Ý thức nữ quyền qua kiến tạo nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
37
CHUYÊN MỤC
VĂN HỌC - NGÔN NGỮ HỌC
Ý THỨC NỮ QUYỀN QUA KIẾN TẠO NHÂN VẬT NỮ
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA HỒ BIỂU CHÁNH
NGUYỄN VĂN NỞ*
HUỲNH THỊ LAN PHƯƠNG**
Đầu thế kỷ XX, trong văn học bắt đầu xuất hiện những cây bút tôn vinh người
phụ nữ, trong đó có Hồ Biểu Chánh. Ông đã viết về các nhân vật nữ không chỉ
bằng tình yêu thương, cảm thông, thấu hiểu, mà còn có cả sự trân trọng, tôn
vinh cái đẹp. Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh biết sống, biết
suy nghĩ, vượt lên trên những cái thường tình, biết đấu tranh đòi quyền bình
đẳng và khẳng định vai trò quan trọng của nữ giới trong xã hội.
Từ khóa: nữ quyền, kiến tạo, nhân vật nữ, Hồ Biểu Chánh
Nhận bài ngày: 4/5/2021; đưa vào biên tập: 7/5/2021; phản biện: 11/5/2021; duyệt
đăng: 4/6/2021
lại phi lý bất công, đòi quyền tự do,
hạnh phúc chính đáng cho phụ nữ.
Đầu thế kỷ XX, phong trào nữ quyền
ở các nƣớc phƣơng Tây diễn ra một
cách độc lập, thì ở một số nƣớc
phƣơng Đông, trong đó có Việt Nam,
quan niệm sống, cũng nhƣ ý thức của
một bộ phận phụ nữ đã thay đổi và
phong trào nữ quyền không mang tính
đơn lẻ. Khởi phát từ những tổ chức
của nữ giới, họ đã sát cánh với nam
giới có tƣ tƣởng tiến bộ, cùng cất lên
tiếng nói chung, chống lại những ràng
buộc phi lý, đòi quyền bình đẳng cho
phụ nữ. Phan Khôi đƣợc xem là một
trong những ngƣời tích cực vì phong
1. DẪN NHẬP
Trong văn học trung đại, chân dung
ngƣời phụ nữ đƣợc khúc xạ vào tác
phẩm thƣờng bị biến đổi theo cái nhìn
chủ quan, áp đặt từ những ngƣời
mang quan niệm kẻ mạnh, có quyền
trƣớc phái nữ. Tuy nhiên, vẫn có tác
giả (Nguyễn Du, Đặng Trần Côn,
Nguyễn Gia Thiều…) sống giữa xã hội
phong kiến, khi Nho giáo đang thịnh
hành, nhƣng với tƣ tƣởng nhân văn,
tinh thần nhân đạo sâu sắc, đã cất lên
tiếng nói cảm thƣơng, chia sẻ, chống
*, ** Trƣờng Đại học Cần Thơ.
NGUYỄN VĂN NỞ - HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG – Ý THỨC NỮ QUYỀN…
38
trào nữ quyền ở đầu thế kỷ XX, “ông 2. THỰC TRẠNG PHI NỮ QUYỀN
bênh vực mạnh mẽ quyền của phụ nữ, QUA TIỂU THUYẾT CỦA HỒ BIỂU
lên án những tội ác của lễ giáo phong CHÁNH
kiến. Đi xa hơn, trên một tƣ duy mang
Việt Nam là một quốc gia nằm trong
tính lý luận, Phan Khôi đã tạo tiền đề
khu vực văn hóa gốc nông nghiệp,
cho lý thuyết nữ quyền trong văn học
Việt Nam, dẫu chỉ mới là những phác
phụ nữ đã đƣợc xem là “tay hòm chìa
họa sơ lƣợc” (Hồ Khánh Vân, 2010:
82). Lúc ấy, văn học cũng bắt đầu
phụ nữ, cũng nhƣ vai trò của phụ nữ
xuất hiện những cây bút tôn vinh
vốn coi trọng phụ nữ. Từ thuở xa xƣa,
khóa” của gia đình. Ảnh hƣởng của
trong giáo dục con cái rất lớn: “phúc
ngƣời phụ nữ trƣớc trách nhiệm lớn
đức tại mẫu”. Các đấng mày râu từng
lao đối với đất nƣớc. Theo Đào Lê
Tiến Sĩ (2018: 85) “Có thể xem Phan
ông không bằng cồng bà”. “… Một số
Bội Châu là nhà văn tiêu biểu nhất
cho thế hệ chí sĩ yêu nƣớc trong 20
đều nhận định Việt Nam cổ đại là một
năm đầu thế kỷ XX đã tạo nên diễn
ngôn mới về ngƣời phụ nữ”. Ngƣời
nữ ở đây cao hơn so với ở Trung
phụ nữ, theo quan niệm của Phan Bội
khiêm nhƣờng trƣớc phụ nữ: “Lệnh
học giả, cả Việt Nam lẫn Tây phƣơng,
xã hội mẫu hệ và địa vị của ngƣời phụ
Hoa,…” (Schafer, 2013: 24). Thế
Châu có thể trở thành ngƣời anh hùng
nhƣng, lúc Nho giáo có chỗ đứng
cứu nƣớc, sánh bằng nam giới. Họ
vững chắc trong xã hội Việt Nam, vị trí
không cần phải “Ví đây đổi phận làm
của ngƣời phụ nữ từ trong gia đình ra
trai đƣợc”, thì mới có thể tự tin “Sự
đến ngoài xã hội bị gạt dần sang một
nghiệp anh hùng há bấy nhiêu” (Hồ
bên. Thậm chí còn bị đè bẹp bởi tƣ
Xuân Hƣơng). Bởi họ có đầy đủ phẩm
tƣởng nam quyền.
chất cao quý, những phẩm chất không
Hồ Biểu Chánh nhận ra gốc rễ của tƣ
chỉ dành riêng cho nam giới. Nếu nhƣ
tƣởng nam quyền vẫn còn cắm sâu
Phan Bội Châu khai thác vấn đề từ
phƣơng diện chính trị, để nhấn mạnh
Nam Bộ vốn không phải là cái nôi của
vai trò của phụ nữ trong lịch sử bảo vệ
trong đời sống ngƣời Nam Bộ, dù
Nho giáo. Vào những năm đầu thế kỷ
đất nƣớc, thì cũng vào giai đoạn này,
XX có “sự khai sinh „vấn đề phụ nữ‟”
Hồ Biểu Chánh đã kiến tạo nên hình
tƣợng ngƣời phụ nữ trong cuộc sống
(Lê Thị Thanh Tâm, 2010: 1), vấn đề
nữ quyền đã đƣợc Đạm Phƣơng,
đời thƣờng, bằng cái nhìn thấu hiểu,
Sƣơng Nguyệt Anh, Phan Khôi, Đặng
sẻ chia, ngợi ca. Ngoài ra, nhà văn còn
Văn Bảy, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Phan
Thị Bạch Vân đem ra bàn luận, “cả xã
hội nhƣ bừng tỉnh, nhận ra vô số bất
công mà từ trƣớc đến nay đang đè
nặng lên thân phận nữ giới” (Cao Kim
Lan, 2019: 67). Và mặc dù “làn sóng
tạo cho tác phẩm của mình trở thành
diễn đàn đặc biệt, để nơi đó, các nhân
vật nữ có cơ hội, mạnh dạn lên tiếng,
thể hiện ý thức nữ quyền. Có thể xem
đó là một đóng góp đáng kể, nếu
không nói là mới của Hồ Biểu Chánh.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021
39
nữ quyền đầu thế kỷ XX đã tạo ra một phụ nữ phải gánh chịu, khiến họ phải
kiểu diễn ngôn gắn với chữ “quyền”. dè dặt trƣớc ngƣỡng cửa hôn nhân, lo
Quyền nghĩa là tƣ cách cá nhân, tƣ sợ bị mất mọi quyền: “Hễ có chồng rồi
cách làm ngƣời của phụ nữ” (Cao Kim
thì còn tự do gì nữa đƣợc, đến tên họ
Lan, 2019: 67), thế nhƣng qua tiểu còn phải mất nữa ạ. Bây giờ em đi
thuyết của Hồ Biểu Chánh, hiện tƣợng đâu em xƣng tên là Mademoiselle
Thanh Nguyên. Nếu em làm vợ anh,
em xƣng nhƣ vậy nữa sao đƣợc, em
phải xƣng Madame Hữu Nhơn. Mất
tên rồi” (Hồ Biểu Chánh, 1997c: 177).
Đây là nguyên nhân của quan niệm
“nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”.
Ngƣời tử tế thì đôi khi cũng buồn khổ,
lo lắng nếu không có con trai nối dõi,
mặc dù đã có con gái (Con nhà giàu),
còn kẻ vô đạo nhƣ Hai Nghĩa trong
Con nhà nghèo thì thốt lên những lời
khiếm nhã, phân biệt nam nữ một
cách quá đáng: “Thứ con gái là ngƣời
dƣng mà nghĩa gì” (Hồ Biểu Chánh,
1997a: 235).
phân biệt nam nữ và thái độ xem
thƣờng phụ nữ vẫn còn phổ biến. Một
kẻ học thức, từng đi du học Pháp trở
về nhƣ Vĩnh Thái trong Khóc thầm đã
không giấu đƣợc sự xem thƣờng phụ
nữ, kể cả vợ mình: “Việc của tôi làm,
mình là đàn bà, mình biết gì mà xen
vô” (Hồ Biểu Chánh, 1997b: 127).
Ngƣời đàn ông nặng tƣ tƣởng nam
quyền này phủ nhận hoàn toàn vai trò,
khả năng của phụ nữ, mà ngay cả phụ
nữ, dƣờng nhƣ cũng thừa nhận
“quyền” của nam giới, cho dù thấy đó
là điều bất công. Trong Đoạn tình, cô
Vân có học thức, có tƣ tƣởng tích cực,
tiến bộ vẫn e dè trƣớc quan niệm
“nam quyền”. Cô ngần ngại cho bạn,
khi thấy Hòa muốn chủ động trong
việc đặt tên cho con gái mới sinh,
không đợi ý kiến chồng. Cô Vân đã
bày tỏ: “Biết anh Thuần cho phép hay
không. Đàn ông họ có quyền làm cha
mạnh lắm” (Hồ Biểu Chánh, 2001:
115). Nhân vật mợ hai Hƣởng trong
Con nhà nghèo, vốn chanh chua, dữ
dằn, chẳng chịu nhịn ai nhƣng cũng tự
đặt mình vào thế phục tùng chồng:
“Tôi là đàn bà cản mình sao đƣợc”
(Hồ Biểu Chánh, 1997a: 231).
Với cái nhìn khách quan, Hồ Biểu
Chánh nhận ra những bất công mà
ngƣời phụ nữ luôn phải gánh chịu.
Tác giả vƣợt lên mọi định kiến hẹp hòi,
thoát ra khỏi tƣ tƣởng nam quyền,
vạch trần chân tƣớng của sự thật
trong xã hội còn tồn tại nam quyền.
Tạo hóa ban cho phụ nữ những đặc
tính để đƣợc xếp vào phái đẹp, nhƣng
đồng thời cũng là phái yếu. Vì thế, họ
dễ dàng bị biến thành một thứ đồ chơi
biết nói, phục vụ cho phái mạnh nhiều
tiền, lắm quyền thế. Ngƣời phụ nữ
sống trong xã hội còn quá nhiều bất
công, phi lý, nhan sắc cũng nhƣ phẩm
hạnh đôi khi không tôn thêm giá trị
cho ngƣời phụ nữ, mà vô tình khiến
Thế mạnh và sự lấn lƣớt của nam
quyền, đó là một thực trạng, cũng là
một trong những nguyên nhân dẫn
đến bao thiệt thòi, đau khổ mà ngƣời họ trở thành nạn nhân của những kẻ
NGUYỄN VĂN NỞ - HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG – Ý THỨC NỮ QUYỀN…
40
háo sắc, ích kỷ, nhẫn tâm; và rồi cuộc lính bắt Ánh Nguyệt. Một khi không
đời bế tắc, đau khổ, bị dày vò về tinh còn là thứ đồ chơi làm thỏa mãn ham
thần lẫn thể xác (Thị Xuân trong Chúa muốn xấu xa của bọn đàn ông độc ác,
tàu Kim Quy, cô Tƣ Lựu trong Con ích kỷ, ngƣời phụ nữ bị đối xử không
nhà nghèo…). Đặc biệt, nhân vật Ánh thua kém một con vật! Hình ảnh tên
Nguyệt (trong Ngọn cỏ gió đùa), lính trợn mắt, miệng thì quát mắng,
ngƣời con đi tìm cha thì cha đã mất, tay nắm đầu Ánh Nguyệt “mà kéo xển
ngƣời phụ nữ nết na, tài hoa này bị đi” (Hồ Biểu Chánh, 1988: 231), mặc
đẩy vào chỗ mất hết những quyền cho Ánh Nguyệt cầu xin, than khóc và
chính đáng: quyền tự do - vì phải đem không quên nhắc rằng: “thân tôi là đàn
thân ở đợ cho vợ chồng Đỗ Cẩm để bà” (Hồ Biểu Chánh, 1988: 231)…
trừ nợ cho ngƣời cha xấu số; quyền Qua cuộc đời Ánh Nguyệt Hồ Biểu
đƣợc sống đúng lễ nghĩa – vì phải lấy Chánh phản ánh hiện thực xã hội, một
chồng, sinh con mà không đƣợc họ xã hội từ huyện quan lõi đời mang
hàng chứng giám, công nhận; quyền danh “phụ mẫu chi dân”, đến anh thƣ
bảo toàn tiết sạch giá trong – vì phải sinh giàu có mới tập tễnh học làm
làm vợ Hải Yến mà không đƣợc cƣới quan Từ Hải Yến, hay gã nhà giàu
hỏi, bị biến thành đồ chơi mua vui cho háo sắc thiếu đạo đức Cao Trinh
Trinh Tƣờng; quyền đƣợc hạnh phúc Tƣờng đều có thể nhẫn tâm chà đạp
– vì bị chồng bỏ rơi trong lúc bụng lên quyền sống, quyền con ngƣời và
mang dạ chửa, sinh con trong nghèo quyền hạnh phúc của ngƣời phụ nữ
đói, phải xa lìa con thơ… Nghèo khổ, thấp cổ bé miệng nhƣng rất tài hoa,
thế cô khiến ngƣời phụ nữ nhƣ Ánh xinh đẹp. Hồ Biểu Chánh phản ánh
Nguyệt mất luôn cả quyền đƣợc là một xã hội mà đồng tiền và quyền thế
chính mình “Học đờn để dƣỡng chí, của kẻ thuộc giai cấp thống trị đều có
chớ không phải để kiếm tiền. Mà thân thể “điều khiển” tớ thầy Phạm Kỳ tìm
nghèo khổ của cháu đây còn tâm chí kiếm, bắt bớ, đối xử thô bạo với Ánh
gì nữa mà dƣỡng! Xin ông vui lòng để Nguyệt. Bên cạnh đó định kiến khắt
cho cháu đi đờn cho họ nghe một đêm khe, cứng nhắc của lễ giáo phong
đặng lấy tiền mà chuộc con của cháu. kiến vốn đã đè nặng lên tƣ tƣởng của
Thuở nay cháu ở phải mà cũng thành họ.
quấy. Bây giờ đã đến nƣớc nầy, còn
gì nữa mà lựa tốt xấu” (Hồ Biểu
Chánh, 1988: 229). Cũng vì muốn giữ
mình, sống đúng với chính mình, mà
Ánh Nguyệt đã bị gã đàn ông sức vóc,
giàu có nhƣ Trinh Tƣờng đạp “hai đạp
rồi xô tuốt nàng xuống sông” (Hồ Biểu
Ngƣời phụ nữ trong xã hội xƣa, qua
tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đầy nỗi
niềm đau khổ, uất ức, thân phận
ngƣời phụ nữ nghèo khổ nhƣ ngọn cỏ
mong manh, trƣớc phong ba để trụ
đƣợc trong cuộc đời thật không đơn
giản. Điều đó càng khiến họ không
Chánh, 1988: 231) lại còn vu cáo cho còn chút hi vọng để giữ lại quyền sống
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021
41
bình yên. Với định kiến hẹp hòi, Một đời tài sắc, xinh đẹp, nết na, lại
những suy nghĩ hời hợt của Bạch Thị còn học giỏi. Ở vào thời buổi mà phụ
nữ đƣợc đi học rất ít, Xuân Hƣơng lại
đỗ đạt cao. Chƣa từng du học nhƣng
cô nói tiếng Tây thông thạo, khiến
quan ngƣời Pháp phải quý nể.
Nhƣng vì món nợ của cha ruột và
cha chồng tƣơng lai, do muốn giàu
nhanh, đã kinh doanh đất ruộng
nhƣng bị thua lỗ, cô phải xót xa chấp
nhận một cuộc hôn nhân không tình
yêu, không có sự tin tƣởng cho
tƣơng lai, lại còn mang tiếng là kẻ
tham giàu, quên lời hẹn ƣớc… Với
tấm lòng hiếu thảo, Xuân Hƣơng
không cho phép bản thân quyền
quyết định cho tƣơng lai mà cam chịu
uy phục trƣớc nam quyền, tự thừa
nhận sự nhu nhƣợc của mình: “Cha
của Hoàng Hải dù không thƣơng con
đi nữa cũng là chồng của con. Lúc
còn sống mà con còn chƣa dám
phiền trách thay, nay rủi mất rồi, dầu
quấy dầu phải con cũng phải quên
hết chuyện cũ, để lòng lo đáp nghĩa
cho chồng con…” (Hồ Biểu Chánh,
2005: 100). Từ nhân vật trong tác
phẩm, Hồ Biểu Chánh nhƣ muốn cho
thấy, dù ở vào điều kiện tốt, có nhiều
lợi thế để bảo vệ nữ quyền, lại đƣợc
sự ủng hộ tuy chƣa mạnh mẽ nhƣng
cũng đáng ghi nhận từ phía xã hội và
cho dù tƣ tƣởng Nho giáo không chi
phối mạnh, thì ngƣời phụ nữ vẫn
không dễ gì có đƣợc quyền hƣởng
cuộc sống hạnh phúc thật sự, trong
thế giới trần tục còn nhiều dục vọng
này. Cuối cùng, Xuân Hƣơng chỉ thấy
con đƣờng tốt nhất dành cho mình là
đi tu. Gạt sang một bên những tƣ
và Hồng Thị đã tiếp tay với lễ giáo
phong kiến, khiến cho Ánh Nguyệt đã
bế tắc càng thêm cùng đƣờng. Đó
chính là một trong những nguyên
nhân quan trọng dẫn đến hiện trạng
mất nữ quyền trong xã hội thời Hồ
Biểu Chánh sáng tác.
Bên cạnh quan niệm “cha mẹ đặt đâu
con ngồi đấy” đã ăn sâu vào cách
sống, cách nghĩ của nhiều thế hệ, Nho
giáo định ra tam tòng, tứ đức làm quy
chuẩn để đánh giá phẩm hạnh ngƣời
phụ nữ. Thực tế, là lạm dụng, những
quy chuẩn này đã biến đổi, gây ảnh
hƣởng đến tƣ cách cá nhân của
ngƣời phụ nữ, vi phạm đến quyền
chính đáng của phụ nữ. Ngƣời phụ nữ
trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
không có quyền định đoạt cho tƣơng
lai của chính mình, cho dù họ có học
thức hay nhận thức đúng về cuộc
sống cũng nhƣ lẽ đời. Cô Túy Nga
(Đóa hoa tàn) từng cất tiếng than:
“Làm thân con gái Việt Nam mình bị
cái chế độ gia pháp bó buộc, nhứt là
về duyên phận trăm năm thì mình
không đƣợc tự do chút nào hết. Gả
nơi nào tự cha mẹ định, mình có phép
chê khen ai đâu” (Hồ Biểu Chánh,
2006a: 31).
Vấn đề mất nữ quyền trong xã hội
thời Hồ Biểu Chánh không chỉ nảy
sinh do ảnh hƣởng nặng nề của tƣ
tƣởng Nho giáo, mà còn hình thành
và là hệ quả tất yếu của cách sống
với nhiều tham vọng về tiền tài, vật
chất. Nhân vật Xuân Hƣơng trong
NGUYỄN VĂN NỞ - HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG – Ý THỨC NỮ QUYỀN…
42
tƣởng tiêu cực liên quan đến vấn đề hà hiếp con riêng của vợ. Cả Đào và
tín ngƣỡng của Hồ Biểu Chánh, có
thể nhận ra, qua cái nhìn của tác giả,
trong xã hội đƣơng thời, phụ nữ còn
đang chịu nhiều thiệt thòi, bất công,
thậm chí là bất hạnh. Hơn thế nữa, Hồ
Biểu Chánh còn gợi lên một sự thật:
dƣờng nhƣ mất nữ quyền trở thành
chuyện hiển nhiên mà chính phụ nữ
cũng cam tâm chấp nhận, tự nguyện
làm theo. Đó không chỉ là số kiếp của
phụ nữ nghèo, mà còn là số phận
chung của cả phụ nữ con nhà quyền
quý, có học thức. Bên cạnh Xuân
Hƣơng hay Túy Nga, còn biết bao phụ
nữ khác, nhƣ cô Đào trong Lời thề
trước miễu, Cúc Hƣơng trong Tơ hồng
vương vấn, Tố Nga trong Kẻ làm
người chịu… không thể tự định đoạt
mẹ cô đều khép mình trƣớc uy quyền
của ngƣời đàn ông nát rƣợu, xấu tính.
Ông Hƣơng trƣởng Tồn ham tiền,
quyết định gả cô Đào cho một ngƣời
có lý lịch và lối sống không mấy tốt
đẹp. Cô không có quyền cãi lại và cả
mẹ cô, ngƣời đã mang nặng đẻ đau,
cũng không có quyền làm khác hơn.
Những ngƣời phụ nữ nghèo, thất thế
nhƣ họ luôn phải nhắm mắt đƣa chân
trƣớc cuộc đời. Đau khổ, tủi hờn, ai
oán đeo bám đời họ. Hồ Biểu Chánh
thể hiện các vấn đề trên theo góc nhìn
từ trong ra, rất thấu hiểu, tinh tế và
gần gũi; không nhƣ cái nhìn từ trên
xuống, chỉ có thƣơng hại, cảm thông
hay bằng thái độ „mang tính nam
quyền', thƣờng thấy trong nhiều tác
tƣơng lai và làm chủ đời mình, để rồi phẩm trƣớc đó và cả cùng thời.
cuộc đời họ dầm dề những giọt nƣớc
3. VẺ ĐẸP TRÂN QUÝ CỦA NHÂN
mắt đau buồn, sầu tủi, xót xa. Có
VẬT NỮ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA
ngƣời còn phải tìm đến cái chết để tự
HỒ BIỂU CHÁNH
giải thoát khỏi kiếp bi ai.
Hồ Biểu Chánh viết về các nhân vật
nữ không chỉ bằng tình yêu thƣơng,
Cuộc sống đói nghèo, túng thiếu cũng
là một trong những nguyên nhân đẩy
cảm thông, thấu hiểu, mà còn có cả
ngƣời phụ nữ vào thân phận bị lệ
sự trân trọng, tôn vinh phái đẹp. Chân
thuộc ngƣời đàn ông. Để rồi họ phải
dung ngƣời phụ nữ tốt trong tiểu
sống những ngày tháng nếu không đói
thuyết của Hồ Biểu Chánh mang vẻ
cơm, thiếu áo thì cũng vật vã với
đẹp cả ngoại hình và tâm tính. Từ cô
những nỗi đau tinh thần. Mẹ con cô
Đào trong Lời thề trước miễu thuộc
trƣờng hợp nói trên. Chồng mất sớm,
bà Hƣơng trƣởng Tồn phải đi bƣớc
nữa để có ngƣời giúp đỡ chèo chống
nuôi hai con thơ dại. Đào và Lân đều
là những ngƣời con ngoan hiền, biết
thƣơng cảnh ngộ của mẹ. Nào ngờ lại
gái sống ở nông thôn quê mùa đến
ngƣời phụ nữ thành thị sang trọng,
đều có những nét đẹp riêng về ngoại
hình. Với dung lƣợng cho phép của
thể loại tiểu thuyết, Hồ Biểu Chánh
thƣờng dừng lại lâu, miêu tả thật chi
tiết từng cách ăn mặc, trang điểm,
cách sử dụng trang sức… để toát lên
gặp phải ngƣời bố dƣợng độc ác, luôn vẻ đẹp cũng nhƣ tính cách của ngƣời
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021
43
phụ nữ. Nếu là ngƣời có đạo đức thì tính kiên cƣờng; không chỉ hành động
ngoại hình nhất định sẽ hé lộ nét đẹp mạnh mẽ mà còn có thái độ dứt khoát,
của một nhân cách tốt, bất kể là xuất bản lĩnh trong cuộc sống. Đấy chính là
thân giàu hay nghèo. Xuân Hƣơng nền tảng cho sự hình thành ý thức nữ
trong Một đời tài sắc là cô gái có học quyền.
thức, nết na, hiếu thảo, không chạy
theo những đua đòi tầm thƣờng trong
cuộc sống, đã đƣợc nhà văn gợi lên
vẻ đẹp ngay từ ngoại hình giản dị mà
thanh thoát: “Cô mặc áo lụa trắng,
quần lãnh đen, đầu gỡ sơ, chơn mang
guốc, tai đeo một đôi bông lớn, tay trái
có đeo một chiếc vàng nhận hột xoàn,
cô không trang điểm, không dồi phấn
thoa son, mà vì cô có sắc sẵn, cô lại
có duyên ngầm, tƣớng đi dịu dàng,
gƣơng mặt sáng rỡ, bởi vậy ai thấy cô
cũng đều phải trầm trồ khen thầm là
gái đẹp” (Hồ Biểu Chánh, 2005: 35).
Ánh Nguyệt trong Ngọn cỏ gió đùa rất
xinh “Nàng đƣơng đứng dựa một bụi
bông bụp, tay cầm một cái bông mà
nhìn. Nàng để đầu trần, lại tóc không
chải gỡ, nhiều sợi lòng thòng sau ót,
nhiều sợi xấp xải trên trán; trời dãi
nắng trong mặt nàng, rồi màu bông
bụp giọi vô nữa, làm cho nƣớc da
nàng ửng hồng, coi thiệt là xinh đẹp”
(Hồ Biểu Chánh, 1988: 121). Ánh
Nguyệt tuy “ở trong nhà dân giả bần
hàn, song phẩm giá nàng chẳng kém
gì gái trâm anh phiệt duyệt” (Hồ Biểu
Chánh, 1988: 71). Nhân vật phụ nữ
trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh
không chỉ đẹp ngoại hình mà đẹp cả
tâm hồn, và Hồ Biểu Chánh đặc biệt
chú ý phát hiện nhiều hơn vẻ đẹp ở
phụ nữ qua tâm hồn và tính cách. Hồ
Biểu Chánh phát hiện ở phái yếu,
Trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh,
không có kiểu ngƣời phụ nữ chấp
nhận là bến đợi, bến chờ trong sự vô
vọng, càng không muốn mình là “tấm
lụa đào” nhƣng “phất phơ giữa chợ
biết vào tay ai” mà là kiểu ngƣời phụ
nữ mạnh mẽ, quyết đoán và dám
quyết định cho tƣơng lai, nhƣ cô Vân
trong Đoạn tình, cô Hai Tân trong Tân
Phong nữ sĩ, tự tìm cho mình một
hƣớng đi trong cuộc sống, vƣợt lên
mọi định kiến hẹp hòi, chống lại
những quan niệm cổ hủ, lạc hậu về
phụ nữ. Thông qua cô Hai Tân, tác giả
thể hiện thành công ý thức và hành
động vì vấn đề nữ quyền trong sáng
tác của nhà văn nam. Hai Tân là cô
gái biết cái mình bị mất và biết nhận
thức cái mình còn đƣợc sau khi mất
mát, dù không phải là ít. Bị Vĩnh Xuân
từ hôn, nhìn từ góc độ danh dự của
một ngƣời con gái thì đúng là một sự
bôi nhọ. Xét về tình cảm, thì quả là
một tổn thƣơng rất nặng nề. Bị từ hôn,
thay vì khóc lóc, than thở, sầu não
hay bi quan chán đời, cô Hai Tân vẫn
rất điềm nhiên. Bởi cô đã hiểu việc
không đƣợc chồng cƣới, hóa ra rất
may mắn cho mình, khi không phải
gắn bó với một ngƣời chồng “học cao”
nhƣng “bụng dạ hẹp hòi quá”: “Anh
Vĩnh Xuân có cái quan niệm về vợ
chồng nhƣ thế ấy, mà ảnh chê con,
không chỉ có sự dẻo dai mà còn có ảnh không cƣới con thì may cho con
NGUYỄN VĂN NỞ - HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG – Ý THỨC NỮ QUYỀN…
44
lắm. Má nên đốt đèn treo cờ ăn mừng, quý hơn: cống hiến cho lợi ích của xã
chớ đừng có buồn” (Hồ Biểu Chánh, hội; với cô đó là đấu tranh giải phóng
1997d: 24). Cô Hai Tân biết xem nhẹ phụ nữ, bảo vệ cuộc sống bình an cho
những cái thƣờng tình để tập trung phụ nữ.
vào những gì cao quý hơn, có ý nghĩa
Phƣơng thức nam tính hóa nữ tính
lớn lao hơn đối với đời ngƣời. Với cô,
trong thi pháp nhân vật xuất hiện ở
chuyện luyến ái nam nữ không là khát
nhiều tác phẩm vào đầu thế kỷ XX.
vọng quá lớn lao, càng không làm cho
Hình tƣợng cô Hai Tân trong Tân
con ngƣời đánh mất đi mọi ý nghĩa
Phong nữ sĩ có thể xem là trƣờng hợp
sâu xa và giá trị cao quý của cuộc
tiêu biểu. “Phụ nữ cần phải nam hóa,
sống nếu không có đƣợc nó. Mặc dù
nghĩa là cải biến mình để giống ngƣời
khao khát tình yêu và hạnh phúc yêu
nam, mang những đặc tính nam.
đƣơng là vấn đề mang tính nhân văn
Khuynh hƣớng này có phần cực đoan
nhƣng qua cô Hai Tân, Hồ Biểu
và khiên cƣỡng, xóa bỏ sự khác biệt
Chánh nhƣ muốn cho thấy, con ngƣời
tự nhiên về giới, nhƣng trong lịch sử,
không nên làm nô lệ cho tình ái. Cô
hành trình này thực sự đã hiện hữu
Hai Tân cũng có tình yêu với Vĩnh
Xuân và cô chấp nhận cuộc hôn nhân
với Vĩnh Xuân là do cha mẹ hai bên
sắp đặt. Hành động từ hôn của Vĩnh
Xuân đã khiến cô nhận ra giữa mình
và con ngƣời đó không có sự tƣơng
hợp, tƣơng đồng. Không hiểu nhau thì
không thể hòa hợp nhau để kết tình
luyến ái. Ngƣời phụ nữ này có đa cảm,
mà chƣa lụy tình, càng không để ái
tình chi phối. Bị từ hôn, cô cảm thấy
tổn thƣơng không ít nhƣng cô nghĩ tới
vị trí, quyền bình đẳng của ngƣời phụ
nữ nhiều hơn. Bởi thế, cô có giận, có
hận mà không có đau khổ khi tình yêu
tan vỡ. Cô giận cho những suy nghĩ
cổ hủ, lạc hậu về vai trò của ngƣời
phụ nữ trong gia đình, xã hội. Cô hận
nhƣ một quy luật trên mọi lĩnh vực.
Nam hóa là một giai đoạn luôn có mặt
trong hành trình đấu tranh của ngƣời
phụ nữ để đòi lại sự bình đẳng và
công bằng cho mình” (Hồ Khánh Vân,
2010: 86). Và “có hai đặc điểm quan
trọng nhất cho thấy biểu hiện nam tính
hóa nữ tính ở phụ nữ: sự khƣớc từ
vai trò làm vợ và những hành động
mạnh mẽ, phi thƣờng của họ” (Đào Lê
Tiến Sỹ, 2018: 89). Hồ Biểu Chánh tỏ
ra rất tin tƣởng phụ nữ nên đã cho
nhân vật biết sống, biết suy nghĩ, biết
hành động táo bạo, vƣợt lên trên
những cái thƣờng tình, để đạt những
điều cao cả. Cô Hai Tân vui vẻ, hạnh
phúc với đời độc thân, vƣợt lên trên
định kiến cũ; phá bỏ lối mòn trong
vì sao nam giới luôn muốn ở thế áp cách sống, nếp nghĩ: trai gái lớn lên là
chế phụ nữ. Cô không đau khổ cho phải lấy vợ, gả chồng, sinh con đẻ cái;
chống chọi và chiến thắng mọi cám dỗ
để khẳng định quan niệm sống của
mình: sống vì những mục đích lớn lao,
tình yêu tan vỡ vì tình yêu không phải
là mục đích duy nhất của đời ngƣời.
Cuộc sống còn có nhiều điều đáng
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021
45
cao đẹp; bỏ qua những cái thƣờng chăm chút cho vẻ đẹp tâm hồn bằng
tình. Do đó, chúng ta không lấy làm lạ lối sống giữ gìn tiết sạch giá trong
(Đào trong Lời thề trước miễu). Họ
điểm tô cho tâm hồn bằng những thú
chơi tao nhã – đánh đàn (Lí Ánh
Nguyệt trong Ngọn cỏ gió đùa). Họ
làm trẻ hóa tâm hồn bằng cách hòa
mình vào thiên nhiên – ngắm trăng,
làm thơ (Túy Nga trong Đóa hoa tàn).
Họ tiếp thêm sức sống cho tâm hồn
bằng tƣ duy, quan niệm dứt khoát,
mạnh mẽ (Cô Hai Tân trong Tân
Phong nữ sĩ). Có thể nói, đến lúc này,
một nhà văn nam mà có cái nhìn trân
trọng và phát hiện nhiều nét đẹp ở
ngƣời phụ nữ nhƣ Hồ Biểu Chánh là
không nhiều. Chân dung phụ nữ đẹp
xuất hiện trong tiểu thuyết của Hồ
Biểu Chánh là một cách khẳng định
phụ nữ sánh ngang nam giới. Ngƣời
phụ nữ đẹp đƣợc tôn vinh trong tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh có thể làm
tất cả những điều mà nam giới làm
đƣợc. Họ đâu chỉ biết sống theo đạo
đức, lễ nghĩa. Họ cũng đạt trình độ về
tri thức nhƣ nam giới. Họ cũng đạt
bằng cấp cao, đƣợc báo chí đăng tin
ca ngợi, cũng nói tiếng Tây giỏi khiến
quan Pháp còn phải nể phục (Xuân
Hƣơng trong Một đời tài sắc). Họ cũng
có thể đi du học nhƣ nam giới (Thu
Hà trong Khóc thầm). Và họ cũng tài
hoa trong các lĩnh vực văn hóa nghệ
thuật (Ánh Nguyệt trong Ngọn cỏ gió
đùa, đàn; hay Túy Nga trong Đóa hoa
tàn, làm thơ giỏi). Nếu không phá bỏ
khi cô một mực từ chối lời cầu hôn
của Vĩnh Xuân, lúc anh ta đã hối hận.
Ngƣời phụ nữ nhƣ cô càng không thể
nào chấp nhận kiểu tình yêu thực tế,
thực dụng, nhiều nhục cảm nhƣ tình
yêu của Chí Thành. Hồ Biểu Chánh
đã nhận ra ở ngƣời phụ nữ không chỉ
hƣớng đến nuôi dƣỡng tâm hồn đẹp,
mà họ còn có bản lĩnh để duy trì, gìn
giữ cho tâm hồn ấy luôn rạng ngời
một cách bền vững. Trong tác phẩm,
nam giới không chỉ ngƣỡng mộ mà
còn học tập theo tấm gƣơng phụ nữ
(Vĩnh Xuân đã nghe theo lời cô Hai
Tân thay đổi quan niệm sống). Cùng
sáng tác ở giai đoạn giao thời của văn
học Việt Nam, tiểu thuyết Lê Hoằng
Mƣu cũng miêu tả vẻ đẹp phụ nữ, qua
nhân vật Hồ phu nhân hay Hà Hƣơng,
trong Người bán ngọc và Hà Hương
phong nguyệt. Nhƣng đó là vẻ đẹp
thiên về hình thể, một vẻ đẹp có sức
quyến rũ và làm thỏa mãn cái tôi đam
mê sắc dục của phái nam. Nó không
có chỗ dựa của tâm hồn và càng
không thể toát lên một tâm hồn đẹp,
cái đẹp ngoại hình này là yếu tố dẫn
đến những hành vi đầy tội lỗi - thất tiết,
ngoại tình. Vì thế, nhân vật phụ nữ
đẹp trong tiểu thuyết Lê Hoằng Mƣu
chỉ đáng trách, họa hoằn lắm là đƣợc
thông cảm hay thƣơng hại, chứ chƣa
thể tôn vinh hoặc đề cao.
Đâu chỉ một vài trƣờng hợp, có rất đƣợc tƣ tƣởng nam quyền, thì ngọn
nhiều phụ nữ trong tiểu thuyết của Hồ bút của nhà văn nam khó mà có thể
Biểu Chánh chú ý việc nuôi dƣỡng kiến tạo nên những nhân vật phụ nữ
tâm hồn trong sáng, cao đẹp. Họ đẹp và có vị trí đặc biệt trong đời sống
NGUYỄN VĂN NỞ - HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG – Ý THỨC NỮ QUYỀN…
46
xã hội nhƣ thế. Hồ Biểu Chánh không 4. Ý THỨC VÀ HÀNH ĐỘNG VÌ NỮ
chỉ dừng lại “nam hóa” nhân vật nữ, QUYỀN CỦA NHÂN VẬT NỮ
mà đặt nhân vật nữ vào vị trí sánh TRONG TIỂU THUYẾT CỦA HỒ
ngang nam giới. Nói cách khác, là tạo
cho nhân vật nữ có vị thế nhƣ nam
giới, thậm chí còn nổi trội hơn cả nam
giới; nhiều trƣờng hợp, nữ giới còn tỏ
ra cứng cỏi, mạnh mẽ, quyết đoán và
năng động hơn nam giới. Hồ Biểu
Chánh nhƣ muốn chứng minh các
thuộc tính mạnh hay yếu không hình
thành do giới tính, mà do tính cách
hay tâm chí con ngƣời; trong tác
phẩm nhiều trƣờng hợp phụ nữ rất
bản lĩnh, ngƣợc lại đàn ông thì yếu
đuối, dễ khóc và nhanh chóng nản
lòng trƣớc khó khăn. Phát hiện những
vẻ đẹp trân quý của ngƣời phụ nữ, Hồ
Biểu Chánh nhận diện tích cực hơn về
vị trí và vai trò của ngƣời phụ nữ so
với nhiều ngƣời đƣơng thời. Đầu thế
kỷ XX, quan niệm “đàn ông đi trƣớc”,
“đàn bà mới tiếp theo” nhƣ Huỳnh
Thúc Kháng, vẫn còn phổ biến: “Ở
trên thế giới xƣa nay, Đông Tây, dầu
cho dân tộc mà ngày nay cho là văn
minh bậc nhất, cái bƣớc tiến lên con
đƣờng tiến hóa, sao cũng đàn ông đi
trƣớc, mà đàn bà mới tiếp theo” (dẫn
theo Trần Văn Toàn, 2011: 92). Vì thế,
xu hƣớng nam tính hóa đối với các
nhân vật nữ thƣờng đƣợc chọn làm
phƣơng thức thể hiện, nhằm khẳng
định vị thế phụ nữ của nhiều nhà văn.
Hồ Biểu Chánh kiến tạo nhân vật nữ
với tính cách cá nhân độc lập, mang
những vẻ đẹp không hoàn toàn dựa
theo tiêu chuẩn của nam giới, mà còn
BIỂU CHÁNH
Đầu thế kỷ XX, tiếng nói đấu tranh
giành nữ quyền chủ yếu cất lên từ văn
chƣơng của tác giả nữ, nhà văn nữ
viết về mình trong vai trò chủ thể. Tác
giả nam thƣờng xem ngƣời phụ nữ
nhƣ một đối tƣợng sáng tác nhƣng Hồ
Biểu Chánh lại khơi nguồn cho ý thức
và hành động vì vấn đề nữ quyền.
Khác với Nguyễn Du, Đặng Trần Côn
hay Nguyễn Gia Thiều, Hồ Biểu
Chánh không chỉ dừng lại ở sự cảm
thƣơng, bất bình cho phụ nữ, mà hơn
thế nữa, ông tỏ ra đồng tình với ý thức
và hành động vƣơn lên của phụ nữ
trong việc đòi quyền bình đẳng. Các
nhân vật nữ có tƣ tƣởng tiến bộ trong
tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đã đi
từ ý thức thân phận bị thua thiệt, đến
ý thức phải thoát ra khỏi sự đè nén
bất công hay ý thức vai trò của phụ nữ,
để rồi quyết tâm hành động. Hành
động không chỉ cho riêng giới mà còn
cho sự phát triển chung của xã hội.
Đặc biệt, họ còn có những nhận thức
rất mới, hiểu rõ phụ nữ cần: “có đủ tƣ
cách cứng cỏi, cao thƣợng nhƣ con
gái bên Âu bên Mỹ để giải thoát cái
ách tôi mọi của đàn ông…” (Hồ Biểu
Chánh, 1997d: 42).
Nhân vật Thu Hà trong Khóc thầm có
tƣ tƣởng rất tích cực, cô nhận ra một
thực tế: “mở mang tri thức cho dân tộc,
bênh vực lợi quyền cho nƣớc nhà, ấy
vƣợt lên trên chuẩn mực lý tƣởng của là phận sự của đàn ông con trai. Việc
nam giới.
ấy tôi cũng biết vậy, tôi có cãi bao giờ
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021
47
đâu. Chớ chi đàn ông con trai, hễ có phản, Thu Hà và Vĩnh Thái, đƣợc Hồ
tri thức ít nhiều mỗi ngƣời đều biết lo Biểu Chánh gợi lên trong Khóc thầm,
cho tròn phận sự thì đàn bà con gái
cũng nên chui trong bếp mà nấu cơm,
cũng nên thụt trong buồng mà cho
con bú, có lý nào dám chƣờng mặt ra
ngoài mà nói chuyện khai hóa. Ngặt vì
đàn ông con trai của mình bây giờ coi
tệ quá. Có lẽ mình cũng ngó thấy chớ,
phần nhiều họ chỉ cầu danh ham lợi,
chớ có mấy ngƣời lo công ích đâu.
Nếu đàn bà con gái không can dự vào
đặng giúp với mấy ngƣời đàn ông biết
lo đó, thì đồng bào ta biết đời nào mở
mắt” (Hồ Biểu Chánh, 1997b: 76). Thu
Hà không phủ nhận những ƣu thế của
đàn ông, nhƣng nhận ra có nhiều đàn
ông thiếu cái tâm đối với xã hội, vì thế
phụ nữ cần vƣợt lên mọi trở ngại của
giới tính để đảm đƣơng việc lớn. Thu
Hà đối lập với Vĩnh Thái, càng thấy rõ
những hạn chế của xã hội càng ý thức
trách nhiệm đóng góp cao hơn:
“Phong tục đồi tệ, thì mình ăn ở cho
cao thƣợng, đặng làm gƣơng tốt cho
ngƣời ta bắt chƣớc mà làm theo. Dân
trí còn u ám, thì mình phải khai hóa
cho ngƣời ta biết đƣờng ngay mà
theo, nẻo dại mà chừa” (Hồ Biểu
Chánh, 1997b: 77). Thu Hà chƣa
nhận thức một cách trọn vẹn vấn đề:
“Phụ nữ có học thức sẽ là một bƣớc
tiến cho việc thành lập một xã hội bình
đẳng và đóng góp cho sự phát triển
của dân tộc” (Cao Kim Lan, 2019: 61)
nhƣng cô cũng đã quyết định chọn
con đƣờng đi học để mong trở thành
ngƣời phụ nữ có ích và đƣợc đóng
góp. Hai hình ảnh nhân vật rất tƣơng
thể hiện sự đối lập hoàn toàn về quan
niệm và cách sống giữa hai ngƣời
thuộc hai giới. Tác giả nhƣ đang làm
thay đổi lối nghĩ thƣờng tình, phổ biến:
phụ nữ yếu đuối, nông cạn; nam giới
mới mạnh mẽ và sâu sắc. Cuối cùng,
ông đã chứng minh: sâu sắc, mạnh
mẽ là do cái tâm, cái tính của con
ngƣời làm nên, chứ không phải do
giới tính tạo ra. Với tâm hƣớng về lợi
ích cộng đồng, tƣơng lai lâu dài của
xã hội, ngƣời phụ nữ hăng hái tìm
kiếm những việc làm dù nhỏ nhất để
đóng góp cho xã hội: với Thu Hà
(Khóc thầm) là dạy học cho trẻ con
trong làng thoát dốt; với cô Vân (Đoạn
tình) là mở trƣờng để hỗ trợ và giáo
dục cho học sinh nữ có kiến thức,
trình độ, đạo đức tốt; với cô Hai Tân
(Tân Phong nữ sĩ) là mở báo quán
gây dựng tiếng nói chung bảo vệ
quyền lợi phụ nữ, thành lập nhà bảo
sanh “để cho đàn bà nghèo đến lúc
sanh con, có chỗ sạch sẽ mà nằm
khỏi đi xa, lại khỏi bị tay mấy “bà mụ
xóm” không có học thức, không biết
vệ sinh là gì” (Hồ Biểu Chánh, 1997d:
82). Nhiều phụ nữ trong tiểu thuyết
của Hồ Biểu Chánh đã “vƣợt thoát
khỏi không gian gia đình chật hẹp để
hƣớng đến không gian xã hội rộng
lớn” (Hồ Biểu Chánh, 1997d: 42), “vai
trò của họ không còn đóng khung
trong phạm vi của gia đình mà đƣợc
nhìn nhận trong mối quan hệ mật thiết
với xã hội, dân tộc” (Trần Văn Toàn,
2011: 91).
NGUYỄN VĂN NỞ - HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG – Ý THỨC NỮ QUYỀN…
48
Các nhân vật cô Hai Tân, cô Vân, hay sanh đờn bà để trừng trị những ngƣời
đờn ông quấy, để sửa lòng sửa tánh
cho ngƣời đờn ông trở nên đúng
đắn…” (Hồ Biểu Chánh, 1997d: 111).
Thu Hà đều tỏ ra quyết đoán, bản lĩnh
và nhiệt thành trong hành động đấu
tranh cho vấn đề nữ quyền. Cô Hai
Tân đã nói một cách cƣơng quyết mà
cũng đầy chín chắn với cha mẹ: “…Ở
đời phải có một cái mục đích gì để
làm đƣờng mà đuổi theo, thì sự sống
mới có ý nghĩa, mới đƣợc vui vẻ. Con
quyết lấy sự giải phóng phụ nữ mà
làm mục đích cho sự sống của con”
(Hồ Biểu Chánh, 1997d: 43). Hành
động của cô Hai Tân xuất phát từ ý
thức: “Trời sanh đàn bà để làm bạn
với đàn ông đặng lập gia đình mà duy
trì xã hội. Thế thì, đờn bà với đờn ông
đều đứng ngang hàng nhau… hai bên
đều cần dùng nhau, đều có quyền
nhƣ nhau, sao đờn ông họ lại đƣợc
phép lấn lƣớt, ép buộc đờn bà, phải
làm tôi mọi cho họ? Họ lộng quyền áp
chế, nếu đàn bà hiệp nhau tẩy chay
họ rồi họ làm sao?” (Hồ Biểu Chánh,
1997d: 45).
Ngƣời phụ nữ xƣa, luôn chấp nhận
thân phận bị lệ thuộc. Dù đã ý thức
mình có ích cho đời, có giá trị trong xã
hội, là thành phần không thể thiếu của
cuộc sống nhƣng họ vẫn mang tâm lý
của kẻ phải lệ thuộc, phó mặc cho rủi
may đƣa đẩy. Họ luôn canh cánh
trong lòng bao nỗi sợ: “sợ mẹ bằng
đất, sợ cha bằng trời” cho nên mất cả
niềm tin. Nhân vật phụ nữ trong tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh không
mang nỗi sợ “giới tính”. Họ mạnh dạn
sống theo cảm xúc của chính mình.
Không yêu, ghét, vui, buồn theo chỉ
định của quyền lực gia đình, trong đó
có nam quyền. Khi đã nhận thức
hƣớng đi và quan niệm của mình là
đúng đắn, họ dứt khoát làm theo; bất
kể lời dị nghị, bỏ qua định kiến hẹp hòi,
thậm chí thách thức với những quan
điểm trái chiều và suy nghĩ lệch lạc.
Nhờ thế, mà những phụ nữ nhƣ cô
Hai Tân đã tạo đƣợc sự thuyết phục
với nhiều ngƣời, kể cả mẹ cô, ngƣời
luôn không tán thành những việc cô
làm.
Nam giới hiếm khi nhận ra hoặc cố
tình không chịu thừa nhận đã áp chế
phụ nữ. Hơn thế nữa, lắm ngƣời, nhƣ
bác vật Quý, còn giữ quan niệm: “Trời
sanh đàn bà con gái cốt để cho đàn
ông con trai muốn, chớ để làm gì?”
(Hồ Biểu Chánh, 1997d: 111). Ngƣời Cuộc hội thoại giữa hai nhân vật Vĩnh
Xuân và cô Hai Tân trong Tân Phong
nữ sĩ, tuy còn nhiều vụng về, thiếu tự
nhiên nhƣng chính từ những lời bàn
luận xoay quanh đề tài gia đình, vai
trò của ngƣời phụ nữ trong gia đình,
cũng nhƣ vấn đề bình quyền đã góp
phần thể hiện quan điểm của tác giả.
Hồ Biểu Chánh luôn ủng hộ phụ nữ
phụ nữ nhƣ thế, dù cao sang quyền
quý hay nghèo hèn đều không có cái
thế của sự chủ động, không có đƣợc
quyền làm chủ cho đời mình. Hồ Biểu
Chánh đã tạo cho ngƣời phụ nữ có cơ
hội phản đối những suy nghĩ lỗi thời,
khẳng định vai trò, chức năng cao quý
của mình: “Thủ cựu! Óc xƣa! Trời
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021
49
trong việc đấu tranh bảo vệ quyền lợi Có tiếng nói của Hồ Biểu Chánh, tác
cho giới mình. Ông để cho cô Hai Tân giả nam, thông qua hệ thống nhân vật
luôn có những lập luận dứt khoát, nữ, vấn đề bảo vệ nữ quyền, đòi hỏi
cƣơng quyết, có sức thuyết phục cao bình đẳng giới, ngợi ca, khẳng định vị
khiến Vĩnh Xuân, một trí thức tân học thế của phụ nữ càng khách quan hơn,
thủ cựu cũng phải lay động tƣ tƣởng, chính đáng hơn và thể hiện tính thiết
thay đổi dần quan niệm và cuối cùng thực rõ nét.
chấp nhận nghe theo, trong sự
Trong dòng chảy của thời gian, giá trị
ngƣỡng mộ và nể phục. Chính vì thế,
tƣ tƣởng, những bài học đạo lý,
Tân Phong nữ sĩ của Hồ Biểu Chánh
những triết lý về cuộc đời trong tiểu
đƣợc xem nhƣ một tác phẩm tiêu biểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh thì vẫn còn
của văn chƣơng nữ quyền hồi đầu thế
đọng mãi. Sống giữa những ngày
kỷ XX. Tuy không thuộc nữ giới,
tháng phong trào nữ quyền đang khởi
nhƣng nhà văn Hồ Biểu Chánh đã thể
sắc ở đầu thế kỷ XX, ông đã nhanh
hiện đúng tiếng lòng, nỗi niềm, khát
chóng hấp thu những tƣ tƣởng tích
vọng và tâm huyết của giới nữ: “…
cực, cởi bỏ quan niệm và hành động
ngày nay là ngày chị em chúng tôi
mang tính nam quyền. Nhờ thế, thế
phất cờ kêu toàn thể chị em phụ nữ
giới nhân vật nữ trong tiểu thuyết của
Việt Nam mở mắt đứng dậy gỡ mà
Hồ Biểu Chánh không còn bị bó hẹp
quăng cái ách của bậc nam nhi hủ lậu
trong những khuôn hình cũ. Họ đã trở
mang vào cổ chúng tôi xƣa nay” (Hồ
thành đối tƣợng để nam giới phải
Biểu Chánh, 1997d: 50).
ngƣỡng mộ, học tập và noi theo.
5. KẾT LUẬN
Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Hồ
Biểu Chánh đã đấu tranh cho quyền
bình đẳng, đồng thời khẳng định vai
trò quan trọng trong xã hội. Họ có thể
làm đƣợc và làm tốt hơn cả nam giới.
Dƣờng nhƣ Hồ Biểu Chánh muốn
chứng minh: cái quý nhất, quan trọng
nhất, có vai trò quyết định nhất của
con ngƣời, để tạo dựng cuộc sống
hạnh phúc, xã hội tốt đẹp chính là tấm
lòng, sự nhiệt thành, đạo đức, cách
sống bất luận đó là nam hay nữ.
Ý thức của các nhân vật nữ trong tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh mang chút
ít màu sắc của tƣ tƣởng cải lƣơng
từng xuất hiện trong văn học trƣớc
1945. Tuy nhiên, vẫn nổi bật ý nghĩa
tích cực, khơi gợi ý thức hành động vì
nữ quyền. Cùng với văn chƣơng của
các nhà văn nữ ở đầu thế kỷ XX, tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh đã hợp
thành bản đồng ca, phát lên những
giai điệu chung vì vấn đề nữ quyền.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Cao Kim Lan. 2019. “Phụ nữ và phong trào nữ quyền ở Việt Nam đầu thế kỷ XX (Qua
việc khảo sát ba tờ nữ báo: Phụ nữ Tân văn, Phụ nữ thời đàm và Đàn bà)”. Tạp chí
Nghiên cứu Văn học, số 10.
NGUYỄN VĂN NỞ - HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG – Ý THỨC NỮ QUYỀN…
50
2. Đào Lê Tiến Sỹ. 2018. “Nam tính hóa nữ tính và lý tƣởng ngƣời phụ nữ anh hùng
trong các sáng tác trƣớc 1925 của Phan Bội Châu”. Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 2.
3. Hồ Biểu Chánh. 1988. Ngọn cỏ gió đùa. Tiền Giang: Nxb. Tổng hợp Tiền Giang.
4. Hồ Biểu Chánh. 1997a. Con nhà nghèo. TPHCM: Nxb. Văn nghệ TPHCM.
5. Hồ Biểu Chánh. 1997b. Khóc thầm. TPHCM: Nxb. Văn nghệ TPHCM.
6. Hồ Biểu Chánh. 1997c. Tại tôi. TPHCM: Nxb. Văn nghệ TPHCM.
7. Hồ Biểu Chánh. 1997d. Tân Phong nữ sĩ. TPHCM: Nxb. Văn nghệ TPHCM.
8. Hồ Biểu Chánh. 2001. Đoạn tình. TPHCM: Nxb. Văn nghệ TPHCM.
9. Hồ Biểu Chánh. 2005. Một đời tài sắc. Hà Nội: Nxb Phụ nữ.
10. Hồ Biểu Chánh. 2006a. Đóa hoa tàn. TPHCM: Nxb. Văn hóa Sài Gòn.
11. Hồ Biểu Chánh. 2006b. Lời thề trước miễu. TPHCM: Nxb. Văn hóa Sài Gòn.
12. Hồ Khánh Vân. 2010. “Ý thức nữ quyền và sự phát triển bƣớc đầu của văn học nữ
Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế kỷ XX”. Tạp chí Nghiên
cứu Văn học, số 8.
hoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/v%C4%83nh%E1%BB%8Dc-vi%E1%BB%87t-nam/10
98-phan-th-bch-van-va-tinh-thn-ph-n.html, truy cập ngày 21/5/2021.
14. Schafer, John C. 2013. “Những quan niệm đƣơng đại về giới nữ ở Việt Nam (Nhìn
từ các văn bản văn hóa quy chiếu quá trình sáng tạo và tiếp nhận tự truyện: Lê Vân:
Yêu và sống)” (Nguyễn Trƣơng Quý dịch). Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 8.
15. Trần Văn Toàn. 2011. “Nam tính hóa nữ tính – đọc Đoạn tuyệt của Nhất Linh từ góc
nhìn giới tính”. Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 9.
Bạn đang xem tài liệu "Ý thức nữ quyền qua kiến tạo nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
y_thuc_nu_quyen_qua_kien_tao_nhan_vat_nu_trong_tieu_thuyet_c.pdf

