Biến đổi hôn nhân - Gia đình và nhận thức của thanh niên về hôn nhân - Gia đình
Biến đổi hôn nhân - gia đình và nhận thức
của thanh niên về hôn nhân - gia đình
Nguyễn Thị Thu Nguyệt(*)
Tóm tắt: Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về nhận thức của thanh niên trong
hôn nhân - gia đình cho thấy, ý nghĩa của hôn nhân đã biến đổi phù hợp với mức độ phát
triển và biến đổi xã hội. Nhiều nghiên cứu ở Mỹ và các nước phát triển chỉ ra sự “lỏng
lẻo” của thiết chế hôn nhân dẫn đến tình trạng ly hôn, sống chung không kết hôn đã làm
thay đổi quan niệm và nhận thức của thanh niên về ý nghĩa của hôn nhân - gia đình. Các
yếu tố văn hóa và tôn giáo có ảnh hưởng quan trọng đến sự thay đổi nhận thức của thanh
niên về hôn nhân và gia đình. Mặc dù tiến hành công nghiệp hóa muộn hơn so với các
nước phương Tây nhưng Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan hay Ấn Độ đã đạt được mức độ
phát triển cao về kinh tế, tuy nhiên nhận thức hướng đến ly hôn hoặc sống chung không
kết hôn của thanh niên ở các nước này vẫn là tiêu cực. Sự khác biệt giới tác động đáng
kể đến nhận thức của thanh niên về hôn nhân và gia đình.
Từ khóa: Hôn nhân - gia đình, Biến đổi hôn nhân, Nhận thức về hôn nhân - gia đình,
Thanh niên
Abstract: International and Vietnamese studies on young people’s perceptions of marriage
and family indicate that the meaning of marriage has altered in line with the social
development and change. Studies in developed countries, including the US, have shown
that the “laxness” in marriage institution leading to divorce or cohabitation has changed
the youth’s perception and awareness about its meaning. Cultural and religious factors also
have a major impact on this. While South Korea, Japan, Taiwan or India have achieved high
economic growth regardless of their late industrialization compared to Western countries,
their youth’s perception of divorce or cohabitation is pessimistic. Last but not least, gender
differences significantly affect young people’s perceptions of marriage and family.
Keywords: Marriage and Family, Changes in Marriage and Family, Perception of
Marriage and Family, Young People
1. Dẫn nhập1
Nghiên cứu biến đổi hôn nhân và gia
đình từ quan điểm cấu trúc xã hội và tương
tác biểu trưng cho thấy có những biến đổi
trong hệ giá trị, những chuẩn mực liên
quan đến hôn nhân và gia đình. Quá độ
nhân khẩu học cũng như những biến đổi về
chuẩn mực xã hội đưa đến sự thay đổi trong
ý nghĩa của hôn nhân và tổ chức của gia
(*) ThS., Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam;
Email: [email protected]
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2019
46
đình. Những thay đổi cấu trúc đó đã dẫn những thay đổi trong khuôn mẫu hôn nhân
truyền thống như sống chung không kết
hôn (cohabitation) hoặc sống độc thân
(single), từ đó kéo theo những biến đổi
của tổ chức gia đình và mối quan hệ giữa
các thế hệ.
Dữ liệu về hôn nhân thế giới trong gần
nửa thế kỷ qua chỉ ra rằng, tỷ lệ kết hôn
hàng năm ở hầu hết các nước phương Tây
đều suy giảm (Xem bảng 1).
So sánh khuôn mẫu hôn nhân trong các
giai đoạn khác nhau của sự phát triển và
biến đổi xã hội cho thấy hôn nhân và gia
đình đã biến đổi, đặc biệt từ giai đoạn bắt
đầu cách mạng công nghiệp và quá trình
công nghiệp hóa ở phương Tây. Quan niệm
về hôn nhân như một thiết chế phụ thuộc
và phục vụ cho sự tồn tại của thiết chế gia
đình từng tồn tại trong lịch sử đang bị thách
thức trước những biến đổi văn hóa và xã
hội đương đại. Nếu như trong quá khứ,
mục tiêu trung tâm của
đến sự chuyển đổi đáng kể trong niềm tin
xã hội và thực hành gắn liền với lựa chọn
giáo dục, lựa chọn hôn nhân và lối sống
(Knox và Schacht, 2009). 1
Ở Việt Nam, biến đổi kinh tế - xã hội
kể từ khi Đổi mới đã dẫn đến những biến
đổi gia đình. Theo Quỹ Dân số Liên Hợp
Quốc (UNFPA), Việt Nam đang trong thời
kỳ “cơ cấu dân số vàng” với khoảng 70%
dân số trong độ tuổi 15-24 (UNFPA, 2016).
Tuy nhiên, những vấn đề liên quan đến hôn
nhân và gia đình ở nhóm thanh niên còn ít
được nghiên cứu (Alexa DiFiore, 2011).
2. Biến đổi hôn nhân - gia đình
Nghiên cứu hôn nhân - gia đình trên
thế giới cho thấy một bức tranh đa dạng
về sự biến đổi của thiết chế hôn nhân -
gia đình. Sự thay đổi của các giá trị và
chuẩn mực trong hôn nhân để thích nghi
với các điều kiện xã hội mới dẫn đến
hôn nhân là thực hiện
Bảng 1: Tỷ lệ kết hôn ở một số nước phương Tây (Đơn vị: %)
những nghĩa vụ xã hội và
gia đình (như thừa kế về
tài sản và truyền thống),
thì trong môi trường mới,
hạnh phúc trong đời sống
liên cá nhân trở thành
mục tiêu chủ yếu của hôn
nhân, và hôn nhân trở
thành phương tiện chủ
yếu đáp ứng nhu cầu về
tình cảm hoặc nhu cầu về
sự thân mật (intimacy) -
sự xúc cảm gắn liền với
Nước
Bỉ
1970
7,6
8,8
7,8
7,4
7,4
9,5
5,4
7,4
8,5
10,6
1985
5,8
7,3
4,9
6,4
5,3
5,7
4,6
6,0
7,0
10,1
1995 2000 20151 20172
5,1
5,5
4,4
5,3
5,1
5,3
3,8
5,8
5,6
8,8
4,3
4,7
4,3
4,5
4,2
4,4
5,0
5,4
4,5
8,23
4,3
3,9
-
Canada
Pháp
-
3,6
4,9
3,2
3,8
5,3
5,0
4,4
6,94
3,5
4,9
3,2
3,8
5,2
4,8
-
Đức
Ý
Hà Lan
Thụy Điển
Thụy Sĩ
Anh
Mỹ
6,95
Nguồn: World Marriage Data (Dẫn theo: Engelen & Puschmann,
2011).
sự tin tưởng.
Phân tích quá trình
biến đổi hôn nhân trong
1, 2
Số liệu năm 2015 và 2017 được cập nhật từ
xã hội Mỹ và Tây Âu đương đại, các nhà
nghiên cứu đã làm rõ hơn sự biến đổi về
ý nghĩa của hôn nhân, từ hôn nhân như
một thiết chế đến hôn nhân như là sự đồng
ViewTableAction.do
3, 4,
5
national-marriage-divorce-rates-00-17.pdf
Biến đổi hôn nhân…
47
hành (companionship marriage) và hôn
Những biến đổi nhân khẩu học như tỷ lệ
nhân là sự lựa chọn cá nhân (individualised ly hôn, tỷ lệ kết hôn muộn, quan hệ tình dục
marriage) (Cherlin, 2004; Mace, 1991). trước hôn nhân, sinh con ngoài giá thú, và
Những xu hướng nhân khẩu học cùng với sống chung không kết hôn tăng lên gần đây
sự suy giảm của các chuẩn mực xã hội về cho thấy sự biến đổi của hôn nhân ở Đông Á.
hôn nhân dẫn đến sự thay đổi tâm thế hướng Tuổi kết hôn lần đầu ở Nhật Bản, Hàn Quốc
đến hôn nhân hoặc là sự giải thể của thiết và Đài Loan đều trên 30 tuổi đối với nam và
chế hôn nhân (Blankenhorn, 2007; Cherlin, trên 28 tuổi đối với nữ (số liệu năm 2010).
2004); tỷ lệ ly hôn tăng; tỷ lệ kết hôn giảm, Khoảng 20% phụ nữ ở Nhật Bản sinh sau
tuổi trung bình kết hôn tăng, gia tăng số cặp năm 1970 và khoảng ¼ số phụ nữ Đài Loan
sống chung không kết hôn (Bumpass & Lu, trong độ tuổi 15-29 (trong năm 2004) đã lựa
2000; Kiernan, 2001) và hôn nhân đồng chọn sống chung không kết hôn. Ở các nước
giới (Weeks, Heaphy & Donovan, 2001; thuộc Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, từ
Weston, 1991). Những biến đổi này trong năm 1980, tỷ lệ ly hôn gia tăng. Đặc biệt ở
hôn nhân dẫn đến những thay đổi trong tổ Trung Quốc, khủng hoảng kinh tế và những
chức gia đình như: sự tăng lên của những thay đổi chính sách liên quan đến ly hôn giai
gia đình ghép - có con cái cùng cha khác đoạn 1995-2000 cũng khiến tỷ lệ ly hôn tăng
mẹ hoặc cùng mẹ khác cha - không kết (Jones, 2010; Raymo, Hyunjoon Park, Yu
hôn và sự tăng lên của số lượng kết hôn Xie and Wei-jun Jean Yeung, 2015).
lần đầu liên quan đến các gia đình ghép 3. Nhận thức của thanh niên về hôn nhân
(stepfamilies) (Cherlin, 2004).
- gia đình
Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, có
Với sự đa dạng về văn hóa, những vấn
đề chủ yếu trong biến đổi hôn nhân và gia một sự liên quan giữa quan điểm của cá
đình ở châu Á được xem xét trong quan hệ nhân về hôn nhân của người khác và thái
với hệ thống thân tộc và những biến đổi độ của mỗi cá nhân đối với hôn nhân. Thái
nhân khẩu học. Một bộ phận thanh niên ở độ của cá nhân được thể hiện trong kỳ vọng
khu vực Nam Á vẫn ghi nhận việc cha mẹ của họ về hôn nhân. G. Jones và E. Nelson
quyết định hôn nhân của họ. Trái lại, ở khu (1996) đã mô tả 3 kỳ vọng: bi quan, thực
vực Đông Á, hệ thống hôn nhân dàn xếp tế và lý tưởng. Họ khẳng định, chủ nghĩa
đã sụp đổ, trong khi việc thiếu vắng giao lý tưởng về hôn nhân thường dựa trên tình
tiếp xã hội với người khác giới làm gia tăng yêu lãng mạn, tình yêu lãng mạn lại dựa
tình trạng độc thân. Có những bằng chứng trên đam mê, mà đam mê chỉ đơn giản là sự
cho thấy ở Đông Á và Đông Nam Á, nhiều mê đắm tạm thời. Những người đang chìm
người trẻ gặp khó khăn trong việc tìm hiểu đắm trong tình yêu lãng mạn có thể nghĩ
người khác giới khi thiếu hệ thống hôn nhân rằng giai đoạn này trong cuộc sống của họ
dàn xếp, mặc dù đã có những thích nghi sẽ kéo dài mãi mãi. Để giải thích cho thái
nhất định với sự xuất hiện của những yếu độ đam mê này, trong lý thuyết tam giác,
tố mới như văn phòng môi giới hôn nhân ở R.S. Miller và các đồng nghiệp (2005) đã
Malaysia, hoặc sự phát triển của việc hẹn phân tích mối quan hệ lâu dài dựa trên ba
hò qua mạng được sự bảo trợ của chính phủ yếu tố: niềm đam mê, tính chân thành và
như ở Singapore. Mặt khác, xu thế kết hôn sự cam kết. Khi cuộc hôn nhân chỉ có tình
muộn và tỷ lệ kết hôn giảm là phổ biến ở yêu nồng nàn thì mối quan hệ dường như
hầu hết các nước ở châu Á (Jones, 2010).
không kéo dài bởi niềm đam mê có thể dẫn
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2019
48
đến nhận thức sai, không chính xác về hôn lựa chọn 3 khái niệm chủ chốt là khái niệm
nhân, trong khi tính chân thành và sự cam hôn nhân, tâm thế hướng đến hôn nhân và
kết có xu hướng dẫn đến một quyết định những xu hướng thay đổi trong hôn nhân.
bền vững về hôn nhân.
Kết quả chỉ ra rằng: đa số thanh niên có tâm
Nghiên cứu của Sternburg (Dẫn theo: thế trung bình và tích cực hướng đến hôn
Reis và Rusbult, 2004) cho thấy, những nhân, đời sống gia đình. Đời sống hôn nhân
người có quan điểm lãng mạn hoặc đam mê giúp cá nhân có sự an toàn về tâm lý, họ
về hôn nhân đã không tìm thấy sự hài lòng xem hôn nhân như một sự cam kết suốt đời
trong hôn nhân và có khả năng bị trói chặt (Xem thêm: Tatheer Fatima, 2015).
vào việc tìm kiếm một hôn nhân lý tưởng.
Mô hình sống chung không kết hôn và
Tuy nhiên, nhận thức về một hôn nhân “lãng có con ngoài giá thú là điển hình của sự biến
mạn” vẫn rất phổ biến ở giới trẻ ngay cả khi đổi hôn nhân và đời sống gia đình ở Tây Âu.
họ được sinh ra trong gia đình không có bố. Vấn đề sống chung không kết hôn xuất hiện
Trong nhận thức về hôn nhân, phần lớn từ đâu và ai là người khởi xướng là những
thanh niên vẫn hy vọng và có dự định sẽ kết câu hỏi không có câu trả lời xác định. Sống
hôn. Khảo sát thanh niên ở các trường phổ chung sau khi ly hôn là hình thức phổ biến
thông trung học được thực hiện hàng năm trong những năm 1950 và 1960 ở Tây Âu.
kể từ năm 1976 ở Mỹ cho thấy, tỷ lệ không Nghiên cứu và phân tích từ các gia đình có
đổi, khoảng 80% nữ giới, 78% nam giới thu nhập thấp, vấn đề đặt ra là cần phải xem
mong muốn kết hôn (Thornton & Young- xét cả ba sự lựa chọn: kết hôn, sống chung
DeMarco, 2001; Regnerus & Uecker, không kết hôn và sống độc thân. Trong khi
2011). Do đó, mặc dù có sự suy giảm về ý kết hôn là điều lý tưởng thì sống chung
nghĩa của hôn nhân, nhưng hầu hết thanh không kết hôn và độc thân có thể là sự lựa
niên vẫn có sự cam kết sâu sắc về lý tưởng, chọn hợp lý cho những người có thu nhập
sự kỳ vọng về hôn nhân và ý định kết hôn thấp (Xem: Jayakody & Cabrera, 2002).
(Carroll at al, 2007).
Nhận thức về việc sống chung không
Từ quan điểm tương tác biểu tượng, kết hôn của thanh niên ở châu Á có sự khác
nghiên cứu của Nicole Margaret Kay (2012) biệt giữa các quốc gia và đang thay đổi. Ở
cho thấy nhận thức chung của thanh niên Hàn Quốc, nhận thức về sống chung không
Mỹ hướng đến hôn nhân là tích cực. Dựa kết hôn còn khá bảo thủ, trong khi nhận
trên mẫu nghiên cứu 700 sinh viên đang thức của thanh niên hướng đến sống chung
học cao đẳng, đại học hoặc đã tốt nghiệp, không kết hôn ở Nhật Bản và Trung Quốc
Kay cho rằng thanh niên không phải là lại khá tích cực. Tuy nhiên, việc sống chung
một nhóm đồng nhất mà là những nhóm có không kết hôn ở Nhật Bản và Trung Quốc
những đặc trưng riêng biệt với những quan chỉ được xem như một bước đệm đối với hôn
điểm khác nhau về tính thiêng liêng của nhân hơn là hình thức đi ngược lại với việc
quan hệ hôn nhân và sự thiện ý trong quan kết hôn (Raymo and at al, 2015). Ở Ấn Độ,
hệ. Tâm thế và niềm tin trong hôn nhân là sống chung không kết hôn không bị coi là
đa dạng và khác biệt giữa các nhóm.
bất hợp pháp nhưng không được chấp nhận
Nghiên cứu nhận thức của thanh niên về mặt xã hội và đạo đức. Nhận thức của
hướng đến hôn nhân và những xu hướng thanh niên về hôn nhân còn bị ảnh hưởng
thay đổi trong hôn nhân ở Ấn Độ, các tác bởi những yếu tố như phong tục gia đình, sự
giả N. Bhavana và Dr.K.S. Roopa (2015) đã thừa nhận của cộng đồng, những quy định
Biến đổi hôn nhân…
49
về mặt đẳng cấp và tôn giáo. Sống chung tất yếu khi môi trường giao tiếp và làm
không kết hôn không phải là lựa chọn phổ việc của họ rộng mở hơn. Đặc biệt, với
biến của thanh niên ở Ấn Độ (Ramsheena sự trợ giúp của công nghệ thông tin, các
and Nagaraju Gundemeda, 2015).
mối quan hệ của con cái dần vượt khỏi tầm
Nam giới và nữ giới đều có nhiều kỳ kiểm soát của cha mẹ. Việc hỏi ý kiến cha
vọng về hôn nhân trong cuộc sống của mình. mẹ trong quyết định hôn nhân đã chuyển
Nếu trước đây hôn nhân do cha mẹ quyết biến cơ bản về nội dung khi nó chủ yếu
định thì nay đã thay đổi, điều này được phản mang ý nghĩa thể hiện sự kính trọng của
ánh trong cả hành vi và tư tưởng của hai con cái chứ không phải để bố mẹ can thiệp.
giới. Nghiên cứu của N. Bhavana, Dr.K.S. Sự thay đổi nhận thức này trong giới trẻ
Roopa (2015) và Tatheer Fatima (2015) nêu mang giá trị tích cực (Vũ Tuấn Huy và các
rõ, tâm thế hướng đến hôn nhân của nữ giới đồng nghiệp, 2004; Kết quả của nghiên
tích cực hơn so với nam giới. Phần lớn nam cứu Điều tra gia đình Việt Nam 2006; Lê
giới cho rằng có con là cần thiết để trông Thi, 2009; Nguyễn Văn Lượt, Nguyễn Đỗ
nom bố mẹ già và kéo dài sự tồn tại của gia Hồng Nhung, 2010).
đình, trong khi nữ giới nhấn mạnh đến sự
thỏa mãn tình cảm của cha mẹ.
Nghiên cứu của Lindy Williams (2009)
về tâm thế hướng đến hôn nhân và những
Thang bậc giá trị trong tự do hôn nhân đối chọi của hôn nhân ở miền Bắc Việt
của nam giới cao hơn nữ giới. Nam và nữ Nam cho thấy, có sự nhất trí cao giữa các
có quan điểm khác nhau về quyết định hôn nhóm trong luận điểm hôn nhân vẫn hết sức
nhân từ cha mẹ. Trong khi nữ giới cho rằng quan trọng ở Việt Nam. Tuy nhiên, có sự
hôn nhân nên do cha mẹ quyết định, thì trái khoan dung đáng kể đối với những người
lại nam giới cho rằng hôn nhân cần được không hoặc chưa kết hôn do điều kiện hoặc
quyết định bởi bản thân người trong cuộc. hoàn cảnh nào đó. Có sự khác biệt trong
Những khác biệt này là do hệ thống giá trị nhận thức về việc sống chung không kết
phát triển và thay đổi theo thời gian.
hôn và quan hệ tình dục trước hôn nhân ở
Ở Việt Nam, nhận thức về hôn nhân và Việt Nam theo thế hệ và có sự khác biệt
gia đình của thanh niên là một trong những giữa đô thị - nông thôn.
vấn đề được quan tâm, đặc biệt là thời kỳ
Các nghiên cứu đã xem xét về nhận
sau Đổi mới. Hôn nhân như một giá trị và thức và hành vi của thanh niên đô thị ở Việt
định hướng của thanh niên. Trong các tiêu Nam liên quan đến những vấn đề trong quá
chuẩn lựa chọn bạn đời, định kiến giới là trình hẹn hò, tìm hiểu của thanh niên, như:
khá phổ biến.
ý nghĩa của các quan hệ thân mật giữa hai
Kết quả nghiên cứu biến đổi hôn nhân giới; vấn đề trinh tiết - nhất là đối với phụ
ở Việt Nam trong giai đoạn 1965-1992 cho nữ; quan hệ tình dục trước hôn nhân và sống
thấy, ý nghĩa của hôn nhân trong giai đoạn chung không kết hôn; giáo dục giới tính;
trước Đổi mới (1965-1985) mang tính chất các yếu tố ảnh hưởng đến tâm thế của thanh
tập thể nhiều hơn cá nhân. Nó bị chi phối niên về hôn nhân và gia đình (như hệ tư
bởi quyền lợi của gia đình, cộng đồng và tưởng Nho giáo, gia đình, trường học, bạn
đôi khi cả tổ chức xã hội (Daniele Belanger bè và mạng xã hội,…). Kết quả cho thấy, ở
và Khuất Thu Hồng, 1996).
Việt Nam, có tình trạng thiếu thông tin và
Xu hướng thanh niên tự quyết định thảo luận về vấn đề tình dục, có những định
hôn nhân của mình cũng sẽ là một hướng kiến trong nhận thức của thanh niên nói
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2019
50
chung về hôn nhân và gia đình cũng như đứa con chưa trưởng thành (lone parent
sự chưa đồng nhất trong các kết quả nghiên families), đang ngày càng tăng lên do kết
cứu (Xem: Alexa DiFiore, 2011).
3. Kết luận
quả của tình trạng ly hôn, ly thân, phụ nữ
sống độc thân có con.
BướcsangthếkỷXXI,chúngtađãchứng
Những thay đổi trong nhận thức về gia
kiến sự thay đổi trong nhận thức của thanh đình của thanh niên ngày nay cho dù nhanh
niên về hôn nhân - gia đình không những ở hay chậm nhưng tương đối nhất quán về nội
Việt Nam và cả trên thế giới. Những thay đổi dung giữa gia đình phương Tây và phương
đó đã phá vỡ các quan niệm, ý tưởng cũ về Đông. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, gia
gia đình và đòi hỏi những khám phá, tìm tòi đình đang phải đối diện với những biến
mới về bản chất của gia đình.
động và hệ quả của sự biến động về nhận
Thanh niên ngày nay được tự do lựa thức trong hôn nhân - gia đình của giới trẻ.
chọn bạn đời và quyết định việc hôn nhân Sự biến động đó đang khiến nhiều quốc
theo quan điểm của mình. Hành vi chọn gia trở nên khó khăn trong việc nghiên cứu
bạn đời đúng đắn, phù hợp là cơ sở đầu tiên để giữ gìn những giá trị chuẩn mực có tác
để mỗi người tạo dựng một gia đình hạnh động tích cực đến sự phát triển nhân cách
phúc cho chính mình. Tuy nhiên, có thể do của con người trong gia đình truyền thống
quá tự do trong việc kết hôn, nhiều thanh nhưng không mâu thuẫn với việc xây dựng
niên nhận thức việc hôn nhân không còn những chuẩn giá trị mới phù hợp với thời
quan trọng như trước đây. Trong gia đình, đại và giao lưu quốc tế
sự bình đẳng trong quan hệ vợ chồng đôi
khi “quá mức” dẫn đến cảnh xung đột, ý Tài liệu tham khảo
thức trách nhiệm với gia đình giảm sút. Tiếng Việt
Nhiều thanh niên nhận thức: khi vợ chồng 1. Mai Kim Châu (1983), “Những giá
xung đột với nhau, không còn yêu nhau
thì ly hôn là cách tốt nhất, là giải thoát cần
thiết cho mỗi người và họ luôn đặt cái tôi
trị định hướng việc hôn nhân của
thanh niên”, Tạp chí Xã hội học, số 4,
Hà Nội.
của mình cao hơn quyền lợi của con cái. Do 2. Belanger, Daniele và Khuất Thu Hồng
đó, có thể thấy, ngày nay tỷ lệ ly hôn trong
các gia đình trẻ cao hơn nhiều so với trước
kia, thời gia đình phong kiến. Điều đó cho
thấy: sự bền vững của gia đình liên quan
trực tiếp đến nhận thức của mỗi người về
gia đình, về vai trò, trách nhiệm của người
vợ, người chồng trong gia đình.
Ở nhiều nước phương Tây, vai trò của
người cha truyền thống gắn liền với các
khái niệm như “chủ gia đình”, “trụ cột gia
đình”, “quyền uy người cha”,... đã dần biến
(1996), “Một số biến đổi trong hôn
nhân và gia đình ở Hà Nội trong những
năm 1965-1992”, Trong: Tương Lai
(chủ biên, 1996), Những nghiên cứu
xã hội học về Gia đình Việt Nam, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội.
3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng
Cục Thống kê, Viện Nghiên cứu Gia
đình và Giới và UNICEF (2008), Kết
quả điều tra gia đình Việt Nam năm
2006, Hà Nội.
mất cùng với sự thay đổi của các quan hệ 4. Vũ Tuấn Huy (chủ biên, 2004), Xu
hôn nhân và gia đình. Hiện nay ở phương
Tây, tỷ lệ trẻ em sống trong những gia đình
đơn thân, chỉ có cha hoặc mẹ với những
hướng gia đình ngày nay (Một vài đặc
điểm từ nghiên cứu thực nghiệm tại Hải
Dương), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
Biến đổi hôn nhân…
51
5. Nguyễn Văn Lượt, Nguyễn Đỗ Hồng 14. Engelen, T., Puschmann, P. (2011), How
Nhung (2010), “Định hướng giá trị
trong việc lựa chọn bạn đời của sinh
viên”, Tạp chí Tâm lý học, số 4, tr. 42-
49, Hà Nội.
uniqueistheWesternEuropeanmarriage
pattern? A comparison of nuptiality in
historical Europe and the contemporary
Arab world, https://www.researchgate.
net/figure/The-development-of-the-
crude-marriage-rate-in-some-Western-
countries_tbl1_230764864
6. Lê Thi (2009), Sự tương đồng và khác
biệt trong quan niệm về hôn nhân gia
đình giữa các thế hệ người Việt Nam
hiện nay, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 15. Jayakody, R. & Cabrera N. (2002),
7. UNFPA (2016), Báo cáo tác động của
biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến kinh tế
Việt Nam và đề xuất chính sách, https://
What are the choices for low-income
families?: Cohabitation, Marriage, and
remaining Single, Inc Publishers.
vietnam.opendevelopmentmekong.net/ 16. Jones, Gavin W. (2010), Changing
vi/dataset/
Tiếng Anh
Marriage Patterns in Asia, Asia
Research Institute Singapore.
8. Alexa DiFiore (2011), Youth Dating 17. Jones, G. and Nelson, E. (1996),
Culture in Urban Vietnam: Attitudes,
Behaviors, and Influences, Collection,
collection/1059
Expectations of marriage among college
students from intact and non-intact
homes, Journal of Divorce & Remarriage,
Vol. 26, No. 1-2: p. 171-189.
9. Bhavana, N. & Roopa, K.S. (2015), 18. Kay Nicole Margaret (2012), The
Youth Attitude towards Marriage
and Changing Trends in Marriage,
International Journal of Science and
Research, Vol. 4, No. 7.
Changing Meaning of Marriage: An
Analysis of Contemporary Marital
Attitudes of Young Adults, Theses and
byu.edu/etd/2969)
10. Blankenhorn, D. (2007), The future of
marriage, Encounter Press, New York. 19. Kiernan, Kathleen (2001), “The rise
11. Bumpass, L.L. & Lu, H.H. (2000),
Trendsincohabitationandimplications
for children’s family contexts in the
United States, Population Studies, Vol.
54, No. 1 (2000): p. 19-41.
12. Carroll,J.S.,Willoughby,B.,Badger,S.,
Nelson, L.J., Barry, C.M., & Madsen,
S.D. (2007), So close, yet so far away:
of cohabitation and childbearing
outside marriage in Western Europe”,
Internation Journal of Law, Policy and
the Family, Vol. 15: p. 1-21.
20. Knox, D., Schacht, C. (2009), Choices
in Relationships: An Introduction to
Marriage and the Family, 10th Edition,
Cengage Learning Publisher, USA.
The impact of varying marital horizons 21. Mace David R. (1991), Contemporary
on emerging adulthood, Journal of
Adolescent Research, Vol. 22: p.
219-247.
Issues in Marriga. In Sociololical
Footprints - Introductory Readings
in Sociology, Fifth edition, Cengage
Learning Publisher, USA: p. 135-141.
13. Cherlin,
A.J.
(2004),
The
deinstitutionalization of American 22. Miller, R.S., Perlman D., & Brehm, S.S.
marriage, Journal of Marriage and
(2005), Intimate relationships Fouth
Family, Vol. 66: p. 848-861.
edition, McGraw-Hill Press, New York.
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2019
52
23. Mohan, A.K, Gangotri Dash (2016), 28. Tatheer Fatima (2015), “Attitude of
“Perception of youth on marrige
practices: A study in Dodda Birana
Kuppe Gram Panchayat, HD Kote
Taluc, Mysuru District”, International
adolescents towards marriage and family
life”, International Journal of Innovative
Social Science & Humanities Research,
Vol. 2, No.3: p. 2454-1826 (Online).
Journal of Research - Granthaalayah, 29. Thornton, A. & Young-DeMarco, L.
Vol. 4, No. 3 (2016): p. 42-52.
(2001), “Four decades of trends in
attitudes toward family issues in the
United States: The 1960s through
the 1990s”, Journal of Marriage and
Family, Vol. 63: p.1009-1037.
24. Ramsheena, C.A. and Nagaraju
Gundemeda (2015), Youth and
Marriage: A Study of Changing Marital
Choices among the University Students
net/publication/321215042_Youth_and
_Marriage_A_Study_of_Changing_
Marital_Choices_among_the_University
_Students_in_India
marriage to informal union: Recent
changes in the behaviour of French
couples. Population Review”, Vol. 3: p.
81-111.
25. Raymo, James M., Hyunjoon Park, Yu 31. Weeks, J., Heaphy, B., & Donovan, C.
Xie and Wei-jun Jean Yeung (2015),
“Marriage and Family in East Asia:
Continuity and Change”, The Annual
(2001), Same sex intimacies: Families
of choice and other life experiments,
Routledge Press, London.
Review of Sociology, Vol. 41 (2015): p. 32. Weston, K. (1991), Families we choose:
8.1-8.22.
Lesbians, gays, kinship, Columbia
26. Regnerus, M. & Uecker, J. (2011),
University Press, New York.
Premarital sex in America: How young 33. Williams, Lindy (2009), “Attitudes
Americans meet, mate, and think about
marrying, Oxford University Press,
Oxford.
toward marriage in northern Vietnam:
what qualitative data reveal about
variations across gender, generation,
and geography”, Journal of Population
Research, Vol. 26, N4 (12/2009): p.
285-304.
27. Reis, H.T. and Rusbult, C.E. (2004),
Close Relationships: Key Readings,
Psychology Presss.
(tiếp theo trang 22)
những dự án sai phạm ‘choáng váng’
của Mường Thanh giữa thủ đô, https://
tuoitre.vn/diem-mat-nhung-du-an-sai-
pham-choang-vang-cua-muong-thanh-
giua-thu-do-20190715132514063.htm
3. Xuân Tùng (2019), Truy tố 21 bị can
trong vụ bán đất công sản tại Đà Nẵng
hanoimoi.com.vn/tin-tuc/phap-dinh/ 5. Nhóm phóng viên Tuổi trẻ (2019),
948239/truy-to-21-bi-can-trong-vu-ban
-dat-cong-san-tai-da-nang-lien-quan-
vu-nhom
Điều tra: Asanzo có lừa dối người tiêu
-co-lua-doi-nguoi-tieu-dung-20190624
075641521.htm
4. Nam Trần - Trí Tuệ (2019), Điểm mặt
Bạn đang xem tài liệu "Biến đổi hôn nhân - Gia đình và nhận thức của thanh niên về hôn nhân - Gia đình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bien_doi_hon_nhan_gia_dinh_va_nhan_thuc_cua_thanh_nien_ve_ho.pdf

