Sự thích nghi và hội nhập của người di cư - một tổng quan lý thuyết
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
11
SỰ THÍCH NGHI VÀ HỘI NHẬP CỦA NGƯỜI DI CƯ -
MỘT TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
NGUYỄN THU VÂN*
Quá trình thích nghi và hội nhập của người di cư đến nơi ở mới là một trong
những chủ đề đã được nghiên cứu khá nhiều trên thế giới. Việt Nam cũng là một
quốc gia có tỷ lệ di dân nội địa cao và đã có nhiều nghiên cứu về di dân. Bài viết
tổng quan các quan điểm lý thuyết chủ yếu trong nghiên cứu quá trình hội nhập
và thích nghi của người di cư trên thế giới để làm cơ sở cho việc nghiên cứu sự
thích nghi, khó khăn của người di cư trong thời gian tới tại Việt Nam.
Từ khóa: di cư, thích nghi, hội nhập, người di cư, cộng đồng
Nhận bài ngày: 05/11/2021; đưa vào biên tập: 06/11/2021; phản biện: 14/11/2021;
duyệt đăng: 03/12/2021
những vấn đề về tâm lý lẫn xã hội
trong quá trình thích nghi (adaptation)
và hội nhập (integration), khả năng
thích nghi và hội nhập vào cộng đồng
mới phụ thuộc vào các yếu tố cá nhân
lẫn nhóm trong quá trình di cư. Vì thế,
trong nghiên cứu về quá trình thích
nghi và hội nhập của người di cư,
nhiều công trình đã đề cập đến các
khía cạnh như sự thích nghi về mặt
tâm lý, về văn hóa - xã hội và kinh tế.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về
di cư đã được công bố. Theo N. Levy
và cộng sự (2020), trong giai đoạn
1975 - 2017 có 48.842 công trình
(không tính sách) liên quan đến di dân
của 44.286 tác giả trên 185 quốc gia
đã được công bố. J. Hatton (2011)
còn gọi đây là “thời đại nghiên cứu di
dân” (age of migration studies).
Chủ đề thường được các nhà nghiên
cứu quan tâm là phân tích các nguyên
nhân thúc đẩy việc di cư khởi đi từ mô
hình lực hút - lực đẩy của E.
Ravenstein (1885); song song đó là
tìm hiểu quá trình thích nghi, đồng hóa
và tiếp biến văn hóa trong lĩnh vực
khoa học xã hội và nhân văn (Berry,
1992). Nhiều nhà nghiên cứu đồng
thuận rằng người di cư luôn gặp phải
2. CHIẾN LƯỢC THÍCH NGHI CỦA
NGƯỜI DI CƯ
Trong lĩnh vực tâm lý học liên văn hóa
(Cross-cultural psychology), các nhà
nghiên cứu đã chứng minh rằng có
mối quan hệ chặt chẽ giữa bối cảnh
văn hóa và sự phát triển về hành vi
của cá nhân. Từ quy luật này, việc
nghiên cứu tâm lý liên văn hóa đối với
người di cư là nhằm tìm hiểu những
mô thức thích nghi vào bối cảnh xã
hội mới của họ cũng như những hệ
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
NGUYỄN THU VÂN – SỰ THÍCH NGHI VÀ HỘI NHẬP CỦA NGƯỜI DI CƯ…
12
quả về mặt tâm lý hành vi của quá gốc của mình và từ chối tương tác với
trình thích nghi ấy nơi nhóm người các giá trị, chuẩn mực văn hóa mới, tức
này. Trong hướng nghiên cứu này, J.
Berry (1992, 1997) là người có đóng
góp lớn. Trong công trình Immigration,
Acculturation, and Adaptation (1997),
tác giả đã đưa ra bốn chiến lược thích
nghi và tiếp biến văn hóa của người di
cư tùy vào việc người di cư có muốn
giữ gìn bản sắc văn hóa của mình hay
không và có mong muốn tạo dựng các
mối quan hệ tích cực với cộng đồng
tiếp nhận hay không như thể hiện
trong bảng sau:
là họ giữ khoảng cách với các giá trị,
chuẩn mực văn hóa của nơi tiếp nhận.
- Chiến lược hội nhập (integration): là
chiến lược mà người di cư vẫn giữ gìn
văn hóa gốc của mình nhưng đồng
thời vẫn tiếp nhận các giá trị, chuẩn
mực của nền văn hóa của nơi đến.
- Chiến lược loại trừ (marginalization):
là chiến lược mà ở đó, những người
di cư từ chối duy trì các giá trị của văn
hóa gốc và đồng thời cũng từ chối tiếp
nhận các giá trị văn hóa mới, tức là họ
chọn cách đứng ngoài lề xét về mặt
văn hóa với cộng đồng mà họ di cư
đến.
Bảng 1. Các chiến lược tiếp biến văn hóa
Liệu các di sản văn
hóa, đặc trưng văn
hóa gốc vẫn được
bảo tồn? (nơi đi)
Nếu như ba loại chiến lược hội nhập,
đồng hóa và tách biệt thường là
những sự lựa chọn cố ý của các cá
nhân hoặc nhóm di cư trong quá trình
tiếp biến văn hóa, thì loại thứ tư, tức
“ngoài lề hóa” thường là kết quả của
một sự cố (occurrence) ngoài ý muốn
của cá nhân hoặc nhóm di cư, bởi
điều này xảy ra có thể là do các cá
nhân hoặc nhóm di cư đã không được
“xã hội hóa” (socialization) thành công
ngay ở bối cảnh xã hội, văn hóa gốc
của mình. Quá trình xã hội hóa là quá
trình mà cá nhân được uốn nắn, được
đào luyện và học hỏi theo các giá trị,
chuẩn mực, khuôn mẫu hành vi của
nền văn hóa và khi quá trình này diễn
ra không thành công, tức là cá nhân
không tiếp nhận được những điều ấy
Liệu có tìm kiếm
mối quan hệ tích
cực với xã hội tiếp
nhận? (nơi đến)
Có
Không
Có
Hội nhập Đồng hóa
Không
Tách biệt Ngoài lề hóa
Nguồn: Berry, 1997: 9-10.
- Chiến lược đồng hóa văn hóa
(assimilation): là loại chiến lược mà ở
đó, người di cư không quan tâm đến
việc bảo tồn nền văn hóa gốc của
mình và cố gắng tiếp nhận hoàn toàn
nền văn hóa của nơi tiếp nhận. Như
vậy, với chiến lược này, người di cư
muốn trở thành một thành viên hoàn
toàn tương đồng với các thành viên
của cộng đồng mà họ di cư đến.
- Chiến lược tách biệt (separation): là như nền văn hóa kỳ vọng. Vì, những
loại chiến lược mà ở đó, người di cư cá nhân hoặc nhóm thuộc loại hình
vẫn tiếp tục giữ gìn các giá trị văn hóa này thường xuyên cảm nhận tình trạng
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
13
bị gạt ra bên lề cả ở hai bối cảnh xã viên tiếp thu các kỹ năng văn hóa - xã
hội, tức xã hội gốc lẫn xã hội tiếp nhận. hội tại nơi ở mới tốt hơn và nhanh
hơn so với những người di cư lớn tuổi
Dựa trên mô hình bốn chiến lược
khác. Giới trẻ tiếp thu các kỹ năng văn
thích nghi và tiếp biến văn hóa được J.
hóa mới nhanh hơn và dễ hơn có lẽ vì
Berry đề xuất, Pham T.B. và Harris
tầng văn hóa gốc của họ chưa đủ dày
R.J. (2001) đã tiến hành nghiên cứu
như nhóm người di cư lớn tuổi hơn.
nhằm tìm hiểu các chiến lược thích
nghi văn hóa của người di cư Việt Jasinskaja Lahti (2008) tiếp nối việc
Nam tại Mỹ. Công trình Acculturation nghiên cứu thích nghi của người di cư
Strategies Among Vietnamese-Americans khi công bố công trình nghiên cứu lịch
trình bày mối liên hệ giữa các yếu tố: đại trên một mẫu gồm 282 người nhập
cư tại Phần Lan. Nghiên cứu những
người từ các nước thuộc Liên bang
Xô Viết cũ đến Phần Lan trong giai
đoạn từ 1961 đến 1976. Cuộc nghiên
cứu về những người nhập cư này tại
Phần Lan kéo dài trong tám năm
nhằm mục tiêu khám phá ba khía
cạnh thích nghi gồm thích nghi tâm lý,
thích nghi văn hóa - xã hội và thích
nghi kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho
thấy, sau tám năm, những người nhập
cư đã có sự cải thiện đáng kể ở cả ba
mặt tâm lý, văn hóa - xã hội và kinh tế.
Tuy nhiên, mỗi khía cạnh lại chịu tác
động của những nhân tố khác nhau.
Cụ thể là nữ giới, thời gian cư trú tại
Phần Lan lâu, trẻ, học vấn cao thì có
sự thích nghi văn hóa xã hội tốt hơn.
Những người nhập cư lớn tuổi, nam
giới, cư trú lâu tại Phần Lan thì hội
nhập kinh tế tốt hơn. Cuối cùng, sự
thích nghi tâm lý còn phụ thuộc vào
yếu tố giới tính mà theo đó, nữ giới
gặp phải nhiều vấn đề tâm lý hơn so
với nam giới.
giáo dục, số năm sống tại Mỹ, mức độ
gắn bó với văn hóa Mỹ và văn hóa
Việt Nam với các chiến lược thích
nghi văn hóa tại Mỹ…
Sự thích nghi của người nhập cư
không chỉ được nhìn qua sự thích
nghi về mặt tâm lý mà còn là sự thích
nghi về mặt văn hóa - xã hội. Nếu như
sự thích nghi về mặt tâm lý bao gồm
các yếu tố như sức khỏe tâm thần,
cảm giác hạnh phúc và sự thỏa mãn
cá nhân trong bối cảnh xã hội mới thì
sự thích nghi về văn hóa - xã hội lại
chú trọng đến những yếu tố bên ngoài
như các kỹ năng xã hội, kỹ năng ngôn
ngữ, thái độ chấp nhận sự khác biệt
văn hóa, kỹ năng tương tác với người
khác tại xã hội tiếp nhận. Theo những
khía cạnh này, nghiên cứu của C.
Ward và A. Kennedy (1993) cho thấy
những chỉ báo về dân số xã hội sẽ
quyết định đến “đầu ra” của sự thích
nghi xã hội. Cụ thể là kết quả khảo sát
156 sinh viên Malaysia và Singapore
đang cư trú tại New Zealand trong
Where’s the ‘Culture’ in Cross-Cultural
Transition? Comparative Studies of
Sojourner Adjustment cho thấy, sinh
Sự thích nghi tâm lý và thích nghi văn
hóa xã hội cũng được Maydell-
Stevens và đồng sự (2007) dựa trên
NGUYỄN THU VÂN – SỰ THÍCH NGHI VÀ HỘI NHẬP CỦA NGƯỜI DI CƯ…
14
mô hình tổng quát về tiếp biến văn cộng đồng tiếp nhận bao gồm đồng
hóa của Ward và Kennedy (1993) và hóa đi lên hay đồng hóa theo đường
các chiến lược tiếp biến văn hóa của
Berry (1992, 1997) để tiến hành nghiên
cứu định tính đối với những người
nhập cư gốc Nga tại New Zealand.
Qua cuộc nghiên cứu này cho thấy khi
mới đến sinh sống ở vùng đất mới
những người nhập cư đều gặp phải
những vấn đề về tâm lý. Nhưng sau
đó, những người nhập cư nào chọn
chiến lược hội nhập (integration) thì
thành công và thỏa mãn hơn đối với
sự thích nghi của mình hơn những
người chọn chiến lược tách biệt
(separation). Nhưng nhìn chung, những
nhân tố ảnh hưởng đến tiến trình hội
nhập với xã hội mới là động cơ di cư,
quan niệm về cái được và cái mất của
việc di cư và việc xác định căn tính
văn hóa (cultural identity) của bản
thân người nhập cư.
thẳng (upward assimilation), đồng hóa
đi xuống (downward assimilation) hoặc
là tiếp biến văn hóa có chọn lọc (selective
acculturation). Thích nghi theo kiểu đi
lên hay đường thẳng của người di cư
là nói đến việc họ nỗ lực thích nghi và
hội nhập vào nền văn hóa trung lưu
của nơi tiếp nhận. Thích nghi và hội
nhập kiểu đi xuống chỉ hiện tượng
người di cư hội nhập, tiếp biến văn
hóa với tầng lớp nghèo ở đô thị và
điều này đưa họ vào khuynh hướng di
động đi xuống xét về mặt địa vị xã hội.
Kiểu thích nghi và hội nhập mang tính
chọn lọc là hiện tượng người di cư cố
gắng giữ gìn các giá trị văn hóa gốc
của họ và chỉ hội nhập về mặt kinh tế
với cộng đồng tiếp nhận họ mà thôi.
Để nhận diện cách thức thích nghi và
hội nhập, các nhà nghiên cứu thường
chọn thế hệ nhập cư thứ hai như là
khách thể nghiên cứu vì cách thức hội
nhập của nhóm nhập cư thế hệ thứ
hai là kết quả của sự lựa chọn nơi thế
hệ nhập cư thứ nhất. Lý thuyết này
cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của
vốn cá nhân (human capital) của người
di cư (chẳng hạn như trình độ học vấn
và thu nhập), phương thức tiếp nhận
của xã hội mà người di cư di chuyển
đến (các chính sách dành cho người
di cư chẳng hạn) và cấu trúc gia đình
của người di cư (ví dụ như gia đình
đơn thân hay gia đình hạt nhân) sẽ
quyết định đến con người hội nhập
vào xã hội mới nơi những người di cư
thế hệ thứ hai (Waters et al, 2010).
3. MÔ HÌNH THÍCH NGHI PHÂN MẢNG
Mô hình đồng hóa phân mảng
(segmented assimilation model) do A.
Portes và M. Zhou đề xuất vào năm
1993 cũng là một mô hình lý thuyết
đáng chú ý trong nghiên cứu về sự hội
nhập, thích nghi của người di cư. Mô
hình này dựa trên sự thừa nhận rằng
xã hội đương đại là xã hội đa dạng về
mặt văn hóa, với những quốc gia đa
sắc tộc như Mỹ chẳng hạn, thì sự
phân mảng về mặt văn hóa lại càng rõ
rệt hơn, vì thế, mỗi nhóm người di cư
sẽ có con đường hội nhập khác nhau
tùy vào nền văn hóa của cộng đồng
tiếp nhận. Các con đường hội nhập
hay đồng hóa của người di cư vào
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
15
Dựa trên quan điểm lý thuyết về sự hội của các sinh viên quốc tế tại Trung
thích nghi của người di cư này, Portes Quốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
và đồng sự (2009) đã nghiên cứu quá nhờ việc sử dụng mạng xã hội mà các
trình thích nghi vào xã hội Mỹ của sinh viên quốc tế đã nhanh chóng
người nhập cư thuộc thế hệ thứ hai. vượt qua được cú sốc văn hóa
Kết quả cho thấy sự thích nghi của thế (culture shock) khi đến Trung Quốc
hệ nhập cư thứ hai và thứ ba phụ học tập, vì qua phương tiện truyền
thuộc vào vốn cá nhân, như: tầng lớp thông họ đã hiểu được nhiều nét văn
xã hội, học vấn; cấu trúc gia đình hóa, lối sống của quốc gia này trước
(family composition); như sự gắn bó khi đến đây học tập; cũng nhờ mạng
với cộng đồng, số lượng thành viên; xã hội mà các sinh viên quốc tế này
loại hoạt động nghề nghiệp.
vẫn duy trì được các mối liên hệ với
gia đình và nắm bắt các thông tin liên
quan đến quốc gia xuất cư.
4. MẠNG XÃ HỘI, VỐN XÃ HỘI VÀ
SỰ THÍCH NGHI VĂN HÓA CỦA
NGƯỜI DI CƯ
Nghiên cứu về mối liên hệ giữa vốn xã
hội (social capital) và sự thích nghi với
nền văn hóa mới của người nhập cư
cũng là một hướng nghiên cứu đáng
chú ý. Vốn xã hội đặc biệt hữu ích đối
với những người di cư có vốn cá nhân
thấp trong quá trình hội nhập vào xã
hội mới. Quả vậy, các mối tương tác
xã hội của người di cư với người đồng
hương, những người bản xứ, các tổ
chức chính phủ lẫn phi chính phủ tại
cộng đồng mới tạo nên nguồn vốn xã
hội cho người di cư. Điều này đặc biệt
quan trọng nơi những nhóm di cư có
vốn cá nhân thấp vì chính vốn xã hội
sẽ bù đắp cho sự khiếm khuyết này và
giúp cho người di cư dễ dàng hội
nhập vào cộng đồng mới về tất cả các
khía cạnh mà đặc biệt là khía cạnh
kinh tế và xã hội (World Bank, 2000).
Vốn xã hội không chỉ giúp giải thích
Một hướng nghiên cứu khác về việc
thích nghi văn hóa đó là xem xét ảnh
hưởng của mạng xã hội (social
networking) đến sự hội nhập xã hội
của người nhập cư. Theo S. Croucher
(2011) thì trong quá trình thích nghi
văn hóa, việc sử dụng mạng xã hội sẽ
tác động đến các mối quan hệ tương
tác giữa người nhập cư với nền văn
hóa phổ quát của nơi tiếp nhận mà
theo đó, sự gia tăng trong việc sử
dụng mạng xã hội, các phương tiện
truyền thông của nền văn hóa tiếp
nhận sẽ rút ngắn được khoảng cách
tiếp biến văn hóa. Đồng thời, việc sử
dụng mạng xã hội cũng góp phần
củng cố truyền thông trong nội bộ
nhóm của người di cư. Như vậy mạng
xã hội vừa thúc đẩy sự hội nhập với
cộng đồng mới vừa giúp duy trì các
mối quan hệ nội cộng đồng của người quá trình hội nhập của người di cư mà
di cư. Lối tiếp cận lý thuyết này đã còn giúp trả lời cho câu hỏi về sự
được H. Zaw (2018) sử dụng trong
nghiên cứu về hội nhập văn hóa - xã
khác biệt trong mức độ thành công
của việc hội nhập nơi những nhóm di
NGUYỄN THU VÂN – SỰ THÍCH NGHI VÀ HỘI NHẬP CỦA NGƯỜI DI CƯ…
16
cư khác nhau mà theo đó, mức độ hội thích nghi, hội nhập thành công của
người nhập cư trẻ hơn là các yếu tố
thuộc vốn con người truyền thống
(traditional human capital).
nhập vào cộng đồng mới của các
nhóm di cư sẽ phụ thuộc vào vốn xã
hội cao hay thấp của những nhóm này.
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa
mạng lưới xã hội, vốn xã hội với quá
trình hội nhập của người di cư, các
nhà nghiên cứu (Kindler, Ratcheva &
Piechowska, 2015) đã đúc kết ra
những điểm như sau:
Dựa trên hướng nghiên cứu này, M.
Potocky-Tripodi (2004) đã tiến hành
nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn xã
hội và việc hội nhập kinh tế nơi những
người di cư gốc Mỹ Latinh và Châu Á
tại Miami và San Diego (Mỹ) để kiểm
chứng các khía cạnh của vốn xã hội
nơi những người di cư này, như các
mạng lưới xã hội, cơ cấu sắc tộc tại
nơi làm việc, những tương trợ xã hội
chính thức và phi chính thức mà họ
nhận được tại cộng đồng tiếp nhận
ảnh hưởng ra sao đến sự hội nhập
kinh tế của họ. Kết quả cho thấy các
khía cạnh ấy của vốn xã hội đều có
tác động đến sự hội nhập của những
người di cư ở những mức độ khác
nhau. Cũng trong hướng phân tích về
mối liên hệ giữa vốn xã hội và sự hội
nhập của người di cư, hai tác giả M.
Zhou và Bankston (1994) đã thực hiện
cuộc nghiên cứu về sự ảnh hưởng
của vốn xã hội đối với sự thích nghi
của người nhập cư Việt Nam thuộc
thế hệ thứ hai tại New Orleans (Mỹ).
Kết quả nghiên cứu của hai tác giả
này cho thấy sự gắn bó với các giá trị
truyền thống của gia đình, sự dấn
thân vào các hoạt động của cộng
đồng cùng dân tộc có ảnh hưởng, có
ý nghĩa đến định hướng học tập và
thành tích học tập của các cá nhân
nhập cư Việt thế hệ thứ hai. Các tác
giả đã đi đến kết luận rằng vốn xã hội
là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến sự
- Thứ nhất, việc tạo dựng, sử dụng và
ý nghĩa của vốn xã hội không chỉ khác
nhau giữa người di cư và người bản
xứ mà còn khác nhau trong nội bộ các
nhóm di cư tùy thuộc vào tình trạng
pháp lý và học vấn của họ.
- Thứ hai, vốn xã hội co cụm (bonding
social capital) cũng có lợi cho quá
trình hội nhập của người di cư ở cấp
độ địa phương, cộng đồng. Loại vốn
xã hội này giúp cho người di cư thiết
lập được vốn xã hội bắt cầu (bridging
social capital) – loại vốn giúp họ hội
nhập nhanh chóng hơn vào cộng
đồng mới.
- Thứ ba, sự hình thành và phát triển
của vốn xã hội phụ thuộc vào tuổi tác,
thế hệ và các mạng lưới xã hội của
người di cư. Mạng lưới xã hội của
người di cư là nguồn làm gia tăng vốn
xã hội và giúp mở rộng sự hội nhập
vượt ngoài cộng đồng hẹp mà họ di
cư đến.
- Thứ tư, đối với những người di cư
mà mạng lưới xã hội chỉ bó hẹp trong
không gian của nơi tiếp nhận thì giữa
họ, không có sự khác biệt nhiều về
vốn xã hội.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
17
- Thứ năm, các chính sách hội nhập nhất tiếp biến văn hóa với sự đồng
của nơi tiếp nhận người di cư không hóa văn hóa bởi vì sẽ khó xảy ra
nên cố gắng thúc đẩy những mối liên trường hợp một nhóm nào đó làm mất
kết nội nhóm mà nên thúc đẩy các hoàn toàn các nét văn hóa gốc của
mối liên hệ liên nhóm giữa các nhóm mình để tiếp nhận hoàn toàn nền văn
di cư.
hóa khác. Như vậy, sẽ ít có khả năng
các nhóm di cư rũ bỏ toàn bộ các nét
văn hóa gốc của mình để hội nhập
hoàn toàn vào văn hóa của cộng đồng
tiếp nhận.
- Thứ sáu, việc tham gia các tổ chức
tại cộng đồng tiếp nhận làm tăng khả
năng hội nhập của người di cư.
5. TIẾP BIẾN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI
Nghiên cứu về sự tiếp biến văn hóa
nơi người di cư thường được phân
thành hai loại, đó là sự tiếp biến văn
hóa ở cấp độ nhóm và sự tiếp biến
văn hóa ở cấp độ cá nhân. T. Graves
(1967) cho rằng, việc phân thành hai
cấp độ nghiên cứu như vậy rất quan
trọng, bởi lẽ nó sẽ giúp đánh giá được
mối quan hệ qua lại giữa hai nhóm
biến số trong tiếp biến văn hóa, là
nhóm biến số thuộc cấp độ nhóm/
cộng đồng và nhóm biến số thuộc cá
nhân; thứ hai là vì sự tiếp biến văn
hóa giữa nhóm và cá nhân có thể
khác nhau, tức là có thể xét ở cấp độ
nhóm/cộng đồng thì sự tiếp biến văn
hóa diễn ra sâu sắc và ngược lại, sự
tiếp biến văn hóa nơi cá nhân lại
không diễn ra ở cùng mức độ. Đối với
M. Gibson (2001), để có thể hiểu
được trải nghiệm tiếp biến văn hóa
của người di cư, nhà nghiên cứu cần
phải tìm hiểu tình trạng kinh tế, văn
hóa, xã hội của người di cư khi họ còn
ở nơi ở gốc, tức tình trạng trước khi
xuất cư của họ bao gồm các mối quan
DI CƯ
Một hướng tiếp cận lý thuyết khác
không thể bỏ qua khi nghiên cứu về
quá trình hội nhập của người di cư đó
là tiếp cận về sự tiếp biến văn hóa
(acculturation) của họ tại cộng đồng
tiếp nhận. Tiếp biến văn hóa là hiện
tượng xảy ra khi hai nhóm người
thuộc hai nền văn hóa khác nhau tiếp
xúc với nhau. Theo định nghĩa của
nhóm tác giả R. Redfield, R. Linton và
M. Herskovits (1936): “Tiếp biến văn
hóa là toàn bộ các hiện tượng nảy
sinh từ sự tiếp xúc liên tục và trực tiếp
giữa các nhóm cá nhân thuộc các nền
văn hóa khác nhau và điều đó dẫn
đến những thay đổi trong các mẫu
hình (patterns) văn hóa ban đầu của
một hoặc của hai nhóm” (dẫn theo
Cuche, 2016: 134). Linton, Redfiel và
Herskovits cũng lưu ý rằng, trong việc
nghiên cứu quá trình tiếp biến văn hóa,
nhà nghiên cứu không được phép lẫn
lộn với quá trình biến đổi văn hóa
(cultural change), bởi vì sự biến đổi
văn hóa có thể nảy sinh từ sự biến đổi
nội tại của các nhóm chứ không nhất hệ xã hội, trình độ học vấn, nghề
thiết đến từ sự tiếp biến văn hóa. nghiệp và tay nghề, cũng như những
Đồng thời cũng không được đồng
lý do khiến họ xuất cư.
NGUYỄN THU VÂN – SỰ THÍCH NGHI VÀ HỘI NHẬP CỦA NGƯỜI DI CƯ…
18
6. KẾT LUẬN
trọng nào cần được phân tích, đo
lường khi nghiên cứu quá trình hội
nhập và thích nghi của người di cư.
Vấn đề hội nhập và thích nghi của
người di cư vào bối cảnh xã hội mới là
một trong những chủ đề nghiên cứu
Từ các lối tiếp cận lý thuyết trên, việc
quan trọng liên quan đến hiện tượng nghiên cứu về sự thích nghi và hội
di cư. Dù là di cư nội địa hay di cư nhập của người di cư vào cộng đồng
quốc tế, những người di cư luôn phải tiếp nhận có lẽ cần chú ý đến ba
đối diện với những thách thức và khó
khăn trong quá trình hội nhập và thích
nghi với môi trường sống mới. Các
nghiên cứu về việc hội nhập và thích
nghi được thực hiện đã đề xuất nhiều
hướng tiếp cận lý thuyết khác nhau
nhằm có thể nhận diện một cách rõ
nhất về sự hội nhập và thích nghi của
người di cư, những khía cạnh quan
nhóm nhân tố tác động. Đó là nhóm
nhân tố thuộc về cá nhân người di cư,
như tuổi tác, giới tính, độ tuổi, nghề
nghiệp, trình độ học vấn; nhóm nhân
tố cộng đồng gần, như đặc điểm dân
cư, nghề nghiệp, thái độ của cộng
đồng tiếp nhận; và nhóm nhân tố
thuộc khía cạnh vĩ mô là chính sách
về di cư của nhà nước.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Berry, J. W. 1992. “Acculturation and Adaptation in a New Society”. International
2. Berry, J. W. 1997. “Immigration, Acculturation, and Adaptation”. Applied Psychology,
46, pp. 5-34. doi:10.1111/j.1464-0597.1997.tb01087.x.
3. Croucher, S. M. 2011. “Social Networking and Cultural Adaptation: A Theoretical
Model”. Journal of International and Intercultural Communication, 4, pp. 259-264.
4. Cuche, D. 2016. Khái niệm văn hóa trong khoa học xã hội. Lê Minh Tiến dịch, 2020.
Hà Nội: Nxb. Tri thức.
5. Gibson, M.A. 2001. “Immigrant Adaptation and Patterns of Acculturation”. Human
Development, 44, pp. 19-23. doi: 10.1159/000057037.
6. Graves, T.D. 1967. “Psychological Acculturation in a Tri-Ethnic Community”.
Southwestern Journal of Anthropology 23, no. 4, pp. 337-350.
7. Hatton, J.P. 2011. How and Why Did MARS Facilitate Migration Control?
Understanding the Implication of Migration and Refugee Studies (MARS) With the
Restriction of Human Mobility by UK State Agencies. Oxford: PhD Thesis.
8. Hollifield, J. F. 2020. “Is Migration a Unique Field of Study in Social Sciences? A
Response to Levy, Pisarevskaya, and Scholten”. Comparative Migration Studies, 8(1).
9. Kindler, M., Ratcheva, V & Piechowska, M. 2015. “Social Networks, Social Capital
and Migrant Integration at Local Level”. IRiS Working Paper Series Np. 6/2015.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
19
10. Lahti, Jasinskaja, I. 2008. “Long‐Term Immigrant Adaptation: Eight‐Year Follow-
up Study among Immigrants from Russia and Estonia Living in Finland”. International
11. Levy, N., Pisarevskaya, A. & Scholten, P. 2020. “Between Fragmentation and
Institutionalisation: The Rise of Migration Studies as a Research Field”. Comparative
Migration Studies, 8, 24. https://doi.org/10.1186/s40878-020-00180-7.
12. Maydell-Stevens, E., Masgoret, A-M & Ward, T. 2007. “Problems of Psychological
and Sociocultural Adaptation among Russian-Speaking Immigrants in New Zealand”.
13. Pham, T.B., & Harris, R.J. 2001. “Acculturation Strategies among Vietnamese-
Americans”. International Journal of Intercultural Relations, 25(3), pp. 279-300.
14. Portes, A., & Zhou, M. 1993. “The New Second Generation: Segmented Assimilation
and Its Variants”. Annals of the American Academy of Political and Social Sciences 530,
pp. 74-96.
15. Portes, A., Fernández-Kelly, P., & Haller, W. 2009. “The Adaptation of the Immigrant
Second Generation in America: Theoretical Overview and Recent Evidence”. Journal of
16. Potocky-Tripodi, M. 2004. “The Role of Social Capital in Immigrant and Refugee
Economic Adaptation”. Journal of Social Service Research, 31:1, pp. 59-91, DOI:
10.1300/J079v31n01_04.
17. Ravenstein, E. 1885. “The laws of Migration”. Journal of the Statistical Society of
London, 48(2), pp. 167-235.
18. Ward, C., & Kennedy, A. 1993. Where’s the “Culture” in Cross-Cultural Transition?:
Comparative Studies of Sojourner Adjustment”. Journal of Cross-Cultural Psychology,
19. Waters, M.C., Tran, V.C., Kasinitz, P., & Mollenkopf, J. H. 2010. “Segmented
Assimilation Revisited: Types of Acculturation and Socioeconomic Mobility in Young
21. Zaw, H. 2018. “The Impact of Social Media on Cultural Adaptation Process: Study
on Chinese Government Scholarship Students”. Advances in Journalism and
22. Zhou, M., & Bankston, C.L. 1994. “Social Capital and the Adaptation of the Second
Generation: The Case of Vietnamese Youth in New Orleans”. International Migration
Bạn đang xem tài liệu "Sự thích nghi và hội nhập của người di cư - một tổng quan lý thuyết", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
su_thich_nghi_va_hoi_nhap_cua_nguoi_di_cu_mot_tong_quan_ly_t.pdf

