So sánh một số giống lúa chất lượng trong vụ Xuân tại cánh đồng Mường Thanh huyện Điện Biên

J. Sci. & Devel., Vol. 11, No. 2: 161-167  
Tạp chí Khoa học và Phát triển 2013. Tập 11, số 2: 161-167  
SO SÁNH MỘT SỐ GIỐNG LÚA CHẤT LƯỢNG TRONG VỤ XUÂN  
TẠI CÁNH ĐỒNG MƯỜNG THANH HUYỆN ĐIỆN BIÊN  
Hoàng Công Mệnh1,2*, Hoàng Tuấn Hiệp2, Phạm Tiến Dũng3  
1Nghiên cứu sinh, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp,  
3Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội  
E-mail*: hoangmenh80@gmail.com  
Ngày gửi bài: 01.03.2013  
Ngày chấp nhận: 18.04.2013  
TÓM TẮT  
Thí nghiệm so sánh một số giống lúa chất lượng được tiến hành trong vụ xuân 2 năm 2011 và 2012 trên đất phù  
sa có tầng đỏ vàng tại cánh đồng Mường Thanh huyện Điện Biên. Nghiên cứu sử dụng 03 giống lúa chất lượng có  
nguồn gốc trong nước chọn tạo là HT6, T10, SH2 và giống lúa thuần Bắc Thơm số 7 làm đối chứng. Các biện pháp kỹ  
thuật áp dụng cho thí nghiệm về lượng giống gieo, chăm sóc, thu hoạch theo mức trung bình của nông dân. Thí nghiệm  
được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), với 3 lần nhắc lại. Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 24m2. Theo dõi các chỉ  
tiêu sinh trưởng và năng suất. Kết quả thí nghiệm cho thấy, giống lúa HT6 có năng suất cao nhất, đạt trung bình 71,2  
tạ/ha, cao hơn so với giống đối chứng 11,6% (P= 0,05). Giống lúa HT6 cho hiệu quả kinh tế cao nhất (lãi thuần 37,7  
triệu đồng/ha. Kết quả phân tích chất lượng gạo giống lúa HT6 có hàm lượng amylose thấp, độ bền gel lớn, đặc biệt  
chất lượng cơm tốt, có mùi thơm đặc trưng, ăn rất ngon và cơm có vị đậm; Cơm sau khi nấu chín để nguội vẫn có độ  
dẻo, mềm; hạt cơm sáng bóng, dính tốt và mịn hơn so với giống đối chứng nên được khuyến cáo đưa vào cơ cấu sản  
xuất lúa của vùng.  
Từ khóa: Cánh đồng Mường Thanh, huyện Điện Biên, lúa xuân, hiệu quả kinh tế, lúa chất lượng.  
Comparison of Some Quality Paddy Varieties in Spring Crop  
at Muong Thanh Field, Dien Bien District  
ABSTRACT  
An experiment was conducted on Fluvisols Acrisoil during spring rice from 2011 to 2012 in the the Muong Thanh  
field, Dien Bien District to compare the quality rice varieties. The study used three quality rice varieties: HT6, T10 and  
SH2 and Bac Thom N07 was used as control. The cultural practices applied to the experiments, such as seeding rate,  
crop management, and harvesting was based on the average of local farmers. The experiments were arranged in  
Randomized Complete Block (RCB) and repeated thrice. Growth, yield, and culinary quality were recorded and  
evaluated. The experimental results showed that HT6 rice variety has highest yield (average yield of 7.12 tons/ha),  
higher than the control by 11.6%. (P = 0.05). HT6 variety brought the highest economic efficiency (net profit of VND  
37.7 million/ha). Quality analysis showed that rice variety HT6 has low amylose content, high gel strength, especially,  
good eating quality with a typical aroma. After cooking rice remains soft, shiny, good adhesive and smooth. HT6  
varitey is recommended to the large scale production.  
Keywords: Dien Bien distric, economic efficiency, Muong Thanh field, quality rice variety, spring rice.  
tỉnh Điện Biên có 47,55 nghìn ha (Niên giám  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Thống kê tỉnh Điện Biên, 2010). Lúa là cây  
Cây lúa (Oryza Sativa L.) là cây lương thực  
đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế,  
an ninh lương thực với nhiều nước trên thế giới,  
đặc biệt một số nước châu Á. Ở nước ta, năm  
2010 có 7,5 triệu ha lúa gieo trồng, trong đó  
lương thực chủ yếu của tỉnh Điện Biên, chiếm  
hơn 69,72% tổng sản lượng lương thực của tỉnh.  
Trong đó, diện tích lúa nước của tỉnh là 23,8  
nghìn ha, năng suất 51,89 tạ/ha, sản lượng  
123,81 nghìn tấn.  
161  
So sánh một số giống lúa chất lượng trong vụ xuân tại cánh đồng Mường Thanh huyện Điện Biên  
Cánh đồng Mường Thanh huyện Điện Biên  
là cánh đồng lớn nhất vùng Tây Bắc, với điều  
kiện đất đai màu mỡ, bằng phẳng, thời tiết khí  
hậu thuận lợi cho cây lúa phát triển. Diện tích  
gieo trồng chiếm 36,2%, sản xuất 53,5% sản  
lượng. Năm 2010, diện tích gieo cấy lúa của  
vùng là 8.696 ha, sản lượng 56.475 tấn. “Gạo  
Điện Biên” trồng ở vùng cánh đồng Mường  
Thanh là một trong những đặc sản nông nghiệp  
nổi tiếng mà nhiều người tiêu dùng trong nước  
biết đến. Người dân vùng cánh đồng Mường  
Thanh hiện đang sử dụng chủ yếu các giống lúa  
chất lượng: giống Bắc Thơm số 7 và IR64 chiếm  
trên 80% diện tích gieo cấy của vùng. Tuy  
nhiên, với giống lúa Bắc Thơm số 7 là giống có  
chất lượng thơm ngon nhưng tỷ lệ bị nhiễm  
bệnh cao, có nguy cơ giảm năng suất. Nghiên  
cứu tiến hành lựa chọn một số lúa thơm chất  
lượng để thay thế dần giống Bắc Thơm số 7.  
hình sâu, bệnh hại; các yếu tố cấu thành năng  
suất: bông/m2, tổng số hạt/bông, số hạt  
chắc/bông, khối lượng (M) 1000 hạt.  
Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = (Số bông/m2  
Số hạt chắc/bông M1000 hạt)/10.000; Năng suất  
thực thu (tạ/ha) = (năng suất ô/24m2)x10.000m2.  
- Phương pháp lấy mẫu thóc: Mẫu được thu  
thập theo quy định TCVN 5451: 2008;  
- Phương pháp phân tích chất lượng thóc  
gạo: dựa theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN  
5645-1992, TCVN 5715-1993, TCVN 5716-  
1993, TCVN 5643-1999, TCVN 5644 - 1999) và  
đối với thóc là tiêu chuẩn 10 TCN-136-90. Đánh  
giá các chỉ tiêu về tỷ lệ xay xát, tỷ lệ gạo  
nguyên, tỷ lệ trắng trong, kích thước hạt gạo,  
hàm lượng amylose, protein, tinh bột, nhiệt độ  
hóa hồ, độ bền gel;  
- Phương pháp đánh giá cảm quan, chất  
lượng cơm: Phương pháp thử nếm dựa theo Tiêu  
chuẩn Việt Nam TCVN 8373: 2010. Đánh giá  
bằng cảm quan các chỉ tiêu mùi thơm, độ trắng,  
độ bóng, độ mềm, độ dính và độ ngon.  
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu  
Thí nghiệm tiến hành so sánh một số giống  
lúa chất lượng trồng trong vụ xuân 2011 và vụ  
xuân 2012 tại xã Thanh Luông trong vùng cánh  
đồng Mường Thanh huyện Điện Biên trên đất  
phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, trồng 2 vụ lúa  
nước, được tưới tiêu chủ động.  
Hai nội dung trên được tiến hành tại Trung  
tâm nghiên cứu và kiểm tra chất lượng nông  
sản thực phẩm - Viện Cơ điện và Công nghệ sau  
thu hoạch.  
Các kết quả được tính toán với các tham số  
thống kê cơ bản Excel và phân tích một số chỉ  
tiêu có ý nghĩa bằng phương pháp phân tích  
phương sai với phần mềm IRRISTAT version  
5.0 (Phạm Tiến Dũng, Nguyễn Đình Hiền,  
2010).  
2.2. Vật liệu nghiên cứu  
Ba giống lúa chọn tạo trong nước là HT6,  
T10, SH2 và giống lúa thuần Bắc Thơm số 7  
làm đối chứng.  
Tính toán hiệu quả kinh tế của các giống  
lúa tham gia thí nghiệm qua lãi thuần thu  
được: Lãi thuần (RAVC) = Tổng thu (GR) - Tổng  
chi phí (TVC).  
Lượng giống gieo với loại hạt nhỏ như T10  
và Bắc Thơm số 7 là 80 kg/ha, với loại hạt to  
như HT6 và SH2 là 90kg/ha, phương thức gieo  
sạ thẳng. Thí nghiệm sử dụng lượng phân bón  
cho 1 ha là: 6 tấn phân chuồng + 100 kg N + 70  
kg P2 O5 + 90 kg K2O.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Một số đặc điểm sinh trưởng và phát  
triển các giống lúa tham gia thí nghiệm  
- Các công thức thí nghiệm được bố trí theo  
khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), với 3 lần nhắc lại.  
Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 24m2 (4 x 6m).  
Các giống lúa tham gia thí nghiệm có TGST  
từ 132 đến 141 ngày, chiều cao từ 110-119 cm,  
đều là các giống có thời gian sinh trưởng và cao  
cây trung bình.  
- Các chỉ tiêu theo dõi: thời gian sinh  
trưởng, chiều cao cây, khả năng chống đổ, tình  
162  
Hoàng Công Mệnh, Hoàng Tuấn Hiệp, Phạm Tiến Dũng  
Vụ xuân năm 2011 thời tiết khá thuận lợi  
cho cây lúa sinh trưởng và phát triển từ khi  
gieo đến khu thi hoạch. Các giống tham gia thí  
nghiệm ít bị nhiễm sâu, bệnh hại. Giống T10 có  
khả năng chống đổ trung bình (điểm 5). Thời  
tiết vụ xuân năm 2012 từ khi gieo mạ đến khi  
lúa trỗ khá thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng  
phát triển. Tuy nhiên, giai đoạn lúa vào chắc,  
từ 19 đến 30 tháng 4 mưa thường xuyên, bệnh  
bạc lá, khô vằn, đạo ôn cổ bông phát triển trên  
diện rộng, làm ảnh hưởng đến năng suất lúa.  
Các giống đều bị nhiễm bệnh khô vằn, bạc lá ở  
mức trung bình (điểm 3-5), trong đó, giống HT6  
nhiễm bệnh ở mức thấp. Kết quả thí nghiệm  
được thể hiện trong bảng 1.  
cao hơn so với giống đối chứng (Bắc Thơm số 7)  
7,37 tạ/ha, tương đương 11,6%, ở mức ý nghĩa α  
= 0,05 trong cả 2 vụ. Giống T10 có năng suất  
cao hơn so với đối chứng trong vụ xuân 2012,  
trong vụ xuân 2011 tương đương với giống đối  
chứng. Giống SH2 có năng suất tương đương  
giống đối chứng ở mức ý nghĩa α = 0,05. Qua  
nghiên cứu thực tế cho thấy, giống HT6 có  
nhiều đặc điểm tính chất tốt như: cây đồng đều,  
chống đổ tốt nên được chọn để xây dựng mô  
hình nhân rộng.  
3.3. Chất lượng các giống lúa tham gia thí  
nghiệm  
3.3.1. Một số chỉ tiêu chất lượng lúa gạo  
của các giống thí nghiệm  
3.2. Một số yếu tố cấu thành năng suất và  
năng suất các giống lúa tham gia thí nghiệm  
Kết quả đánh giá một số yếu tố cấu thành  
năng suất và năng suất các giống lúa chất  
lượng tham gia thí nghiệm trong vụ xuân năm  
2011, 2012 được thể hiện ở bảng 2 dưới đây:  
Phân tích các chỉ tiêu về chất lượng của các  
mẫu thóc của các giống lúa thí nghiệm trong vụ  
xuân 2012 cho kết quả ở bảng 4.  
Tỷ lệ gạo xát: Giống lúa T10 có tỷ lệ gạo  
thu hồi sau khi xát đạt cao nhất, 72,8% khối  
lượng thóc xát. Thấp nhất là giống SH2 thu hồi  
chỉ đạt 68,1% khối lượng thóc xát.  
Qua 2 năm theo dõi cho thấy, năng suất các  
giống lúa có sự khác nhau, thể hiện ở bảng 3.  
Giống HT6 có năng suất trung bình 71,2 tạ/ha,  
Bảng 1. Tình hình sinh trưởng - phát triển và khả năng chống chịu sâu, bệnh  
của các giống lúa chất lượng tham gia thí nghiệm  
Sâu hại (điểm 0-9)  
Bệnh hại (điểm 0-9)  
Chiều cao  
cuối cùng  
(cm)  
Đổ ngã  
(điểm  
1-9)  
TGST  
(ngày)  
Giống lúa  
Đục  
thân  
Rầy  
nâu  
Cuốn  
lá  
Đạo  
Khô  
Bạc  
ôn  
vằn  
lá  
Vụ xuân năm 2011  
T10  
132  
137  
126  
134  
110  
115  
117  
112  
0
1
1
1
1
1
0
0
0
1
1
1
1
1
1
1
1
1
0
1
3
5
0
1
3
HT6  
SH2  
0
1
Bắc Thơm số 7 (Đ/c)  
0
Vụ xuân năm 2012  
T10  
135  
141  
129  
134  
114  
117  
119  
113  
0
0
1
0
1
1
1
1
3
1
3
1
5
3
3
3
5
3
5
3
3
3
5
5
5
1
3
3
HT6  
SH2  
Bắc Thơm số 7 (Đ/c)  
Ghi chú: Chỉ tiêu đánh giá cấp bệnh theo tiêu chuẩn 10 TCN 558 - 2002 về khảo nghiệm lúa  
163  
So sánh một số giống lúa chất lượng trong vụ xuân tại cánh đồng Mường Thanh huyện Điện Biên  
Bảng 2. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất  
các giống lúa chất lượng tham gia thí nghiệm  
Năng  
So với  
đối  
chứng  
(%)  
Số  
Số  
hạt/bông  
(hạt)  
Số hạt  
chắc/bông  
(hạt)  
Tỷ lệ hạt Khối lượng  
Năng suất  
thực thu  
(tạ/ha)  
suất lý  
thuyết  
(tạ/ha)  
Giống  
bông/m2  
(bông)  
chắc  
1000 hạt  
(%)  
(g)  
Vụ xuân năm 2011  
T10  
357a  
342a  
358a  
364a  
5,1  
157  
146  
142  
162  
135a  
128a  
120a  
133a  
7,0  
86,0  
19,8b  
22,9a  
22,2a  
19,9b  
5,2  
95,12  
100,34  
95,64  
96,17  
68,27b  
72,53a  
64,33b  
65,19b  
4,0  
105  
111  
99  
HT6  
SH2  
87,9  
84,5  
82,1  
Bắc Thơm số 7 (Đ/c)  
CV%  
100  
LSD 5%  
36  
18  
1,0  
5,40  
Vụ xuân năm 2012  
T10  
356a  
323a  
348a  
329a  
5,2  
155  
144  
138  
152  
137a  
129a  
122a  
134a  
6,0  
88,0  
19,6b  
23,0a  
22,4a  
20,2b  
3,2  
95,20  
96,22  
94,84  
88,96  
66,70b  
69,83a  
64,30bc  
62,43c  
3,0  
106  
112  
101  
100  
HT6  
SH2  
90,0  
88,4  
88,4  
Bắc Thơm số 7 (Đ/c)  
CV%  
LSD 5%  
35  
16  
0,9  
3,88  
Ghi chú: Các giá trị trong cùng cột mang trên mũ khác chữ cái a, b,… thì chúng khác nhau có ý nghĩa và ngược lại là khác  
nhau không ý nghĩa  
Bảng 3. Năng suất các giống lúa tham gia thí nghiệm trong vụ xuân  
năm 2011 và 2012 tại vùng cánh đồng Mường Thanh huyện Điện Biên  
Năng suất (tạ/ha)  
Năm 2012  
66,70b  
Tăng so với đ/c  
Năng suất (tạ/ha)  
Giống  
Năm 2011  
68,27b  
72,53a  
64,33b  
65,19b  
4,0  
Trung bình  
67,5  
Tỷ lệ%  
105,8  
111,6  
100,8  
100,0  
T10  
3,68  
7,37  
0,50  
HT6  
SH2  
69,83a  
64,30bc  
62,43c  
71,2  
64,3  
Bắc Thơm số 7 (Đ/c)  
CV%  
63,8  
3,0  
LSD 5%  
5,40  
3,88  
Hàm lượng amylose: Các giống lúa thí  
nghiệm đều có làm lượng amylose thấp (từ  
12,96 - 17,27% chất khô). Hàm lượng amylose  
tương quan nghịch với vị của cơm như độ mềm,  
màu sắc, độ bóng. Gạo không nở, bóng, dính và  
rắn khi nấu thường có hàm lượng amylose thấp.  
Với đặc tính này, gạo nở theo chiều dài hạt,  
nguyên vẹn, tỷ lệ trương nở 50 - 60%. Gạo Điện  
Biên có hàm lượng amylose thấp. Vì vậy, chất  
lượng nấu nướng các loại gạo này đều mềm dẻo,  
đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng ở trong  
và ngoài nước.  
Tỷ lệ trắng trong: Giống HT6 có tỷ lệ hạt  
gạo trắng trong trung bình thấp nhất là 83,1%,  
giống T10 và đối chứng có tỷ lệ trắng trong cao,  
từ 85-86%.  
Nhiệt độ hóa hồ (NĐHH): Điểm phá hủy  
kiềm các mẫu gạo ở điểm 6 và 7, ở mức thấp  
nên nhiệt độ hóa hồ ở mức cao (ở nhiệt độ  
>740C). NĐHH thấp là điều kiện quan trọng để  
đánh giá chất lượng gạo tốt. NĐHH liên quan  
đến hàm lượng amylose. Các loại gạo có NĐHH  
cao thì có hàm lượng amylose thấp.  
164  
Hoàng Công Mệnh, Hoàng Tuấn Hiệp, Phạm Tiến Dũng  
Bảng 4. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu chất lượng gạo  
các giống lúa tham gia thí nghiệm  
Các giống lúa  
Chỉ tiêu  
T10  
HT6  
SH2  
Bắc Thơm số 7 (Đ/c)  
Chất lượng xay xát, cơ lý  
Tỷ lệ gạo lật (% thóc)  
Tỷ lệ gạo xát (% thóc)  
Tỷ lệ gạo nguyên(% gạo xát)  
Tỷ lệ trắng trong (% hạt nguyên)  
Tính chất hóa học  
Nhiệt độ hóa hồ (GT)  
Điểm phá hủy kiềm (điểm)  
Phân loại  
75,4  
72,8  
75,3  
85,4  
75,2  
69,8  
77,1  
83,1  
74,7  
68,1  
75,8  
83,5  
75,8  
71,1  
79,3  
86,3  
7
6
6
7
Thấp  
8,0  
Thấp  
8,1  
Thấp  
6,9  
Thấp  
8,2  
Hàm lượng protein (% chất khô)  
Hàm lượng tinh bột (%)  
Amylose (% chất khô)  
Độ bền gel (chiều dài gel)  
Sau 30' (mm)  
80,4  
12,96  
79,6  
13,35  
80,8  
17,27  
81,4  
14,18  
73  
77  
75  
77  
63  
67  
73  
74  
Sau 60' (mm)  
Phân loại  
Mềm  
Mềm  
Mềm  
Mềm  
Hình thức, hình dạng hạt  
Kích thước hạt  
Dài hạt (gạo lật) (mm)  
Phân loại  
5,7  
TB  
5,3  
5,2  
5,8  
TB  
Ngắn  
Ngắn  
Dạng hạt  
Dài/rộng (gạo lật)  
2,3  
TB  
1,9  
Bầu  
23,0  
1,9  
Bầu  
22,2  
2,3  
TB  
Phân loại  
Khối lượng 1000 hạt  
19,6  
20,1  
Ghi chú: Kết quả phân tích tại Trung tâm KTCLNS - Viện Cơ điện và CNSTH  
Độ bền gel: Gạo các giống lúa thí nghiệm  
đều có độ bền gel trong khoảng từ 67-77 mm,  
đều là loại gạo mềm. Độ bền gel (gel  
consistency) là cách kiểm tra nhanh, đơn giản,  
bổ sung cho kiểm tra amylose. Độ bền gel càng  
chẩy dài thì gạo càng mềm, và hàm lượng  
amylose càng thấp, cũng phù hợp với quy luật  
của nhiệt độ hóa hồ.  
3.3.2. Chất lượng mấu nướng và điểm đánh  
giá cảm quan cơm các giống lúa chất lượng  
tham gia thí nghiệm  
Kết quả đánh giá cho thấy: Gạo HT6 có chất  
lượng nấu nướng tốt, có mùi thơm đặc trưng, gạo  
nở đều, cơm trắng, ăn rất ngon và cơm có vị đậm.  
Cơm sau khi nấu chín để nguội cơm vẫn có độ dẻo,  
mềm; hạt cơm sáng bóng, dính tốt và mịn. Chất  
lượng gạo T10 tương đương với giống đối chứng  
Bắc Thơm số 7. Riêng cơm gạo SH2 ít mềm sau  
khi để nguội, hạt cơm hơi dính (Bảng 5).  
Hàm lượng protein: các giống T10, HT6 và  
giống đối chứng có hàm lượng protein tổng số cao  
>8%, giống SH2 có hàm lượng protein mức trung  
bình 6,9%.  
165  
So sánh một số giống lúa chất lượng trong vụ xuân tại cánh đồng Mường Thanh huyện Điện Biên  
Bảng 5. Kết quả so sánh thử nếm chất lượng cơm các giống lúa  
chất lượng tham gia thí nghiệm  
Điểm đánh giá cơm các giống (điểm)  
Chỉ tiêu  
T10  
HT6  
SH2  
Bắc Thơm số 7 (Đ/c)  
Mùi thơm  
4,43  
4,57  
4,57  
4,71  
4,43  
4,71  
Độ mềm dẻo  
Độ trắng  
4,43  
4,57  
4,57  
4,71  
4,57  
4,57  
Vị ngon  
4,57  
4,86  
4,43  
4,57  
Tổng điểm  
Độ sáng bóng  
Độ dính  
18,29  
18,71  
17,86  
18,43  
Sáng bóng  
Dính tốt, mịn  
Cơm mềm sau để nguội  
Sáng bóng  
Dính tốt, mịn  
Cơm mềm sau để nguội  
Hơi bóng  
Hơi dính, mịn  
Hơi bóng  
Hơi dính, mịn  
Cơm mềm sau để nguội  
Đặc điểm khác  
Cơm ít mềm sau để  
nguội  
Ghi chú: Thang đánh giá theo TCVN 8373: 2010, mức điểm cao nhất cho mỗi chỉ tiêu 5 điểm. Kết quả phân tích tại Trung tâm  
KTCLNS - Viện Cơ điện và CNSTH  
So với quy định của gạo chất lượng thì các  
giống T10, HT6, Bắc Thơm số 7 đều đạt được các  
tiêu chuẩn sau: có mùi thơm từ thơm đến rất  
thơm; tỉ lệ gạo nguyên từ trung bình đến cao;  
dạng hạt từ trung bình đến thon; hàm lượng  
protein từ trung bình đến cao, hàm lượng amylose  
thấp. Tuy nhiên, giống HT6 có chất lượng tốt hơn.  
3.4. Hiệu quả kinh tế của các giống lúa  
tham gia thí nghiệm  
Để có cơ sở thực tiễn đưa ra nhận xét có ý  
nghĩa của các giống lúa tham gia thử nghiệm  
trong vụ xuân tại vùng lòng chảo huyện Điện  
Biên, chúng tôi đã hạch toán hiệu quả kinh tế  
các giống tham gia thí nghiệm (bảng 6).  
Bảng 6. Hiệu quả kinh tế của các giống lúa tham gia thí nghiệm  
trong vụ xuân năm 2012 (ĐVT: 1.000 đ/ha)  
Bắc Thơm số 7  
Hạng mục  
T10  
HT6  
SH2  
(Đ/c)  
Chi phí giống  
1280  
7750  
1020  
5000  
1800  
13500  
1200  
31550  
66,7  
1350  
7750  
980  
1350  
7750  
1000  
5000  
1800  
14000  
1200  
32100  
64,3  
1280  
7750  
1050  
5000  
1800  
14000  
1200  
32080  
62,4333  
10,5  
Chi phí phân bón  
Chi phí thuốc bảo vệ thực vật  
Thuê làm đất  
5000  
1800  
14000  
1200  
32080  
69,83  
10  
Tuốt lúa, vận chuyển  
Chi phí công lao động  
Chi phí thủy lợi, hợp tác xã  
Tổng chi  
Năng suất (tạ/ha)  
Giá bán (tr đ/tấn) (tr đ)  
Tổng thu  
10  
9,5  
66700  
35150  
1675  
69833  
37753  
4278  
61085  
28985  
-4490  
65555  
33475  
0
Lãi thuần  
Chênh lệch với Đ/C  
Ghi chú: Đạm ure =11.000 đ/kg; supe lân =3.400 đ/kg; kali clorua = 13.000 đ/kg.  
166  
Hoàng Công Mệnh, Hoàng Tuấn Hiệp, Phạm Tiến Dũng  
Từ số liệu bảng 6 cho thấy: giống lúa SH2  
cho thu nhập thuần thấp nhất, thấp hơn so với  
giống đối chứng 4,3 triệu đồng/ha. Giống lúa  
HT6 cho hiệu quả kinh tế cao nhất 37,7 triệu  
đồng/ha, cao hơn so với đối chứng 4,3 triệu  
đồng/ha. Giá lúa Điện Biên cùng giống luôn cao  
hơn các vùng khác. So sánh giá lúa thời điểm  
giữa năm 2012, lúa Bắc Thơm số 7 từ 10 - 10,5  
nghìn đồng/kg, lúa Khang Dân 18 tại Điện Biên  
là 8 - 8,5 nghìn đồng/kg; trong khi đó giá lúa  
Bắc Thơm số 7 tại Hà Nội là 8 - 8,5 nghìn  
đồng/kg, lúa Khang Dân 18 là 7 - 7,2 nghìn  
đồng/kg.  
vẫn có độ dẻo, mềm; hạt cơm sáng bóng, dính  
tốt và mịn hơn so với giống đối chứng.  
Giống lúa HT6 cho hiệu quả kinh tế cao  
nhất (lãi thuần 37,7 triệu đồng/ha, cao hơn so  
với giống đối chứng 4,3 triệu đồng/ha), giống  
SH2 cho hiệu quả kinh tế thấp nhất (lãi thuần  
29,0 triệu đồng/ha, thấp hơn so với giống đối  
chứng 4,5 triệu đồng/ha). Giống HT6 có năng  
suất, chất lượng cao, ít bị nhiễm có loại sâu  
bệnh hơn so với giống đối chứng nên được chọn  
đưa vào cơ cấu lúa chất lượng cao của huyện  
Điện Biên.  
4.2. Kiến nghị  
Tại vùng lòng chảo Điện Biên, cơ cấu giống  
lúa ngoài giống lúa thuần IR64, Bắc Thơm số 7,  
lúa lai, khuyến cáo đưa thêm giống lúa thuần  
HT6 vào cơ cấu giống lúa của huyện.  
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
4.1. Kết luận  
So sánh một số giống lúa chất lượng tiến  
hành trong vụ xuân 2 năm 2011 và 2012 với  
nền phân bón (6 tấn phân chuồng + 100 kg N +  
70 kg P2 O5 + 90 kg K2O)/ha thì giống HT6 có  
sức chống chịu sâu, bệnh, khả năng chống đổ  
tốt hơn các giống khác và giống đối chứng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bộ Nông nghiệp và PTNT (2002). Tiêu chuẩn Theo  
dõi, đánh giá các chỉ tiêu theo quy phạm khảo  
nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống lúa,  
10 TCN 558-2002 theo quyết định số  
143/2002/BNN - KHCN ngày 6/12/2002.  
Giống lúa HT6 có năng suất thực thu cao  
nhất trong cả 2 vụ, đạt trung bình 71,2 tạ/ha,  
cao hơn so với giống đối chứng 11,6% ở mức ý  
nghĩa α = 0,05; giống T10 có năng suất 67,5  
tạ/ha, cao hơn so với giống đối chứng 5,8%, tuy  
nhiên sự khác biệt chỉ xấp xỉ mức có ý nghĩa.  
Các giống có thời gian sinh trưởng 132-141  
ngày nên có thể đưa vào công thức trồng vụ lúa  
xuân - lúa mùa sớm - cây vụ đông.  
Cục Thống kê tỉnh Điện Biên (6/2011). Niên giám  
Thống kê tỉnh Điện Biên năm 2010.  
Phạm Tiến Dũng, Nguyễn Đình Hiền (2010). Thiết kế  
thí nghiệm và xử lý kết quả bằng phần mềm thống  
kê IRRISTAT. Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.  
Nguyễn Thị Lan, Phạm Tiến Dũng (2006). Giáo trình  
Phương pháp thí nghiệm. Nhà xuất bản Nông  
nghiệp, Hà Nội.  
Kết quả phân tích chất lượng gạo cho thấy  
giống HT6 có hàm lượng amylose thấp, độ bền  
gel lớn, đặc biệt chất lượng cơm nấu tốt, có mùi  
thơm đặc trưng, gạo nở đều, ăn rất ngon và cơm  
có vị đậm; Cơm sau khi nấu chín để nguội cơm  
Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5451: 2008). Lấy mẫu  
ngũ cốc, đậu đỗ và sản phẩm bột nghiền.  
Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 8373: 2010). Gạo trắng -  
Đánh giá chất lượng cảm quan cơm bằng phương  
pháp cho điểm.  
167  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 17140 Free
Bạn đang xem tài liệu "So sánh một số giống lúa chất lượng trong vụ Xuân tại cánh đồng Mường Thanh huyện Điện Biên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_mot_so_giong_lua_chat_luong_trong_vu_xuan_tai_canh_d.pdf