng trưởng nghĩa là khởi nghiệp có thể tăng trưởng đến mức tối đa và có thể khai  
phá các nghành mới.  
Tuy nhiên, không phải bất cứ ai cũng có tiềm năng để mở một doanh nghiệp riêng (Learned,  
2002). Một người khởi nghiệp tiềm năng là người đón lấy cơ hội để thành lập công ty riêng ngay  
khi cơ hội xuất hiện (Shapero, 1981). Sự khởi nghiệp là một quá trình bắt đầu từ việc nhận biết cơ  
hội, từ đó phát triển ý tưởng để theo đuổi cơ hội qua việc thành lập công ty mới. Theo tổ chức  
Global Entrepreneurship Monitor thì một doanh nghiệp khi vừa thành lập sẽ trải qua 3 giai đoạn  
từ hình thành, phát triển ý tưởng đến thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là duy trì và phát triển  
doanh nghiệp.  
Hệ sinh thái khởi nghiệp là cách thức một quốc gia hay một thành phố thiết lập để thúc đẩy hoạt  
động khởi nghiệp tại địa phương.Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for  
Economic Cooperation and Development - OECD), định nghĩa hệ sinh thái khởi nghiệp như là ‚tổng  
hợp các mối liên kết chính thức và phi chính thức giữa các chủ thể khởi nghiệp (tiềm năng hoặc hiện  
tại), tổ chức khởi nghiệp (công ty, nhà đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, hệ thống ngân  
hàng,…  và các cơ quan liên quan (Trường Đại học, các cơ quan nhà nước, các quỹ đầu tư công,…  
và tiến trình khởi nghiệp (tỷ lệ thành lập doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng  
tốt, số lượng các nhà khởi nghiệp,…  tác động trực tiếp đến môi trường khởi nghiệp tại địa phương‛  
Theo định nghĩa của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum, 2013) hệ sinh thái khởi  
nghiệp sẽ bao gồm các yếu tố khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, giáo dục…, (1)  
Thị trường; (2) Nguồn nhân lực; (3) Nguồn vốn và tài chính; (4) Hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp (tư vấn);  
(5) Khung pháp lý và cơ sở hạ tầng; (6) Giáo dục và đào tạo; (7) Các Trường Đại học, học viện; và (8)  
Văn hóa quốc gia.  
2.2 Thực trạng khởi nghiệp ở Việt Nam  
Hiện nay, các quốc gia trên thế giới nghiên cứu đề tài tiềm năng khởi nghiệp rất nhiều. Các quốc  
gia này có tầm nhìn hướng về một xã hội, đất nước tốt đẹp, giàu mạnh khi có những doanh nghiệp  
mới được thành lập để cung cấp các giá trị mới cho toàn xã hội.Việt Nam một trong những quốc  
gia được nhắc đến nhiều nhất là một nước công nghiệp 4.0 và một quốc gia khởi nghiệp và đặc  
biệt là một nước giới trẻ đang đua nhau phong trào ‚khởi nghiệp‛. Thời gian gần đây, phong trào  
khởi nghiệp tại Việt Nam đang thu hút được rất nhiều sự quan tâm của cộng đồng xã hội và đặc  
biệt là giới trẻ. Chính vì điều này Việt Nam trở thành một môi trường ‚béo bở‛ đối với các startup  
cũng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước đang hướng đến các bạn trẻ.  
Khi so sánh hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam với 54 nước khác trên thế giới (Global  
Entrepreneurship Monitor_GEM, 2017), hai chỉ số của Việt Nam có thứ hạng cao nhất là: Năng động  
của thị trường nội địa (5/54), Văn hóa và chuẩn mực xã hội (6/54). Cơ sở hạ tầng, chỉ số có điểm  
trung bình cao nhất ở Việt Nam, có thứ hạng cao thứ ba trong số 12 chỉ số của hệ sinh thái khởi  
nghiệp, xếp thứ 10/54. Hai chỉ số có thứ hạng cao tiếp theo đó là Độ mở của thị trường nội địa  
(12/54) và Chính sách Chính phủ (13/54). Việc chỉ số chính sách của Chính phủ dù chỉ được đánh  
giá ở mức 2,4/5 điểm nhưng vẫn xếp thứ 13/54, cho thấy việc có hệ thống chính sách tốt và hiệu  
2118  
quả nhằm thúc đẩy khởi nghiệp và phát triển kinh doanh đây không chỉ là vấn đề của riêng Việt  
Nam mà là của nhiều nước trên thế giới. Ba chỉ số trong hệ sinh thái khởi nghiệp có thứ hạng thấp  
nhất của Việt Nam năm 2017 là: Tài chính cho kinh doanh (39/54), Giáo dục kinh doanh sau phổ  
thông (40/54) và Chương trình hỗ trợ Chính phủ (43/54).  
Bảng 1: Thứ hạng các chỉ số trong hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam 2013 - 2017  
2017  
Thứ  
2015  
Thứ  
2014  
Thứ  
2013  
Thứ  
Điều kiện kinh doanh  
Điểm  
Điểm  
Điểm  
Điểm  
hạng/54  
hạng/62  
hạng/73  
hạng/69  
Năng động của thị trường nội địa  
Văn hóa và chuẩn mực xã hội  
Cơ sở hạ tầng  
4,15  
3,62  
4,19  
2,79  
2,4  
5
6
3,59  
3,23  
4,07  
2,51  
2,78  
2,62  
11  
14  
17  
3,71  
3,13  
3,75  
2,43  
2,93  
2,46  
6
3,50  
3,10  
3,58  
2,66  
2,89  
2,77  
15  
20  
43  
32  
20  
13  
17  
10  
12  
13  
25  
39  
52  
20  
32  
Độ mở của thị trường nội địa  
Chính sách Chính phủ  
28  
15  
25  
Quy định Chính phủ  
3,02  
Chuyển giao công nghệ  
Giáo dục kinh doanh bậc phổ  
1,83  
34  
1,57  
47  
1,83  
51  
1,97  
46  
thông  
Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh  
2,82  
2,27  
2,61  
36  
39  
40  
2,93  
2,12  
2,53  
42  
50  
47  
2,93  
2,37  
2,64  
41  
44  
58  
2,89  
2,40  
2,64  
45  
42  
50  
Tài chính cho kinh doanh  
Giáo dục kinh doanh sau phổ  
thông  
Chương tr nh hỗ trợ Chính phủ  
2,09  
43  
2,14  
50  
2,35  
54  
2,50  
38  
Nguồn: Khảo sát chuyên gia trên toàn cầu các năm 2013 - 2017  
3 Đ NH GIÁ KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO  
Một quốc gia muốn đi lên, đổi mới thì cần có những người biết sáng tạo đổi mới trong tất cả các  
lĩnh vực, cụ thể hơn là cần có những người khởi nghiệp, những người trẻ khởi nghiệp bằng ý tưởng  
mới, đột phá. Và các bạn trẻ chọn khởi nghiệp đó chính là sự quyết tâm dấn thân lập nghiệp để  
thực hiện đam mê của họ với niềm tin kinh doanh là con đường dẫn đến sự thành công.  
3.1 Chính sách và các hoạt động của Chính phủ  
Trong văn bản chính sách hiện nay ở Việt Nam, doanh nghiệp khởi nghiệp. Một số thiết chế (quỹ,  
đề án, chương trình,...) đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc, với mục tiêu tư vấn, hỗ trợ, thúc  
đẩy hoạt động khởi nghiệp như: Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 của Thủ tướng Chính  
phủ phê duyệt Đề án ‚Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST quốc gia đến năm 2025‛, nhằm tuyển  
chọn các tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp. Quỹ Khởi nghiệp doanh nghiệp KH&CN được  
thành lập ngày 16/12/2014 theo Quyết định số 1286/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhằm thu hút  
đội ngũ tri thức, tổ chức, cá nhân, doanh nhân, nhà khoa học đóng góp vào các lĩnh vực phát triển  
kinh tế, tham gia thành lập các doanh nghiệp KH&CN. Chương trình Thanh niên Khởi nghiệp giai  
2119  
đoạn 2016-2021, nhằm tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ thanh niên trong quá trình  
khởi nghiệp.  
3.2 Giá trị  
Khuyến khích xu hướng khởi nghiệp sẽ đưa ra một môi trường nơi đó người trẻ có thể học hỏi nhiều  
nhất, có thể thể hiện được sức sáng tạo cũng như các ý tưởng của mình, các bạn trẻ là những  
người rất đam mê nhiệt huyết táo bạo.Việc khuyến khích khởi nghiệp của giới trẻ sẽ mang lại  
những lợi ích kinh tế bởi vì khởi nghiệp chính là những mô hình ý tưởng cốt yếu công nghệ và đột  
phá, khi ý tưởng thành công có thể áp dụng vào những công nghệ cuộc sống và áp dụng vào  
những mô hình Startup khác (ứng dụng FB… . Chúng ta mở rộng thị trường lao động khiến cho nó  
đa dạng hơn, mở rộng hơn (Uber,grab….. . Giải quyết ra những vấn đề xã hội khi mà trong cuộc  
sống cạnh tranh các công ty truyền thống chỉ nghĩ đến cái lợi nhuận là cái trước mắt, bên cạnh đó  
thì khởi nghiệp chúng ta có thể mang lại những phức lợi xã hội.  
Theo Forbes thì 80% khởi nghiệp đều thất bại, theo toavnnet thì 10 người khởi nghiệp thì hết 9  
người thất bại. Từ đây chúng ta có thể thấy một viễn cảnh khởi nghiệp Việt Nam nước ta là rất cao  
và nguyên nhân chủ yêu là do người trẻ thiếu kinh nghiệm, thiếu chính sách ưu tiên cho khởi  
nghiệp, thủ tục chưa phù hợp đặc thù của khởi nghiệp, hệ sinh thái khởi nghiệp còn nhiều hạn  
chế. Và do nhiều người theo xu hướng đám đông thấy người khác khởi nghiệp thì họ cũng khởi  
nghiệp theo mà không trang bị đủ được đủ kiến thức và tinh thần. Thất bại của xu hướng khởi  
nghiệp ảnh hưởng nặng nề đến tinh thần vật chất, sau khi thất bại họ chịu những cú sốc tinh  
thần rất lớn, mất niềm tin bản thân, ảnh hưởng nặng nề về mặt kinh tế mất rất nhiều tiền lên đến  
hàng trăm triệu đồng.  
Các bạn trẻ khởi nghiệp nếu chưa trang bị đầy đủ kiến thức và tinh thần thì thay vì khuyến khích thì  
nên cho họ thực tập ở các công ty lớn để họ có thêm kinh nghiệm và biết mình là ai, mình có đang  
thật sự muốn khởi nghiệp hay không hay họ chỉ đang chạy theo những xu hướng mà mọi người  
đang chạy theo hay không.  
Khi bạn khởi nghiệp ở đây có thể là thất bại của bạn nhưng sau này bạn làm việc ở một công ty có  
thể là thất bại của người khác nhưng bạn phải gánh chịu (VD: bạn là ở bộ phận sản xuất nhưng lỗi  
do bên bộ phận thiết kế không phải là lỗi của bạn). Tức là bạn không chủ động, không thực sự chịu  
trách nhiệm đề đón nhận sự sụp đổ đó, phải tập làm quen với môi trường thất bại, chuẩn bị tinh  
thần để đón nhận. Steve Jobs với ý tưởng táo bạo về những chiếc smartphone, những chiếc  
Macbook có thể bỏ vừa một cái phong bì. Với họ thì những người trẻ không có địa vị, không có kinh  
nghiệm ở một môi trường truyền thồng thì làm sao họ có thể làm được ý tưởng này. Cũng như ứng  
dụng Facebook rất nổi tiếng của Mark Zuckerberg là ứng dụng mạng xã hội giải trí cao nhất, và đã  
tạo ra được những công việc mới (VD: bán hàng online…  tạo ra những ngành nghề mới, làm  
phong phú hơn trong ngành nghề.  
2120  
4 GIẢI PHÁP  
Đẩy mạnh các hoạt động liên kết giữa các trường đại học, viện, trung tâm nghiên cứu với các  
doanh nghiệp để ứng dụng và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, nhất là trong lĩnh vực công  
nghệ thông tin, nông nghiệp công nghệ cao. Tiếp tục phát huy vai trò cầu nối của Bộ Khoa học và  
Công nghệ, bên cạnh đó thúc đẩy phát triển các tác trung tâm, sàn kết nối cung cầu về công nghệ,  
thông qua việc tổ chức các hội thảo, diễn đàn, hội chợ kết nối công nghệ.  
Tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ kinh doanh, đặc biệt là hệ thống giao thông vận tải, xử lý  
nước thải, các khu công nghiệp. Quan tâm đến hình thành các cụm công nghiệp, nơi có các doanh  
nghiệp lớn, Tập đoàn đa quốc gia làm đầu tàu để thu hút các doanh nghiệp trong công nghiệp  
phụ trợ. Mặt khác, Việt Nam cũng cần xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách phù hợp để  
khuyến khích thành phần tư nhân tham gia đầu tư vào cơ sở hạ tầng, giao thông.  
Xây dựng một cơ quan đầu mối tập hợp các chương trình hỗ trợ kinh doanh của Chính phủ để  
doanh nghiệp và những người làm kinh doanh dễ dàng tiếp cận. Cần sớm ban hành văn bản  
hướng dẫn thi hành và triển khai có hiệu quả Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) theo  
tinh thần tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động nguồn lực xã hội để cùng với Nhà nước hỗ trợ  
phát triển DNNVV.  
Khi người trẻ đủ chính chắn họ sẽ thành công hơn. Vậy khi nào người trẻ đủ chính chắn? Khi mà họ  
vấp ngã họ tự biết đứng lên và biết nhận ra những sai sót và từ những cái thất bại sai sót đó họ rút  
ra bài học và cải thiện làm tốt hơn. Thất bại ở đây không phải là bạn suy nghĩ sai hay vì bạn đi sai  
hướng mà chỉ đơn giản là bạn chưa đủ sáng tạo mà thôi, từ đó bạn chỉ cần sáng tạo hơn để chứng  
minh mình.  
Nhà nước cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, xây dựng các chương trình hỗ trợ, khuyến  
khích phát triển khởi nghiệp, cần cải thiện hệ sinh thái khởi nghiệp để thúc đẩy phong trào khởi  
nghiệp và phát triển kinh doanh, xây dựng sinh thái khởi nghiệp tương như Silicon ở Hoa Kỳ. Lan  
truyền các kiến thức về khởi nghiệp trên các phương tiện truyền thông, báo chí.  
Tổ chức các cuộc thi về khởi nghiệp nơi mà những nhà đầu tư mạo hiểm có thể nhìn thấy những ý  
tưởng đáng giá. Chúng ta nên khuyến khích họ mặc khi họ thành công hay thất bại để giúp họ cởi  
mở hơn, thoát khỏi những nỗi sợ thất bại, và họ đã biết làm những điều tốt đẹp.Người trẻ có những  
ý tưởng nhưng chưa có kinh nghiệm thì thay vì startup bây giờ thì họ có thể rèn luyện để khi có đủ  
khả năng ấy rồi thì họ có thể startup và khả năng rủi ro thấp hơn.  
5 KẾT LUẬN  
Khởi nghiệp đáp ứng được nhu cầu của xã hội là đổi mới và sáng tạo liên tục để mình phù hợp với  
hoàn cảnh, khi thành công đến mức đến chế thì nó sẽ là nền tảng cho các ngành công nghiệp  
đươc phát triển dựa trên nó. Khởi nghiệp sáng tạo mang lại những lợi ích kinh tế, tạo ra được nhiều  
việc làm mới, tạo sự phong phú, mới mẻ về các ngành nghề cho bản thân và xã hội. Những doanh  
nghiệp biết quan tâm đến đến cộng đồng giải quyết những vấn đề xã hội một xã hội người trẻ họ  
chủ động đổi mới và phát triển xã hội của mình. Sự khác nhau giữa kinh doanh truyền thống và  
2121  
startup là các bạn chủ động chấp nhận thất bại tìm ra cuộc sống cho chính mình, làm chủ vấn đề  
có trách nhiệm với bản thân và công việc, ủng hộ giúp cho những người thất bại có thêm động lực,  
vượt qua tiếp tục cải thiện đạt được mục tiêu, cống hiến mà họ đạt ra ban đầu.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
Mason, C. & Brown, R. (2014). Entrepreneurial Ecosystems and Growth Oriented  
Entrepreneurship. OECD, (p. 5). The Hague  
[2]  
[3]  
[4]  
Global Entrepreneurship Monitor - GEM 2017/18 Global Report.  
Mason, C. & Brown, R (2014). Entrepreneurial Ecosystems. OECD, The Hague.  
Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp ở Việt Nam 2017/2018, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt  
Nam - VCCI.  
[5]  
Wikipedia.org  
2122  
pdf 6 trang baolam 19000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xu hướng khởi nghiệp tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxu_huong_khoi_nghiep_tai_viet_nam_thuc_trang_va_giai_phap.pdf